Category: Hệ thống đường mật

  • Dày thành túi mật

    Dày thành túi mật

    Adriaan van Breda Vriesman, Robin Smithuis, Dries van Engelen và Julien Puylaert

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp; Bệnh viện Groene Hart, Gouda và Trung tâm Y tế Haaglanden, The Hague, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Dày thành túi mật là một phát hiện tương đối thường gặp trong các nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh.
    Trước đây, túi mật có thành dày được xem là bằng chứng của bệnh lý túi mật nguyên phát, và đây là dấu hiệu đặc trưng nổi tiếng của viêm túi mật cấp.
    Tuy nhiên, bản thân dấu hiệu này không đặc hiệu và có thể gặp trong nhiều bệnh lý túi mật cũng như các tình trạng bệnh lý ngoài túi mật.
    Trong bài tổng quan này, chúng tôi thảo luận và minh họa các nguyên nhân khác nhau gây dày thành túi mật lan tỏa.

    Nếu gặp sự cố khi in liên quan đến lề tài liệu, hãy thử điều chỉnh lề hoặc tỷ lệ tài liệu trong cài đặt in.

    Giới thiệu


    Túi mật căng phồng, phù nề và tăng sinh mạch trong viêm túi mật cấp do sỏi gây tắc nghẽn cổ túi mật hoặc ống túi mật.

    Túi mật căng phồng, phù nề và tăng sinh mạch trong viêm túi mật cấp do sỏi gây tắc nghẽn cổ túi mật hoặc ống túi mật.

    Siêu âm, CT và MRI đều cho phép quan sát trực tiếp thành túi mật bình thường cũng như thành túi mật dày.
    Theo truyền thống, siêu âm được sử dụng là kỹ thuật hình ảnh ban đầu để đánh giá bệnh nhân nghi ngờ bệnh lý túi mật, do độ nhạy cao trong phát hiện sỏi túi mật, khả năng thực hiện theo thời gian thực, tốc độ nhanh và tính cơ động [1].
    Tuy nhiên, CT ngày càng được ưa chuộng trong đánh giá bụng cấp và thường là phương tiện đầu tiên phát hiện thành túi mật dày [2], hoặc có thể được sử dụng bổ sung cho siêu âm không kết luận được hoặc để phân giai đoạn bệnh.
    Giá trị tiềm năng của MRI trong đánh giá bệnh lý túi mật đã được chứng minh [3], nhưng hiện tại vai trò của MRI vẫn còn hạn chế.


    TRÁI: Siêu âm túi mật bình thường sau nhịn ăn qua đêm cho thấy thành túi mật là một đường tăng âm mỏng như bút chì (mũi tên). PHẢI: Siêu âm ở trạng thái sau ăn cho thấy hình ảnh dày thành túi mật giả.

    TRÁI: Siêu âm túi mật bình thường sau nhịn ăn qua đêm cho thấy thành túi mật là một đường tăng âm mỏng như bút chì (mũi tên). PHẢI: Siêu âm ở trạng thái sau ăn cho thấy hình ảnh dày thành túi mật giả.

    Túi mật bình thường

    Thành túi mật bình thường trên siêu âm có hình ảnh là một đường tăng âm mỏng như bút chì.
    Độ dày thành túi mật phụ thuộc vào mức độ căng giãn của túi mật và hiện tượng dày thành giả có thể xảy ra ở trạng thái sau ăn.


    CT có thuốc cản quang cho thấy thành túi mật bình thường là một viền mỏng của mô mềm ngấm thuốc.

    CT có thuốc cản quang cho thấy thành túi mật bình thường là một viền mỏng của mô mềm ngấm thuốc.

    Thành túi mật bình thường trên CT thường được nhận thấy là một viền mỏng có tỷ trọng mô mềm, ngấm thuốc cản quang sau khi tiêm.


    TRÁI: Siêu âm ở phụ nữ 59 tuổi bị viêm túi mật cấp cho thấy hình ảnh phân lớp của thành túi mật dày, với vùng giảm âm giữa các đường tăng âm. PHẢI: Trên CT có thuốc cản quang, túi mật thành dày chứa lớp ngoài giảm tỷ trọng (mũi tên) do phù nề dưới thanh mạc.

    TRÁI: Siêu âm ở phụ nữ 59 tuổi bị viêm túi mật cấp cho thấy hình ảnh phân lớp của thành túi mật dày, với vùng giảm âm giữa các đường tăng âm. PHẢI: Trên CT có thuốc cản quang, túi mật thành dày chứa lớp ngoài giảm tỷ trọng (mũi tên) do phù nề dưới thanh mạc.

    Thành túi mật dày

    Dày thành túi mật là một phát hiện tương đối thường gặp trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh.
    Thành túi mật được coi là dày khi đo hơn 3 mm, thường có hình ảnh phân lớp trên siêu âm [1], và trên CT thường chứa một lớp giảm tỷ trọng của phù nề dưới thanh mạc có thể nhầm lẫn với dịch quanh túi mật [2].

    Chẩn đoán phân biệt dày thành túi mật

    Chẩn đoán phân biệt dày thành túi mật được liệt kê ở bên trái.
    Dày thành túi mật lan tỏa có thể gây khó khăn trong chẩn đoán, vì tình trạng này xảy ra ở cả bệnh nhân có triệu chứng và không có triệu chứng, cũng như ở bệnh nhân có và không có chỉ định cắt túi mật.

    Dày thành túi mật lan tỏa có thể xảy ra ở những bệnh nhân không có bệnh lý túi mật nguyên phát, mà túi mật bị ảnh hưởng thứ phát do một tình trạng bệnh lý ngoại sinh.
    Ở những bệnh nhân này, phẫu thuật cắt túi mật là không cần thiết, và các bất thường của túi mật thường sẽ trở về bình thường sau khi điều chỉnh nguyên nhân ngoại sinh.

    Bệnh lý túi mật nguyên phát


    43-year-old woman with acute calculous cholecystitis. Contrast-enhanced CT shows a distended gallbladder (arrowheads) with a slightly thickened wall and subtle regional fat-stranding (asterisk). There is an impacted obstructing stone in the neck of the gallbladder (arrow).

    Phụ nữ 43 tuổi với viêm túi mật cấp có sỏi. CT có thuốc cản quang cho thấy túi mật căng giãn (đầu mũi tên) với thành hơi dày và thâm nhiễm mỡ quanh túi mật mờ nhạt (dấu hoa thị). Có một viên sỏi gây tắc nghẽn kẹt tại cổ túi mật (mũi tên).

    Viêm túi mật cấp

    Viêm túi mật cấp là nguyên nhân phổ biến thứ tư khiến bệnh nhân nhập viện vì đau bụng cấp [4], và đây là chẩn đoán hàng đầu cần nghĩ đến khi phát hiện thành túi mật dày trên hình ảnh học.
    Tuy nhiên, dấu hiệu này không mang tính đặc hiệu tuyệt đối cho viêm túi mật cấp.

    Các dấu hiệu hình ảnh bổ sung hỗ trợ chẩn đoán viêm túi mật cấp có sỏi bao gồm:

    • Sỏi túi mật gây tắc nghẽn
    • Túi mật giãn căng do ứ dịch
    • Dấu hiệu Murphy dương tính trên siêu âm (tức là đau khi ấn đầu dò siêu âm trực tiếp lên vị trí túi mật)
    • Viêm mỡ quanh túi mật hoặc tràn dịch quanh túi mật
    • Tăng sinh mạch thành túi mật trên Doppler năng lượng.

    Acute calculous cholecystitis

    Viêm túi mật cấp có sỏi

    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân nam 62 tuổi với viêm túi mật cấp có sỏi.
    Siêu âm cắt ngang tại vị trí đau tối đa cho thấy túi mật căng giãn do ứ dịch, thành dày, không thể ép xẹp (đầu mũi tên), với sỏi trong lòng túi mật và cặn lắng hoặc mảnh vụn.
    CT có thuốc cản quang cho thấy viêm mỡ lan rộng (đầu mũi tên) bao quanh túi mật (mũi tên).


    74-year-old man with acute acalculous cholecystitis. LEFT: US at the spot of maximum tenderness shows mural thickening of the gallbladder (arrow) that is completely filled with sludge (asterisk) without any stones. RIGHT: Power-Doppler sonography shows hypervascularity of the gallbladder wall (arrowhead), as a supporting sign of inflammation.

    Bệnh nhân nam 74 tuổi với viêm túi mật cấp không có sỏi. TRÁI: Siêu âm tại vị trí đau tối đa cho thấy thành túi mật dày (mũi tên), lòng túi mật chứa đầy cặn lắng (dấu hoa thị) mà không có sỏi. PHẢI: Siêu âm Doppler năng lượng cho thấy tăng sinh mạch thành túi mật (đầu mũi tên), là dấu hiệu hỗ trợ chẩn đoán viêm.

    Viêm túi mật không có sỏi

    Viêm túi mật cấp không có sỏi chủ yếu xảy ra ở bệnh nhân nặng, được cho là do độ nhớt mật tăng cao từ việc nhịn ăn và các thuốc gây ứ mật.
    Các đặc điểm hình ảnh tương tự như viêm túi mật cấp, ngoại trừ việc không có sỏi trong khi cặn lắng túi mật thường hiện diện (Hình).
    Do ở bệnh nhân nặng, các bất thường túi mật thường gặp thứ phát do bệnh lý toàn thân (xem bên dưới), viêm túi mật không có sỏi có thể khó chẩn đoán [5].
    Ở những bệnh nhân này, dẫn lưu túi mật qua da vừa có giá trị chẩn đoán vừa có tác dụng điều trị.


    Chronic cholecystitis. Longitudinal sonogram of the gallbladder shows slight wall thickening (arrow) and an intraluminal non-obstructing stone

    Viêm túi mật mạn. Siêu âm cắt dọc túi mật cho thấy thành hơi dày (mũi tên) và một viên sỏi trong lòng không gây tắc nghẽn.

    Viêm túi mật mạn

    Viêm túi mật mạn là thuật ngữ lâm sàng dùng để chỉ tình trạng sỏi túi mật có triệu chứng gây tắc nghẽn thoáng qua, dẫn đến viêm mức độ thấp kèm xơ hóa [1].
    Việc đối chiếu hình ảnh túi mật có sỏi với thành hơi dày cùng bệnh sử lâm sàng là điều then chốt.

    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân nữ 49 tuổi với viêm túi mật mạn.
    Bệnh nhân này đã nhịn ăn qua đêm, do đó tình trạng dày thành không phải do túi mật co bóp sinh lý.
    Việc đối chiếu các phát hiện này với bệnh sử lâm sàng của bệnh nhân — đau quặn tái phát vùng hạ sườn phải do tắc nghẽn túi mật thoáng qua — là yếu tố thiết yếu để chẩn đoán.


    Xanthogranulomatous cholecystitis. LEFT: US shows marked wall thickening with intramural hypoechoic nodules (arrowheads), and an intraluminal stone (arrow).RIGHT: Contrast-enhanced CT shows a deformed and thickened gallbladder wall containing hypoattenuating nodules

    Viêm túi mật u hạt vàng. TRÁI: Siêu âm cho thấy thành túi mật dày rõ với các nốt giảm âm trong thành (đầu mũi tên) và sỏi trong lòng (mũi tên). PHẢI: CT có thuốc cản quang cho thấy thành túi mật biến dạng và dày, chứa các nốt giảm tỷ trọng.

    Viêm túi mật u hạt vàng

    Viêm túi mật u hạt vàng là một thể hiếm gặp của viêm túi mật mạn, đặc trưng bởi quá trình viêm chứa lipid tương tự như viêm thận bể thận u hạt vàng.

    Hình ảnh học cho thấy thành túi mật dày rõ, thường chứa các nốt trong thành giảm âm trên siêu âm và giảm tỷ trọng trên CT, đại diện cho các ổ áp xe hoặc ổ viêm u hạt vàng.
    Các đặc điểm này chồng lấp với ung thư túi mật, khiến việc phân biệt hai thực thể này trước phẫu thuật thường không thể thực hiện được [6].


    Xanthogranulomatous cholecystitis. Hypoattenuating nodules ( arrowheads) represent abscesses. The lumen contains several stones (arrow).

