Category: Cổ tay

  • TỔN THƯƠNG PHỨC HỢP SỤN SỢI TAM GIÁC

    MRI PHỨC HỢP SỤN SỢI TAM GIÁC CỔ TAY GIẢI PHẪU VÀ TỔN THƯƠNG DO CHẤN THƯƠNG (TYPE I) BS TRẦN THANH

    image1.PNG

    Sụn sợi tam giác là cấu trúc giải phẫu có hình tam giác: xòe rộng ra ở cạnh dưới của khớp quay trụ dưới. Nó là một phần của hệ thống sợi rộng bám từ viền cổ tay của khuyết trụ đầu dưới xương quay, che phủ xương nguyệt, tháp. Sụn sợi tam giác có nền dầy từ 1-2 mm, đỉnh dầy 5-9 mm Triệu chứng của tổn thương TFCC: – Đau thường là triệu chứng khiến người bệnh khó chịu nhất. Đau nhiều phía bờ trụ cổ tay, đặc biệt khi sờ nắn bờ trụ hoặc nghiêng trụ cổ tay. Đau tăng khi vận động hoặc cầm nắm. – Sưng nề cổ tay (Thường do yếu tố chấn thương). – Khi nghiêng và xoay cổ tay có thể thấy tiếng kêu hoặc cảm giác kẹt khớp. – Hạn chế vận động cổ tay, đặc biệt là động tác sấp ngửa. – Mất vững (Trật khớp) quay trụ dưới do tổn thương dây chằng quay trụ. – Các test dùng để khám tổn thương TFCC như: test ép TFCC, Piano Key test, press test, Grind test…

    Phần I : Giải Phẫu Thành phần cấu tạo nên phức hợp sụn sợi tam giác : Sụn sợi tam giác (Triangular fibrocartilage (TFC)) Dây chằng trụ nguyệt ( Ulnolunate ligament) Dây chằng trụ tháp ( Ulnotriquetral ligament) Sụn chêm (Meniscus homologue) Dây chằng trụ bên (Ulnar collateral ligament) Dây chằng quay trụ trước và sau (Palmar and dorsal radioulnar ligaments) Bao gân – gân cơ duỗi cổ tay trụ (Sheath of the extensor carpi ulnaris tendon)

    T. Xương tháp – Triquetrum L. Xương nguyệt – Lunatum H. Xương móc – Hamatum R. Xương quay – Radius U. Xương trụ – Ulna 1. Gân và bao gân cơ duỗi cổ tay trụ – ECU tendon and sheath 2. Dây chằng trụ bên – U lnar carpal collateral ligament 3. Sun chêm – U lnomeniscal homologue (UMH) 4. Sụn sợi tam giác – T riangular fibrocartilage (TFC)

    Nhìn từ mặt trước : D ây chằng trụ bên (ulnar collateral ligament) Sụn chêm cổ tay (Meniscus homologue) Dây chằng trụ – tháp ( Ulnotriquetral ligament ) Dây chằng trụ nguyệt ( Ulnolunate ligament ) Ngách trước mỏm trâm trụ ( prestyloid recess) Dây chằng quay trụ trước ( Palmar radioulnar ligament)

    image3.jpg
    image4.jpg

    Triangular fibrocartilage (TFC)

    image6.png
    image7.PNG

    T riangular ligament

    image8.PNG
    image9.PNG

    Meniscus homologue

    image11.PNG
    image13.jpg

    Dây chằng trụ nguyệt – trụ tháp

    image15.jpg
    image17.PNG
    image19.jpg

    Ngách trước mỏm trâm trụ

    image21.PNG
    image22.png
    image23.jpg
    image25.jpg
    image26.PNG

    Phần II. Phân loại tổn thương TFCC do chấn thương ( Theo Palmer )

    image27.jpg

    Type IA : Rách hoặc thủng phần đĩa trung tâm

    image28.PNG
    image30.PNG
    image31.PNG

    Type IB : Bong nơi bám bên trụ , có hay không gãy đầu xa xương trụ

    image33.PNG
    image34.PNG
    image35.PNG
    image36.PNG

    Type IC : Bong nơi bám ở xương nguyệt hoặc xương tháp

    image38.PNG
    image39.PNG
    image41.PNG

    Type ID : Bong nơi bám ở khuyết trụ đầu dưới xương quay

    image42.PNG
    image43.PNG
    image44.PNG

    Phần III. Tổn thương không phân loại

    image46.PNG
    image47.PNG
    image48.PNG
    image49.PNG

    Tổng hợp và tham khảo từ : Điều trị chấn thương phức hợp dây chằng sụn tam giác vùng cổ tay TFCC – Radiopaedia.org TFCC – https://mskmri.tistory.com Ulnomeniscal Homologue of the Wrist – https://pubs.rsna.org

  • Phân loại gãy xương cột sống ngực – thắt lưng theo AO Spine

    Phân loại AO Spine đối với gãy xương ngực thắt lưng

    Sander P.J. Muijs¹, Wouter Foppen², Frank Smithuis³ và Robin Smithuis⁴

    ¹Khoa Phẫu thuật Chỉnh hình và ²Chẩn đoán Hình ảnh và Y học Hạt nhân, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht, ³Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam, ⁴Bệnh viện Alrijne, Leiden, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Phân loại AO spine là tiêu chuẩn mới để phân loại chấn thương cột sống.

    Nó được phát triển bởi AO Spine Knowledge Forum Trauma.
    Các thành viên của diễn đàn đã xem xét tất cả các hệ thống phân loại hiện có và xây dựng một hệ thống toàn diện nhất dựa trên ba cơ chế chấn thương với mức độ nghiêm trọng tăng dần: chèn ép (A), căng giãn (B) và trượt (C).

    Phân loại này chủ yếu dựa trên CT và dễ sử dụng.
    Trong hầu hết các trường hợp, MRI là không cần thiết để phân loại chính xác.
    Nhấp vào đây cho Hệ thống phân loại AO Spine—hướng dẫn đầy đủ bao gồm hướng dẫn bằng video và các nghiên cứu

    Tổng quan

    Đây là sơ đồ đơn giản hóa của phân loại AO spine.
    Nó dựa trên nguyên tắc là bạn tìm kiếm kịch bản nghiêm trọng nhất trước tiên.

    Khi bạn nghiên cứu các hình ảnh, hãy tự hỏi:

    1. Có sự dịch chuyển của thân đốt sống so với thân đốt sống lân cận hay không, tức là chấn thương trượt (loại C).
    2. Nếu không phải là loại C, thì câu hỏi tiếp theo là, liệu có chấn thương dải căng trước hoặc sau hay không, tức là chấn thương căng giãn (loại B).
    3. Nếu không phải là loại B, thì câu hỏi tiếp theo là, liệu có gãy thân đốt sống hay không, tức là chấn thương chèn ép (loại A).

