Category: Tụy

  • Ung thư tụy – Phân giai đoạn CT 2.0

    Ung thư Tụy – Phân giai đoạn trên CT 2.0

    Đánh giá Khả năng Phẫu thuật Cắt bỏ

    Frank Wessels, Otto van Delden và Robin Smithuis

    Từ Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht, Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp

    Ngày xuất bản

    Đây là phiên bản thứ hai về vai trò của CT trong phân giai đoạn ung thư tụy.

    Ung thư tụy là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ tư tại Hoa Kỳ và châu Âu, với hơn 100.000 ca tử vong mỗi năm chỉ riêng tại châu Âu.
    Tỷ lệ sống sót toàn bộ sau 5 năm dao động từ 2–7% và hầu như không cải thiện trong hai thập kỷ qua.
    Khoảng 15% tổng số bệnh nhân được đánh giá là có khả năng cắt bỏ được tại thời điểm chẩn đoán, và trong số đó, chỉ một phân nhóm nhỏ thực sự có khối u có thể cắt bỏ được khi thám sát phẫu thuật.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung vào các tiêu chí xác định khả năng cắt bỏ và không thể cắt bỏ, đồng thời cung cấp một bảng kiểm giúp bạn lập báo cáo có cấu trúc cho việc phân giai đoạn ung thư tụy và xác định khả năng phẫu thuật cắt bỏ.

    Ở cuối bài viết sẽ có các video của Frank Wessels hướng dẫn cách phân giai đoạn ung thư tụy.

    Giới thiệu

    Phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn khối u là phương pháp điều trị triệt căn duy nhất, tuy nhiên ung thư tụy hiếm khi được phát hiện ở giai đoạn sớm, do 40% bệnh nhân đã có di căn xa và 40% biểu hiện với ung thư tụy tiến triển tại chỗ (LAPC – Locally Advanced Pancreatic Cancer), vốn không thể cắt bỏ được.

    Khi không có di căn xa, khả năng cắt bỏ chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng tại chỗ được xác định bởi:

    • Kích thước khối u
    • Mức độ xâm lấn các cấu trúc mạch máu quan trọng theo tiêu chí NCCN hoặc DPCG
    • Xâm lấn các cấu trúc lân cận như mạc treo đại tràng ngang, gốc mạc treo ruột và xâm lấn quanh thần kinh
    • Tình trạng hạch bạch huyết vùng hoặc ngoài vùng

    Các vấn đề này sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong chương tiếp theo về phân giai đoạn.
    Dựa trên các kết quả hình ảnh, khối u có thể được phân loại là: có thể cắt bỏ, có thể cắt bỏ ở ranh giới, hoặc không thể cắt bỏ.

    Phân giai đoạn

    Đánh giá mức độ xâm lấn mạch máu

    Sự xâm lấn các cấu trúc mạch máu quan trọng là yếu tố quyết định nhất đến khả năng cắt bỏ của ung thư biểu mô tuyến tụy (hình).
    Đồng thời, đây cũng là yếu tố tiên lượng quan trọng về thời gian sống còn.

    Tiêu chí đánh giá khả năng cắt bỏ dựa trên mức độ xâm lấn mạch máu được sử dụng phổ biến nhất là tiêu chí của Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia (NCCN).

    Tuy nhiên, các tiêu chí này khá phức tạp, do đó nhiều tiêu chí khác cũng đã được đề xuất.
    Chẳng hạn, tại Hà Lan, chúng tôi áp dụng tiêu chí của Nhóm Ung thư Tụy Hà Lan (DPCG).

    Chúng tôi sẽ trình bày tiêu chí DPCG trước, sau đó đến tiêu chí NCCN.

    Dù áp dụng tiêu chí nào, cần nhận thức rằng việc đánh giá khả năng cắt bỏ mang tính chủ quan và có sự khác biệt giữa các cơ sở y tế, đặc biệt trong trường hợp tái tạo hệ tĩnh mạch cửa.

    Tiêu chí đánh giá khả năng cắt bỏ của DPCG

    Tiêu chí của Nhóm Ung thư Tụy Hà Lan về mức độ xâm lấn mạch máu tương đối đơn giản hơn so với tiêu chí NCCN, đó là lý do chúng tôi trình bày tiêu chí này trước (bảng).

    Khả năng cắt bỏ còn được xác định dựa trên sự hiện diện của di căn xa và tình trạng hạch bạch huyết, trong đó các hạch ngoài vùng được xem là di căn xa.

    Các phát hiện bổ sung quan trọng mà phẫu thuật viên cần lưu ý, dễ bị bỏ sót, bao gồm:

    • Xâm lấn quanh thần kinh
    • Xâm lấn gốc mạc treo ruột
    • Xâm lấn mạc treo kết tràng

    Các phát hiện này sẽ được thảo luận trong chương tiếp theo.

    Tiêu chí đánh giá khả năng cắt bỏ của NCCN

    Không thể cắt bỏ tại chỗ đồng nghĩa với ung thư tụy tiến triển tại chỗ (LAPC).

    Đánh giá mức độ xâm lấn mạch máu theo chu vi được thực hiện theo từng bước 90 độ.
    Tiếp xúc dưới 180 độ được gọi là áp sát (abutment) và tiếp xúc trên 180 độ được gọi là bao quanh (encasement).

    Xác suất xâm lấn mạch máu là 40% đối với áp sát và 80% đối với bao quanh, có thể lên đến 100% khi khối u bao quanh hoàn toàn tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch mạc treo tràng trên (SMV).

    Trong trường hợp xâm lấn tĩnh mạch, chiều dài đoạn xâm lấn cũng cần được ghi nhận vì điều này có thể giúp phẫu thuật viên đánh giá khả năng tái tạo mạch máu.

    Độ đặc hiệu của CT trong phát hiện xâm lấn mạch máu dao động từ 82-100% và độ nhạy từ 70-96%.

    Việc sử dụng tái tạo đa mặt phẳng (multiplanar reformation) giúp cải thiện hiệu quả chẩn đoán tổng thể của CT, như được minh họa trong trường hợp này.

    Tái tạo mặt phẳng coronal cho thấy một khối u nhỏ ở đầu tụy (đầu mũi tên) gây tắc nghẽn ống mật chủ.

    Có vẻ chỉ có tiếp xúc hạn chế với tĩnh mạch cửa (mũi tên).
    Tiếp tục xem các hình ảnh tiếp theo.

    Tái tạo đa mặt phẳng vuông góc với tĩnh mạch cửa cho thấy mức độ tiếp xúc với tĩnh mạch cửa rộng hơn, từ 90 đến 180 độ (mũi tên).

    Khi không có bất thường bờ viền, trường hợp này đượcó phân loại là có thôể cắt bỏ giới hạn (borderline resectable) theo tiêu chí DPCG, nhưng có thôể cắt bỏ (resectable) theo tiêu chí NCCN.

    Phùẫu thuật cắt bỏ không kèm tái tạo tĩnh mạch cho kết quả R1, tứcó là có xâm làấn vi thôể của khối u tại dàiện cắt.


    Dấu hiệu giọt nước mắt. Khối u lớn ở thân tụy, tiếp xúc 90 – 180 độ với SMV, đồng thời gây biến dạng SMV thành hình giọt nước mắt, rất nghi ngờ xâm lấn.

    Dấu hiệu giọt nướcó mắt. Khối u lớn ở thôân tụy, tiếp xúcó 90 – 180 độ với SMV, đồng thời gây biến dạng SMV thôành hình giọt nướcó mắt, rất nghi ngờ xâm làấn.

    Các thoái đổi hình thôái gợi ý xâm làấn mạch máu

    • Dấu hiệu giọt nướcó mắt (Teardrop sign)
      Chỉ sự thoái đổi hình dạng của tĩnh mạch cửa (PV) hoặc SMV từ hình bầu dụcó hoặc tròn sang hình giọt nướcó mắt. Điều này có thôể do khối u bao quanh hoặc do xơ hóa làân cận kéo cóăng mạch máu.