    Viêm túi mật u hạt vàng. Các nốt giảm tỷ trọng (đầu mũi tên) đại diện cho các ổ áp xe. Lòng túi mật chứa nhiều viên sỏi (mũi tên).

    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân nam 71 tuổi với viêm túi mật u hạt vàng.
    CT có thuốc cản quang cho thấy thành túi mật biến dạng và dày, chứa các nốt giảm tỷ trọng.
    Các nốt này đại diện cho các ổ áp xe hoặc ổ viêm.


    Porcelain gallbladder.

    Túi mật sứ.

    Túi mật sứ

    Túi mật sứ là một rối loạn hiếm gặp trong đó viêm túi mật mạn gây ra vôi hóa thành túi mật.
    Ở những bệnh nhân này, cắt túi mật dự phòng đã được khuyến nghị do mối liên quan với ung thư túi mật [4]. Tuy nhiên, mối liên quan này có vẻ không chặt chẽ.


    LEFT: Gallbladder carcinoma. US shows marked generalized wall thickening (arrowheads), replacing the gallbladder lumen. Multiple gallbladder stones (arrow) indicate the probable location of the filled lumen.RIGHT: Contrast-enhanced CT depicts a thick-walled gallbladder (arrowhead), with local infiltration of the mass in the adjacent liver (arrow).

    TRÁI: Ung thư túi mật. Siêu âm cho thấy thành túi mật dày toàn bộ rõ rệt (đầu mũi tên), lấp đầy lòng túi mật. Nhiều viên sỏi túi mật (mũi tên) chỉ ra vị trí có thể của lòng túi mật đã bị lấp đầy. PHẢI: CT có thuốc cản quang cho thấy túi mật thành dày (đầu mũi tên), với khối xâm lấn khu trú vào nhu mô gan lân cận (mũi tên).

    Ung thư túi mật

    Ung thư túi mật là bệnh ác tính phổ biến thứ năm của đường tiêu hóa, được phát hiện tình cờ trong 1% đến 3% các mẫu bệnh phẩm cắt túi mật [4].
    Bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn do thiếu các triệu chứng sớm hoặc đặc hiệu.
    Ung thư túi mật có nhiều dạng hình ảnh khác nhau, từ tổn thương dạng polyp trong lòng túi mật đến khối xâm lấn thay thế toàn bộ túi mật, và cũng có thể biểu hiện dưới dạng dày thành lan tỏa.

    Các phát hiện kèm theo như xâm lấn các cấu trúc lân cận, giãn đường mật thứ phát, và di căn gan hoặc hạch có thể giúp phân biệt ung thư với viêm túi mật cấp hoặc viêm túi mật u hạt vàng [2, 4].
    Trong trường hợp không có các phát hiện kèm theo này, có thể không thể phân biệt ung thư với viêm túi mật u hạt vàng.


    Adenomyomatosis in a 39-year-old woman.  US  shows mural thickening with calcifications with the characteristic 'comet-tail' reverberation artifact (arrow)  due to small cholesterol crystals within Rokitansky-Aschoff sinuses.

    Bệnh tuyến cơ túi mật ở phụ nữ 39 tuổi. Siêu âm cho thấy thành dày kèm vôi hóa với xảo ảnh dội âm dạng ‘đuôi sao chổi’ đặc trưng (mũi tên) do các tinh thể cholesterol nhỏ trong các xoang Rokitansky-Aschoff.

    Bệnh tuyến cơ túi mật

    Bệnh tuyến cơ túi mật được đặc trưng bởi tăng sinh biểu mô, phì đại cơ và các túi thừa trong thành (xoang Rokitansky-Aschoff), có thể ảnh hưởng đến túi mật theo từng đoạn hoặc lan tỏa.
    Đây là tình trạng lành tính không cần điều trị đặc hiệu, xuất hiện như một phát hiện tình cờ trong tới 9% các mẫu bệnh phẩm cắt túi mật [6].

    Phát hiện siêu âm của các tinh thể cholesterol, biểu hiện dưới dạng xảo ảnh dội âm ‘đuôi sao chổi’ (Hình), trong thành túi mật dày gợi ý mạnh mẽ chẩn đoán này.
    Khí cũng có thể tạo ra xảo ảnh tương tự, tuy nhiên bệnh nhân viêm túi mật sinh hơi thường có tình trạng nặng, trái ngược với bệnh nhân bệnh tuyến cơ túi mật.
    Chụp MRI có thể phân biệt bệnh tuyến cơ túi mật với ung thư túi mật bằng cách hiển thị các xoang Rokitansky-Aschoff [7].

    Tổn thương túi mật thứ phát


    56-year-old man with liver cirrhosisLEFT: US depicts wall thickening (arrow), surrounded by ascites. Note the irregular cirrhotic liver parenchyma. RIGHT: At contrast-enhanced CT the wall of the gallbladder (arrow) appears nearly normal, because subserosal oedema can not be well differentiated from surrounding ascites at CT.

    Nam giới 56 tuổi bị xơ gan. TRÁI: Siêu âm cho thấy dày thành túi mật (mũi tên), xung quanh có dịch cổ trướng. Lưu ý nhu mô gan xơ không đều. PHẢI: Trên CT có thuốc cản quang, thành túi mật (mũi tên) trông gần như bình thường, do phù nề dưới thanh mạc không thể phân biệt rõ với dịch cổ trướng xung quanh trên CT.

    Xơ gan

    Các bệnh lý toàn thân như rối loạn chức năng gan, suy tim hoặc suy thận có thể dẫn đến dày thành túi mật lan tỏa [1, 2].
    Cơ chế bệnh sinh chính xác gây ra phù nề thành túi mật trong các bệnh cảnh đa dạng này vẫn chưa được xác định rõ, nhưng nhiều khả năng là do tăng áp lực tĩnh mạch cửa, tăng áp lực tĩnh mạch hệ thống, giảm áp lực thẩm thấu nội mạch, hoặc sự kết hợp của các yếu tố này.
    Giảm protein máu cũng được ghi nhận là nguyên nhân gây bệnh túi mật ngoại sinh, tuy nhiên điều này vẫn còn gây tranh cãi [8].

    Xơ gan, viêm gan và suy tim phải sung huyết là những nguyên nhân tương đối thường gặp.
    Trường hợp bên trái là bệnh nhân bị xơ gan.
    Dày thành túi mật thứ phát có thể là do tăng áp lực tĩnh mạch cửa và giảm áp lực thẩm thấu nội mạch.


    Drug-induced hepatitis with diffuse gallbladder wall thickening

    Viêm gan do thuốc với dày thành túi mật lan tỏa

    Viêm gan

    Bên trái là nam giới 75 tuổi bị viêm gan do thuốc.
    Hình siêu âm cắt dọc của túi mật không căng giãn cho thấy dày thành lan tỏa (mũi tên), và sỏi túi mật tình cờ phát hiện có thể gây nhầm lẫn trong chẩn đoán.


    Drug-induced hepatitis.

    Viêm gan do thuốc.

    Ở cùng bệnh nhân viêm gan do thuốc, MRI được thực hiện để đánh giá đường mật do kết quả xét nghiệm chức năng gan bất thường.
    Ở ngoài cùng bên trái, hình ảnh MRI chuỗi xung T2W SPIR theo mặt phẳng axial (A) cho thấy một lượng nhỏ dịch cổ trướng (đầu mũi tên), gợi ý rằng dày thành túi mật (mũi tên) có thể do nguyên nhân toàn thân ngoại sinh.
    Kế bên là hình ảnh HASTE chếch để chụp MR đường mật, loại trừ sỏi ống mật chủ.
    Dày thành túi mật (đầu mũi tên) cũng được thể hiện rõ.


    Diffuse gallbladder wall thickening in congestive right heart failure

    Dày thành túi mật lan tỏa trong suy tim phải sung huyết

    Suy tim phải sung huyết

    Bên trái là nam giới 74 tuổi bị suy tim phải sung huyết.
    Siêu âm cho thấy dày thành lan tỏa của túi mật không có sỏi và không đau, kèm theo các tĩnh mạch gan (đầu mũi tên) và tĩnh mạch chủ dưới giãn lớn, là bằng chứng hỗ trợ chẩn đoán suy tim phải.


    Pancreatitis in a 56-year-old man Contrast-enhanced CT shows peripancreatic inflammatory changes (arrowheads), and thickening of the wall of the gallbladder (arrow) which is secondarily involved in the pancreatic inflammation.

    Viêm tụy ở nam giới 56 tuổi. CT có thuốc cản quang cho thấy các thay đổi viêm quanh tụy (đầu mũi tên) và dày thành túi mật (mũi tên) do tổn thương thứ phát từ quá trình viêm tụy lan rộng.

    Viêm tụy

    Tình trạng viêm ngoài túi mật có thể lan rộng và gây tổn thương thứ phát cho túi mật, dẫn đến dày thành, do sự lan rộng trực tiếp của ổ viêm nguyên phát, hoặc ít gặp hơn là do phản ứng miễn dịch [8].

    Về lý thuyết, bất kỳ tình trạng viêm nào lan đến vùng túi mật đều có thể gây ra hiện tượng này, nhưng chỉ có một số ít được gặp thường xuyên bao gồm viêm gan, viêm tụy (Hình) và viêm bể thận.

    Dày thành túi mật cũng đã được ghi nhận ở bệnh nhân mắc bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn [9], và ở bệnh nhân AIDS do nhiễm trùng cơ hội hoặc thâm nhiễm tân sinh thứ phát [2].

    Kết luận

    Dày thành túi mật lan tỏa có thể là hậu quả của một phổ rộng các tình trạng bệnh lý, bao gồm cả các bệnh lý nội khoa và ngoại khoa.
    Đôi khi, việc chẩn đoán xác định bằng hình ảnh có thể là không thể thực hiện được.
    Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân có thể được xác định thông qua việc đối chiếu các dấu hiệu hình ảnh liên quan với biểu hiện lâm sàng.

    Từ thiện

    Toàn bộ lợi nhuận từ Radiology Assistant được chuyển đến tổ chức Medical Action Myanmar, do Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis (cha) điều hành — ông là giáo sư tại Đại học Oxford và cũng là anh trai của Robin Smithuis.

    Nhấn vào đây hoặc vào hình ảnh bên dưới để xem video về Medical Action Myanmar. Nếu bạn thấy Radiology Assistant hữu ích, xin hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Tắc túi mật

    Tắc nghẽn túi mật

    bởi Julien Puylaert

    Trung tâm Y tế Haaglanden tại The Hague và Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam, Hà Lan

    Hầu hết các sỏi mật được phát hiện qua siêu âm đều không có triệu chứng và không cần điều trị.
    Tuy nhiên, khi sỏi mật gây tắc nghẽn túi mật hoặc ống mật chủ, chúng sẽ trở nên có triệu chứng.
    Trong phần 2, chúng ta sẽ thảo luận về các sỏi gây tắc nghẽn đường mật.

    Trong phần 1, chúng ta sẽ thảo luận về các sỏi mật gây tắc nghẽn túi mật.

    Chúng ta sẽ tập trung vào:

    • Cách xác định sỏi mật có triệu chứng hay không.
    • Cách chẩn đoán sỏi tại cổ túi mật hoặc ống túi mật.
    • Cách phát hiện các dấu hiệu gián tiếp của sỏi có triệu chứng.
    • Các thể viêm túi mật cấp tính khác nhau và các biến chứng của chúng.

    Để góp ý và nhận xét bổ sung: j.puylaert@gmail.com

    Giới thiệu

    Sỏi có triệu chứng

    Sỏi mật trở nên có triệu chứng khi chúng gây tắc nghẽn túi mật hoặc ống mật chủ (OMC).
    Tắc nghẽn ngắt quãng dẫn đến cơn đau quặn mật đơn thuần.

    Sỏi kẹt gây tắc nghẽn túi mật dẫn đến tình trạng phình to túi mật cấp tính (hydrops cấp).
    Sự tiết dịch nhầy liên tục gây tăng áp lực trong lòng túi mật, dẫn đến thiếu máu tương đối của thành túi mật.