    Lưu ý: Chấn thương loại A có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp với chấn thương loại B hoặc C.
    Đây là lý do tại sao phân loại bắt đầu với các chấn thương lan rộng nhất, để bạn sẽ không bỏ sót điều gì.

    Trượt

    Loại C – Chấn thương trượt được đặc trưng bởi sự trật khớp của một tầng đốt sống so với tầng bên dưới hoặc bên trên theo bất kỳ hướng nào.

    Không có các phân nhóm vì có vô số khả năng của gãy xương trật khớp.
    Tuy nhiên, chúng nên được xác định cùng với các chấn thương thân đốt sống (loại A) hoặc dải căng (loại B) liên quan để mô tả hình thái tốt hơn.

    Căng giãn

    Chấn thương nghiêm trọng tiếp theo là căng giãn.
    Chấn thương căng giãn có nghĩa là hai hoặc nhiều tầng đốt sống bị kéo giãn hoặc tách rời một phần khỏi nhau.
    Quá ưỡn có thể dẫn đến căng giãn dải căng trước.
    Quá gập có thể dẫn đến căng giãn dải căng sau.

    Dải căng trước
    Cấu trúc này được tạo thành bởi các thân đốt sống, dây chằng dọc trước và dọc sau cùng với các đĩa đệm.
    Loại chấn thương này thường thấy ở những người có cột sống cứng như bệnh tăng sinh xương tỏa lan tự phát hoặc viêm cột sống dính khớp và có thể xảy ra ngay cả sau chấn thương nhẹ ở nhóm bệnh nhân này.

    Dải căng sau
    Đây là cấu trúc ổn định chính của cột sống giúp hạn chế sự gập và giảm tải trọng trục lên các đĩa đệm.
    Nó được tạo thành bởi:

    • Các cấu trúc xương: cuống cung, mỏm ngang, mỏm gai.
    • Các cấu trúc không phải xương: dây chằng vàng, dây chằng gian gai và trên gai cùng với các khớp liên mấu.

    Chèn ép

    Nếu không phải là chấn thương loại C hoặc B, chúng ta tự hỏi liệu có chấn thương chèn ép loại A hay không.
    Chấn thương chèn ép là gãy thân đốt sống:

    • A1 gãy một tấm tận.
    • A2 gãy tách đôi trong đó cả hai tấm tận đều bị tổn thương mà không ảnh hưởng đến thành sau của thân đốt sống
    • A3 gãy vụn không hoàn toàn, trong đó thành sau và một tấm tận bị tổn thương
    • A4 gãy vụn hoàn toàn, trong đó thành sau và cả hai tấm tận đều bị tổn thương.

    Lưu ý: Chấn thương loại A có thể xảy ra đơn độc hoặc thứ phát sau chấn thương loại B hoặc C.
    Ngoài ra còn có gãy xương loại A0, là một gãy xương nhỏ không thuộc cấu trúc, không ảnh hưởng đến sự ổn định của cột sống, ví dụ như gãy mỏm ngang hoặc mỏm gai.

    Sơ đồ

    Đây là phiên bản đầy đủ của sơ đồ phân loại AO-spine.
    Nó bắt đầu với chấn thương nghiêm trọng nhất là loại C trượt và cuối cùng kết thúc với chấn thương A0 không đáng kể.

    C trượt
    Khi có sự dịch chuyển, nó là chấn thương trượt loại C mà không có bất kỳ phân nhóm nào.
    Khi bạn mô tả chấn thương loại C, cả hai tầng liên quan bị dịch chuyển khỏi nhau đều được mô tả: ví dụ Th8-Th9 AO loại C.

    B căng giãn
    Nếu có căng giãn phía trước với sự gián đoạn của dải căng trước, bạn gọi nó là chấn thương quá ưỡn B3.
    Nếu có chấn thương dải căng sau, nó thường là sự kết hợp của chấn thương xương và chấn thương không phải xương (B2).
    Thỉnh thoảng nó là một chấn thương xương đơn thuần (B1) còn được gọi là gãy xương Chance.
    Nói chung, chấn thương loại B1 có tiên lượng tốt hơn chấn thương loại B2.

    A chèn ép
    Khi có gãy chèn ép của thân đốt sống, việc phân nhóm được xác định tùy thuộc vào việc có gãy một hay cả hai tấm tận và thành sau có bị tổn thương hay không.

    Tổng quan đầy đủ

    Hình minh họa này tóm tắt các loại gãy xương khác nhau của phân loại AO-spine (được phỏng theo tài liệu tham khảo 1).

    Loại C– Chấn thương trượt được đặc trưng bởi:

    • Trật khớp hoặc dịch chuyển của một tầng đốt sống so với tầng bên dưới hoặc bên trên theo bất kỳ hướng nào.

    Loại B– Chấn thương căng giãn được đặc trưng bởi:

    • Quá gập với căng giãn dải căng ở phía sau.
      Thường là sự kết hợp của chấn thương xương và chấn thương không phải xương (B2), nhưng thỉnh thoảng là chấn thương xương đơn thuần (B1). Điều này còn được gọi là gãy xương Chance.
    • Quá ưỡn với căng giãn dải căng ở phía trước (B3). Đây là chấn thương phổ biến ở những bệnh nhân có lưng cứng.


    Loại A
    – Gãy chèn ép thân đốt sống:

    • A1 gãy một tấm tận.
    • A2 gãy tách đôi trong đó cả hai tấm tận đều bị tổn thương.
    • A3 gãy vụn, trong đó thành sau và một trong hai tấm tận bị tổn thương.
    • A4 gãy vụn hoàn toàn, trong đó thành sau và cả hai tấm tận đều bị tổn thương.

    Một công cụ hữu ích để phân loại các phân nhóm của chấn thương A như sau:

    • Cả hai tấm tận của đốt sống mỗi phần được tính 1 điểm, thành sau 2 điểm.
    • Cộng các điểm đối với các vỏ xương liên quan của thân đốt sống và bạn sẽ có phân nhóm chấn thương loại A chính xác.

    Loại C Chấn thương trượt

    Chúng ta bắt đầu với chấn thương nghiêm trọng nhất và tiếp tục từ đó.
    Chấn thương trượt là sự trật khớp hoặc dịch chuyển của một tầng đốt sống so với tầng bên dưới hoặc bên trên.
    Không có phân nhóm vì có thể có nhiều cấu hình khác nhau.
    Có mức độ mất vững cao và do đó có chỉ định phẫu thuật.

    Hình ảnh
    Ở đây chúng ta thấy một trật khớp của các tầng gần về phía bên phải trên mặt phẳng vành.

    Kết luận
    Chấn thương loại C.

    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Hình ảnh
    Đây là một ví dụ rõ ràng về trượt ra phía trước.

    Kết luận
    Chấn thương loại C.