    • Bất thường bờ viền mạch máu
      Bờ viền không đều của mạch máu gợi ý xâm làấn mạch máu. Dấu hiệu này có giá trị hơn đối với động mạch, do thôành động mạch dày hơn thôành tĩnh mạch.

    • Huyết khối
      Sự hiện dàiện của huyết khối trong động mạch gợi ý xâm làấn mạch máu.

    Bất thường bờ viền SMV (mũi tên vàng)

    Bất thường bờ viền SMV (mũi tên vàng)

    Bất thường bờ viền mạch máu

    CT axial cho thôấy:

    • Khối u ở thôân tụy (đầu mũi tên trắng).
    • Tiếp xúcó khu trú < 90º với động mạch mạcó treo tràng trên (SMA).
    • Tiếp xúcó rộng hơn từ 90º – 180º với SMV, SMV bị hẹp nhẹ và biến dạng (mũi tên vàng).
    • Giãn ống tụy

    Tái tạo mặt phùẳng coronal cho thôấy:

    • Bất thường bờ viền thôành SMV đượcó nhận thôấy rõ hơn trên tái tạo coronal này (mũi tên).
    • Khối u ở thôân tụy (đầu mũi tên trắng).
    • Huyết khối trong các nhánh bên của SMV (mũi tên xanh nhỏ).


    Tái tạo mặt phùẳng coronal cho thôấy một khối u lớn xuất phát từ cổ tụy với kiểu phát triển xâm làấn (hình A và B).

    Có hiện tượng bao quanh động mạch thôân tạng 360º (mũi tên trong A).

    CT axial MIP tại mứcó động mạch thôân tạng cho thôấy hẹp động mạch gan chung bị bao quanh (mũi tên), rất nghi ngờ xâm làấn.

    Vị trí

    65% ung thư biểu mô tuyến tụy nằm ở đầu tụy, 15% ở thôân tụy và 10% ở đuôi tụy. 10% còn lại là đa ổ hoặc lan tỏa (hình).

    Khối u ở đầu tụy thường biểu hiện sớm hơn do vàng đã tắcó mật. Khối u ở thôân và đuôi tụy thường biểu hiện muộn và có tiên làượng xấu hơn.

    Giai đoạn T

    Phân giai đoạn T đã đượcó đơn giản hóa trong tiêu chí TNM-8 của AJCC.

    Giai đoạn T không quyết định khóả năng cắt bỏ khối u mà chủ yếu mang ý nghĩa tiên làượng.

    Các phân loại T2 và T3 hiện nay chỉ dựa trên kích thước và sự xâm làấn ngoài tụy không còn là một phần của định nghĩa.
    Lý do là các định nghĩa dựa trên kích thước mang tính khách quan hơn, vì việc xác định xâm làấn ngoài tụy thường khó khóăn.

    Phân loại T4 hiện nay dựa trên mứcó độ xâm làấn động mạch.
    Khóả năng cắt bỏ đã đượcó loại khóỏi định nghĩa vì đây là tiêu chí mang tính chủ quan và có sự khác biệt giữa các cóơ sở y tế.

    Giai đoạn N

    Điều quan trọng là phân biệt giữa hạch bạch huyết vùng và hạch bạch huyết ngoài vùng (dài cóăn xa).
    Các vị trí ngoài vùng chính là cạnh động mạch chủ và bên trái SMA.

    Các hạch nghi ngờ ở những vị trí này cần đượcó ghi nhận và sinh thiết.

    Trong hình minh họa này, chúng tôi sử dụng các trạm hạch bạch huyết trong ung thư tụy theo đề xuất của Hội Tụy họcó Nhật Bản.
    Danh sách đầy đủ đượcó cũng cấp trong chương về báo cáo. Nhấnvào đây.

    Di cóăn hạch bạch huyết là yếu tố tiên làượng quan trọng và xảy ra ở khoảng hai phần ba bệnh nhân ung thư tụy có khóả năng cắt bỏ.

    Các phát hiện bổ sung có giá trị đối với phùẫu thuật viên

    Bên cạnh việc đánh giá xâm làấn mạch máu, cần khóảo sát thôêm sự xâm làấn vào các cấu trúcó và cóơ quan xung quanh (xem đãnh sách kiểm tra).

    Một số cấu trúcó bị xâm làấn trựcó tiếp nhưng không phùải là chống chỉ định tuyệt đối cho phùẫu thuật cắt bỏ (ví dụ: xâm làấn tá tràng, vìốn đượcó làấy bỏ trong phùẫu thuật Whipple).
    Tuy nhiên, cả hai trường hợp lan rộng đến mạcó treo đại tràng ngang và gốcó mạcó treo ruột thường bị bỏ sót và có thôể đòi hỏi phùẫu thuật cắt bỏ mở rộng hoặc dẫn đến tình trạng không thôể phùẫu thuật.

    Xâm làấn quanh thôần kinh

    Lan rộng quanh thôần kinh là phát hiện thường gặp trong ung thư biểu mô tuyến tụy, xuất hiện trong hơn một nửa số trường hợp.
    Đây là yếu tố tiên làượng quan trọng cho tái phát sớm và bệnh dài cóăn.

    Trên CT, tổn thương đượcó phát hiện dưới dạng mô mềm xâm làấn từ bờ khối u dọcó theo các đường dẫn thôần kinh quanh tụy đặc hiệu đã biết, kéo dài từ đầu tụy đến động mạch mạcó treo tràng trên (SMA), thôân tạng và động mạch gan chung.

    Ngay cả với các khối u nhỏ, điều này cũng có thôể dẫn đến tình trạng không thôể phùẫu thuật cắt bỏ.

    Xâm làấn quanh thôần kinh (2)
    Hình ảnh cắt ngang cho thôấy dấu hiệu ống đôi (đầu mũi tên).
    Mặcó dù không thôấy rõ khối ở đầu tụy, chúng ta cần nghĩ đến khóả năng có một khối u nhỏ tại vị trí này.

    Trên cả hình cắt ngang và hình tái tạo vành, có hình ảnh xâm làấn mô mềm lan rộng từ mặt trong của đầu tụy hướng về phùía SMA (mũi tên vàng).

    Đây là hình thôái điển hình của lan rộng quanh thôần kinh.
    Trong trường hợp này dẫn đến tiếp xúcó với SMA từ 90 đến 180 độ.

    Tiếp tụcó xem các hình ảnh cũộn…


    Xâm làấn quanh thôần kinh (3)

    Các hình ảnh cắt ngang này thuộcó cùng một bệnh nhân.
    Lưu ý vùng lan rộng quanh thôần kinh rộng lớn.

    Mặcó dù có dấu hiệu ống đôi và lan rộng khối u quanh thôần kinh gợi ý khối u ở đầu tụy, nhưng không thôể xác định đượcó khối u trên CT.

    Lưu ý chiều dài của vùng lan rộng khối u quanh thôần kinh.


    Xâm làấn quanh thôần kinh (4)

    Cuộn qua các hình ảnh tái tạo vành.


    Axial CT shows a mass in the uncinate process (arrowhead).  The coronal reformat shows invasion of the mesentery as demonstrated by encasement of a major SMV tributary (arrowhead) and separate obstruction of proximal jejunal veins (arrow)

    CT cắt ngang cho thôấy khối ở mỏm móc (đầu mũi tên). Hình tái tạo vành cho thôấy xâm làấn mạcó treo đượcó biểu hiện bằng sự bao quanh một nhánh lớn của tĩnh mạch mạcó treo tràng trên (SMV) (đầu mũi tên) và tắcó nghẽn riêng biệt các tĩnh mạch hỗng tràng đoạn gần (mũi tên)

    Lan rộng đến gốcó mạcó treo ruột

    Gốcó mạcó treo ruột non chạy chéo trong ổ bụng, từ điểm kết thôúcó của tá tràng tại góc Treitz kéo dài đến manh tràng.