    Dưới đây là tổng quan về các diễn tiến khác nhau khi có sỏi kẹt tại cổ túi mật:

    • Sỏi tự di chuyển trước khi xảy ra thiếu máu thành túi mật và không ghi nhận dày thành thứ phát.
    • Sỏi tự di chuyển và sau khi áp lực trong lòng túi mật được giải phóng, xuất hiện phù nề thành do tái tưới máu thoáng qua, sau đó tự thoái lui và túi mật trở về bình thường. Hiện tượng tái tưới máu này là bằng chứng thầm lặng của một viên sỏi có triệu chứng.
    • Tắc nghẽn tiếp diễn và viêm túi mật cấp phát triển.

    Điều quan trọng cần nhận thức là bệnh nhân chỉ cảm thấy đau trong giai đoạn phình to túi mật cấp (hydrops).
    Xét nghiệm cận lâm sàng chỉ cho thấy tăng bạch cầu, trong khi CRP vẫn trong giới hạn bình thường.
    Sau khi tình trạng hydrops thoái lui, cơn đau quặn kết thúc nhưng bệnh nhân thường còn cảm giác “đau âm ỉ” trong một thời gian.


    CT for suspected aortic dissection. The only relevant finding were two CBD stones best visible on the non-contrast series (arrows).

    CT nghi ngờ bóc tách động mạch chủ. Phát hiện duy nhất có ý nghĩa là hai sỏi OMC, thấy rõ nhất trên chuỗi chụp không tiêm thuốc cản quang (mũi tên).

    Sỏi không có triệu chứng

    Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân có sỏi mật sẽ không gặp bất kỳ vấn đề nào liên quan đến sỏi trong suốt cuộc đời.
    Do đó, sỏi mật không có triệu chứng được phát hiện tình cờ qua Siêu âm hoặc CT thực hiện vì lý do khác thường không cần điều trị.

    Y văn ghi nhận rằng hơn 20% bệnh nhân được phẫu thuật cắt túi mật không thay đổi triệu chứng sau phẫu thuật, cho thấy chẩn đoán bệnh sỏi mật có triệu chứng ban đầu chưa được thực hiện chính xác.

    Mặt khác, chẩn đoán bệnh sỏi mật cấp tính có thể bị bỏ sót do bác sĩ nhầm lẫn triệu chứng với một bệnh lý khác, ví dụ như bệnh tim mạch cấp tính.
    Điều này lý giải tại sao khoảng 15% bệnh nhân có cơn đau quặn mật cấp ban đầu được chuyển đến khám chuyên khoa tim mạch.

    Cơn đau quặn mật


    Khi một sỏi mật gây tắc nghẽn túi mật hoặc ống mật chủ (CBD) từng đợt, cơn đau quặn mật sẽ xảy ra.

    Các triệu chứng thường điển hình với các cơn đau dữ dội vùng thượng vị, lan ra sau lưng và sang bên phải, nhưng đôi khi cũng lan sang bên trái.
    Bệnh nhân thường buồn nôn và có thể ngất xỉu vì đau.
    Không hiếm trường hợp cơn đau đánh thức bệnh nhân khỏi giấc ngủ.
    Trong cơn đau quặn mật, bệnh nhân thường không thể ngồi yên, có xu hướng phải di chuyển và đi lại.
    Họ liên tục “cố tìm một tư thế để chịu đựng cơn đau”.

    Khi sỏi không gây tắc nghẽn cổ túi mật tại thời điểm thăm khám, việc chẩn đoán bệnh sỏi mật có triệu chứng sẽ gặp khó khăn và người thăm khám có thể ấn xẹp đáy túi mật (hình).

    Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có tiền sử các cơn đau quặn điển hình, không biến chứng, không có dấu hiệu ứ mật, và được siêu âm phát hiện sỏi trong túi mật, chỉ định cắt túi mật là rõ ràng.

    Mặt khác, ở những bệnh nhân có triệu chứng không điển hình, không phải lúc nào cũng có thể xác định chắc chắn liệu sỏi túi mật được phát hiện trên siêu âm có thực sự là nguyên nhân gây ra triệu chứng của bệnh nhân hay không, dẫn đến không ít trường hợp triệu chứng không thay đổi sau khi cắt túi mật.

    Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có tiền sử các cơn đau quặn điển hình, không biến chứng, không có dấu hiệu ứ mật, và được siêu âm phát hiện sỏi trong túi mật, chỉ định cắt túi mật là rõ ràng (hình).

    Mặt khác, ở những bệnh nhân có triệu chứng không điển hình, không phải lúc nào cũng có thể xác định chắc chắn liệu sỏi túi mật được phát hiện trên siêu âm có thực sự là nguyên nhân gây ra triệu chứng của bệnh nhân hay không, dẫn đến không ít trường hợp triệu chứng không thay đổi sau khi cắt túi mật.

    Bệnh nhân này có cơn đau quặn điển hình vài ngày trước khi thăm khám.
    Ở tư thế đứng, không có sỏi gây tắc nghẽn tại cổ túi mật.
    Thậm chí ống túi mật cũng được quan sát thấy với đường đi điển hình song song với ống mật chủ.


    Trong trường hợp sỏi ống mật chủ gây tắc nghẽn, người thăm khám vẫn có thể ấn xẹp đáy túi mật, nhưng sẽ có các kết quả xét nghiệm điển hình với các chỉ số chức năng gan tăng cao.
    Giãn đường mật sẽ xuất hiện trong thời gian rất ngắn và túi mật có thể bị giãn.
    Tuy nhiên, áp lực trong lòng ống mật thấp hơn nhiều so với trường hợp tắc nghẽn đơn thuần của túi mật (hình).

    Siêu âm trong cơn đau cấp tính có thể rất hữu ích.
    Những bệnh nhân được siêu âm trong cơn đau quặn mật cấp tính, tại thời điểm đó – hầu như luôn luôn – sẽ biểu hiện hoặc là túi mật căng phồng (hydrops) hoặc là giãn đường mật.
    Tuy nhiên, các dấu hiệu siêu âm này có thể biến mất nhanh chóng khi tình trạng tắc nghẽn được giải phóng, dù là tự nhiên hay do thuốc giãn cơ trơn, thường được dùng tại phòng cấp cứu.

    Phình To Túi Mật Cấp Tính (Acute Hydrops)

    Dấu hiệu phình to túi mật (Hydrops sign)

    Tắc nghẽn túi mật kéo dài dẫn đến tình trạng phình to túi mật do niêm mạc túi mật tiếp tục sản xuất chất nhầy.

    Dấu hiệu phình to túi mật được kiểm tra bằng cách ấn đè có kiểm soát lên vùng túi mật.

    Dấu hiệu phình to túi mật được coi là dương tính khi túi mật trong lúc ấn đè “phồng lên” về phía thành bụng và duy trì hình dạng tròn (hình).

    Dấu hiệu này được quan sát rõ nhất ở thì thở ra, khi các cơ thành bụng giãn ra.


    Hình ảnh dưới đây cho thấy túi mật phình to vẫn duy trì hình dạng tròn trong khi ấn đè.
    Nếu tình trạng tắc nghẽn kéo dài đủ lâu, áp lực trong lòng túi mật tăng cao có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ tạm thời của thành túi mật.

    Các dấu hiệu siêu âm của phình to túi mật cấp tính do sỏi kẹt gây tắc nghẽn túi mật được trình bày trong bảng.

    Dấu hiệu túi mật không xẹp khi ấn đè và hình ảnh trực tiếp của sỏi kẹt tại cổ túi mật hoặc ống túi mật là những dấu hiệu có giá trị nhất (****).

    Hình ảnh siêu âm của một bệnh nhân bị phình to túi mật cấp tính, được khảo sát trên mặt phẳng dọc và mặt phẳng ngang.
    Sỏi gây tắc nghẽn đang ở trạng thái kẹt (mũi tên).
    Lưu ý rằng khi ấn đè, túi mật phình to phồng lên về phía thành bụng (đầu mũi tên), cho thấy áp lực trong lòng túi mật tăng cao.

    Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể quan sát dấu hiệu phình to túi mật một cách đáng tin cậy, đặc biệt khi túi mật nằm cao dưới cung sườn phải.
    Ngoài ra, sỏi kẹt có thể không thể hiển thị được ở những bệnh nhân có thể trạng lớn, do vị trí sâu, cách xa đầu dò.

    Không hiếm gặp trường hợp phình to túi mật được phát hiện trên CT scan (hình), nhưng siêu âm bổ sung thường rất hữu ích trong những trường hợp này.

    Hình ảnh của một bệnh nhân được nghi ngờ lâm sàng là thủng dạ dày.

    CT cho thấy một số sỏi trong túi mật có hình dạng tròn.

    Siêu âm bổ sung xác nhận rõ ràng tình trạng phình to túi mật (đầu mũi tên).


    Ngay cả trong trường hợp có nhu mô gan xen giữa thành bụng và túi mật, vẫn có thể chứng minh được dấu hiệu “phình to túi mật gián tiếp”.

    Hình bên trái cho thấy túi mật duy trì hình dạng tròn, cả trước và trong khi ấn đè, đồng thời phồng lên vào nhu mô gan mềm xen kẽ và thành bụng.

    Tương tự, sự vắng mặt của dấu hiệu phình to túi mật cũng có thể được chứng minh, ngay cả khi có nhu mô gan xen giữa, vốn mềm mại khi ấn đè (hình bên phải).

    Cách phát hiện sỏi kẹt

    Ở bệnh nhân này, khám siêu âm ở tư thế nằm nghiêng không thể xác định được sỏi gây tắc nghẽn do sự hiện diện của nhiều viên sỏi.

    Nếu siêu âm ở tư thế đứng cho thấy tất cả các viên sỏi di động đã di chuyển xuống đáy túi mật, bệnh nhân được yêu cầu nằm xuống trở lại, ngay lập tức xoay sang bên trái.
    Bằng cách này, các viên sỏi sẽ ở lại vùng đáy túi mật, giúp quan sát rõ hơn cổ túi mật và ống túi mật (hình).
    Tất cả các viên sỏi đã di chuyển về phía đáy túi mật, ngoại trừ viên sỏi kẹt (mũi tên).

    Có hình ảnh dày thành túi mật, gợi ý viêm túi mật đang tiến triển (CRP là 110).

    Lưu ý rằng trong trường hợp mật đặc, nhớt, các viên sỏi có thể thay đổi vị trí rất chậm, đôi khi mất vài phút để di chuyển xuống điểm thấp nhất.
    Vì lý do này, chúng tôi luôn yêu cầu bệnh nhân nghi ngờ sỏi túi mật ngồi hoặc đứng trong khi chờ đợi khám siêu âm.

    Dưới đây là hai ví dụ về sỏi kẹt được phát hiện trong cơn đau quặn mật ở các bệnh nhân khác nhau.
    Ở tư thế nằm ngửa, một viên sỏi (mũi tên) được phát hiện tại cổ túi mật.
    Sau khi đứng dậy, cúi người và đi lại, viên sỏi (mũi tên) không di chuyển xuống, do đó phải là sỏi kẹt.

    Sỏi trong ống túi mật đôi khi không thể hiển thị được trên mặt phẳng siêu âm theo trục dọc của túi mật.

    Hình ảnh của một bệnh nhân bị phình to túi mật cấp tính do sỏi kẹt.

    Sỏi kẹt không thể hiển thị được trên trục dọc của túi mật, do vị trí nằm ở phía trong của ống túi mật (mũi tên).

    Đường kính lớn

    Dấu hiệu thứ ba là đường kính ngang của túi mật lớn.
    Đây không phải là dấu hiệu đáng tin cậy, vì đường kính túi mật có biên độ dao động rộng.
    Một túi mật 2,5 cm có thể đang phình to và một túi mật có đường kính 5 cm có thể hoàn toàn bình thường (hình).
    Do đó, tính không xẹp khi ấn đè và sự duy trì hình dạng tròn trong khi ấn đè vẫn là các dấu hiệu siêu âm đặc trưng của phình to túi mật.