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Các dấu hiệu là gì?
    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu

    • Trật khớp của các đốt sống gần ra phía trước (mũi tên trắng).
    • Cả hai khớp liên mấu đều bị cỡi (mũi tên đen). Cỡi có nghĩa là nằm phía trên hoặc trên rìa của một cái gì đó. Trong trường hợp này mỏm khớp dưới của các khớp đốt sống dường như nằm trên mỏm khớp trên cùng bên của đốt sống bên dưới.
    • Do sự dịch chuyển ra trước, người ta thấy gãy mỏm gai theo hướng chéo ngang.


    Kết luận

    Chấn thương loại C.

    Đầu tiên hãy nhìn vào các hình ảnh.
    Các dấu hiệu là gì?
    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu

    • Cả hai khớp liên mấu đều bị cỡi hoặc dịch chuyển (mũi tên đen).
      Sự dịch chuyển của các đốt sống (mũi tên trắng) không quá nổi bật như trong các trường hợp trước.
    • Có các gãy xương của mỏm gai ở nhiều tầng.
      Đây là một đặc điểm chung trong các chấn thương C.
    • Chú ý đến các gãy xương bong mảnh trên các tấm tận.


    Kết luận

    Chấn thương loại C + A1.

    Cuộn qua các hình ảnh

    Các dấu hiệu:

    • Khớp liên mấu kiểu cỡi (mũi tên cong màu vàng), vì vậy hãy nghĩ đến chấn thương C.
    • Dịch chuyển ra sau của thân đốt sống ở đường giữa.
    • Chấn thương A4 thứ phát của thân đốt sống.


    Kết luận

    Chấn thương loại C + A4

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Các dấu hiệu là gì?
    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu

    • Thoạt nhìn chúng ta thấy một gãy chéo của thân đốt sống (A1).
    • Nhưng như đã đề cập trước đó, chúng ta phải bắt đầu với loại nghiêm trọng nhất (C) và tiếp tục từ đó.
    • Vì vậy hãy tự hỏi: Có sự trật khớp trong mặt phẳng ngang hay không (có, nhìn vào các đường màu trắng) và có khớp liên mấu kiểu cỡi hay không (có, một bên ở phía bên trái)


    Kết luận

    Chấn thương loại C + A1 (chỉ tấm tận trên)

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Các dấu hiệu là gì?
    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu

    • Gãy dọc của bờ sau thân đốt sống. Trông hơi kỳ lạ.
    • Một lần nữa chúng ta trước tiên phải tìm kiếm sự hiện diện của chấn thương loại C.
    • Lưu ý rằng có một sự trật khớp ra sau kín đáo của các tầng gần. Vì vậy, đây phải là chấn thương C.


    Kết luận

    Chấn thương loại C + A3

    Những hình ảnh này là của một phụ nữ 65 tuổi bị ngã từ xe đạp.

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Các dấu hiệu là gì?
    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu
    Có một chấn thương loại C.
    Ngoài sự trật khớp ở cột sống ngực cao, còn có gãy xương ức, làm tăng thêm sự mất vững bên cạnh chấn thương cột sống nghiêm trọng.

    Đây là một trường hợp khó với chấn thương ở nhiều tầng.
    Tầng nghiêm trọng nhất để phân loại là gì.
    Sau đó tiếp tục với ngăn hình ảnh thứ hai bên dưới để phân loại các tầng khác.

    Các dấu hiệu

    1. Tầng nghiêm trọng nhất là L4/5 với trật khớp (các đường đứt nét)
    2. Gãy khớp liên mấu tại L4 (mũi tên).
    3. Gãy vụn A4 (vòng tròn).


    Kết luận
    : 
    Chấn thương loại C + A4 tại L4/5.

    Tiếp tục với ngăn hình ảnh tiếp theo để phân loại tầng L2…

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Tầng AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu

    1. Không có trật khớp (không có loại C).
    2. Chủ yếu là gãy ngang của mỏm gai ở nhiều tầng (loại B).
    3. Gãy tách đôi L2 (loại A2).


    Kết luận

    Chấn thương loại B2 + A2 tại tầng L2.

    Sự kết hợp của các loại gãy xương này khiến người ta khó hiểu chính xác những gì đã xảy ra.
    Phân loại AO spine chỉ được thiết kế để phân loại các chấn thương này càng đơn giản càng tốt.

    Loại B / Chấn thương căng giãn

    Chấn thương căng giãn do quá ưỡn B3

    Quá ưỡn có thể dẫn đến căng giãn dải căng trước, được tạo thành bởi các thân đốt sống, dây chằng dọc trước và dọc sau cùng với đĩa đệm.

    Những chấn thương này có thể khó phát hiện do bệnh nhân được chụp ở tư thế nằm ngửa, điều này có thể làm che khuất sự căng giãn phía trước.

    Tuy nhiên, những chấn thương này chủ yếu xảy ra ở những bệnh nhân có cột sống cứng do hậu quả của thoái hóa khớp, DISH hoặc viêm cột sống dính khớp (SpA).
    Hãy kiên trì khi khám một bệnh nhân có cột sống cứng cho đến khi bạn tìm thấy chấn thương B3.

    Căng giãn do quá ưỡn được đặc trưng bởi:

    • Căng giãn dải căng ở phía trước.
    • Bất kỳ đường gãy ngang hoặc chéo nào xuyên qua các thân đốt sống phía trước với sự tách rời ở cả hai bên.
    • Khoảng gian đĩa đệm rộng ra.

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Các dấu hiệu là gì?

    Các dấu hiệu

    1. Chấn thương C? Không.
    2. Các dấu hiệu của cột sống cứng?
      Có, vì vậy hãy lưu ý đến chấn thương B3 có thể rất kín đáo.
    3. Một gãy xương kín đáo ở thân đốt sống phía trước được nhìn thấy (mũi tên).


    Kết luận

    Chấn thương loại B3.

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Các dấu hiệu là gì?

    Các dấu hiệu

    1. Chấn thương C? Không.
    2. Các dấu hiệu của cột sống cứng? 
      Có, ví dụ rõ ràng của SpA vì vậy hãy cảnh giác với chấn thương B3.
    3. Gãy ngang thân đốt sống (vòng tròn trắng)
    4. Sự tách rời kín đáo phía trước tại tầng gãy xương


    Kết luận
    Chấn thương loại B3.

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Các dấu hiệu là gì?

    Các dấu hiệu

    1. Chấn thương C? Không.
    2. Các dấu hiệu của cột sống cứng? 
      Có (DISH), vì vậy chấn thương B3 là rất có khả năng.
    3. Một gãy xương kín đáo ở thân đốt sống phía trước (mũi tên).
    4. Không có sự tách rời, có thể do tư thế của bệnh nhân trong máy chụp


    Kết luận

    Chấn thương loại B3.

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Các dấu hiệu là gì?

    Các dấu hiệu

    1. Chấn thương C? Không.
    2. Các dấu hiệu của cột sống cứng? 
      Có, chấn thương B3 là rất có khả năng.
    3. Một gãy xương kín đáo trên thân đốt sống phía trước.


    Kết luận

    Chấn thương loại B3.