    Động mạch mạcó treo tràng trên (SMA) và tĩnh mạch mạcó treo tràng trên (SMV) cùng các nhánh của chúng là các cấu trúcó mạch máu chủ yếu trong mạcó treo.

    Ung thư biểu mô của mỏm móc có thôể dễ dàng xâm làấn mạcó treo hỗng tràng bằng cách lan rộng theo đường này.
    Các nhánh hỗng tràng đầu tiên của SMA và SMV đóng vai trò là mốcó giải phùẫu để xác định loại xâm làấn này (hình).

    Nếu xâm làấn còn khu trú, phùẫu thuật cắt bỏ và tái tạo có thôể thôựcó hiện đượcó, nhưng xâm làấn lan rộng hơn thường không thôể phùẫu thuật.


    Axial CT shows a mass in the pancreatic head (arrowhead). In less then 90 degrees contact with the SMV (arrow), but also in close contact to the gastrocolic trunk (asterisk), in this case the venous confluence of the right gastopepiploic vein (RGEV) and the middle colic vein (MCV).

    CT cắt ngang cho thôấy khối ở đầu tụy (đầu mũi tên). Tiếp xúcó với SMV (mũi tên) dưới 90 độ, nhưng cũng tiếp xúcó gần với thôân vị-đại tràng (dấu hoa thôị), trong trường hợp này là điểm hợp làưu tĩnh mạch của tĩnh mạch vị-mạc nối phùải (RGEV) và tĩnh mạch đại tràng giữa (MCV).

    Lan rộng đến mạcó treo đại tràng ngang

    Mạcó treo đại tràng ngang tiếp xúcó với mặt bụng của đầu tụy và có thôể bị xâm làấn bởi khối u đầu tụy.

    Cấu trúcó này có thôể đượcó xác định trên CT bằng cách theo dõi tĩnh mạch đại tràng giữa và tĩnh mạch vị-mạc nối phùải đến điểm hợp làưu tạo thôành thôân vị-đại tràng, thường là tĩnh mạch cũối cùng đổ vào SMV ở mặt bụng.

    Xâm làấn mạcó treo đại tràng ngang không nhất thiết là chống chỉ định phùẫu thuật cắt bỏ, nhưng vì có thôể cần phùẫu thuật cắt nửa đại tràng bổ sung, đây là thông tin tiền phùẫu thiết yếu.

    Các biến thôể giải phùẫu động mạch

    Các biến thôể giải phùẫu

    Giải phùẫu động mạch gan đượcó coi là bình thường chỉ gặp ở 55% dân số (hình minh họa).

    Các biến thôể giải phùẫu động mạch gan đượcó ghi nhận ở khoảng 40-45% dân số.

    Các động mạch bất thường có thôể đi qua vùng làân cận đầu tụy, làm tăng nguy cóơ xâm làấn của khối u hoặc tổn thương do phùẫu thuật.

    Các động mạch gan có nguyên ủy bất thường có thôể là dạng phụ thôêm (accessory) hoặc dạng thoái thôế (replaced).

    Động mạch gan phùải phụ thôêm là một động mạch gan phùải bổ sung, trong khi động mạch gan phùải thoái thôế có nguyên ủy bất thường và thoái thôế hoàn toàn cho động mạch gan phùải chính thôứcó (hình minh họa).
    Các biến thôể phùổ biến nhất đượcó trình bày trong hình vìẽ minh họa.

    Ở những bệnh nhân dự kiến phùẫu thuật tụy, điều quan trọng là cần đặc biệt chú ý tìm kiếm nguyên ủy bất thường của động mạch gan phùải hoặc động mạch gan chung.

    Các động mạch này xuất phát từ phùía phùải của động mạch mạcó treo tràng trên (SMA) và đi qua vùng làân cận đầu tụy, làm tăng nguy cóơ xâm làấn của khối u hoặc tổn thương do phùẫu thuật.
    Tần suất đượcó ghi nhận của các bất thường đặc hiệu này làần làượt là 11-21% và 0,5-5%.


    Replaced right hepatic artery

    Động mạch gan phải thay thế

    Hình CT axial cho thấy một động mạch gan phải phụ thêm (mũi tên vàng) đi qua vùng lân cận một khối giảm tỷ trọng ở đầu tụy (đầu mũi tên).

    Sự liên quan mạch máu được đánh giá rõ hơn trên ảnh tái tạo mặt phẳng đứng dọc. Có sự áp sát 90 – 180° của động mạch gan phải thay thế (mũi tên trắng) bởi ung thư biểu mô tuyến đầu tụy (đầu mũi tên trắng).
    Động mạch gan trái nguyên bản đi theo hướng ra trước hơn, tĩnh mạch cửa nằm ở giữa.

    Cuộc phẫu thuật là cắt bỏ diện R1.


    Các hình ảnh axial của cùng bệnh nhân có chú thích.


    Replaced right hepatic artery

    Động mạch gan phải thay thế

    Hình MIP mặt phẳng đứng ngang này cho thấy một động mạch gan phải thay thế xuất phát từ phía phải của SMA (mũi tên vàng trong A).

    Động mạch này đi qua vùng lân cận đầu tụy.

    Hình CT axial cho thấy đường đi của động mạch gan phải thay thế phía sau tĩnh mạch cửa (đầu mũi tên vàng) và động mạch gan trái nguyên bản đi phía trước tĩnh mạch cửa (đầu mũi tên xanh lá).

    Đây là phát hiện tình cờ ở một bệnh nhân không có bệnh lý tụy.


    Các hình ảnh mặt phẳng đứng ngang của một bệnh nhân có khối u ở đầu tụy và động mạch gan phải phụ thêm.

    Lưu ý sự áp sát của động mạch phụ thêm bởi khối u.


    Anomalous common hepatic artery originates from the SMA.

    Động mạch gan chung bất thường xuất phát từ SMA.

    Các hình ảnh cho thấy một biến thể giải phẫu trong đó động mạch gan chung xuất phát hoàn toàn từ SMA.

    Động mạch gan được thấy đi trong nhu mô đầu tụy (mũi tên vàng và xanh lá trong B).


    Celiac trunc stenosis with collateral bloodflow to the hepatic artery via the pancreaticoduodenal arcade.

    Hẹp thân tạng với dòng máu bàng hệ đến động mạch gan qua cung động mạch tụy-tá tràng.

    Hẹp động mạch

    Bước tiếp theo trong đánh giá tiền phẫu là tìm kiếm hẹp động mạch thân tạng, được ghi nhận ở 2-8% bệnh nhân trải qua phẫu thuật cắt tụy-tá tràng.
    Hẹp động mạch thân tạng có thể do chèn ép bởi dây chằng cung giữa hoặc do bệnh lý xơ vữa động mạch.

    Hẹp đáng kể động mạch thân tạng thường được bù trừ bởi dòng máu bàng hệ từ SMA, qua cung động mạch quanh tụy (của Buhler) và dòng chảy ngược trong động mạch vị-tá tràng. Do động mạch vị-tá tràng bị cắt bỏ trong quá trình phẫu thuật cắt tụy-tá tràng, nguồn cung cấp máu động mạch cho gan sẽ bị đe dọa nếu hẹp động mạch thân tạng không được phát hiện trước phẫu thuật.

