Category: Gối

  • Bệnh lý ngoài sụn chêm

    Bệnh lý Không thuộc Sụn chêm

    David Rubin và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trường Đại học Y Washington, St. Louis, Hoa Kỳ và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Bài viết này được biên soạn dựa trên bài thuyết trình của David Rubin và được Robin Smithuis chuyển thể cho Trợ lý Chẩn đoán Hình ảnh.
    Bài tổng quan này tập trung vào tất cả các bệnh lý không thuộc sụn chêm của khớp gối.
    Xem bài viết có tiêu đề MRI Khớp gối – Bệnh lý Sụn chêm để tìm hiểu về bệnh lý của sụn chêm.

    Các ca lâm sàng tương tác được trình bày trong thanh menu.

    bởi David Rubin và Robin Smithuis

    Dây chằng


    MR-signs of ligament tear

    Dấu hiệu MRI của đứt dây chằng

    Dây chằng chéo trước

    Dây chằng chéo trước (ACL) có cấu trúc giải phẫu đặc biệt. Đây là cấu trúc nằm trong khớp nhưng ngoài màng hoạt dịch.
    Màng hoạt dịch gấp lại bao phủ bên ngoài dây chằng. Do đó, khi nội soi khớp, phẫu thuật viên quan sát qua lớp màng hoạt dịch.
    Đôi khi khi có đứt dây chằng, lớp màng hoạt dịch vẫn còn nguyên vẹn và chỉ thấy ACL xuất huyết.
    ACL được cấu tạo từ 3-5 lớp bó sợi. Giữa các bó sợi có thể có mô mỡ, màng hoạt dịch hoặc đôi khi một ít dịch. Điều này lý giải tại sao ACL không có màu đen hoàn toàn trên ảnh PD.
    Không nên đánh giá ACL trên ảnh PD vì có thể gây ấn tượng sai về bệnh lý.
    Chỉ đánh giá ACL trên chuỗi xung T2W và ngay cả trên các ảnh này, ACL cũng không nhất thiết phải hoàn toàn màu đen.

    Tiêu chuẩn ACL bình thường:

    1. Hướng các bó sợi dốc bằng hoặc dốc hơn so với trần liên lồi cầu.
    2. Các bó sợi liên tục từ mâm chày đến lồi cầu đùi.

    Vì vậy, trên MRI, các dấu hiệu trực tiếp của đứt dây chằng bao gồm: gián đoạn trên T2W, hướng bất thường hoặc không quan sát được dây chằng.
    Nhiều dấu hiệu gián tiếp của đứt dây chằng đã được mô tả, nhưng chúng không thực sự hữu ích vì chúng ta cần dựa vào việc quan sát trực tiếp dây chằng.
    Chỉ có phù xương (bone bruise) mới là dấu hiệu gián tiếp có giá trị.

    Lưu ý rằng trên ảnh mặt phẳng vành và mặt phẳng ngang, các bó sợi ACL nằm sát ngay bên cạnh xương của hõm liên lồi cầu (mũi tên).
    Tuyệt đối không được có dịch giữa các bó sợi ACL và xương lồi cầu ngoài (gọi là ‘dấu hiệu hõm rỗng’).
    Cũng cần lưu ý rằng dây chằng chéo sau (PCL) cũng được cấu tạo từ nhiều bó sợi.


    LEFT: Acute ACL-tear. ACL fibers too flat compared to condylar roof.RIGHT: Discontinuity of fibers.

    TRÁI: Đứt ACL cấp tính. Các bó sợi ACL quá nằm ngang so với trần liên lồi cầu. PHẢI: Gián đoạn các bó sợi.