    Chấn thương căng giãn do gập B1 và B2

    Quá gập có thể dẫn đến căng giãn dải căng sau, đây là thuật ngữ cho đơn vị kết hợp của xương và dây chằng cùng cung cấp sự ổn định.

    Dải căng sau được tạo thành bởi:

    • Các cấu trúc xương: cuống cung, mỏm ngang, mỏm gai.
    • Các cấu trúc không phải xương: dây chằng vàng, gian gai và trên gai, cùng với các khớp liên mấu.

    Khi dải căng sau bị kéo giãn trong chấn thương căng giãn do gập, nó được phân loại là:

    • Chấn thương gập B1, hoàn toàn là tổn thương xương.
      Chấn thương này là một từ đồng nghĩa với gãy xương Chance như đã gọi trước đây.
      Chấn thương B1 hiếm gặp, vì các cấu trúc dây chằng hầu như luôn luôn bị ảnh hưởng.
    • Chấn thương B2, là sự kết hợp của chấn thương xương và chấn thương không phải xương. Sự kết hợp với chấn thương loại A là phổ biến, điều này được phân loại thêm.

    Nghiên cứu các hình ảnh.
    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?
    Bất kỳ dấu hiệu bổ sung nào không?

    Các dấu hiệu

    1. Gãy xuyên qua mỏm gai cho thấy chấn thương căng giãn do gập B2.
    2. Gãy cả hai tấm tận (1+1 điểm) và thành sau (2 điểm) của thân đốt sống, tức là gãy chèn ép A4.

    Kết luận
    Chấn thương loại B2-A4

    Cuộn qua các hình ảnh.

    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?
    Bất kỳ dấu hiệu bổ sung nào không?

    Sau đó tiếp tục với các hình ảnh tiếp theo…

    Các dấu hiệu

    1. Mũi tên đen: gãy ngang qua các cuống cung do chấn thương căng giãn khi gập.
    2. Mũi tên trắng: sưng nề mô mềm cho thấy chấn thương các dây chằng phía sau.
    3. Vòng tròn: gãy chèn ép của thành sau (2 điểm) và hai tấm tận (2 điểm)


    Kết luận

    Loại B2-A4
    Chấn thương căng giãn do gập với sự tách rời ở phía sau và gãy vụn thứ phát liên quan đến cả hai tấm tận và thành sau.

    Đây là những hình ảnh của một trẻ nhỏ bị chấn thương cột sống.

    Các dấu hiệu

    1. Rộng khoảng cách gian gai rõ rệt (mũi tên vàng)
    2. Đầu mũi tên đen: gãy bong mảnh nhỏ do sự căng giãn khi gập
    3. MRI mô tả tốt hơn tổn thương dây chằng, vốn đã được nghi ngờ trên CT


    Kết luận
    Chấn thương loại B2

    Cuộn qua các hình ảnh.

    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?
    Bất kỳ dấu hiệu bổ sung nào không?

    Các dấu hiệu

    1. Rộng khoảng cách gian gai kín đáo (vòng tròn trắng)
    2. Gãy bong mảnh nhỏ ở mỏm gai (mũi tên vàng)
    3. Gãy chèn ép liên quan đến một tấm tận và thành sau (1+2 điểm)


    Kết luận
    Chấn thương loại B2 + A3

    Loại A / Chấn thương chèn ép

    Nếu không phải là chấn thương loại C hoặc B, thì câu hỏi tiếp theo là liệu có phải là chấn thương chèn ép loại A hay không.
    Chấn thương chèn ép là gãy các thân đốt sống và được phân loại thành:

    • A1 gãy một tấm tận.
    • A2 gãy tách đôi trong đó cả hai tấm tận đều bị tổn thương.
    • A3 gãy vụn không hoàn toàn, trong đó thành sau và một tấm tận bị tổn thương
    • A4 gãy vụn hoàn toàn, trong đó thành sau và cả hai tấm tận đều bị tổn thương.

    Gãy vụn hoàn toàn A4

    Gãy xương liên quan đến thành sau và cả hai tấm tận.
    Có thể có đường gãy dọc của mảnh cung đốt sống và điều này không cấu thành tổn thương dải căng.

    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu:

    • Không có chấn thương C hoặc B
    • Gãy thân đốt sống liên quan đến cả hai tấm tận (1+1 điểm) và thành sau (2 điểm)


    Kết luận
    Chấn thương loại A4

    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu

    • Đây là chấn thương căng giãn do gập loại B2.
    • Có thêm gãy chèn ép bổ sung.

    Chúng ta có loại gãy xương A nào ở đây?

    Các dấu hiệu

    • Gãy chèn ép của thành sau (2 điểm) và hai tấm tận (2 điểm).
    • Đây là cùng một trường hợp như trong chấn thương căng giãn do gập B2.

    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu

    • Không có chấn thương C hoặc B.
    • Gãy thân đốt sống liên quan đến cả hai tấm tận (1+1 điểm) và thành sau (2 điểm).
    • Trên mặt phẳng vành, hướng gãy dọc giữa được nhìn thấy, điều này phổ biến trong các gãy vụn.
    • Sự phồng của thành sau mà không có bất kỳ dấu hiệu trật khớp nào khác là kết quả của gãy vụn.
      Do đó không có chấn thương C.


    Kết luận
    Chấn thương loại A4

    Ở đây có thêm các ví dụ về chấn thương gãy vụn điển hình.
    Do lực dọc trục, thân đốt sống bị ‘chẻ làm đôi’, do đó hướng gãy theo mặt phẳng đứng dọc là phổ biến.

    Do đó một gãy xuyên qua các cấu trúc xương phía sau là có thể xảy ra trong một số chấn thương loại A và không phải lúc nào cũng nên được coi là chấn thương căng giãn phía sau.
    Điều này đôi khi có thể gây nhầm lẫn.

    Gãy vụn không hoàn toàn A3

    Gãy xương có bất kỳ sự liên quan nào của thành sau; chỉ một tấm tận bị gãy.
    Thường có một đường gãy dọc của mảnh cung đốt sống và điều này không cấu thành tổn thương dải căng.

    Loại chấn thương AO của gãy thân đốt sống dựa trên chỉ hai hình ảnh này là gì?

    Các dấu hiệu:

    • Gãy thân đốt sống liên quan đến tấm tận trên (1 điểm) và thành sau (2 điểm)
    • Sự phồng của thành sau mà không có bất kỳ dấu hiệu trật khớp nào khác là kết quả của gãy vụn.
      Do đó không có chấn thương C.


    Kết luận
    Chấn thương loại A3

    Các dấu hiệu:

    • Không có chấn thương C hoặc B
    • Gãy thân đốt sống liên quan đến tấm tận trên (1 điểm) và thành sau (2 điểm)


    Kết luận
    Chấn thương loại A3

    Gãy tách đôi A2

    A2 là gãy cả hai tấm tận mà không ảnh hưởng đến thành sau của thân đốt sống.