    Hình ảnh
    Hình tái tạo mặt phẳng đứng ngang (a) cho thấy một khối u nhỏ ở vùng bóng Vater (đầu mũi tên), gây tắc nghẽn cả ống mật chủ (CBD) và ống tụy (PD). Khi không có xâm lấn tại chỗ, tổn thương này được xem là có thể cắt bỏ được.
    Tuy nhiên, hình CT axial (b) cho thấy phì đại của cung động mạch quanh tụy (các mũi tên), gợi ý mạnh hẹp đáng kể thân tạng.
    Hẹp thân tạng được thể hiện trên hình MIP mặt phẳng đứng dọc (mũi tên trong c).
    Dòng máu bàng hệ đến động mạch gan qua cung động mạch tụy-tá tràng (mũi tên nét đứt) được quan sát rõ trên hình MIP mặt phẳng đứng ngang (d).

    Tái phân giai đoạn sau điều trị tân bổ trợ


    CT theo dõi sau điều trị tân bổ trợ không ghi nhận tiến triển bệnh và đã tiến hành phẫu thuật thăm dò.

    CT theo dõi sau điều trị tân bổ trợ không ghi nhận tiến triển bệnh và đã tiến hành phẫu thuật thăm dò.

    Trong thời đại điều trị tân bổ trợ, việc tái phân giai đoạn đã trở thành một chủ đề được quan tâm sâu sắc và bộc lộ một số hạn chế quan trọng, chủ yếu trong việc phân biệt xơ hóa còn lại với khối u còn hoạt tính.

    Tái phân giai đoạn trên CT thường đánh giá quá mức kích thước khối u và do đó đánh giá thấp mức độ đáp ứng điều trị; vì vậy các phép đo theo tiêu chí RECIST có rất ít hoặc không có giá trị trong trường hợp không có tiến triển bệnh. Hơn nữa, mức độ xâm lấn mạch máu cũng thường bị đánh giá quá mức, tồn tại dai dẳng ở 80% bệnh nhân, nhưng có thể là xơ hóa thay vì khối u còn hoạt tính.

    Bất kỳ sự giảm thiểu nào trong diện tiếp xúc giữa mạch máu và khối u đều được chứng minh có liên quan có ý nghĩa thống kê với khả năng cắt bỏ đạt diện cắt R0, gợi ý rằng dấu hiệu này có thể được xem là chỉ định phẫu thuật cắt bỏ ở những bệnh nhân phù hợp.

    Vai trò của CT tái phân giai đoạn tại thời điểm này là nhằm loại trừ tiến triển bệnh; nếu không có tiến triển, cần cân nhắc phẫu thuật thăm dò. Dữ liệu về giá trị bổ sung của chuỗi xung khuếch tán (DWI) hoặc PET-CT vẫn còn hạn chế.

    Hình ảnh
    CT axial (a) trước điều trị tân bổ trợ cho thấy khối u ở mặt trong đầu tụy (đầu mũi tên), không thể cắt bỏ do xâm lấn thần kinh lan rộng với mức độ bao quanh 360 độ động mạch mạc treo tràng trên (SMA) (mũi tên trong b, tái tạo mặt phẳng coronal).
    CT theo dõi sau 8 chu kỳ FOLFIRINOX (c,d) cho thấy bệnh ổn định với tình trạng bao quanh SMA vẫn còn tồn tại. Khối u được đánh giá có thể cắt bỏ trong quá trình phẫu thuật nội soi thăm dò. Kết quả giải phẫu bệnh: T3bN2R0.

    Chẩn đoán hình ảnh

    Quy trình chụp CT

    Đánh giá giai đoạn tại chỗ cần được thực hiện bằng CT tụy chất lượng cao, bao gồm thì động mạch muộn và thì tĩnh mạch cửa.
    Ung thư biểu mô tuyến tụy thường biểu hiện là một khối giảm tỷ trọng, kém mạch máu, được nhận thấy rõ nhất ở thì động mạch muộn. Đây cũng là thì tốt nhất để đánh giá giải phẫu động mạch nhằm phát hiện các biến thể và hẹp mạch.

    Thì tĩnh mạch cửa là tốt nhất để phát hiện di căn gan cũng như phát hiện hẹp và xâm lấn tĩnh mạch.

    Để xem khuyến nghị về quy trình chụp, nhấp vào đây

    CT là phương tiện chủ lực trong phân giai đoạn ung thư biểu mô tuyến tụy.
    Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất và được kiểm chứng tốt nhất.
    CT có thể đánh giá mức độ xâm lấn tại chỗ và di căn xa, với độ chính xác lên đến 77% trong dự đoán khả năng cắt bỏ được và 93% trong dự đoán khả năng không cắt bỏ được.

    Vai trò của MRI

    MRI được sử dụng để đặc trưng hóa các tổn thương gan chưa xác định rõ bản chất trên CT; hiện tại chưa có bằng chứng ủng hộ việc áp dụng MRI để đánh giá giai đoạn gan thường quy cho tất cả bệnh nhân.

    Ngoài ra, MRI có thể được sử dụng để đặc trưng hóa các tổn thương tụy chủ yếu dạng nang, một chủ đề nằm ngoài phạm vi của bài viết này.

    MRI cho phép phát hiện di căn gan tốt hơn, với độ nhạy được báo cáo từ 85-100%. Trong đó, 10-25% các trường hợp MRI phát hiện di căn gan sau khi CT ban đầu âm tính. Tuy nhiên, các dữ liệu này dựa trên các nghiên cứu hồi cứu quy mô nhỏ.

    Trong kỷ nguyên điều trị tân bổ trợ, vai trò của MRI vẫn còn đang được tranh luận, do thực tế là hơn 40% các tổn thương gan nhỏ không thể lấy được bằng chứng mô học qua sinh thiết xuyên da.

    Điều trị phẫu thuật


    Phẫu thuật Whipple trước và sau

    Phẫu thuật Whipple trước và sau

    Phẫu thuật Whipple
    Phẫu thuật Whipple là một phẫu thuật trong đó đầu tụy cùng với khối ung thư và đoạn xa của ống mật chủ được cắt bỏ, kết hợp với một phần nhỏ đoạn xa dạ dày, toàn bộ tá tràng và một phần nhỏ đoạn đầu hỗng tràng.
    Dạ dày, đoạn gần ống mật chủ và thân tụy được nối với hỗng tràng.

    Cắt tụy-tá tràng bảo tồn môn vị
    Cắt tụy-tá tràng bảo tồn môn vị (PPPD) về cơ bản là phẫu thuật tương tự nhưng có bảo tồn môn vị.

    Cắt tụy đoạn xa hoặc cắt tụy trái
    Phẫu thuật áp dụng cho khối u ở thân hoặc đuôi tụy. Phẫu thuật có thể thực hiện kèm hoặc không kèm cắt lách.

    Cắt tụy toàn bộ
    Kết hợp giữa phẫu thuật Whipple và cắt tụy đoạn xa.

    Báo cáo kết quả

    Danh mục kiểm tra

    Danh sách này bao gồm tất cả các mục cần được đánh giá.

    Trong phần kết luận của báo cáo chẩn đoán hình ảnh, cần đề cập đến các mục quan trọng nhất.

    Các chặng hạch bạch huyết trong ung thư tụy

    Các chặng hạch bạch huyết trong ung thư tụy theo đề xuất của Hội Tụy học Nhật Bản.

    Video trình bày bởi Frank Wessels

    Ca 1 – Ung thư có thể phẫu thuật cắt bỏ

    Đây là ca lâm sàng số 1 trong chuỗi video minh họa cách phân giai đoạn ung thư tụy.
    Các video tiếp theo sẽ sớm được cập nhật.

    Ca 2 – Ranh giới có thể phẫu thuật cắt bỏ

    Ca 3 – Không thể phẫu thuật cắt bỏ?

  • Tổn thương nang tụy

    Tổn thương dạng nang tuyến tụy

    Chẩn đoán và xử trí

    Marc Engelbrecht, Jennifer Bradshaw và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Các tổn thương dạng nang tuyến tụy ngày càng được phát hiện nhiều hơn do sự phổ biến rộng rãi của CT và MRI.
    Một số nang tuyến tụy nhất định được xem là tổn thương tiền ác tính và có thể chuyển dạng thành ung thư biểu mô tuyến chế nhầy.