    Dây chằng chéo trước (2).
    Ca bệnh bên trái cho thấy dây chằng có hướng quá nằm ngang và các bó sợi bị gián đoạn, tức là có hướng bất thường và mất liên tục.
    Dựa trên các hình ảnh này, chúng ta không thể phân biệt giữa đứt hoàn toàn, rách độ cao một phần hay rách một phần.
    MRI không phân biệt chính xác giữa rách ACL một phần hay hoàn toàn.
    Tuy nhiên, chúng ta có thể phân biệt giữa tổn thương độ cao hay độ thấp.
    Tổn thương độ cao được định nghĩa là ‘không quan sát được hơn 50% số bó sợi’.
    Vì vậy, nếu phẫu thuật viên chỉnh hình can thiệp trong trường hợp tổn thương độ cao, họ sẽ tìm thấy ACL đứt hoàn toàn hoặc rách một phần độ cao cần được tái tạo.
    Ngược lại, nếu hầu hết các bó sợi có vẻ còn nguyên vẹn trên MRI, gợi ý rách ACL độ thấp, họ sẽ tìm thấy ACL còn nguyên hoặc rách một phần, vẫn còn vững và không cần điều trị.


    LEFT: ACL-tear with bone bruises on lateral side. RIGHT: Anterior condyle hits the posterior part of the tibia. ACL torn due to stretching.

    TRÁI: Đứt ACL kèm phù xương phía bên ngoài. PHẢI: Lồi cầu trước va chạm vào phần sau mâm chày. ACL đứt do bị kéo căng.

    Dây chằng chéo trước (3).
    Phù xương xuất hiện ở vị trí rất điển hình, phản ánh cơ chế trật khớp là nguyên nhân gây đứt ACL.


    Segond fracture indicating ACL-tear

    Gãy xương Segond gợi ý đứt ACL

    Dây chằng chéo trước (4)
    Trên X-quang, một dấu hiệu gián tiếp quan trọng của đứt ACL là gãy xương Segond.
    Khó nhận thấy trên MRI nhưng dễ phát hiện hơn nhiều trên phim X-quang thường.
    Gãy xương Segond là gãy xương bong điểm bám của dải bên ngoài do cơ chế xoay trong và lực vẹo trong.
    Trong 75-100% trường hợp sẽ kèm theo đứt ACL.

    Tam chứng bất hạnh hay hội chứng O’Donoghue là một tổ hợp tổn thương khác.
    Tổn thương tam chứng bất hạnh thường xảy ra trong các môn thể thao đối kháng như bóng đá khi gối bị va chạm từ phía ngoài.
    Điều này gây tổn thương ba cấu trúc của khớp gối:

    1. Đứt ACL
    2. Đứt dây chằng bên trong (MCL)
    3. Rách sụn chêm trong

    Torn ACL. ACL fibers are too flat (yellow arrow) compared to intercondylar roof (Blumensaat's line).

    Đứt ACL. Các bó sợi ACL quá nằm ngang (mũi tên vàng) so với trần liên lồi cầu (đường Blumensaat).

    Dây chằng chéo trước (5)
    Ca bệnh bên trái cho thấy ACL bị đứt.
    Các bó sợi có hướng bất thường (quá nằm ngang).
    Tuy nhiên, khó xác định liệu các bó sợi này có còn bám vào lồi cầu đùi hay không.
    Góc gấp cấp tính của dây chằng là do ACL và PCL đã dính vào nhau thành sẹo (xem bên dưới).


    LEFT: ACL-fibers have a normal orientation but do not connect to femurcondyle. RIGHT: Empty notch sign: fluid against the interior part of the lateral condyle

    TRÁI: Các bó sợi ACL có hướng bình thường nhưng không bám vào lồi cầu đùi. PHẢI: Dấu hiệu hõm rỗng: dịch áp sát mặt trong lồi cầu ngoài.

    Đôi khi dễ đánh giá hơn liệu các bó sợi có còn bám vào xương hay không khi quan sát trên mặt phẳng vành.
    Tuyệt đối không được có dịch áp sát mặt trong lồi cầu ngoài.
    Nếu có dịch ở vị trí này, được gọi là ‘dấu hiệu hõm rỗng’, cho thấy ACL đã bị bong khỏi điểm bám trên lồi cầu đùi.