    Loại chấn thương AO cao nhất là gì?

    Các dấu hiệu:

    • Không có chấn thương C hoặc B
    • Gãy thân đốt sống liên quan đến cả hai tấm tận (1+1 điểm), không tổn thương thành sau


    Kết luận
    Chấn thương loại A2

    Gãy hình chêm A1

    Gãy một tấm tận mà không ảnh hưởng đến thành sau của thân đốt sống.

    Loại gãy xương của thân đốt sống là gì?

    Các dấu hiệu:

    • Gãy thân đốt sống liên quan đến tấm tận trên (1 điểm), không tổn thương thành sau


    Kết luận
    Chấn thương loại A1

    Gãy xương nhỏ A0

    A0 là gãy xương nhỏ không thuộc cấu trúc, không ảnh hưởng đến sự ổn định của cột sống.
    Gãy mỏm ngang hoặc mỏm gai được coi là chấn thương loại A0.
    Thông thường chúng gây ra bởi chấn thương trực tiếp.

    Các yếu tố điều chỉnh

    Yếu tố điều chỉnh M1 là khi có sự không chắc chắn liên quan đến chấn thương đĩa đệm-dây chằng.

    Yếu tố điều chỉnh M2 mô tả bệnh lý kèm theo đặc trưng của bệnh nhân, có thể ủng hộ hoặc chống lại việc phẫu thuật đối với bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật tương đối.
    Ví dụ về yếu tố điều chỉnh M2 là viêm cột sống dính khớp và loãng xương

  • Mất vững cổ tay

    Mất vững cổ tay

    Louis A. Gilula và Ileana Chesaru

    Viện Hình ảnh Y khoa Mallinckrodt, Đại học Washington, St. Louis, Missouri, Hoa Kỳ và Bệnh viện Westeinde, The Hague, Hà Lan.

    Ngày đăng

    Bài viết này được dựa trên bài thuyết trình của Louis Gilula và được Ileana Chesaru biên soạn lại cho Trợ lý Chẩn đoán Hình ảnh.
    Đầu tiên, một phương pháp phân tích hệ thống cổ tay được trình bày nhằm tìm kiếm tình trạng mất vững xương cổ tay và trật khớp kèm gãy xương.
    Tiếp theo, các ca lâm sàng được trình bày như những ví dụ minh họa trong phần đánh giá hệ thống và chẩn đoán.

    Phân tích cổ tay

    Khi phân tích cổ tay để tìm kiếm tình trạng mất vững xương cổ tay và trật khớp kèm gãy xương, cần đặt ra các câu hỏi sau:
    – Tư thế của bệnh nhân có đúng không? Đây là yếu tố thiết yếu để có thể nhận định về sự sắp xếp không đúng trục hoặc trục bất thường của các xương cổ tay.
    – Sự thẳng hàng giữa các xương cổ tay có bình thường không? Các xương cổ tay phải song song khi nhìn theo mặt phẳng nghiêng. Bất kỳ sự chồng lấp nào đều cho thấy tình trạng nghiêng bất thường, trật khớp hoặc gãy xương.
    – Có sự gián đoạn nào của ba cung xương cổ tay không? Sự gián đoạn cho thấy đứt dây chằng hoặc gãy xương.
    – Hình dạng và trục của các xương cổ tay như thế nào? Cần đặc biệt chú ý đến xương nguyệt, xương thuyền và xương đầu. Hình dạng bất thường cho thấy tình trạng nghiêng bất thường có hoặc không kèm trật khớp.
    Việc trả lời các câu hỏi này sẽ giúp phát hiện các dấu hiệu gợi ý tình trạng mất vững xương cổ tay, trật khớp và gãy xương.

    X-quang

    Tư thế chụp
    Tư thế PAcần được thực hiện với cổ tay và khuỷu tay ngang tầm vai. Chỉ ở tư thế này, xương quay và xương trụ mới song song với nhau. Hạ tay xuống sẽ khiến xương quay bắt chéo xương trụ và trở nên tương đối ngắn hơn. Do đó, sẽ không thể đánh giá chính xác chiều dài của xương trụ (biến thể dương hay âm).
    Tư thế nghiêngđược thực hiện với khuỷu tay khép sát vào thân người. Vai, khuỷu và cổ tay cùng nằm trên một mặt phẳng. Tư thế này giúp hình ảnh nghiêng vuông góc hoàn toàn với hình ảnh PA.


    Extensor carpi ulnaris groove (yellow arrow) seen radial to the midportion of the ulnar styloid.

    Rãnh cơ duỗi cổ tay trụ (mũi tên vàng) nằm ở phía quay so với phần giữa mỏm trâm trụ.

    Tư thế PA
    Trên hình PA đúng tư thế, rãnh cơ duỗi cổ tay trụ sẽ hiện ra ở phía quay so với phần giữa mỏm trâm trụ.
    Hình PA và hình nghiêng có giá trị ngang nhau và do đó cần được phân tích cẩn thận.
    Hình PA thường cho thấy bất thường là gì, còn hình nghiêng cho thấy hướng di lệch của các xương.
    Đôi khi hình chếch cũng được thực hiện, đặc biệt khi cần quan sát khớp thang-thê theo hướng thẳng.

    Tư thế nghiêng
    Chỉ trên hình nghiêng đúng tư thế mới có thể thấy riêng biệt và thẳng hàng các bờ gan tay của xương thuyền, xương đậu và xương đầu như minh họa bên trái.
    Xương nguyệt là xương hình bán nguyệt khớp với đầu xa xương quay. Nhìn xuyên qua đó, có thể thấy mặt lồi của xương thuyền.
    Phía xa xương thuyền là xương thang. Xương có hình góc cạnh nhìn thấy ở phía lưng là xương tháp.
    Xương vuông bắc cầu giữa nửa gần và nửa xa của cổ tay là xương đậu.
    Xương đầu là xương tròn khớp vào mặt xa của xương nguyệt.
    Ở phía xa, giữa các xương đốt bàn tay, có thể nhận ra móc xương móc.


    Same projection of ulna and ulnar styloid on PA and lateral view due to malpositioning in a patient with a perilunate fracture dislocation.

    Hình ảnh xương trụ và mỏm trâm trụ giống nhau trên cả tư thế PA và nghiêng do tư thế chụp không đúng ở bệnh nhân trật khớp gãy xương quanh nguyệt.

    Tư thế chụp không đúng có thể dẫn đến hình ảnh xương trụ giống nhau trên cả tư thế PA và nghiêng như minh họa trong trường hợp bên trái. Không ở vị trí nào trên cơ thể mà người ta chấp nhận hai tư thế chụp cho cùng một hình ảnh của một xương.


    Normal oblique radiograph of the wrist and schematic representation

    X-quang chếch cổ tay bình thường và hình minh họa sơ đồ tương ứng

    Tư thế chếch
    Tư thế chếch không được thực hiện thường quy. Tuy nhiên, đây là tư thế duy nhất cho phép quan sát khớp thang-thê.