    Mặc dù nguy cơ ác tính tổng thể là rất thấp, sự hiện diện của các nang tuyến tụy này thường gây ra lo lắng đáng kể và dẫn đến việc thăm khám y tế chuyên sâu hơn do lo ngại về khả năng ác tính.

    Đối với các tổn thương nang có kích thước lớn hơn, thông thường có thể phân biệt được giữa u nang thanh dịch lành tính và u nang tân sinh chế nhầy tiền ác tính cũng như u tân sinh nhú nội ống tụy chế nhầy; tuy nhiên, đối với các tổn thương nhỏ, việc xác định đặc điểm thường không thể thực hiện được.

    Điều này có nghĩa là nhiều nang tuyến tụy vẫn chưa được xác định rõ bản chất, và do đó cần có các hướng dẫn về theo dõi và xử trí.

    Giới thiệu

    Phân loại

    Nang tụy có thể được phân loại thành các nhóm sau:

    • Nang giả
    • U nang tụy thường gặp:

      • IPMN – U nhú nhầy nội ống tụy
      • SCN – U nang thanh dịch
      • MCN – U nang nhầy
    • U nang tụy ít gặp:

      • SPEN (U tân sinh biểu mô giả nhú đặc)
      • Các khối u có thoái hóa nang:
        Ung thư biểu mô tuyến – U thần kinh nội tiết

    Tiếp cận hệ thống

    Khi phát hiện một tổn thương nang tụy, bước đầu tiên là xác định tổn thương đó nhiều khả năng là nang giả hay u nang tân sinh.
    Sơ đồ này là lộ trình đơn giản hóa để phân biệt các nang tụy.

    • Nang giả – Nghĩ đến nang giả khi có tiền sử viêm tụy mạn hoặc cấp, lạm dụng rượu bia, bệnh sỏi mật hoặc chấn thương bụng. Các dấu hiệu gợi ý viêm tụy mạn có thể bao gồm vôi hóa nhu mô hoặc ống tụy và thâm nhiễm mỡ quanh tụy.
      Nếu nồng độ amylase trong dịch nang thấp hơn 250 u/ml thì loại trừ nang giả (3)
    • U nang tân sinh– Không có tiền sử viêm tụy hoặc chấn thương, hoặc khi nang có vách ngăn bên trong, thành phần đặc, sẹo trung tâm hoặc vôi hóa thành nang.
    • U nang nhầy – Thường là nang đơn ngăn chứa đầy chất nhầy, đôi khi có vôi hóa thành nang, gặp hầu như độc quyền ở phụ nữ trong độ tuổi 40 – 60. Chúng thường nằm ở thân hoặc đuôi tụy và được đặc trưng bởi mô đệm kiểu buồng trứng khi đánh giá mô bệnh học.
    • U nang thanh dịch – Thường là tổn thương vi nang chứa dịch thanh. SCN có thể có nhiều hình thái khác nhau, với 45% dạng vi nang (nang < 2 cm), 32% dạng đại nang, 18% dạng hỗn hợp vi nang và đại nang, và 5% dạng đặc (4).
      SCN dạng vi nang có thể tăng sinh mạch và trông giống đặc trên CT có thuốc cản quang, do đó dễ nhầm lẫn với ung thư biểu mô tuyến tụy. MRI sẽ thể hiện rõ ràng bản chất vi nang của tổn thương (5) (6).
    • IPMN nhánh ống – Khối u này có thể trông giống SCN, nhưng không có sẹo hay vôi hóa. MRCP hoặc chuỗi xung T2W trọng số nặng có thể cho thấy sự thông thương với ống tụy, đây là dấu hiệu có độ đặc hiệu cao, nhưng trong nhiều trường hợp chúng ta không thể phát hiện được sự thông thương này.

    LEFT: Pseudocyst. RIGHT: Cystic neoplasm.

    TRÁI: Nang giả. PHẢI: U nang tân sinh.

    Hình CT bên trái là của một bệnh nhân có tiền sử viêm tụy.
    Có hai nang đơn ngăn hay nang đơn giản.
    Lưu ý thêm hình ảnh thâm nhiễm mỡ sau phúc mạc bên phải.
    Chẩn đoán có khả năng nhất là nang giả.

    Hình CT bên phải cho thấy một nang ở đuôi tụy ở một phụ nữ 36 tuổi, được phát hiện tình cờ qua siêu âm.
    Nang có bờ dày không đều và chứa các thành phần đặc ‘không phụ thuộc trọng lực’.
    Chẩn đoán có khả năng nhất là u nang tân sinh.


    SCN with central scar seen on MRI

    SCN với sẹo trung tâm thấy trên MRI

    MRI so với CT

    CT có thể phát hiện hầu hết các tổn thương tụy, nhưng đôi khi không thể hiện được thành phần nang.
    MRI với chuỗi xung T2W trọng số nặng và MRCP sẽ thể hiện tốt hơn bản chất nang và cấu trúc bên trong của nang, đồng thời có ưu điểm là cho thấy mối liên quan của nang với ống tụy như trong IPMN.

    Các hình ảnh cho thấy u nang thanh dịch (SCN) trên CT.
    MRI thể hiện rõ hơn sẹo trung tâm.


    Serous cystic neoplasm with central calcification.

    U nang thanh dịch với vôi hóa trung tâm.

    Có những trường hợp CT có thể hữu ích hơn, vì CT thể hiện rõ hơn vôi hóa trung tâm trong SCN hoặc vôi hóa ngoại vi trong u nang nhầy (MCN).

    Hình ảnh CT của u nang nhầy có vách ngăn và vôi hóa ngoại vi.


    MRI shows dependant debris in pseudocyst

    MRI cho thấy cặn lắng phụ thuộc trọng lực trong nang giả

    MRI thường có giá trị chẩn đoán cao hơn CT.
    MRI có thể cho thấy bản chất nang của một ổ dịch tụy và cấu trúc bên trong của nó.
    Hình MRI cho thấy một ổ dịch tụy với cặn lắng bên trong phụ thuộc trọng lực, điển hình của hoại tử có vỏ bọc trong viêm tụy hoại tử (7).

    MRI cho thấy một tổn thương bao gồm nhiều nang nhỏ.
    Đây có thể là u nang thanh dịch hoặc IPMN nhánh ống.
    Sự thông thương của tổn thương nang với ống tụy cho thấy đây là IPMN nhánh ống.

    Nang giả tụy


    Pseudocyst

    Nang giả tụy

    Đặc điểm chính:

    • Nang đơn thùy không có thành phần đặc, sẹo trung tâm hoặc vôi hóa thành nang.
    • Tập hợp các enzyme tụy, máu và mô hoại tử.
    • Mảnh vụn bên trong tổn thương dạng nang là dấu hiệu đặc trưng trên MRI.
    • Tiền sử viêm tụy hoặc chấn thương bụng.
    • Nang hình thành trong 4-6 tuần – thường giảm kích thước theo thời gian – đôi khi to ra hoặc bị nhiễm trùng.
    • Có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào của tụy hoặc bất kỳ đâu trong ổ bụng, đôi khi cả trong lồng ngực.

    Hình ảnh CT cho thấy một nang lớn ở vùng thượng vị trên bệnh nhân có tiền sử viêm tụy cấp (Hình).

    Lưu ý có thêm một ít dịch cổ trướng và dịch màng phổi.
    Thành nang có ngấm thuốc.


    Traumatic pseudocysts

    Nang giả tụy do chấn thương

    CT cho thấy hai nang lớn ở bệnh nhân nữ 45 tuổi có tiền sử chấn thương (hình).

    Lưu ý hình ảnh thâm nhiễm mỡ trong khoang sau phúc mạc (mũi tên).
    Kết hợp đặc điểm hình ảnh với tiền sử lâm sàng, rất có khả năng đây là các nang giả tụy do chấn thương.