    In the axial plane there is an empty notch sign (yellow arrows) where there should be ACL attached to the condyle. At a lower level (going right) the torn ACL is scarred to the PCL (green arrows)

    Trên mặt phẳng ngang có dấu hiệu hõm rỗng (mũi tên vàng) ở vị trí lẽ ra ACL phải bám vào lồi cầu. Ở mức thấp hơn (sang phải), ACL đứt đã dính sẹo vào PCL (mũi tên xanh lá).

    Trên mặt phẳng ngang cũng phải thấy dây chằng nằm sát bên lồi cầu.
    Ở mức thấp hơn, chúng ta thấy ACL đứt bám dính vào dây chằng chéo sau.
    Chúng đã dính vào nhau thành sẹo.
    Đây là hình ảnh rất thường gặp trong đứt ACL mạn tính.
    Sự dính sẹo này tạo ra góc gấp cấp tính của dây chằng.
    Mặc dù ACL đã dính vào PCL, nhưng vẫn không đủ vững và cần phải tái tạo.


    ACL Mucoid degeneration. This patient had an operation for another reason and the surgeons called it normal because it looks normal.

    Thoái hóa nhầy ACL. Bệnh nhân này được phẫu thuật vì lý do khác và các phẫu thuật viên nhận định là bình thường vì trông có vẻ bình thường.

    Dây chằng chéo trước (6)
    Ca bệnh bên trái cho thấy ACL không quan sát được trên ảnh PD. Tuy nhiên, bài học ở đây là ‘không đánh giá dây chằng trên ảnh PD’.
    Nếu muốn đánh giá ACL, hãy xem trên chuỗi xung T2W.
    Ảnh T2W cho thấy các bó sợi liên tục từ mâm chày đến lồi cầu đùi với hướng bình thường. Vậy ACL còn nguyên vẹn.
    Đây là trường hợp thoái hóa nhầy. Bình thường giữa các bó sợi ACL có thể có màng hoạt dịch hoặc mô mỡ.
    Trong quá trình lão hóa bình thường, các thành phần này có thể chuyển thành chất dạng keo.
    Điều này không ảnh hưởng đến độ bền của ACL.


    ACL Mucoid degeneration with cyst-formation (intra-osseus ganglion). Mucoid material is squeezed from between the ACL-fibers into the bone. At arthroscopy ACL and bone looked normal.

    Thoái hóa nhầy ACL kèm hình thành nang (nang hạch trong xương). Chất nhầy bị đẩy từ giữa các bó sợi ACL vào trong xương. Khi nội soi khớp, ACL và xương trông bình thường.

    Dây chằng chéo trước (7)
    Một ca thoái hóa nhầy ACL khác.
    Tình trạng này thường kèm theo hình thành nang trong xương.
    Có thể gọi là nang hạch, nhưng cũng có thể xem là bình thường vì không có ý nghĩa lâm sàng.
    Đây là một phần của quá trình lão hóa bình thường.


    ACL ganglion cyst

    Nang hạch ACL

    Dây chằng chéo trước (8)
    Ca bệnh bên trái cho thấy nang tách biệt khỏi ACL, khác với thoái hóa nhầy.
    Đây là nang hạch, có thể cũng là một dạng thoái hóa.
    Điểm khác biệt so với thoái hóa nhầy là các nang này có thể gây triệu chứng lâm sàng.
    Đôi khi các nang này sẽ được dẫn lưu dưới hướng dẫn siêu âm.
    Cần sử dụng kim có kích thước lớn vì chất bên trong rất đặc.


    Acute PCL-tear: In the coronal and axial plane most of the fibers are gone so it's a high grade tear.

    Đứt PCL cấp tính: Trên mặt phẳng vành và mặt phẳng ngang, hầu hết các bó sợi đã mất, đây là tổn thương độ cao.

    Dây chằng chéo sau

    Chúng ta áp dụng các tiêu chuẩn tương tự cho tất cả các dây chằng khác trong cơ thể.
    Ca bệnh bên trái cho thấy đứt PCL độ cao.


    MCL from medial epicondyle (yellow arrow) to below the inferomedial geniculate vessels (red arrow) about 7 centimetres below the joint space.