    Khoang khớp: tính song song và đối xứng

    Khoang khớp cổ tay có chiều rộng từ 2 mm trở xuống. Chỉ riêng khớp quay-cổ tay là rộng hơn một chút. Các khớp cổ tay-bàn tay hẹp hơn một chút so với các khớp giữa cổ tay.
    Khớp đầu-nguyệt được xem là khoang khớp cơ sở để so sánh với các khoang khớp khác. Cần đánh giá tất cả các khoang khớp: khớp quay-cổ tay, khớp gian cổ tay hàng gần, khớp giữa cổ tay, khớp gian cổ tay hàng xa và các khớp cổ tay-bàn tay.


    Study the carpal bones as pieces of a jigsaw puzzleLEFT: Schematic representation of the wrist with the outlines tracing the outer margins of the bonesRIGHT: Schematic representation of the wrist with the lines tracing the carpal bones as pieces of a jigsaw puzzle

    Quan sát các xương cổ tay như những mảnh ghép của trò chơi xếp hình — TRÁI: Hình minh họa sơ đồ cổ tay với các đường viền theo dõi bờ ngoài của các xương — PHẢI: Hình minh họa sơ đồ cổ tay với các đường theo dõi các xương cổ tay như những mảnh ghép xếp hình

    Các khớp cổ tay cần có tính đối xứng. Hơn nữa, khi quan sát theo chiều tiếp tuyến (nhìn nghiêng), các bờ vỏ xương của các xương tạo nên khớp đó phải song song với nhau. Các bờ xương không được quan sát theo chiều tiếp tuyến sẽ không thể hiện tính song song này, ví dụ như phần xa của xương thuyền khớp với xương đầu.
    Việc đánh giá tính song song này sẽ dễ dàng hơn khi xem các xương cổ tay như những mảnh ghép của trò chơixếp hìnhkhớp với nhau, thay vì theo dõi các xương cổ tay theo bờ vỏ xương ngoài tạo thành các đường viền (hình minh họa).
    Khi một xương không song song với các xương còn lại, xương đó đã bị lệch khỏi vị trí. Nếu các xương còn lại vẫn song song với nhau, chúng vẫn giữ nguyên vị trí cùng nhau.


    PA radiograph and schematic representation of the wrist, with dislocation of the lunate

    Phim X-quang tư thế thẳng (PA) và hình minh họa sơ đồ cổ tay, cho thấy trật khớp xương nguyệt

    Hình ảnh bên trái cho thấy sự chồng lấp bất thường của xương nguyệt lên xương đầu, xương móc và xương tháp. Chúng ta cũng thấy bề mặt tiếp tuyến phía trong của xương thuyền, nhưng không có xương nào song song với nó. Ngoài ra còn có sự giãn rộng bất thường của khoang khớp quay-nguyệt. Các khớp còn lại vẫn song song và đối xứng tốt. Điều này dẫn đến kết luận rằng xương nguyệt đã bị di lệch trong khi các xương còn lại vẫn giữ nguyên vị trí cùng nhau.

    Các cung cổ tay


    PA radiograph of the wrist. The three normal carpal arcs

    Phim X-quang cổ tay tư thế thẳng (PA). Ba cung cổ tay bình thường

    Bước tiếp theo là quan sát ba cung cổ tay: các đường cong trơn nối liền các bề mặt của các xương cổ tay như được minh họa ở hình bên trái.
    Cung thứ nhất là một đường cong trơn phác thảo các mặt lồi phía gần của xương thuyền, xương nguyệt và xương tháp.
    Cung thứ hai đi theo các bề mặt lõm phía xa của các xương tương tự, và cung thứ ba đi theo các đường cong phía gần chính của xương đầu và xương móc.


    PA radiograph of the wrist and schematic representation showing disruption of the first carpal arc

    Phim X-quang cổ tay tư thế thẳng (PA) và hình minh họa sơ đồ cho thấy sự gián đoạn của cung cổ tay thứ nhất

    Gián đoạn các cung cổ tay
    Một cung được coi là gián đoạn khi không thể vẽ theo một đường cong trơn liên tục. Sự gián đoạn của một trong các cung cho thấy có gãy xương hoặc đứt dây chằng dẫn đến bán trật khớp hoặc trật khớp.
    Ở hình bên trái, có thể nhận thấy sự gián đoạn của cung I tại khớp nguyệt-tháp.


    Disruption of the second carpal arc

    Gián đoạn cung cổ tay thứ hai

    Hình bên trái cho thấy sự gián đoạn của cung cổ tay thứ hai tại khớp thuyền-nguyệt và khớp nguyệt-tháp. Mặc dù có một khoảng hở ở cung thứ nhất, nhưng vẫn có thể vẽ theo một đường cong trơn liên tục, do đó cung I được coi là còn nguyên vẹn.


    Disruption of the third carpal arc at the capitohamate joint

    Gián đoạn cung cổ tay thứ ba tại khớp đầu-móc

    Sự gián đoạn của cung cổ tay thứ ba được minh họa trong trường hợp tiếp theo ở hình bên trái. Có hiện tượng bậc thang bất thường tại khớp đầu-móc.

    Hình dạng các xương cổ tay


    Schematic representation of the lunate shape in different positions

    Hình minh họa sơ đồ hình dạng xương nguyệt ở các tư thế khác nhau

    Hình dạng xương nguyệt

    Xương nguyệt có hình thang, với các cạnh bên hội tụ từ mặt gần đến mặt xa, hai mặt này về cơ bản song song với nhau. Khi xương nguyệt bị nghiêng, hình dạng của nó trở nên tam giác. Nhận thức được điều này giúp tránh nhầm lẫn khi cho rằng xương nguyệt có thể bị trật khớp chỉ dựa trên hình dạng bên ngoài, vốn thay đổi theo tư thế của xương.
    Do đó, xương nguyệt có thể bị trật khớp kèm theo nghiêng hoặc chỉ đơn thuần bị nghiêng mà thôi.


    LEFT: Lunate dislocation: capitate is centered over the radius and lunate is tilted out.RIGHT: Perilunate dislocation: lunate is centered over the radius and capitate is tilted out dorsally.

    TRÁI: Trật khớp xương nguyệt: xương đầu nằm trung tâm trên xương quay và xương nguyệt bị nghiêng ra ngoài. PHẢI: Trật khớp quanh xương nguyệt: xương nguyệt nằm trung tâm trên xương quay và xương đầu bị nghiêng ra phía sau.

    Trật khớp xương nguyệt và trật khớp quanh xương nguyệt

    Các trật khớp cổ tay thường gặp bao gồm trật khớp xương nguyệt và trật khớp quanh xương nguyệt. Điểm mấu chốt để phân biệt hai loại này là xác định xương nào nằm trung tâm trên xương quay. Nếu xương đầu nằm trung tâm trên xương quay và xương nguyệt bị nghiêng ra ngoài, đó là trật khớp xương nguyệt. Ngược lại, nếu xương nguyệt nằm trung tâm trên đầu xa xương quay và xương đầu nằm ở phía lưng, chúng ta đang đối mặt với trật khớp quanh xương nguyệt (hình minh họa).