    Viêm tụy mạn tính với nang giả tụy lan vào trung thất

    Hầu hết các nang giả tụy xuất hiện ở vùng quanh tụy, tuy nhiên hiếm gặp hơn, chúng có thể lan vào trung thất.

    Hãy cuộn qua các hình ảnh.
    Bệnh nhân này bị viêm tụy mạn tính.
    Lưu ý các vôi hóa ở đầu tụy (mũi tên cong).
    Có nhiều nang giả tụy lan dài vào tận trung thất, gây chèn ép tim (mũi tên đỏ).

    U nang tụy – Chẩn đoán phân biệt

    Chẩn đoán u nang tân sinh cần được xem xét khi bệnh nhân không có tiền sử viêm tụy hoặc chấn thương.

    Các đặc điểm hình thái của u nang tân sinh bao gồm:

    • Thành dày, bờ không đều
    • Vách ngăn bên trong,
    • Thành phần đặc,
    • Ống tụy giãn > 3mm và vôi hóa.
    • Dịch hút từ nang tân sinh sẽ có nồng độ amylase thấp (3).

    Bảng dưới đây trình bày một số đặc điểm phân biệt của các u nang tân sinh.
    Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, không thể đưa ra chẩn đoán xác định do nang thường quá nhỏ.
    Điều quan trọng là cần chẩn đoán được u nang tuyến thanh dịch, vì đây là loại u duy nhất không có tiềm năng ác tính. Khi có triệu chứng, nguyên nhân là do kích thước nang ngày càng tăng.

    Tuổi và giới tính

    U nang tân sinh chế nhầy (MCN)
    MCN gặp hầu như hoàn toàn ở phụ nữ trung niên với độ tuổi trung bình là 47 tuổi (8).
    Cho đến nay chỉ có 12 trường hợp được báo cáo ở nam giới (9).

    U nang tân sinh thanh dịch (SCN)
    SCN cũng gặp chủ yếu ở phụ nữ (75%) với độ tuổi trung vị là 58 tuổi (4).

    U tân sinh biểu mô giả nhú đặc (SPEN)
    SPEN gặp hầu như hoàn toàn ở phụ nữ trẻ (88%), với độ tuổi trung bình là 29 tuổi (10).
    Đây là loại u đặc không phổ biến, có thể có các thành phần nang.

    Do đó, có quy tắc ghi nhớ như sau:

    • Bà ngoại – U nang tuyến thanh dịch (SCN)
    • Mẹ – U nang tân sinh chế nhầy (MCN)
    • Con gái – U tân sinh biểu mô giả nhú đặc (SPEN)

    U nang tuyến thanh dịch


    Figure 14. Serous cystic adenomas contain multiple small cysts resulting in a lobulated contour. Some have a central scar with calcifications.

    Hình 14. U nang tuyến thanh dịch chứa nhiều nang nhỏ tạo nên bờ viền thùy múi. Một số có sẹo trung tâm kèm vôi hóa.

    Các dấu hiệu chính:

    • Khối u lành tính, tuy nhiên các khối u lớn có xu hướng tăng kích thước và gây triệu chứng.
    • Thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi (‘Bà ngoại’).
    • U nang tuyến thanh dịch (SCN) có thể có nhiều dạng biểu hiện: vi nang (45%), đại nang (32%), hỗn hợp vi nang và đại nang (18%) và dạng đặc (5%) (4).
    • Dạng vi nang hoặc tổ ong với sẹo trung tâm (30%) và vôi hóa (18%).
    • Dạng đại nang chiếm 10% và khó phân biệt với nang giả tụy và u nang tuyến nhầy.
    • Bề mặt thùy múi.
    • Không có thông thương giữa các nang với ống tụy.
    • Đôi khi ghi nhận ngấm thuốc tăng sinh mạch, có thể gây khó khăn trong việc phân biệt với u thần kinh nội tiết dạng nang.
    • Tốc độ tăng trưởng của các khối u > 4 cm: lên đến 20 mm/năm.

    Serous cystic neoplasm with cmultiple small cysts. Courtesy of Dr Allen, HPB surgery, Memorial Sloan Kettering Cancer Center, NY

    U nang tuyến thanh dịch với nhiều nang nhỏ. Hình ảnh cung cấp bởi Bác sĩ Allen, Khoa Phẫu thuật Gan-Tụy-Mật, Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering, NY

    Mẫu bệnh phẩm giải phẫu bệnh cho thấy nhiều vi nang, tạo nên hình ảnh thùy múi của khối u.

    U nang tuyến thanh dịch dạng đại nang là hiếm gặp và, mặc dù lành tính, có thể có hình ảnh tương tự u nang tuyến nhầy dạng đại nang – một tổn thương có tiềm năng ác tính.


    Serous cystic neoplasm with multiple small cysts. Courtesy of Dr  Klimstra, pathology of the Memorial Sloan Kettering Cancer Center, NY,

    U nang tuyến thanh dịch với nhiều nang nhỏ. Hình ảnh cung cấp bởi Bác sĩ Klimstra, Khoa Giải phẫu bệnh, Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering, NY

    Đặc điểm đặc trưng của u nang tuyến thanh dịch là sẹo trung tâm, đôi khi kèm vôi hóa.
    Đôi khi thành phần vi nang của khối u này khó xác định trên CT.
    MRI sẽ giúp đánh giá cấu trúc bên trong tốt hơn.
    MRI cũng hữu ích trong việc xác định các nang có thông thương với ống tụy hay không, nhằm phân biệt tổn thương này với IPMN nhánh ống (xem bên dưới).

    Mẫu bệnh phẩm giải phẫu bệnh cho thấy khối u dạng nang với nhiều nang nhỏ và sẹo trung tâm.
    Không có vôi hóa.


    Serous Cystic Neoplasm

    U nang tuyến thanh dịch

    Hình ảnh CT của bệnh nhân nữ 51 tuổi có tiền sử sỏi mật và đau bụng.
    Ghi nhận tổn thương giảm tỷ trọng với vôi hóa trung tâm ở đầu tụy.
    Tổn thương có bờ viền thùy múi.
    Tiếp tục xem hình ảnh MRI.


    Serous Cystic Neoplasm (SCN)

    U nang tuyến thanh dịch (SCN)

    MRI thể hiện rõ hơn các đặc điểm hình thái của tổn thương (hình).

    Trên chuỗi xung T2W, tổn thương có dạng đa nang.

    Lưu ý vùng giảm tín hiệu trung tâm do sẹo trung tâm kèm vôi hóa.

    Mặc dù một số nang có kích thước khá lớn, đây vẫn là hình ảnh đặc trưng của u nang tuyến thanh dịch (dạng đại nang).


    Serous Cystic Neoplasm (SCN)

    U nang tuyến thanh dịch (SCN)

    Một ví dụ khác về u nang tuyến thanh dịch (Hình).

    Hình ảnh sau tiêm thuốc cản quang bên phải cho thấy tổn thương giảm tỷ trọng với vôi hóa trung tâm ở thân tụy và ngấm thuốc nhẹ của các vách ngăn.

    Lưu ý rằng trên CT rất khó nhận ra bản chất dạng nang của các tổn thương này và có thể nhầm lẫn với ung thư biểu mô tuyến tụy.


    Serous Cystic Neoplasm (SCN)

    U nang tuyến thanh dịch (SCN)

    MRI sẽ dễ dàng thể hiện bản chất dạng nang của các tổn thương này (hình).
    Chuỗi xung T2W với xóa mỡ (fatsat) thể hiện rõ tổn thương tăng tín hiệu dạng thùy múi với sẹo trung tâm, đây là hình ảnh đặc trưng của SCN.