    MCL từ lồi cầu trong (mũi tên vàng) đến dưới các mạch máu gối dưới trong (mũi tên đỏ), khoảng 7 cm dưới khe khớp.

    Dây chằng bên trong

    Dây chằng bên trong nông (MCL) chạy từ lồi cầu trong đến điểm bám không chỉ gần khớp mà còn xuống tận 7 cm dưới khe khớp.
    Tại điểm đó có ba mốc giải phẫu: động mạch gối dưới trong và hai tĩnh mạch đi kèm (hình minh họa).
    Phần sâu của MCL, ngay cả khi bình thường, đôi khi cũng không quan sát được.
    Nó nằm sát với sụn chêm trong và MCL nông.


    Grade 1 MCL Sprain

    Bong gân MCL độ I

    Dây chằng bên trong (2)
    Ca bệnh bên trái cho thấy bong gân độ I của dây chằng bên trong.

    Nang, Túi Hoạt Dịch và Ngách Khớp


    LEFT: popliteal cyst originating between semimembranosus tendon (red arrow) and gastrocnemius muscle and tendon (green arrow).RIGHT: ruptured popliteal cyst with fluid tracking down the muscles.

    TRÁI: Nang khoeo xuất phát giữa gân cơ bán màng (mũi tên đỏ) và cơ cùng gân cơ sinh đôi (mũi tên xanh lá). PHẢI: Nang khoeo vỡ với dịch lan dọc theo các cơ.

    Có khoảng 12 túi hoạt dịch và ngách khớp được đặt tên ở vùng gối.
    Một số rất phổ biến, một số khác ít gặp hơn.
    Đây là các cấu trúc được lót bởi màng hoạt dịch.
    Ngách khớp phổ biến nhất là nang khoeo hay còn gọi là nang Baker.
    Vị trí xuất phát nằm giữa gân cơ bán màng và gân cơ sinh đôi.


    Prepatellar bursitis

    Viêm túi hoạt dịch trước xương bánh chè

    Viêm túi hoạt dịch trước xương bánh chè

    Hình bên trái minh họa các đặc điểm hình ảnh điển hình của viêm túi hoạt dịch trước xương bánh chè.


    Deep infrapatellar bursitis

    Viêm túi hoạt dịch dưới xương bánh chè sâu

    Viêm túi hoạt dịch dưới xương bánh chè sâu

    Viêm túi hoạt dịch dưới xương bánh chè sâu là một thể viêm túi hoạt dịch ít gặp.
    Đôi khi có liên quan đến bệnh Osgood-Schlatter.


    Medial collateral ligament bursitis located between the deep MCL (yellow arrow) and the superficial MCL (green arrow).

    Viêm túi hoạt dịch dây chằng bên trong nằm giữa MCL sâu (mũi tên vàng) và MCL nông (mũi tên xanh lá).

    Các túi hoạt dịch này đều được đặt tên theo các cấu trúc lân cận.
    Do đó, viêm túi hoạt dịch nằm giữa MCL sâu và MCL nông được gọi là viêm túi hoạt dịch dây chằng bên trong.


    Iliotibial Band Friction syndrome: no fat between iliotibial band (yellow arrow) and the lateral condyle.

    Hội chứng ma sát dải chậu chày: không có mô mỡ giữa dải chậu chày (mũi tên vàng) và lồi cầu ngoài.

    Nang, Túi Hoạt Dịch và Ngách Khớp (2)

    Túi hoạt dịch thứ phát là các túi hoạt dịch hình thành ở những vị trí bình thường không có túi hoạt dịch.
    Túi hoạt dịch này được hình thành do ma sát bất thường.

    Hội chứng ma sát dải chậu chày
    Vị trí ma sát bất thường thường gặp là giữa dải chậu chày và lồi cầu ngoài, hay xảy ra ở vận động viên đi bộ tốc độ cao, đạp xe và đôi khi ở người chạy bộ.
    Khi túi hoạt dịch hình thành tại vị trí này, tình trạng này được gọi là ‘Hội chứng ma sát dải chậu chày’.
    Hình bên trái là một vận động viên đi bộ tốc độ cao với triệu chứng đau mặt ngoài gối.
    Bình thường phải có mô mỡ giữa dải chậu chày và lồi cầu ngoài, nhưng trong trường hợp này mô mỡ không còn hiện diện.