    Dấu hiệu Murphy trên siêu âm (US-Murphy-sign)

    Cuối cùng, một dấu hiệu của phình to túi mật cấp tính là đau khu trú khi ấn đầu dò siêu âm lên vùng đáy túi mật, được gọi là dấu hiệu Murphy trên siêu âm.
    Mặc dù thường gặp, dấu hiệu này không phải lúc nào cũng đáng tin cậy.
    Đặc biệt, bệnh nhân cao tuổi bị viêm túi mật cấp thường gặp khó khăn trong việc xác định chính xác vùng đau tối đa.
    Ngoài ra, nếu một bệnh lý khác như loét tá tràng, viêm tụy cấp hoặc viêm ruột thừa cấp gây ra đau vùng hạ sườn phải, dấu hiệu Murphy trên siêu âm có thể dương tính giả do túi mật nằm gần kề các cơ quan này.

    Dày thành túi mật thứ phát có thể làm tăng thêm sự nhầm lẫn trong chẩn đoán.

    Siêu âm thực hiện sau cơn đau quặn mật

    Dấu hiệu chứng nhân thầm lặng

    Điều có thể gây ra nhầm lẫn chẩn đoán đáng kể là thực tế rằng – trong thực hành hàng ngày – hầu hết các lần siêu âm ở bệnh nhân nghi ngờ sỏi túi mật có triệu chứng đều được thực hiện sau khi các triệu chứng đã thuyên giảm, với khoảng thời gian dao động từ vài giờ đến vài tuần.
    Bệnh nhân cũng có thể đã được điều trị bằng thuốc giảm co thắt, khiến co thắt cơ giảm và mật có thể lưu thông trở lại, làm thay đổi hình ảnh siêu âm vốn có thể trở nên không điển hình và thậm chí gây nhầm lẫn.

    Có những dấu hiệu chứng nhân thầm lặng cho thấy bệnh nhân đã từng có sỏi gây tắc nghẽn kèm phù nề túi mật (bảng).


    Theo dõi 100 bệnh nhân nhập cấp cứu với phù nề túi mật cấp tính được điều trị bằng thuốc giảm co thắt và không phẫu thuật ngay. Trong số đó, 15 bệnh nhân tiến triển thành viêm túi mật cấp. 25 bệnh nhân có sỏi vẫn còn tại chỗ nhưng mật có thể lưu thông và phù nề biến mất. 60 bệnh nhân sỏi bị bong ra và túi mật trở về bình thường, đôi khi có giai đoạn phù nề tái tưới máu.

    Theo dõi 100 bệnh nhân nhập cấp cứu với phù nề túi mật cấp tính được điều trị bằng thuốc giảm co thắt và không phẫu thuật ngay. Trong số đó, 15 bệnh nhân tiến triển thành viêm túi mật cấp. 25 bệnh nhân có sỏi vẫn còn tại chỗ nhưng mật có thể lưu thông và phù nề biến mất. 60 bệnh nhân sỏi bị bong ra và túi mật trở về bình thường, đôi khi có giai đoạn phù nề tái tưới máu.

    Diễn tiến tự nhiên của cơn đau quặn mật do sỏi gây tắc nghẽn cổ túi mật có thể theo nhiều hướng khác nhau.

    Trong cơn đau quặn, sỏi bị kẹt tại cổ túi mật gây phù nề cấp tính.
    Sự sản xuất liên tục dịch nhầy gây tăng áp lực trong lòng túi mật, dẫn đến thiếu máu cục bộ thành túi mật.

    • Sỏi có thể bị bong ra, giải phóng áp lực trong lòng túi mật, tiếp theo là phù nề tái tưới máu thành túi mật, và sau đó túi mật có thể trở về bình thường.
    • Sỏi bong ra trước khi xảy ra thiếu máu cục bộ thành túi mật và không thấy dày thành thứ phát.
    • Sỏi vẫn còn kẹt nhưng cho phép mật lưu thông qua. Có phù nề tái tưới máu nhưng phù nề túi mật đã biến mất. Cuối cùng túi mật có thể trở về bình thường.

    Siêu âm thực hiện 5 giờ sau cơn đau. Có cả phù nề tái tưới máu và tăng sinh mạch thành túi mật. Sỏi gây tắc nghẽn (mũi tên) vẫn còn thấy ở cổ túi mật, nhưng không có phù nề túi mật.

    Siêu âm thực hiện 5 giờ sau cơn đau. Có cả phù nề tái tưới máu và tăng sinh mạch thành túi mật. Sỏi gây tắc nghẽn (mũi tên) vẫn còn thấy ở cổ túi mật, nhưng không có phù nề túi mật.

    Phù nề tái tưới máu

    Điều quan trọng cần nhận thức là bệnh nhân chỉ cảm thấy đau trong giai đoạn phù nề túi mật.
    Xét nghiệm chỉ cho thấy tăng bạch cầu và CRP vẫn bình thường.

    Sớm sau đó, áp lực trong lòng túi mật sẽ tăng cao đến mức có thể gây thiếu máu cục bộ tương đối ở thành túi mật bị căng giãn mỏng.
    Nếu sỏi bị bong ra hoặc bằng cách nào đó lại cho phép mật lưu thông qua ống túi mật – có thể xảy ra tự phát hoặc do điều trị thuốc giảm co thắt – phù nề thành túi mật có thể phát triển rất nhanh (hình).

    Phù nề này biến mất trong vòng 12-48 giờ và được gọi là phù nề tái tưới máu, thứ phát sau giai đoạn thiếu máu cục bộ.
    Đôi khi cũng có thể phát hiện tăng sinh mạch thứ phát bằng siêu âm Doppler (hình).

    Sau khi phù nề túi mật biến mất, cơn đau quặn kết thúc nhưng bệnh nhân thường còn cảm giác “đau âm ỉ” trong một thời gian.

    Hình ảnh của một phụ nữ trẻ bị cơn đau quặn mật kéo dài 8 giờ.
    Siêu âm cho thấy sỏi bị kẹt và phù nề túi mật.
    Bệnh nhân đi bộ trong một giờ và siêu âm được thực hiện lại.
    Sỏi đã bong ra, và phù nề tái tưới máu xuất hiện như những dấu hiệu chứng nhân thầm lặng của cơn đau quặn.
    CRP vẫn bình thường.

    Khi phù nề túi mật đã biến mất, bệnh nhân không còn đau quặn nữa.
    Tuy nhiên bệnh nhân thường có cảm giác “đau âm ỉ” mơ hồ ở vùng thượng vị như thể ai đó đã “đấm vào bụng họ”.

    Rõ ràng, điều thiết yếu là phải tích hợp bệnh sử của bệnh nhân, dữ liệu xét nghiệm và các phát hiện siêu âm vào báo cáo cuối cùng của lần khám siêu âm.

    Vào ngày 0, có phù nề túi mật cấp tính do sỏi bị kẹt.
    Một ngày sau, bệnh nhân không còn triệu chứng.
    Sỏi vẫn còn tại chỗ, nhưng rõ ràng cho phép mật lưu thông qua ống túi mật, vì phù nề đã biến mất.

    Phù nề tái tưới máu và bùn mật là những dấu hiệu chứng nhân thầm lặng của cơn đau trước đó.
    CRP vẫn bình thường.

    Dấu hiệu chứng nhân thầm lặng của cơn đau trước đó.
    Siêu âm thực hiện 24 giờ sau cơn đau quặn cho thấy túi mật co nhỏ với nhiều sỏi nhỏ ở bệnh nhân chưa ăn.

    Bảy ngày sau, túi mật giãn trở lại (được quan sát ở bệnh nhân đang nhịn ăn).

    Dấu hiệu chứng nhân thầm lặng của cơn đau quặn mật ở sáu bệnh nhân khác nhau.

    Siêu âm được thực hiện 6-12 giờ sau cơn đau.
    Tất cả bệnh nhân đều không có triệu chứng tại thời điểm siêu âm.

    Tất nhiên, không phải tất cả bệnh nhân đều may mắn khi cơn đau quặn mật tự thuyên giảm.
    Trong số tất cả bệnh nhân nhập viện vì cơn đau quặn mật, một tỷ lệ nhỏ (10-15%) tiến triển thành viêm túi mật cấp.

    Viêm Túi Mật Cấp

    Nếu sỏi tiếp tục gây tắc nghẽn cổ túi mật hoặc ống túi mật, tình trạng nhiễm khuẩn của dịch mật và chất nhầy ứ đọng có thể chuyển từ phình nước túi mật cấp thành viêm túi mật cấp.

    Do đây là một quá trình diễn tiến từ từ, các dấu hiệu siêu âm của viêm túi mật cấp cũng xuất hiện dần dần và chồng lên các dấu hiệu của phình nước túi mật cấp.

    Bảng này trình bày các dấu hiệu siêu âm của viêm túi mật cấp chồng lên các dấu hiệu của phình nước túi mật cấp.

    Các dấu hiệu siêu âm bổ sung của viêm túi mật bao gồm:

    • Thành túi mật dày, thường có cấu trúc phân lớp
    • Xuất hiện bùn mật như một dấu hiệu của tình trạng ứ đọng kéo dài
    • Tăng sinh mạch máu thành túi mật
    • Cuối cùng là tình trạng viêm mỡ xung quanh đáy túi mật, đại diện cho mạc nối lớn di chuyển đến vị trí có nguy cơ thủng sắp xảy ra

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân viêm túi mật cấp giai đoạn sớm.
    Lưu ý sỏi gây tắc nghẽn (mũi tên), thành túi mật dày và túi mật phình ra phía thành bụng khi ấn, cho thấy áp lực trong lòng túi mật cao.

    CRP là 110, xác nhận chẩn đoán viêm túi mật cấp.

    Viêm túi mật giai đoạn tiến triển với mỡ viêm (dấu hoa thị) xung quanh đáy túi mật.
    Đây là hình ảnh mạc nối lớn di chuyển đến vị trí túi mật để bao bọc ngăn ngừa thủng có thể xảy ra.


    Bacteremia in a patient with lobar nephritis with reactive gallbladder wall thickening simulating acute cholecystitis

    Nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhân viêm thận thùy với dày thành túi mật phản ứng giả viêm túi mật cấp

    Tuy nhiên, các dấu hiệu siêu âm bổ sung này không phải lúc nào cũng đáng tin cậy.

    • Bùn mật có thể là kết quả của tình trạng ứ đọng mạn tính do nhịn ăn
    • Dày thành túi mật có nhiều nguyên nhân khác ngoài viêm túi mật cấp (hình).

    Đây là hình ảnh của một phụ nữ trẻ bệnh nặng với đau bụng lan tỏa và CRP 430.
    Siêu âm cho thấy thành túi mật dày phù nề rõ rệt, lòng túi mật nhỏ và không chứa sỏi.
    CT phát hiện viêm thận thùy (dấu hoa thị) là nguyên nhân gây triệu chứng và CRP cao của bệnh nhân.
    Dày thành túi mật là thứ phát do tình trạng viêm nhiễm khuẩn.
    Sau khi điều trị kháng sinh, túi mật và thận trở về bình thường hoàn toàn.


    Acute pancreatitis simulating acute cholecystitis

    Viêm tụy cấp giả viêm túi mật cấp

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân cao tuổi (79 tuổi) với đau hạ sườn phải cấp tính.

    Túi mật lớn, tuy nhiên không phình nước (đầu mũi tên) với sỏi di động và dày thành phù nề.
    Xét nghiệm cho thấy CRP 3 và amylase huyết thanh 985.

    Chẩn đoán: viêm tụy cấp do sỏi mật với dày thành túi mật thứ phát.


    Acute pancreatitis simulating acute cholecystitis

    Viêm tụy cấp giả viêm túi mật cấp

    Bệnh nhân béo phì với đau thượng vị cấp tính.

    Siêu âm cho thấy sỏi túi mật và dày thành, gợi ý viêm túi mật cấp.

    CT thực hiện tiếp theo đã phát hiện bản chất thực sự của các triệu chứng: viêm tụy cấp do sỏi mật với dày thành túi mật thứ phát.

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân với mệt mỏi, đau hạ sườn phải và rối loạn chức năng gan nặng.

    Siêu âm cho thấy túi mật nhỏ với dày thành phân lớp và hạch bạch huyết quanh cuống gan to.

    Chẩn đoán: viêm gan A cấp.