    Serous Cystic Neoplasm (SCN)

    U nang tuyến thanh dịch (SCN)

    Đôi khi khó phân biệt u nang tuyến thanh dịch dạng vi nang với IPMN nhánh ống hay u nhú nội ống tiết nhầy.
    IPMN luôn có thông thương với ống tụy, nhưng trong nhiều trường hợp khó quan sát thấy sự thông thương này.

    Hình ảnh cho thấy chuỗi xung T2W của bệnh nhân nam 71 tuổi có tiền sử sụt cân và các triệu chứng đau bụng trên không đặc hiệu.
    Ban đầu được nghĩ đến là IPMN nhánh ống, nhưng kết quả hóa ra là SCN.

    Lưu ý vùng giảm tín hiệu trung tâm.
    Đây là mô sẹo trong SCN.
    Cũng lưu ý bề mặt thùy múi đặc trưng.


    Serous Cystic Neoplasm. Courtesy Koenraad Mortel, Dept Radiology, Brigham and Women's hospital, Boston

    U nang tuyến thanh dịch. Hình ảnh cung cấp bởi Koenraad Mortel, Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Brigham and Women’s, Boston

    Đây là một ví dụ khác về u nang tuyến thanh dịch.
    Lưu ý ngấm thuốc ở trung tâm.
    Đôi khi việc phân biệt với u thần kinh nội tiết dạng nang tăng sinh mạch có thể khó khăn, nhưng trong trường hợp này vôi hóa trung tâm là dấu hiệu gợi ý hữu ích.


    U nang tuyến thanh dịch. Cuộn qua các hình ảnh.

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Ở đuôi tụy có tổn thương dạng nang với sẹo trung tâm kèm vôi hóa (mũi tên).
    Mặc dù một số nang có kích thước lớn hơn 2 cm, hình ảnh này vẫn điển hình cho u nang tuyến thanh dịch, do có sẹo trung tâm, hình ảnh đa thùy và bờ viền thùy múi.

    Bệnh nhân này có các triệu chứng đau bụng được quy cho khối u, khối u đã được phẫu thuật cắt bỏ và kết quả giải phẫu bệnh xác nhận là u nang tuyến thanh dịch.


    Serous cystic neoplasm.

    U nang tuyến thanh dịch.

    Đây là bệnh phẩm sau phẫu thuật cắt bỏ.

    Khối u dính vào lách, do đó lách cũng phải được cắt bỏ cùng.


    Serous cystic neoplasm

    U nang tuyến thanh dịch

    Đây là một ví dụ điển hình khác về u nang tuyến thanh dịch (hình).
    Có tổn thương vi nang với sẹo trung tâm ở đầu tụy.
    Bệnh nhân tự sờ thấy khối ở bụng.
    Ngoài ra không có triệu chứng nào khác.
    Do phẫu thuật cắt bỏ đòi hỏi can thiệp ngoại khoa lớn, quyết định được đưa ra là theo dõi tổn thương.
    Trong 5 năm theo dõi, tổn thương không tăng kích thước và bệnh nhân không có triệu chứng gì thêm.

    U Nang Nhầy Tụy (Mucinous Cystic Neoplasm)

    Đặc điểm chính:

    • U tiền ác tính – có thể chuyển dạng thành ung thư biểu mô tuyến nang nhầy (mucinous cystadenocarcinoma)
    • Gặp độc quyền ở phụ nữ– Điển hình ở độ tuổi trung niên – tuổi trung vị: 40-50 tuổi
    • Dạng nang lớn (macrocystic) với các vách ngăn thành dày.
    • Vôi hóa ngoại vi gặp trong 25% trường hợp. Đây là dấu hiệu cho phép đưa rachẩn đoán đặc hiệu.
    • Vị trí ở đuôi và thân tụy (95%).
    • Hầu hết có triệu chứng, biểu hiện bằng đau bụng không đặc hiệu

    MCN in pancreatic tail in a 32 year-old female ('mother')

    MCN ở đuôi tụy trên bệnh nhân nữ 32 tuổi

    Hình ảnh CT của bệnh nhân nữ 32 tuổi với triệu chứng đau vùng thượng vị trái lan ra sau lưng.

    Ghi nhận một nang lớn ở đuôi tụy có vôi hóa ngoại vi.
    Có vách ngăn mờ nhạt như thấy trên hình bên trái và thành nang dày.

    Có thể cần phóng to hình ảnh để quan sát rõ vách ngăn.

    Có thể đưa ra chẩn đoán đặc hiệu là MCN.

    Hình ảnh CT của bệnh nhân nữ 46 tuổi với triệu chứng đau bụng phải mơ hồ.

    Các đặc điểm hình ảnh bao gồm:

    • Nang có vách ngăn kích thước 7 cm ở đầu tụy.
    • Vỏ nang nhẵn.
    • Không có thùy hóa (lobulation).
    • Không thông với ống tụy chính.

    MRI cho thấy nang có vách ngăn ở đầu tụy kích thước 7 cm với vỏ nang nhẵn, không có thùy hóa và không thông với ống tụy chính.

    Kết quả phẫu thuật xác nhận u nang tuyến nhầy độ thấp (low grade mucinous cystadenoma) có mô đệm buồng trứng (ovarian stroma).


    Mucinous cystadenoma.

    U nang tuyến nhầy (Mucinous cystadenoma).

    Hình ảnh CT của bệnh nhân nữ 30 tuổi có tiền sử viêm tụy do sỏi mật và đã cắt túi mật.
    Bệnh nhân xuất hiện đau bụng trái đột ngột tăng nặng.

    Siêu âm cho thấy tổn thương dạng nang tăng kích thước, được chẩn đoán là nang giả tụy (pseudocyst).

    Tuy nhiên, CT cho thấy tổn thương dạng nang không có thùy hóa ở đuôi tụy với các vách ngăn bên trong có ngấm thuốc, không thông với ống tụy chính (hình).

    Tiếp tục xem hình ảnh MRI…


    Mucinous cystadenoma.

    U nang tuyến nhầy (Mucinous cystadenoma).

    Chuỗi xung T1W sau tiêm thuốc tương phản từ Gadolinium thể hiện rõ hơn các vách ngăn bên trong.

    Phẫu thuật cắt đuôi tụy xác nhận u nang tuyến nhầy kích thước 14 cm có mô đệm buồng trứng (ovarian stroma).

    U Nhú Nhầy Trong Ống Tụy (IPMN)


    IPMN

    IPMN

    Đặc điểm chính:

    • U tiết nhầy xuất phát từ ống tụy chính hoặc ống nhánh.
    • Vị trí: đầu tụy >> đuôi tụy và thân tụy.
    • Bắt buộc phải có thông thương với ống tụy. Được đánh giá rõ nhất trên MRCP.
    • Có thể đa ổ.
    • IPMN thể ống chính có đặc điểm hình ảnh khác biệt so với thể ống nhánh.
    • Thể ống nhánh có thể có hình ảnh tương tự các u nang tụy khác.

    Tiêu bản đại thể của một IPMN cho thấy u nhầy với u nhú tiết nhầy lan rộng (mũi tên).


    IPMN thể ống chính

    IPMN thể ống chính

    Trên hình ảnh học, IPMN thể ống chính thường có đặc điểm khác biệt so với thể ống nhánh, tuy nhiên đôi khi có thể gặp thể hỗn hợp.

    Cuộn qua các hình ảnh của một IPMN thể ống chính và ống nhánh kích thước lớn.
    Có hình ảnh tắc nghẽn ống mật chủ kèm giãn các ống mật trong gan (mũi tên xanh).
    Lưu ý ống tụy chính giãn rất rộng (mũi tên đỏ).


    Main duct IPMN

    IPMN thể ống chính

    Chuỗi xung T2W thông thường và T2W xóa mỡ (fatsat) của một IPMN thể ống chính kích thước lớn với ống tụy giãn cực độ.