    Iliotibial Band Friction syndrome : Fluid  within a bursa is seen between the iliotibial tract and the femur (yellow arrows). Joint fluid stops at the red arrows.

    Hội chứng ma sát dải chậu chày: Dịch trong túi hoạt dịch thấy được giữa dải chậu chày và xương đùi (mũi tên vàng). Dịch khớp dừng lại tại các mũi tên đỏ.

    Cùng bệnh nhân trên. Trên các lát cắt axial, có thể thấy dịch trong túi hoạt dịch nằm giữa dải chậu chày và xương đùi bên dưới.
    Đôi khi cần phân biệt dịch tại vị trí này với dịch khớp.
    Cần xem xét toàn bộ các lát cắt hình ảnh.
    Trong trường hợp này, dịch khớp dừng lại tại các mũi tên đỏ.


    Patient with a palpable mass. Marker is placed. Enhancing lesion due to a neurofibroma.

    Bệnh nhân có khối sờ thấy được. Đã đặt marker. Tổn thương ngấm thuốc tương phản từ do u xơ thần kinh.

    Cần lưu ý rằng không phải mọi tổn thương tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W đều là dịch.
    Cần nghi ngờ khi có hình ảnh trông giống như ổ dịch nhưng không nằm ở vị trí thông thường của túi hoạt dịch, nang hoặc ngách khớp.
    Nên tiêm Gadolinium để phân biệt tổn thương dạng nang với tổn thương đặc.

    Gân cơ tứ đầu đùi và Gân bánh chè


    Cơ chế duỗi gối bình thường: Gân cơ tứ đầu đùi gồm ba lớp (mũi tên cam). Gân bánh chè (mũi tên xanh) và gân cơ tứ đầu đùi có ranh giới phía sau rõ nét.

    Cơ chế duỗi gối bình thường: Gân cơ tứ đầu đùi gồm ba lớp (mũi tên cam). Gân bánh chè (mũi tên xanh) và gân cơ tứ đầu đùi có ranh giới phía sau rõ nét.

    Cơ chế duỗi gối bình thường
    Cơ chế duỗi gối bao gồm cơ và gân cơ tứ đầu đùi, xương bánh chè và gân bánh chè.
    Gân cơ tứ đầu đùi được cấu thành từ bốn gân nhưng hiển thị thành ba lớp trên ảnh mặt phẳng đứng dọc (sagittal).
    Gân bám rộng từ mặt trước xương bánh chè gần đến mặt sau.

    Các gân cơ tứ đầu đùi cũng như gân bánh chè có tín hiệu đồng nhất nhưng không nhất thiết phải đen trên ảnh chuỗi xung PD.
    Chúng có ranh giới phía sau rõ nét.
    Không nên có hiện tượng dày khu trú.


    Rách một phần gân cơ tứ đầu đùi: Ảnh chuỗi xung T2W. TRÁI: Điểm bám gân bất thường. PHẢI: Phần lớn gân bị co rút (mũi tên đỏ), phần sâu (cơ rộng trung gian) vẫn còn nguyên vẹn.

    Rách một phần gân cơ tứ đầu đùi: Ảnh chuỗi xung T2W. TRÁI: Điểm bám gân bất thường. PHẢI: Phần lớn gân bị co rút (mũi tên đỏ), phần sâu (cơ rộng trung gian) vẫn còn nguyên vẹn.

    Rách gân cơ tứ đầu đùi

    Trường hợp bên trái cho thấy điểm bám gân cơ tứ đầu đùi bất thường.
    Chỉ còn một lớp và điểm bám không trải dài từ mặt trước xương bánh chè đến gần mặt sau.
    Trong trường hợp như vậy, cần chụp thêm các lát cắt ở vị trí cao hơn sau khi điều chỉnh lại cuộn thu tín hiệu để đánh giá tình trạng tại đó.
    Phần gân cơ tứ đầu đùi bị rách đã co rút lên trên.
    Phần sâu vẫn còn nguyên vẹn.