    Phân biệt Phình Nước Túi Mật – Viêm Túi Mật Cấp

    Quan trọng hơn các dấu hiệu siêu âm bổ sung trong việc phân biệt phình nước túi mật với viêm túi mật là các dấu hiệu lâm sàng và kết quả xét nghiệm: sốt và các thông số nhiễm trùng tăng cao.

    Cần nhấn mạnh rằng đặc biệt ở người cao tuổi, quá trình tiến triển từ phình nước túi mật cấp sang viêm túi mật cấp thường âm thầm và thường không có biểu hiện lâm sàng rõ ràng.

    Cơn đau thường ít dữ dội hơn nhiều so với cơn đau quặn mật ban đầu và thường không có sốt.
    Điều này nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc theo dõi CRP lặp lại.
    Sự tăng CRP – nói chung – thường xuất hiện trước các triệu chứng lâm sàng.

    Nếu bệnh nhân đến khám muộn, túi mật có thể biểu hiện những thay đổi hình thái học đáng kể.
    Điều có thể gây nhầm lẫn là trong viêm túi mật giai đoạn tiến triển, dấu hiệu phình nước túi mật trên siêu âm có thể kém nổi bật hơn, do thành túi mật bị tổn thương không còn khả năng sản xuất chất nhầy và áp lực trong lòng túi mật đã giảm.

    Hình ảnh cho thấy viêm túi mật cấp kéo dài.

    Lưu ý vùng mỡ viêm và xơ hóa rộng (dấu hoa thị) và túi mật tương đối nhỏ, có thể ép xẹp một phần.
    Điều này phản ánh lòng túi mật chứa đầy mủ, trong đó niêm mạc bị tổn thương không còn khả năng sản xuất chất nhầy dưới áp lực.

    Dẫn lưu cho thấy mủ.

    CT trong viêm túi mật cấp

    CT có thể rất hữu ích trong các trường hợp siêu âm không cho kết quả chẩn đoán.
    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân béo phì với đau hạ sườn phải cấp tính trong 6 giờ. CRP 2.

    Siêu âm cho thấy túi mật lớn có bùn mật, không quan sát thấy sỏi.
    Việc ấn vào túi mật không đáng tin cậy do vị trí cao dưới cung sườn phải.
    Không có bất thường siêu âm nào khác.

    CT thực hiện cùng ngày cho thấy túi mật lớn với chỉ những thay đổi quanh túi mật kín đáo và không có nguyên nhân nào khác giải thích cho các triệu chứng.
    Ngày hôm sau CRP là 105 và CT không tiêm thuốc cản quang lặp lại cho thấy quầng mờ xung quanh túi mật.

    Phẫu thuật tiếp theo xác nhận viêm túi mật cấp giai đoạn sớm do sỏi nhỏ trong ống túi mật.

    Các thể đặc biệt của viêm túi mật


    Viêm túi mật khí thũng. Siêu âm cho thấy khí ở đáy túi mật (đầu mũi tên). CT xác nhận có khí cả trong lòng và trong thành túi mật.

    Viêm túi mật khí thũng. Siêu âm cho thấy khí ở đáy túi mật (đầu mũi tên). CT xác nhận có khí cả trong lòng và trong thành túi mật.

    Viêm túi mật khí thũng

    Thể đặc biệt của viêm túi mật này thường gặp – nhưng không phải luôn luôn – ở bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi và có các đặc điểm điển hình trên siêu âm và CT (hình).

    Do sự hiện diện của khí cho thấy hoại tử thành túi mật, phẫu thuật cắt túi mật cấp cứu thường được khuyến cáo; tuy nhiên, dẫn lưu qua da là một phương án thay thế hiệu quả, vì phẫu thuật thường tiềm ẩn nhiều nguy cơ cao ở những bệnh nhân đái tháo đường vốn đã có tình trạng toàn thân suy kiệt nặng nề.

    Các hình ảnh này thuộc về một bệnh nhân không mắc đái tháo đường, có biểu hiện đau dữ dội vùng hạ sườn phải, CRP 190 và bạch cầu 19.
    Siêu âm ghi nhận hình ảnh bất thường của túi mật với cặn lắng tăng âm và các phản xạ sáng trong thành.
    CT cho thấy viêm túi mật khí thũng kèm theo khí tự do trong khoang phúc mạc.

    Phẫu thuật cắt túi mật kinh điển xác nhận viêm túi mật hoại tử có nhiễm bẩn phúc mạc.


    Viêm túi mật xuất huyết. Siêu âm chỉ cho thấy một khối giống cặn lắng. CT cho thấy máu tăng tỷ trọng trong lòng túi mật và thành túi mật không đều. Phẫu thuật cắt túi mật rất khó khăn về mặt kỹ thuật.

    Viêm túi mật xuất huyết. Siêu âm chỉ cho thấy một khối giống cặn lắng. CT cho thấy máu tăng tỷ trọng trong lòng túi mật và thành túi mật không đều. Phẫu thuật cắt túi mật rất khó khăn về mặt kỹ thuật.

    Viêm túi mật xuất huyết

    Viêm túi mật xuất huyết là thể hiếm gặp, xảy ra khi hoại tử thành túi mật dẫn đến chảy máu trong lòng túi mật.
    Thể này gặp nhiều hơn ở bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc kháng đông.

    Siêu âm thường không đặc hiệu nhưng có thể cho thấy một khối lớn dạng cặn lắng và thành túi mật không đều.
    CT cho thấy các khối tăng tỷ trọng, không suy giảm tỷ trọng trong lòng túi mật (hình).

    Do xuất huyết là hậu quả của hoại tử thiếu máu cục bộ thành túi mật, phương pháp dẫn lưu qua da không được ưu tiên trong trường hợp này, mặc dù phẫu thuật cắt túi mật cũng có thể gặp nhiều khó khăn.

    Đây là một trường hợp viêm túi mật xuất huyết khác ở bệnh nhân đang dùng salicylate.
    CRP là 150.

    Phẫu thuật cắt túi mật nội soi cấp cứu được thực hiện ngay.
    Tình trạng phình to túi mật (hydrops) được xác nhận và chọc hút trong mổ cho thấy máu.

    Phẫu thuật có biến chứng là khối máu tụ lớn sau mổ.


    Viêm túi mật u hạt vàng.

    Viêm túi mật u hạt vàng.

    Viêm túi mật u hạt vàng

    Đây là thể lành tính hiếm gặp nhưng đã được ghi nhận rõ ràng của viêm túi mật mạn tính kéo dài.
    Bệnh có thể là hậu quả của nhiều đợt viêm phá hủy do sự hiện diện của sỏi.

    Điều quan trọng là không được chẩn đoán nhầm thực thể này với bệnh lý ác tính.

    Các hình ảnh này thuộc về một bệnh nhân nữ 82 tuổi, thức dậy lúc 4 giờ sáng với cơn đau dữ dội vùng thượng vị.

    Kết quả xét nghiệm lúc nhập viện (8 giờ sau khi đau khởi phát) trong giới hạn bình thường.
    Siêu âm cho thấy túi mật lớn nhưng không phình to (non-hydropic) với một sỏi nhỏ.
    Không phát hiện sỏi gây tắc nghẽn.
    Có một ít dịch tự do, khi chọc hút xác định là dịch mật.
    CT được thực hiện nhưng không cung cấp thêm thông tin.
    Phẫu thuật cắt túi mật nội soi phát hiện thủng tự do với 150 ml dịch mật trong ổ bụng.

    Một trường hợp viêm túi mật thủng tự do khác.
    Túi mật đã xẹp có lòng tương đối nhỏ và thành dày, phù nề, không đều.

    Có dịch tự do trong phúc mạc quanh tử cung, được xác định là dịch mật qua chọc hút dưới hướng dẫn siêu âm.

    Bệnh nhân nặng với đau hạ sườn phải kéo dài 4 ngày, CRP 450 và bạch cầu 14.

    CT cho thấy thủng khu trú tại đáy túi mật với một ổ dịch không rõ ranh giới dưới thùy gan trái.

    Phẫu thuật cắt túi mật mở cấp cứu xác nhận viêm túi mật thủng với nhiễm bẩn mủ nặng nề khoang phúc mạc.

    Nếu không được phẫu thuật kịp thời, thủng tự do có thể dẫn đến hình thành áp xe ở vị trí xa, thường có vị trí và hình thái khác với các áp xe quanh túi mật trong viêm túi mật có biến chứng (hình).

    Có áp xe quanh túi mật cũng như áp xe quanh gan ở xa trong viêm túi mật thủng.

    Bệnh nhân được điều trị kháng sinh và chỉ dẫn lưu túi mật đơn thuần.

    Áp xe trong gan kề cận túi mật trong viêm túi mật cấp, quan sát thấy trên cả siêu âm và CT.

    Dẫn lưu túi mật qua da được thực hiện.
    Áp xe tự dẫn lưu vào trong lòng túi mật.

    Viêm túi mật giả ác tính

    Viêm túi mật cấp đôi khi không được nhận diện trên lâm sàng, đặc biệt ở người cao tuổi, và có thể được điều trị bằng kháng sinh nhiều lần.
    Điều này có thể làm giảm nhẹ và thay đổi quá trình viêm bình thường, dẫn đến các hình ảnh bất thường trên siêu âm và CT.
    Trong những trường hợp như vậy, chẩn đoán ác tính túi mật không hiếm khi được đặt ra, có thể dẫn đến quyết định phẫu thuật lớn không cần thiết.
    Cần lưu ý rằng ung thư túi mật ở các nước phương Tây rất hiếm gặp, thường không còn khả năng phẫu thuật triệt căn tại thời điểm phát hiện và có tiên lượng xấu.
    Sự kết hợp giữa tiền sử lâm sàng, hình ảnh siêu âm và CT, cùng với theo dõi diễn tiến theo thời gian, có thể giúp tránh được các phẫu thuật lớn không cần thiết.

    Viêm túi mật không sỏi

    Viêm túi mật không sỏi là một thực thể bệnh lý dễ gây nhầm lẫn.
    Viêm túi mật không sỏi thực sự, không do tắc nghẽn là cực kỳ hiếm gặp và là hậu quả của hoại tử thiếu máu cục bộ nguyên phát thành túi mật do một đợt giảm lưu lượng máu, tương tự như thiếu máu cục bộ mạc treo không do tắc nghẽn (NOMI) dẫn đến nhồi máu ruột non.
    Thể này thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi có bệnh lý nền suy kiệt hoặc sau chấn thương nặng.
    Điều trị là phẫu thuật cắt túi mật cấp cứu.

    Hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán “viêm túi mật không sỏi” thực chất là những bệnh nhân bị phình to túi mật cấp tính (hydrops) hoặc viêm túi mật mà không tìm thấy sỏi trên siêu âm, CT, cũng như trong quá trình phẫu thuật hay trên mẫu bệnh phẩm giải phẫu bệnh.
    Tuy nhiên, khi siêu âm xác định rõ ràng tình trạng phình to túi mật ở một bệnh nhân, rõ ràng phải có một dạng tắc nghẽn lòng ống nào đó, có thể do một sỏi rất nhỏ hoặc cặn lắng kết hợp với ống túi mật hẹp.
    Do có nguồn gốc tắc nghẽn, các trường hợp này có nguy cơ biến chứng tương đương viêm túi mật cấp do sỏi và do đó cần được điều trị theo cùng một phác đồ.

    Một bẫy chẩn đoán gây nhầm lẫn và thường gặp khác là hình ảnh túi mật lớn chứa đầy cặn lắng với thành dày, thường gặp ở bệnh nhân trong khoa Hồi sức tích cực (ICU).
    Trong trường hợp CRP tăng cao, tình trạng này thường bị chẩn đoán nhầm và điều trị sai như viêm túi mật không sỏi.
    Để tránh bẫy chẩn đoán này, điều cần thiết là kiểm tra khả năng ép xẹp của đáy túi mật trên siêu âm và thực hiện CT để phát hiện các nguyên nhân thay thế có thể giải thích cho các triệu chứng và tình trạng CRP tăng cao.

    Hình thành đường rò

    Viêm túi mật cấp có thể biến chứng thủng.
    Hầu hết các trường hợp viêm túi mật thủng tiến triển chậm và vị trí thủng được bao bọc lại tạo thành áp-xe khu trú.
    Thủng tự do trong viêm túi mật cấp khá hiếm gặp (như đã đề cập trước đó).