    Main-duct and branch-duct IPMN

    IPMN thể ống chính và ống nhánh

    Bệnh nhân này nhập viện vì viêm tụy.
    MRCP cho thấy cả IPMN thể ống chính lẫn thể ống nhánh (mũi tên).
    IPMN là tổn thương có tiềm năng ác tính.

    Các dấu hiệu ác tính bao gồm:

    • Ống tụy > 8 mm – như trong trường hợp này.
    • Nốt đặc trong lòng ống.
    • Khối xung quanh ống tụy.
    • Giãn ống mật chủ.

    Main duct IPMN with malignant transformation

    IPMN thể ống chính với biến đổi ác tính

    Hình ảnh CT của một IPMN với ống tụy giãn (mũi tên xanh).
    Lưu ý nốt đặc có ngấm thuốc tại đầu tụy (mũi tên đỏ).
    Tiếp tục xem hình ảnh siêu âm.


    Main duct and branch-duct IPMN

    IPMN thể ống chính và ống nhánh

    Hình ảnh siêu âm cho thấy thành phần ống nhánh kích thước lớn nằm trong đầu tụy.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    IPMN thể ống nhánh

    Hình ảnh CT cho thấy một tổn thương giảm tỷ trọng tại đầu tụy.
    Tổn thương này có thể là ung thư biểu mô tuyến, tuy nhiên tỷ trọng thấp gợi ý đến u nang tụy.
    Hình ảnh vi nang gợi khả năng u nang thanh dịch, mặc dù không có sẹo vôi hóa trung tâm.
    Trên MRCP, bản chất nang được đánh giá rõ hơn và có hình ảnh thông thương với ống tụy giãn rộng (mũi tên xanh).


    Branch-duct IPMN.

    IPMN thể ống nhánh.

    Hình ảnh chi tiết minh họa rõ ràng một số nhánh chứa đầy nhầy được cắt theo mặt phẳng ngang và một số theo mặt phẳng dọc.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    Ở một nam giới 73 tuổi, phát hiện tổn thương giảm âm tại thân tụy, có hình ảnh tương tự tổn thương dạng nang.
    CT cũng xác định được tổn thương nhưng không cung cấp thêm nhiều thông tin hữu ích.

    Tiếp tục xem hình ảnh MRI.


    Figure 39. Branch-duct IPMN

    Hình 39. IPMN thể ống nhánh

    Chuỗi xung T2W xóa mỡ nặng thể hiện rõ tổn thương đa nang với đường thông thương vào ống tụy.

    Trường hợp này được chẩn đoán là IPMN thể ống nhánh.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    Hình ảnh CT của một bệnh nhân IPMN thể ống nhánh từ chối phẫu thuật.

    Theo thời gian, u phát triển to hơn kèm giãn ống tụy chính, gợi ý biến đổi ác tính.

    Đôi khi phải mất 5-8 năm mới quan sát thấy sự biến đổi này.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    Một trường hợp IPMN thể ống nhánh khác phát hiện qua tầm soát với hai nốt (vòng tròn và mũi tên).

    Chuỗi xung T1W xóa mỡ trước (hình bên trái) và sau tiêm thuốc tương phản từ (hình bên phải).

    Siêu âm nội soi (EUS) có thuốc tương phản từ cho thấy 2 ổ không ngấm thuốc, nhiều khả năng là nút nhầy.

    Sau 6 năm theo dõi, nang không thay đổi.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    Nam giới 75 tuổi với IPMN ống nhánh kích thước 2,7 cm tại đầu tụy (vòng tròn).

    Trong quá trình theo dõi một năm sau, phát hiện giãn ống tụy chính.
    Siêu âm nội soi (EUS) cho thấy ung thư biểu mô tuyến còn khả năng phẫu thuật cắt bỏ.

    Các Khối U Hiếm Gặp với Đặc Điểm Hình Ảnh Đặc Trưng


    Figure 43. Solid pseudopapillary neoplasm with livermetastasis

    Hình 43. U giả nhú đặc với di căn gan

    U Giả Nhú Đặc

    Đặc điểm chính:

    • Khối u rất hiếm gặp, thường xuất hiện ở phụ nữ độ tuổi 20-30 (thiếu nữ).
    • Khối u vừa đặc vừa nang, có vỏ bao và ngấm thuốc sớm kiểu ‘u máu’ (hemangioma-like).
    • Đôi khi có xuất huyết trong khối u

    Hình ảnh CT của một phụ nữ 26 tuổi với khối lớn ở đầu tụy và di căn gan.
    Ở trung tâm khối có vùng không ngấm thuốc do thoái hóa nang hoặc hoại tử.

    Khối u đặc có thành phần nang ở bệnh nhân nữ 16 tuổi, được chẩn đoán là u giả nhú đặc.


    Neuroendocrine tumor with cystic degeneration

    U thần kinh nội tiết với thoái hóa nang

    U Thần Kinh Nội Tiết với Thoái Hóa Nang

    Đặc điểm chính:

    • U nội tiết không chức năng
    • Còn được gọi là u tế bào đảo tụy
    • Tăng sinh mạch với ngấm thuốc dạng vòng nhẫn. Điều này khác với u nang thanh dịch, vốn ngấm thuốc từ trung tâm ra ngoài và có thành phần đặc hơn

    Hình ảnh CT của một phụ nữ 61 tuổi với triệu chứng sụt cân.
    Có một khối lớn ở thân tụy với tăng sinh mạch, khác với ung thư biểu mô tuyến, kèm theo một số vùng nang hoặc hoại tử.


    Neuroendocrine tumor with central necrosis

    U thần kinh nội tiết với hoại tử trung tâm

    Hình ảnh CT của u thần kinh nội tiết với hoại tử trung tâm.
    Đôi khi hình ảnh này có thể bắt chước thành phần nang.
    Lưu ý vùng ngấm thuốc ngoại vi.

    Báo cáo và Xử trí

    Bảng dưới đây trình bày danh mục kiểm tra các nội dung cần đề cập trong báo cáo, cùng với các chỉ định tương đối và tuyệt đối cho phẫu thuật cắt bỏ theo hướng dẫn dựa trên bằng chứng của châu Âu về u nang tuyến tụy (2).

    Tiếp tục với các hướng dẫn xử trí.

    Tần suất theo dõi bằng chẩn đoán hình ảnh phụ thuộc vào sự hiện diện của các chỉ định và khả năng chịu đựng phẫu thuật của bệnh nhân, như được trình bày trong bảng.

    Mặc dù các hướng dẫn xử trí này áp dụng cho IPMN, trong thực hành lâm sàng chúng tôi cũng sử dụng các tiêu chí này cho các nang tụy không rõ nguồn gốc và các u nang tuyến nhầy nghi ngờ. Tuy nhiên, đối với U Nang Tuyến Nhầy nghi ngờ, kích thước nang ≥ 4 cm là tiêu chí tuyệt đối để cắt bỏ, trong khi đối với IPMN đây chỉ là chỉ định tương đối.

    Quy trình chụp ảnh

    MRI lần đầu nên được thực hiện theo quy trình chụp tụy chuyên biệt (bảng).
    Quy trình theo dõi khả thi cho các tổn thương < 3 cm có thể bao gồm các chuỗi xung T2 single shot theo mặt phẳng coronal và axial, cùng chuỗi xung T1W trước tiêm thuốc tương phản từ và không cần chụp sau tiêm.
    Có thể bổ sung thêm chuỗi xung khuếch tán (DWI) để giảm thiểu nguy cơ bỏ sót ung thư tụy đồng thời.

    Chúng tôi lựa chọn theo dõi các nang nhỏ hơn 3 cm mà không tiêm gadolinium tĩnh mạch, với các chuỗi xung còn lại giữ nguyên. Nếu phát hiện một nốt mới có thể có, chúng tôi sẽ yêu cầu bệnh nhân quay lại và thực hiện lại MRI có tiêm thuốc tương phản từ gadolinium tĩnh mạch để đánh giá sự ngấm thuốc.