    LEFT: Lateral radiograph of the wrist in extention showing scaphoid elongationRIGHT: PA radiograph of the wrist in ulnar deviation showing elongation of the scaphoid

    TRÁI: X-quang cổ tay tư thế nghiêng ở tư thế duỗi cho thấy xương thuyền bị kéo dài. PHẢI: X-quang cổ tay tư thế thẳng sau-trước ở tư thế lệch trụ cho thấy xương thuyền bị kéo dài

    Hình dạng xương thuyền

    Hình dạng xương thuyền thay đổi theo chuyển động của cổ tay. Khi lệch trụ hoặc duỗi cổ tay, xương thuyền kéo dài ra để lấp đầy khoảng trống giữa mỏm trâm quay và nền ngón cái (xương thang).


    LEFT: PA radiograph of the wrist in radial deviation showing foreshortening of the scaphoid: signet ring signRIGHT: Schematic representation of the wrist in flexion showing tilting of the scaphoid towards the palm

    TRÁI: X-quang cổ tay tư thế thẳng sau-trước ở tư thế lệch quay cho thấy xương thuyền bị ngắn lại: dấu hiệu nhẫn đeo tay. PHẢI: Hình minh họa sơ đồ cổ tay ở tư thế gấp cho thấy xương thuyền nghiêng về phía lòng bàn tay

    Cả khi lệch quay lẫn khi gấp cổ tay, khoảng trống giữa mỏm trâm quay và xương thang đều bị thu hẹp. Do xương thuyền lấp đầy khoảng trống này, nó sẽ bị ngắn lại và nghiêng về phía lòng bàn tay. Điều này tạo ra hình ảnh xương thuyền có dạng nhẫn đeo tay (hình minh họa).

    Trục của các xương cổ tay

    Vẽ các trục dọc của một số xương cổ tay trên phim chụp X-quang tư thế nghiêng và đo các góc giữa chúng là một phương pháp tốt để xác định mối quan hệ không gian giữa các xương cổ tay. Ba trục quan trọng nhất là các trục đi qua xương thuyền, xương nguyệt và xương đầu, được vẽ trên phim X-quang tư thế nghiêng.

    Trục xương thuyền

    Trục thực sự của xương thuyền là đường thẳng đi qua điểm giữa của cực gần và cực xa. Do điểm giữa của cực gần thường khó xác định, có thể sử dụng một đường gần song song được vẽ dọc theo các điểm mặt gan tay nhất của cực gần và cực xa của xương (hình minh họa).


    TRÁI: Trục xương nguyệt được vẽ vuông góc với đường nối bờ gan tay xa và bờ mu tayPHẢI: Phim X-quang với trục xương nguyệt và xương thuyền được vẽ.

    TRÁI: Trục xương nguyệt được vẽ vuông góc với đường nối bờ gan tay xa và bờ mu tayPHẢI: Phim X-quang với trục xương nguyệt và xương thuyền được vẽ.

    Trục xương nguyệt

    Trục của xương nguyệt đi qua điểm giữa của diện khớp lồi ở phía gần và diện khớp lõm ở phía xa, và được xác định tốt nhất bằng cách tìm đường vuông góc với đường nối bờ gan tay xa và bờ mu tay của xương như minh họa ở hình bên trái.

    Góc thuyền-nguyệt
    Bình thường: 30 – 60°
    Nghi ngờ bất thường: 60 – 80°
    Bất thường: > 80°
    Điều này cho thấy mất vững cổ tay.


    TRÁI: Trục xương đầuPHẢI: Phim X-quang với trục xương nguyệt và xương đầu được vẽ.

    TRÁI: Trục xương đầuPHẢI: Phim X-quang với trục xương nguyệt và xương đầu được vẽ.

    Trục xương đầu

    Trục xương đầu nối điểm giữa của phần lồi gần của xương đốt bàn tay thứ ba với điểm giữa của mặt gần xương đầu.

    Góc đầu-nguyệt
    Bình thường: < 30°
    Bất thường: > 30°.
    Điều này cho thấy mất vững cổ tay.

    DISI hay mất vững gấp mu tay

    DISI là viết tắt của Dorsal Intercalated Segmental Instability (mất vững đoạn xen kẽ phía mu tay).
    Đoạn xen kẽ là hàng xương cổ tay gần được đại diện bởi xương nguyệt. Thuật ngữ ‘đoạn xen kẽ’ đề cập đến vị trí của nó nằm giữa đoạn gần của cổ tay bao gồm xương quay và xương trụ, và đoạn xa được đại diện bởi hàng xương cổ tay xa và các xương đốt bàn tay.
    Như vậy, tất cả những điều này có nghĩa là trong DISI hay mất vững gấp mu tay, xương nguyệt bị nghiêng về phía mu tay.
    Nếu bạn nhận thấy xương nguyệt bị nghiêng, hãy đo góc thuyền-nguyệt (30-60° là bình thường, 60-80° là nghi ngờ bất thường, >80° là bất thường) và góc đầu-nguyệt (bất thường khi >30°).
    Trong hình bên trái, góc thuyền-nguyệt được đo là 105 độ. Như đã đề cập, góc này được coi là bất thường khi lớn hơn 80 độ.


    TRÁI: Xương nguyệt nghiêng về phía gan tay trong VISIPH ẢI: Góc thuyền-nguyệt

    TRÁI: Xương nguyệt nghiêng về phía gan tay trong VISIPH ẢI: Góc thuyền-nguyệt

    VISI hay mất vững gấp gan tay

    Mất vững đoạn xen kẽ phía gan tay (Volar Intercalated Segmental Instability – VISI) hay mất vững gấp lòng bàn tay là tình trạng xương nguyệt bị nghiêng quá mức về phía gan tay.
    Trong khi hầu hết các trường hợp DISI đều là bệnh lý, thì trong nhiều trường hợp VISI là một biến thể bình thường, đặc biệt khi cổ tay có độ lỏng lẻo cao.

    Đánh giá hệ thống và chẩn đoán

    Trong các ca lâm sàng tiếp theo, chúng tôi khuyến nghị bạn hãy quan sát các hình ảnh ở bên trái trước và mô tả đầy đủ các phim chụp X-quang.
    Hãy tìm kiếm sự đối xứng, tính song song, cũng như hình dạng và trục của các xương cổ tay. Xác định xem có gãy xương hay không, sau đó cố gắng đưa ra chẩn đoán.
    Sau đó đọc phần văn bản ở bên phải để kiểm tra xem bạn có đúng không.