    Viêm túi mật không được chẩn đoán hoặc không được điều trị cũng có thể dẫn đến hình thành đường rò vào tá tràng.
    Đây là một biến chứng không thường gặp, nhưng khi xảy ra, hầu hết các trường hợp sỏi sẽ di chuyển vào ruột non, nơi sỏi bị kẹt lại và gây ra tắc ruột do sỏi mật.

    Trong các trường hợp hiếm gặp của rò tá tràng, một viên sỏi mật lớn có thể bị “kẹt” tại đường rò vào tá tràng.
    Do mô viêm và mô xơ thứ phát, tình trạng này có thể dẫn đến hẹp và tắc nghẽn.
    Tình huống đặc biệt này được gọi là “hội chứng Bouveret” với biểu hiện lâm sàng chính là tắc nghẽn đường ra dạ dày.

    Tắc ruột do sỏi mật

    Khi không được điều trị, viêm túi mật cấp có thể dẫn đến các biến chứng mới.
    Dịch mủ trong túi mật bao gồm cả sỏi mật có thể thoát ra tá tràng hoặc đôi khi vào đại tràng.

    Tình trạng này thường xảy ra ở bệnh nhân cao tuổi, những người mà viêm túi mật thường không được chẩn đoán và/hoặc không được điều trị.
    Thông thường liên quan đến một viên sỏi lớn, theo kinh điển bị kẹt tại van hồi manh tràng, nhưng thực tế trong hầu hết các trường hợp sỏi gây tắc nghẽn ruột non ở vị trí cao hơn tại hồi tràng hoặc thậm chí hỗng tràng.
    Trong hầu hết các trường hợp, chẩn đoán dễ dàng hơn nhiều khi sử dụng CT so với siêu âm.

    Phát video.

    Dấu hiệu quan trọng là hơi trong túi mật.

    Phát video.

    Dấu hiệu quan trọng là hơi trong túi mật.


    Cuộn qua các hình ảnh (trên Mac dùng hai ngón tay).

    Đây là hình ảnh điển hình của tắc ruột do sỏi mật.

    Lưu ý mức độ khó khăn khi phát hiện viên sỏi không vôi hóa.

    Hội chứng Bouveret

    Trong các trường hợp hiếm gặp của rò tá tràng, một viên sỏi mật lớn có thể bị “kẹt” trong quá trình rò kéo dài.
    Do mô viêm và mô xơ thứ phát, tình trạng này có thể dẫn đến hẹp và tắc nghẽn tá tràng.

    Tình huống đặc biệt này được gọi là “hội chứng Bouveret” với biểu hiện lâm sàng chính là tắc nghẽn đường ra dạ dày (hình).

    Mặc dù hiếm gặp, việc chẩn đoán chính xác là vô cùng quan trọng, vì cắt túi mật rất nguy hiểm và cần tránh thực hiện.
    Nếu không thể lấy sỏi qua nội soi, giải pháp tốt nhất là phẫu thuật nối vị tràng (gastrojejunostomy).


    Hội chứng Bouveret

    Đây là bệnh nhân có tình trạng ứ đọng dạ dày từng đợt và CRP thấp.
    Cuộn qua các hình ảnh.

    Các dấu hiệu hình ảnh là gì?

    Một viên sỏi lớn bị “kẹt” trong đường rò từ túi mật biến dạng đến tá tràng.
    Dày thành tá tràng thứ phát (đầu mũi tên) cùng mô viêm và mô xơ xung quanh gây ra tình trạng ứ đọng dạ dày từng đợt kèm nôn mửa.


    Bouveret syndrome

    Hội chứng Bouveret

    Hình ảnh của một bệnh nhân nữ cao tuổi, nhập viện vì ứ đọng dạ dày và nôn mửa.
    CRP là 55, nhưng được ghi nhận là 160 vài ngày trước đó.

    Siêu âm cho thấy một viên sỏi lớn trong túi mật chứa đầy chất lắng cặn, thành túi mật không đều.
    Dạ dày giãn to và có dày thành tá tràng đáng kể (đầu mũi tên) kèm viêm xung quanh (dấu hoa thị).
    Nội soi dạ dày được thực hiện do nghi ngờ ác tính, nhưng sinh thiết chỉ cho thấy hình ảnh viêm.

    Tiếp tục xem CT.


    Hội chứng Bouveret

    CT xác nhận chẩn đoán hội chứng Bouveret.

    Dẫn lưu túi mật qua da đã giải quyết các triệu chứng ứ đọng dạ dày.

    Một năm sau, viên sỏi dường như đã tự di chuyển vào lòng tá tràng, và bệnh nhân phát triển tắc ruột do sỏi mật điển hình, được phẫu thuật thành công.

  • Bệnh lý ống mật

    Bệnh lý đường mật

    Angela D. Levy MD

    Trưởng khoa Chẩn đoán Hình ảnh Tiêu hóa, Khoa Bệnh lý Phóng xạ, Viện Bệnh lý Lực lượng Vũ trang, Washington DC

    Ngày đăng

    Bài tổng quan này dựa trên bài trình bày của Angela Levy và được Robin Smithuis biên soạn lại cho the Radiology Assistant.

    Chúng ta sẽ thảo luận về:

    • Các rối loạn đường mật không tắc nghẽn
    • Các khối u đường mật gây tắc nghẽn

    bởi Angela D. Levy

    Giới thiệu

    Chẩn đoán phân biệt giãn ống mật

    Khi phát hiện giãn ống mật, ưu tiên hàng đầu là tìm kiếm nguyên nhân tắc nghẽn.

    Tắc nghẽn
    Nếu có tắc nghẽn, trước tiên cần tìm sỏi trong ống mật.
    Nếu không có sỏi, tiếp theo cần tìm kiếm các chỗ hẹp.
    Chẩn đoán phân biệt của hẹp ống mật dựa trên vị trí tổn thương.

    • Hẹp đoạn xa nhiều khả năng là do ung thư đường mật đoạn xa, ung thư tụy hoặc viêm tụy.
    • Hẹp trong gan có thể do ung thư túi mật hoặc hẹp do viêm như Viêm Đường Mật Xơ Hóa Nguyên Phát (PSC) hoặc bệnh lý đường mật do AIDS.
    • Bệnh di căn có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trong hệ thống đường mật.

    Không có tắc nghẽn
    Sau khi đã loại trừ tắc nghẽn, cần nghĩ đến các bệnh lý đường mật không tắc nghẽn như:

    • Bệnh Caroli
    • Nang ống mật chủ
    • Viêm đường mật sinh mủ tái phát
    • Viêm đường mật xơ hóa nguyên phát

    Bệnh Caroli


    Saccular intrahepatic duct dilatation with normal sized choledochal duct in Caroli disease

    Giãn ống mật trong gan dạng túi với ống mật chủ kích thước bình thường trong bệnh Caroli

    Bệnh Caroli là bệnh di truyền lặn nhiễm sắc thể thường, xảy ra thứ phát do dị dạng tấm ống dẫn.
    Bệnh có liên quan đến bệnh thận đa nang, thận xốp tủy và bệnh nang tủy thận.
    Do đó, quan sát hình ảnh thận đôi khi có thể hỗ trợ chẩn đoán bệnh này.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân mắc bệnh Caroli.
    Lưu ý tình trạng giãn ống mật trong gan và đường kính bình thường của ống mật chủ (ống mật ngoài gan).


    Saccular bile duct dilatation in Caroli disease

    Giãn ống mật dạng túi trong bệnh Caroli

    Đặc điểm điển hình của bệnh Caroli là giãn ống mật trong gan.
    Tình trạng giãn có thể rất lớn và dạng túi như trong trường hợp bên trái, hoặc có thể có dạng tuyến tính.


    Normal development of the ductal plate (Illustration by Aletta Frazier)

    Sự phát triển bình thường của tấm ống dẫn (Minh họa bởi Aletta Frazier)

    Bệnh Caroli (2)
    Tình trạng giãn ống dẫn trong bệnh Caroli là do dị dạng bẩm sinh của tấm ống dẫn, vốn là cấu trúc tiền thân của các ống mật trong gan.
    Bên trái là hình ảnh minh họa sự phát triển bình thường của tấm ống dẫn.
    Về mặt phôi thai học, mỗi ống mật bắt đầu hình thành từ một lớp tế bào đơn bao quanh tĩnh mạch cửa.
    Lớp này sau đó nhân đôi.
    Các phần của lớp kép này hợp nhất và thoái triển, để lại các phần không hợp nhất sẽ trở thành các ống mật.


    Abnormal development of the ductal plate(Illustration by Aletta Frazier)

    Sự phát triển bất thường của tấm ống dẫn (Minh họa bởi Aletta Frazier)

    Trong điều kiện bình thường, mỗi tĩnh mạch cửa được bao quanh bởi các ống mật nối thông với nhau (hình bên trái).
    Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có dị dạng tấm ống dẫn, các ống mật sẽ quá nhiều và bị giãn (hình bên phải).
    Việc có thể phát hiện điều này trên hình ảnh hay không phụ thuộc vào phần ống mật nào bị tổn thương.
    Nếu các ống lớn bị ảnh hưởng, chúng ta sẽ thấy biểu hiện của bệnh Caroli.
    Tuy nhiên, nếu chỉ có các ống rất nhỏ bị ảnh hưởng, kết quả sẽ là xơ gan bẩm sinh.
    Nếu tất cả các ống đều bị ảnh hưởng, sẽ có sự kết hợp giữa xơ hóa và bệnh Caroli, còn được gọi là hội chứng Caroli.


    Central dot sign in Caroli disease

    Dấu hiệu chấm trung tâm trong bệnh Caroli

    Dấu hiệu chấm trung tâm

    Thường gặp nhất là giãn ống mật trong gan theo phân bố từng phân thùy (83%).
    Thể lan tỏa ít gặp hơn (17%).
    Hình dạng giãn là dạng túi trong 76% hoặc dạng thoi trong 24% các trường hợp.
    Một dấu hiệu rất quan trọng là dấu hiệu chấm trung tâm.
    Chấm trung tâm tương ứng với tĩnh mạch cửa được bao quanh bởi các ống mật giãn.

    Bên trái chúng ta thấy một chấm nằm bên trong các ống giãn.
    Khi bật Doppler màu, chúng ta sẽ nhận thấy các cấu trúc này có dòng chảy máu và đại diện cho các tĩnh mạch cửa.


    Central dot sign in Caroli disease

    Dấu hiệu chấm trung tâm trong bệnh Caroli

    Bệnh Caroli (3)
    Bên trái là hình ảnh CT của cùng bệnh nhân.
    Lưu ý dấu hiệu chấm trung tâm và tổn thương theo phân thùy.
    Bệnh nhân này có xơ gan kèm lách to do tăng áp lực tĩnh mạch cửa.

    Giãn ống mật ngoài gan hiện diện trong 53% các trường hợp, thứ phát do viêm đường mật và sự di chuyển của sỏi hoặc bùn mật.
    Đây là các dấu hiệu thứ phát, không phải là một phần của bệnh nguyên phát.
    Khi có xơ hóa lan rộng, những bệnh nhân này có thể tiến triển thành xơ gan theo thời gian.


    ERCP: Caroli disease with severe intrahepatic duct dilatation. No obstruction. Mild dilatation of the choledochal duct due to cholangitis

    ERCP: Bệnh Caroli với giãn ống mật trong gan nặng. Không có tắc nghẽn. Giãn nhẹ ống mật chủ do viêm đường mật

    Bệnh Caroli (4)
    Chụp đường mật đóng vai trò quan trọng trong quá trình đánh giá những bệnh nhân này, vì cần phải loại trừ tình trạng tắc nghẽn.
    Điều này có thể được thực hiện bằng MRCP hoặc ERCP, như được minh họa bên trái.
    Không có dấu hiệu tắc nghẽn.
    Giãn nhẹ ống mật chủ là kết quả của viêm đường mật.

    Hãy quan sát hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Có giãn khu trú xen kẽ với các đoạn hẹp của ống mật tại phân thùy IV (mũi tên).
    Các ống mật còn lại và ống mật chủ bình thường.