    TRÁI: Gân bị rách với bệnh lý gân có từ trước (mũi tên đỏ). PHẢI: Gân cơ rộng trung gian còn nguyên vẹn.

    TRÁI: Gân bị rách với bệnh lý gân có từ trước (mũi tên đỏ). PHẢI: Gân cơ rộng trung gian còn nguyên vẹn.

    Cùng bệnh nhân, ảnh mặt phẳng ngang (axial).
    Gân cơ tứ đầu đùi bị rách rất dày, gợi ý bệnh lý gân (tendinopathy).
    Gân bình thường không bị rách, vì vậy luôn cần tìm kiếm các dấu hiệu của bệnh lý gân có từ trước.
    Ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, nếu thấy hình ảnh gân bị rách nhưng không có bệnh lý gân từ trước, cần cân nhắc kỹ lưỡng xem chẩn đoán có thực sự chính xác không.
    Lát cắt ở mức thấp hơn cho thấy cơ và gân cơ rộng trung gian bình thường.


    TRÁI: Rách một phần gân cơ tứ đầu đùi. Chỉ có gân cơ thẳng đùi bị rách (mũi tên xanh). PHẢI: Bệnh lý gân có từ trước (vòng tròn vàng) trên ảnh mặt phẳng ngang.

    TRÁI: Rách một phần gân cơ tứ đầu đùi. Chỉ có gân cơ thẳng đùi bị rách (mũi tên xanh). PHẢI: Bệnh lý gân có từ trước (vòng tròn vàng) trên ảnh mặt phẳng ngang.

    Một ví dụ khác về rách một phần gân cơ tứ đầu đùi.


    Rách hoàn toàn gân cơ tứ đầu đùi. Ảnh chuỗi xung T2W mặt phẳng đứng dọc. Mất liên tục hoàn toàn. Khối máu tụ ở giữa.

    Rách hoàn toàn gân cơ tứ đầu đùi. Ảnh chuỗi xung T2W mặt phẳng đứng dọc. Mất liên tục hoàn toàn. Khối máu tụ ở giữa.

    Khi không còn sự liên tục giữa xương bánh chè và gân cơ tứ đầu đùi, đó là rách hoàn toàn.

    Gối của người nhảy (Jumper’s Knee)

    Jumper’s Knee là một phổ bệnh lý từ bệnh lý gân đến rách gân.
    Tương tự như gân cơ tứ đầu đùi hay bất kỳ gân nào khác, MRI cho thấy một phổ hình ảnh từ dày gân lệch tâm, bờ sau không rõ nét, tăng tín hiệu trên ảnh chuỗi xung T2W và cuối cùng là đứt các bó sợi gân.


    Bệnh lý gân bánh chè và Rách một phần gân bánh chè

    Bệnh lý gân bánh chè và Rách một phần gân bánh chè

    Bệnh lý gân bánh chè
    Bệnh nhân bên trái là một vũ công ballet chuyên nghiệp với triệu chứng đau dưới xương bánh chè.
    Đoạn gần của gân bánh chè dày bất thường. Bờ sau không rõ nét. Trong xương bánh chè có một ít phù nề (hoặc dập xương). Nếu không được điều trị có thể tiến triển thành…
    Rách một phần gân bánh chè. Ảnh bên phải của một bệnh nhân khác.


    Rách hoàn toàn gân bánh chè. Ảnh bên phải cho thấy viêm túi hoạt dịch xuất huyết (giảm tín hiệu trong túi hoạt dịch).

    Rách hoàn toàn gân bánh chè. Ảnh bên phải cho thấy viêm túi hoạt dịch xuất huyết (giảm tín hiệu trong túi hoạt dịch).

    Rách hoàn toàn gân bánh chè. Các ảnh bên trái cho thấy mất liên tục hoàn toàn giữa các bó sợi gân và xương bánh chè. Gân bị dày.