    PA and lateral view of the wrist

    Tư thế thẳng (PA) và tư thế nghiêng của cổ tay

    Ca lâm sàng 1
    Phân tích hệ thống ca lâm sàng bên trái cho thấy những điểm sau:
    1. Trên tư thế PA, tất cả các xương cổ tay đều song song với nhau, ngoại trừ xương nguyệt.
    2. Cung cổ tay I và II bị gián đoạn tại khớp LT (nguyệt-tháp) và khớp SL (thuyền-nguyệt).
    3. Xương nguyệt có hình tam giác.
    Vì vậy, chỉ dựa vào tư thế PA, chúng ta đã có thể chẩn đoán trật khớp xương nguyệt.

    Ca lâm sàng 2
    Phân tích:
    1. Mất tính song song tại khớp TL (tháp-nguyệt) do xương tháp và xương nguyệt chồng lên nhau.
    2. Xương móc và xương nguyệt cũng chồng lên nhau.
    3. Có sự song song giữa xương quay, xương nguyệt, cực gần xương thuyền và cực gần xương đầu. Như vậy, các xương này tạo thành một khối thống nhất.
    4. Cũng có sự song song giữa xương tháp, xương móc, cực xa xương đầu, xương thang và cực xa xương thuyền.
    5. Gãy xương đầu và xương thuyền.
    Các dấu hiệu này cho thấy đây là trật khớp quanh nguyệt kèm gãy xương thuyền và xương đầu (transscaphoid, transcapitate perilunate fracture-dislocation).

    Bên trái là cùng một ca lâm sàng với đường kẻ chỉ ra đường gãy-trật khớp.

    Cùng ca lâm sàng với tư thế chếch và tư thế nghiêng bổ sung, cho thấy tình trạng trật khớp ra phía sau (dorsal dislocation).

    Ca lâm sàng 3
    Phân tích:
    1. Gãy xương thuyền và mỏm trâm trụ.
    2. Cung I và II bị gián đoạn tại khớp LT (nguyệt-tháp).
    3. Có sự song song giữa xương nguyệt và cực gần xương thuyền với xương quay.
    4. Xương thuyền bị ngắn lại (foreshortened), cho thấy nó đang nghiêng và di chuyển về phía lòng bàn tay.
    5. Tất cả các xương cổ tay còn lại đều có tính song song, ngoại trừ xương nguyệt, cực gần xương thuyền và xương quay.
    Mặc dù đây có thể là trật khớp quanh nguyệt, nhưng chỉ dựa vào tư thế PA rất khó để phân biệt đây là trật khớp xương nguyệt hay trật khớp quanh nguyệt. Hình dạng tam giác của xương nguyệt có thể là kết quả của việc chỉ nghiêng đơn thuần hoặc trật khớp kèm nghiêng.


    Perilunate dislocation with fracture of scaphoid and ulnar styloid processThe volar tip of lunate is also broken (see circle).

    Trật khớp quanh nguyệt kèm gãy xương thuyền và mỏm trâm trụ. Đầu mặt lòng của xương nguyệt cũng bị gãy (xem vòng tròn).

    Cùng ca lâm sàng với tư thế nghiêng được hiển thị thêm.
    Bây giờ chúng ta thấy rõ ràng đây là trật khớp quanh nguyệt.
    Vì vậy, hình dạng tam giác của xương nguyệt là kết quả của việc nghiêng đơn thuần.
    Trên tư thế nghiêng, quan sát thấy gãy đầu mặt lòng của xương nguyệt. Do đó, bệnh nhân này có nguy cơ trật khớp tái phát.

    Ca lâm sàng 4
    Phân tích:
    Ca lâm sàng bên trái cho thấy thoái hóa khớp nặng tại khớp STT (thuyền-thang-thê) và khớp CMC1 (cổ tay-bàn tay ngón 1) kèm bán trật khớp. Các cung cổ tay bình thường và có tính song song bình thường. Xương thuyền bị kéo dài, cho thấy nó đang nghiêng ra phía sau (dorsally tilted).
    Trên tư thế nghiêng, chúng ta có thể thấy xương nguyệt cũng nghiêng ra phía sau. Hàng cổ tay gần di chuyển như một khối thống nhất, do đó không có sự phân ly.
    Chẩn đoán cuối cùng: DISI không phân ly (non-dissociated DISI) kèm thoái hóa khớp và bán trật khớp STT.

    Ca lâm sàng 5
    Phân tích:
    1. Mất tính song song tại khớp LT (nguyệt-tháp) dẫn đến gián đoạn cung I và II.
    2. Xương nguyệt và xương thuyền song song với nhau nhưng không song song với các xương cổ tay còn lại.
    3. Xương thuyền bị ngắn lại do nghiêng về phía lòng bàn tay (palmar tilting).
    4. Xương nguyệt song song với xương thuyền. Vì vậy, hình dạng tam giác phải là kết quả của việc nghiêng về phía lòng bàn tay.
    5. Hàng cổ tay gần không phải là một khối thống nhất vì cung I bị gián đoạn.


    Lateral view demonstrates the volar tilting of lunate which was already suspected on the PA view.

    Tư thế nghiêng cho thấy sự nghiêng về phía lòng bàn tay của xương nguyệt, điều đã được nghi ngờ trên tư thế PA.

    Chẩn đoán cuối cùng:
    VISI kèm phân ly tại khớp LT (nguyệt-tháp).

    Ca lâm sàng 6
    Phân tích:
    1. Các khớp giãn rộng và hẹp lại, nhưng tính song song bình thường, do đó không có trật khớp.
    2. Phân ly thuyền-nguyệt với giãn rộng khớp SL và xương thuyền bị ngắn lại do nghiêng về phía lòng bàn tay.
    3. Thoái hóa khớp quay-thuyền và khớp đầu-nguyệt do các chuyển động bất thường của xương thuyền và xương nguyệt.
    4. Xương nguyệt nghiêng ra phía sau, biểu hiện DISI.
    Tình trạng này được gọi là SLAC. Trong trường hợp này, nguyên nhân là do chấn thương gây đứt dây chằng SL (thuyền-nguyệt).

    SLAC(sụp đổ tiến triển thuyền-nguyệt – scapholunate advanced collapse) đề cập đến một dạng thoái hóa khớp và bán trật khớp đặc trưng, là hậu quả của phân ly thuyền-nguyệt mạn tính không được điều trị hoặc của tình trạng không liền xương thuyền mạn tính.
    Các thay đổi thoái hóa xảy ra ở các vùng chịu tải bất thường, đó là khớp quay-thuyền, tiếp theo là thoái hóa tại khớp nguyệt-đầu không vững, khi xương đầu bán trật ra phía sau trên xương nguyệt.


    SLAC of CPPD TYPE

    SLAC thể CPPD

    Bên trái là một ca SLAC khác. Ca này do bệnh lý lắng đọng calci pyrophosphate (CPPD).
    Các đặc điểm của CPPD kèm SLAC bao gồm:
    – Giảm kích thước cực gần xương thuyền do bào mòn và tiêu xương.
    – Bào mòn hố khớp thuyền (scaphoid fossa)