    Trong một số trường hợp bệnh Caroli, các dấu hiệu hình ảnh có thể mô phỏng u nang tân sinh như trong trường hợp bên trái.
    Trường hợp này ban đầu được chẩn đoán là u nang tuyến đường mật.
    Tuy nhiên, bệnh phẩm đại thể cho thấy các ống mật giãn và dị dạng tấm ống dẫn được xác nhận trên vi thể.


    Caroli disease with intraductal stone formation

    Bệnh Caroli với sỏi trong ống mật

    Bệnh Caroli (5): Biến chứng
    Bệnh nhân mắc bệnh Caroli thường được phát hiện khi xuất hiện các biến chứng.
    Các biến chứng này thường là hậu quả của ứ đọng mật, dẫn đến hình thành sỏi và nhiễm trùng.

    Biến chứng:

    • Sỏi trong ống mật
    • Viêm đường mật và Áp xe
    • Xơ gan
    • Ung thư biểu mô đường mật

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân với các ống mật giãn kèm sỏi trong ống (mũi tên)

    Hãy quan sát hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Thận xốp tủy kèm hình thành sỏi (mũi tên đỏ)
    • Giãn nhẹ ống mật (mũi tên xanh dương)
    • Khối giảm tỷ trọng dạng tròn ở thùy gan phải

    Khối ở thùy gan phải được xác định là áp xe.
    Cần lưu ý rằng áp xe gan trong giai đoạn sớm có thể có hình ảnh khá đặc.
    Trong chẩn đoán phân biệt, chúng ta cũng cần xem xét khả năng u tân sinh, vì bệnh nhân mắc bệnh Caroli có nguy cơ tăng cao phát triển ung thư biểu mô đường mật.


    Cirrhosis in a patient with Caroli disease

    Xơ gan ở bệnh nhân mắc bệnh Caroli

    Cuối cùng, nếu có xơ hóa đáng kể và toàn bộ gan bị ảnh hưởng, những bệnh nhân này sẽ tiến triển thành xơ gan.

    Bệnh nhân bên trái đã tiến triển suy gan nặng và được phẫu thuật cắt gan.
    Lưu ý tình trạng giãn ống mật trong gan, lách to và giãn các tĩnh mạch bàng hệ.
    Trên bệnh phẩm cắt bỏ có dấu hiệu chấm trung tâm (mũi tên xanh dương) và một ổ mủ nhỏ (mũi tên vàng).


    LEFT: Infiltrating cholangiocarcinoma with stricture in a patient with Caroli disease RIGHT:  Intraductal cholangiocarcinoma

    Nang ống mật chủ

    Nang ống mật chủ là tình trạng giãn bẩm sinh của đường mật ngoài gan.
    Những bệnh nhân này không có bất thường tấm ống (ductal plate).
    Lý thuyết phổ biến nhất về cơ chế hình thành nang ống mật chủ là tình trạng giãn xảy ra do bất thường bẩm sinh của chỗ nối tụy-mật (anomalous pancreatico-biliary junction).
    Tại chỗ nối bất thường này, ống mật và ống tụy hợp lưu ở vị trí gần (proximal) so với cơ vòng Oddi.
    Ở những bệnh nhân này, đoạn ống chung có chiều dài bất thường.
    Lý thuyết cho rằng khi cơ vòng Oddi co thắt, các enzyme tụy sẽ trào ngược vào ống mật, gây ra tình trạng giãn và trong một số trường hợp là hẹp đoạn ống mật xa.


    Todani Classification of choledochal cysts

    Phân loại Todani của nang ống mật chủ

    Phân loại Todani

    Phân loại này chia nang ống mật chủ thành 5 nhóm.
    Nhóm V, không được thể hiện trong hình bên trái, là bệnh Caroli.
    Hiện nay chúng ta biết rằng Caroli là một bệnh lý riêng biệt.
    Nhóm I là nang ống mật chủ thực sự với tình trạng giãn khu trú của ống mật ngoài gan.
    Đây là nhóm thường gặp nhất (chiếm 90-95% các trường hợp).
    Nhóm IV cũng là nang ống mật chủ thực sự với tình trạng giãn toàn bộ ống mật ngoài gan kèm theo tổn thương một phần các ống mật trong gan.
    Các ống mật trong gan thon dần bình thường về phía ngoại vi, cho thấy không có tình trạng tắc nghẽn.
    Nhóm II và III cực kỳ hiếm gặp và còn nhiều tranh luận về việc liệu đây có phải là nang ống mật chủ thực sự hay không.
    Nhóm II là túi thừa của ống mật ngoài gan và nhiều ý kiến cho rằng thực thể này không liên quan đến bất thường chỗ nối tụy-mật.
    Nhóm III là nang ống mật chủ đoạn xa (choledochocele), trong đó có tình trạng giãn phần xa của ống mật.
    Những bệnh nhân này cũng có chỗ nối tụy-mật bình thường.


    Type IV choledochal cyst

    Nang ống mật chủ nhóm IV

    Nang ống mật chủ (2)
    Hình bên trái là bệnh nhân có tình trạng giãn cả ống mật ngoài gan lẫn một phần ống mật trong gan.
    Đây là nang ống mật chủ nhóm IV.
    Lưu ý rằng các ống mật ngoại vi bình thường, do đó đây không phải là hình ảnh giãn do tắc nghẽn.


    Type IV choledochal cyst

    Nang ống mật chủ nhóm IV

    Hình bên trái là một trường hợp nang ống mật chủ nhóm IV khác.
    Có tình trạng giãn ống mật chủ, ống túi mật và một đoạn nhỏ của ống gan trái.
    Không có tình trạng giãn đường mật trong gan.


    Cholangiocarcinoma within a choledocha cyst

    Ung thư đường mật (Cholangiocarcinoma) trong nang ống mật chủ

    Nang ống mật chủ (3)
    Có mối liên quan giữa ung thư biểu mô tuyến đường mật (bile duct adenocarcinoma) và nang ống mật chủ.
    Các ung thư này có thể xuất hiện trong lòng nang ống mật chủ, như trường hợp minh họa bên trái, hoặc tại túi mật hay bất kỳ vị trí nào khác trên đường mật.
    Tại đường mật, chúng có thể biểu hiện dưới dạng ung thư đường mật ngoại vi điển hình, u Klatskin hoặc ung thư đường mật đoạn xa.

    Viêm Đường Mật Mủ Tái Phát (RPC)


    Recurrent pyogenic cholangitis. Illustration by Heike Blum.

    Viêm đường mật mủ tái phát. Minh họa bởi Heike Blum.

    Viêm đường mật mủ tái phát là một bệnh lý không phổ biến ở các nước phương Tây.
    Phần lớn các trường hợp được ghi nhận tại các quốc gia châu Á.
    Căn nguyên của bệnh vẫn chưa được xác định rõ, mặc dù một số bệnh nhân có liên quan đến ký sinh trùng đường mật.
    Bệnh đặc trưng bởi sự hiện diện của sỏi sắc tố trong gan và các đợt nhiễm trùng tái phát.
    Những bệnh nhân này cũng có nguy cơ tiến triển thành xơ gan mật và ung thư đường mật.


    Recurrent pyogenic cholangitis of the left lobe with intrahepatic stones

    Viêm đường mật mủ tái phát ở thùy gan trái kèm sỏi trong gan

    Thùy gan trái là vị trí thường gặp nhất của bệnh do sự dẫn lưu chậm của hệ thống đường mật bên trái.

    Hình bên trái minh họa một trường hợp điển hình.
    Có hình ảnh giãn khu trú các ống mật trong thùy gan trái kèm theo sỏi.


    Recurrent pyogenic cholangitis with resected specimen

    Viêm đường mật mủ tái phát với bệnh phẩm sau phẫu thuật cắt bỏ

    Viêm đường mật mủ tái phát (2)
    Hình bên trái là một ví dụ khác về viêm đường mật mủ tái phát.
    Có hình ảnh sỏi trong gan kèm giãn khu trú đường mật.
    Trường hợp như thế này không thể phân biệt được với bệnh Caroli khu trú có hình thành sỏi thứ phát.

    Viêm Xơ Đường Mật Nguyên Phát


    Primary sclerosing cholangitis: MRCP and ERCP

    Viêm xơ đường mật nguyên phát: MRCP và ERCP

    Khi quan sát thấy hình ảnh giãn đường mật trong gan kèm theo các chỗ hẹp và chỉ giãn nhẹ, chẩn đoán đầu tiên chúng ta nghĩ đến là viêm xơ đường mật nguyên phát (PSC).
    Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng có một danh sách chẩn đoán phân biệt dài bao gồm:

    • Ung thư đường mật (Cholangiocarcinoma)
    • Bệnh di căn (đặc biệt là ung thư vú)
    • Hẹp đường mật do thầy thuốc (Iatrogenic)
    • Các khối u đường mật hiếm gặp (u tế bào hạt – granular cell tumor)
    • Viêm xơ đường mật thứ phát do:

      • Thiếu máu cục bộ, ví dụ sau hóa tắc mạch (Chemoembolisation)
      • Bệnh lý đường mật liên quan đến AIDS

    Ca lâm sàng bên trái minh họa rõ nét các chỗ hẹp đường mật.
    Lưu ý rằng chỉ có giãn nhẹ, đây là đặc điểm thường gặp trong PSC.


    Primary sclerosing cholangitis with strictures both in the intra- and extrahepatic bile ducts. Illustration by Heike Blum

    Viêm xơ đường mật nguyên phát với các chỗ hẹp ở cả đường mật trong gan và ngoài gan. Minh họa bởi Heike Blum

    Đặc điểm điển hình của PSC là các chỗ hẹp, tuy nhiên ở giai đoạn sớm của bệnh, các chỗ hẹp này có thể khó nhận biết.
    Bất thường nền tảng trong PSC là xơ hóa, với căn nguyên chưa được xác định.
    PSC có mối liên quan chặt chẽ với viêm loét đại tràng ở tới 70% bệnh nhân, nhưng cũng có thể liên quan đến bệnh Crohn của đại tràng.
    Lý do của mối liên quan với bệnh viêm ruột (IBD) vẫn chưa được biết rõ, nhưng được cho là kết quả của một phản ứng miễn dịch.


    Chronic inflammation surrounding a bile duct in PSC

    Viêm mạn tính xung quanh ống mật trong PSC

    Viêm xơ đường mật nguyên phát (2)
    Ở ngoài cùng bên trái là tiêu bản mô học cho thấy hình ảnh viêm mạn tính xung quanh ống mật.
    Tiêu bản đại thể cho thấy thành ống mật dày lên (mũi tên) gây ra nhiều chỗ hẹp.
    Các chỗ hẹp trong PSC thường ngắn, khoảng 3-5 mm chiều dài, đây là điểm cần ghi nhớ vì khi tìm kiếm ung thư đường mật, các chỗ hẹp ác tính thường dài hơn 10 mm.


    PSC with thickening of the wall of the bile duct (arrow)

    PSC với thành ống mật dày lên (mũi tên)

    Hình ảnh Siêu âm

    Một trong những dấu hiệu sớm nhất của PSC được phát hiện trên siêu âm là hình ảnh thành ống mật dày lên như thấy trong hình bên trái.
    Bệnh nhân này đến khám siêu âm để loại trừ sỏi túi mật.
    Lưu ý rằng các ống mật trong gan vẫn bình thường.
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm PSC, viêm đường mật liên quan đến AIDS và ung thư đường mật.
    Ung thư đường mật ít có khả năng xảy ra hơn vì không có hình ảnh tắc nghẽn.
    Tiếp tục xem hình ảnh CT.


    PSC with thickening of the wall of the bile duct (arrow)

    PSC với thành ống mật dày lên (mũi tên)

    Hình ảnh CT

    Trên CT, gan trông khá bình thường.
    Tuy nhiên, nếu quan sát ống mật chủ ở vùng đầu tụy, bạn sẽ nhận thấy vùng tỷ trọng mô mềm.
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm sỏi kẹt hoặc ung thư đường mật, nhưng vì bệnh nhân này không có tắc nghẽn, tình trạng này được cho là do thành ống mật dày lên.
    Thành túi mật cũng dày lên.


    Primary sclerosing cholangitis. CT findings

    Viêm xơ đường mật nguyên phát. Hình ảnh CT

    Viêm xơ đường mật nguyên phát (3)
    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân có bệnh nặng hơn.
    Chúng ta có thể thấy giãn đường mật nhẹ với hình ảnh gián đoạn.


    Primary sclerosing cholangitis. CT findings

    Viêm xơ đường mật nguyên phát. Hình ảnh CT

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân với các dấu hiệu CT rõ ràng hơn.
    Hãy quan sát hình ảnh rồi tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Giãn không liên tục
    • Thành ống mật dày tại vùng cuống gan
    • Hạch bạch huyết to


    Primary sclerosing cholangitis. late CT findings

    Viêm xơ đường mật nguyên phát. Hình ảnh CT giai đoạn muộn

    Viêm xơ đường mật nguyên phát (4)
    Các dấu hiệu CT giai đoạn muộn được thấy trong các hình ảnh bên trái.
    Hãy quan sát các hình ảnh rồi tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Thay đổi hình thái xơ gan (mất thể tích thùy phải và thùy đuôi to ra (mũi tên))
    • Giãn đường mật rõ hơn

    Primary sclerosing cholangitis. Cholangiographic findings

    Viêm xơ đường mật nguyên phát. Hình ảnh chụp đường mật

    Chụp đường mật được sử dụng trong chẩn đoán ban đầu của bệnh khi chỉ có các chỗ hẹp tinh tế, và ở những bệnh nhân đã biết mắc PSC để tìm kiếm các chỗ hẹp mới nghi ngờ ung thư.

    Trên hình ảnh chụp đường mật, chúng ta có thể thấy:

    • Hình chuỗi hạt (Beading): hình ảnh xen kẽ giữa các chỗ hẹp và các đoạn ống mật bình thường hoặc giãn nhẹ
    • Hình cây trụi lá (Pruned-tree): các ống mật ngoại vi bị hẹp và khó quan sát
    • Bờ thành không đều (Mural irregularity): bờ lòng ống không đều (thấy rõ nhất ở bên trái trong ống mật ngoài gan)
    • Túi thừa (Diverticula): thấy rõ nhất ở bệnh nhân tiếp theo

    Primary sclerosing cholangitis. Cholangiographic findings

    Viêm xơ đường mật nguyên phát. Hình ảnh chụp đường mật

    Bên trái là các dấu hiệu điển hình trong PSC.
    Lưu ý các túi thừa trong hình bên phải.
    Túi thừa có tính đặc hiệu rất cao cho chẩn đoán PSC.
    Vì vậy, khi phát hiện các túi thừa này, bạn cần tìm kiếm ngay các chỗ hẹp tinh tế ở các ống mật trong gan.


    MRCP in PSC. There is a long stricture suspective of cholangiocarcinoma (arrow)

    MRCP trong PSC. Có một chỗ hẹp dài nghi ngờ ung thư đường mật (mũi tên)

    Viêm xơ đường mật nguyên phát (5)
    Bên trái là hình ảnh MRCP của một bệnh nhân mắc PSC.
    Lưu ý chỗ hẹp lớn, rất đáng lo ngại cho ung thư đường mật (mũi tên).
    Các chỗ hẹp trong PSC thường có sự chuyển tiếp đột ngột, trong khi ở đây chúng ta thấy hình ảnh “vai” (shouldering), gợi ý hiệu ứng khối.
    Ngoài ra, có giãn đường mật trong gan ở phía thượng lưu vùng hẹp này.


    MRCP and ERCP in a patient with a stricture at the hilum

    MRCP và ERCP ở bệnh nhân có chỗ hẹp tại vùng rốn gan

    Bên trái là hình ảnh MRCP của một bệnh nhân cho thấy chỗ hẹp ở mức rốn gan.
    Trên MRCP, chỗ hẹp này trông dài và đáng lo ngại cho ung thư đường mật.
    Tuy nhiên, trên ERCP, các ống mật đã được bơm căng bằng thuốc cản quang và chúng ta có thể thấy đây là một chỗ hẹp ngắn, phù hợp với chẩn đoán PSC.
    Trong quá trình theo dõi, trường hợp này được xác nhận chỉ là PSC.

    Ung thư đường mật (Cholangiocarcinoma)


    Normal columnar epithelium (left) transforms into adenocarcinoma (right)

    Biểu mô trụ bình thường (trái) chuyển dạng thành ung thư biểu mô tuyến (phải)

    Cholangiocarcinoma (tức là ung thư biểu mô tuyến của đường mật) xuất phát từ biểu mô trụ của ống mật.
    Đặc trưng bởi các tuyến ác tính nằm trong mô đệm xơ hóa (desmoplastic stroma).
    Các khối u này có kiểu tăng trưởng xâm lấn và không có vỏ bao.


    Typical locations of cholangiocarcinoma.

    Các vị trí điển hình của cholangiocarcinoma.

    Có bốn thể cơ bản của cholangiocarcinoma: (minh họa bên trái).

    Cholangiocarcinoma là một khối u không phổ biến, thường gặp ở bệnh nhân có bệnh lý đường mật lành tính từ trước.
    Tỷ lệ mắc tại Hoa Kỳ là 2.000 đến 2.500 ca mỗi năm (ung thư đại tràng: 150.000 ca mỗi năm).
    Tại các quốc gia châu Á, tỷ lệ mắc cao gấp mười lần do tình trạng nhiễm trùng đường mật mạn tính phổ biến hơn.

    Các nhóm nguy cơ cao bao gồm bệnh nhân mắc:

    • Bệnh tự miễn

      • Viêm xơ đường mật nguyên phát (PSC), viêm loét đại tràng, xơ gan mật nguyên phát
    • Dị tật giải phẫu bẩm sinh

      • Bệnh Caroli, nang ống mật chủ, bất thường chỗ nối tụy-mật
      • Đột biến gen ức chế khối u, FAP, NF1
    • Nhiễm trùng

      • Ký sinh trùng đường mật, viêm đường mật mủ tái phát

    Biểu hiện lâm sàng:

    • Vàng da
    • Đau
    • Sốt khi có viêm đường mật thứ phát

    Intrahepatic cholangiocarcinoma. RadPath correlation

    Cholangiocarcinoma trong gan. Tương quan Hình ảnh học – Giải phẫu bệnh

    Cholangiocarcinoma trong gan

    Các khối u này xuất phát từ các ống mật ngoại vi rất nhỏ.
    Chúng có mô đệm xơ phong phú, có thể gây co rút bao gan.
    Khối u điển hình ngấm thuốc ở thì cân bằng và thì muộn (5-10 phút).

    Đọc thêm về cholangiocarcinoma trong gan trong bài Gan: Các khối u – Phần II: Các khối u gan thường gặp


    Early and late phase enhancement of a intrahepatic cholangiocarcinoma

    Ngấm thuốc thì sớm và thì muộn của cholangiocarcinoma trong gan

    Mặc dù các khối u này thường khá không đồng nhất do sự ngấm thuốc bị trì hoãn và có thể không đều.


    Intrahepatic cholangiocarcinoma. Capsular retraction and the late enhancement

    Cholangiocarcinoma trong gan. Co rút bao gan và ngấm thuốc thì muộn

    Các dấu hiệu hình ảnh chính cần tìm kiếm:

    • Ngấm thuốc thì muộn
    • Giãn đường mật ngoại vi
    • Co rút bao gan

    Bên trái là một trường hợp điển hình.
    Lưu ý dấu hiệu co rút bao gan (mũi tên xanh) và ngấm thuốc thì muộn (mũi tên vàng).


    Intraductal Cholangiocarcinoma

    Cholangiocarcinoma trong lòng ống mật

    Cholangiocarcinoma trong lòng ống mật

    Đây là các khối u rất hiếm gặp.
    Biểu hiện dưới dạng một khối trong lòng đường mật kèm theo giãn đường mật ở phía ngoại vi so với khối.


    Klatskin Tumor with dilatation of bile ducts in the right and left lobe of the liver Illustration by Heike Blum

    U Klatskin với giãn đường mật ở thùy gan phải và trái. Minh họa bởi Heike Blum

    U Klatskin – Cholangiocarcinoma vùng rốn gan

    Vị trí thường gặp nhất của ung thư biểu mô tuyến đường mật là tại hoặc gần chỗ hợp lưu của ống gan phải và ống gan trái.
    Các khối u này còn được gọi là u Klatskin.
    U Klatskin có đặc tính sinh học xâm lấn cao.

    Đặc điểm hình ảnh:

    • Giãn ống mật
    • Khối ranh giới không rõ
    • Teo thùy gan
    • Xâm lấn mạch máu

    Bên trái là sự tương quan rõ nét giữa hình minh họa và hình ảnh siêu âm của u Klatskin.
    Lưu ý ranh giới không rõ của khối u.


    Klatskin Tumor. Barely visible. Stent in situ (arrow)

    U Klatskin. Hầu như không thấy rõ. Stent đang được đặt tại chỗ (mũi tên)

    Trên CT, các khối u này có thể rất khó quan sát.
    Nhiều bệnh nhân đã được đặt stent trước khi đến chụp CT, điều này càng làm cho việc phát hiện khối u trở nên khó khăn hơn (hình minh họa).


    Klatskin Tumor: arterial and portal venous phase

    U Klatskin: thì động mạch và thì tĩnh mạch cửa

    U Klatskin (2)
    Trong trường hợp bên trái, chúng ta có thể xác định khối u tại chỗ hợp lưu của ống gan trái và phải.
    Tuy nhiên, ranh giới của khối u không thể phân định được do kiểu tăng trưởng xâm lấn.
    Dựa trên hình ảnh CT, không thể phân giai đoạn khối u một cách chính xác.


    Hiar Cholagiocarcinoma. Notice the superiority of ERCP to MRCP. The image on the right nicely demonstrates the shouldering at the hilum and the multiple strictures.

    Cholangiocarcinoma vùng rốn gan. Lưu ý sự vượt trội của ERCP so với MRCP. Hình bên phải thể hiện rõ dấu hiệu “vai” tại rốn gan và các chỗ hẹp đa ổ.

    Đối với các khối u này, việc có được chẩn đoán xác định trước phẫu thuật có thể rất khó khăn.
    Sinh thiết gần như không thể thực hiện được và kết quả chải tế bào qua nội soi thường âm tính.
    Phân giai đoạn được thực hiện bằng chụp đường mật và dựa trên các dấu hiệu: hiệu ứng khối (dấu hiệu “vai”), bờ không đều và hẹp đột ngột tại vị trí tắc nghẽn.
    Hạn chế của MRCP trong phân giai đoạn là độ phân giải không gian và khả năng đánh giá các ống mật thứ cấp còn hạn chế.
    ERCP vượt trội hơn MRCP (hình minh họa)

    U Klatskin (3): Khả năng cắt bỏ

    Các khối u này không thể cắt bỏ khi:

    • Xâm lấn khối u hai bên

      • Vào các ống mật thứ cấp
      • Vào nhu mô gan
      • Vào động mạch gan hoặc tĩnh mạch cửa
    • Tắc nghẽn tĩnh mạch cửa chính
    • Hạch N2 (hạch quanh tụy)
    • Di căn xa

    Bismuth-Corlette type I tumor with abrupt stricture and shouldering below the confluens

    U Bismuth-Corlette type I với hẹp đột ngột và dấu hiệu “vai” phía dưới chỗ hợp lưu

    U Klatskin – Phân loại Bismuth

    Bismuth-Corlette type I
    Khối u type I là tổn thương giới hạn ở ống gan chung, tức là phía dưới chỗ hợp lưu.
    Các bệnh nhân này có thể được phẫu thuật cắt bỏ kèm tái tạo đường mật vì chỗ hợp lưu vẫn bình thường.


    Bismuth-Corlette type II tumor with extention into the origin of the right and left hepatic duct.

    U Bismuth-Corlette type II với xâm lấn vào nguyên ủy của ống gan phải và trái.

    Bismuth-Corlette type II
    Khối u type II là tổn thương lan đến chỗ hợp lưu.
    Các khối u này có khả năng cắt bỏ được.