    Bong gân bánh chè dạng vỏ bọc (Patellar sleeve avulsion). Đường gãy chỉ nhìn thấy trên ảnh mặt phẳng đứng ngang (coronal).

    Bong gân bánh chè dạng vỏ bọc (Patellar sleeve avulsion). Đường gãy chỉ nhìn thấy trên ảnh mặt phẳng đứng ngang (coronal).

    Bong gân bánh chè dạng vỏ bọc (Patellar sleeve avulsion).
    Ở trẻ em, tình huống có sự khác biệt. Trẻ em không phát triển bệnh lý gân.
    Trường hợp bên trái là hình ảnh của một bé gái bị đau dưới xương bánh chè sau khi tập thể dục dụng cụ.
    Mặc dù X-quang bình thường, thực tế có một đường gãy qua phần sụn của cực dưới xương bánh chè.
    Trên MRI, hình ảnh trông giống như Jumper’s Knee ở trên. Chỉ trên ảnh mặt phẳng đứng ngang mới thấy được đường gãy giảm tín hiệu nằm trong phần sụn tăng tín hiệu.
    Thông thường các gãy xương này được điều trị bằng khâu phục hồi.
    Khi các tổn thương này không được phát hiện, chúng sẽ lành với sự hình thành cốt hóa ngay dưới xương bánh chè.

    Trật khớp xương bánh chè

    Giải phẫu bình thường
    Sụn xương bánh chè là sụn dày nhất trong cơ thể. Bề mặt sụn cần có đường viền nhẵn đều.
    Thành phần quan trọng nhất của mạc giữ phía trong là dây chằng xương bánh chè – lồi cầu đùi phía trong, bám tận ra phía sau ngay trước dây chằng bên trong (MCL).


    LEFT: Bone bruise lateral condyle (yellow circle). Normal MCL (green arrow) but missing patellar femoral ligament anterior to it.RIGHT: Medial patellar femoral ligament thorn from femoral attachment.

    TRÁI: Dập xương lồi cầu ngoài (vòng tròn vàng). MCL bình thường (mũi tên xanh lá) nhưng không thấy dây chằng xương bánh chè – lồi cầu đùi phía trước. PHẢI: Dây chằng xương bánh chè – lồi cầu đùi phía trong bị đứt khỏi điểm bám tại xương đùi.

    Ca bệnh bên trái là một nữ cầu thủ bóng đá bị xoắn vặn khớp gối.
    Bốn hình ảnh MRI từ dưới lên trên thể hiện đầy đủ các đặc điểm hình ảnh của trật khớp xương bánh chè kèm đứt dây chằng xương bánh chè – lồi cầu đùi phía trong.
    Xương bánh chè bị trật và mặt khớp phía trong đã va đập vào lồi cầu ngoài xương đùi.
    Xương bánh chè đã tự trở về vị trí bình thường.


    LEFT: Bone bruise medial patella (green arrow).RIGHT: Cartilage fracture.

    TRÁI: Dập xương mặt trong xương bánh chè (mũi tên xanh lá). PHẢI: Gãy sụn khớp.

    Tổn thương dập xương có thể kèm theo biến chứng gãy sụn khớp.

    Trật khớp xương bánh chè (2)
    Trật khớp xương bánh chè là một tình trạng thường gặp, nhưng thường bị bỏ sót trên lâm sàng do xương bánh chè tự trở về vị trí bình thường sau khi trật.
    Bệnh nhân đến khám với hình ảnh gối sưng đau, có thể gợi ý nhiều chẩn đoán khác nhau từ đứt dây chằng chéo trước (ACL), dây chằng bên trong (MCL), rách sụn chêm cho đến gãy xương.
    Do đó, các đặc điểm hình ảnh trên MRI đóng vai trò quan trọng trong việc nhận diện tình trạng này.
    Những bệnh nhân có dị vật khớp hoặc trật khớp tái diễn có thể được chỉ định phẫu thuật tái tạo mạc giữ.

    Xương và Sụn

    Tủy xương bình thường và bất thường

    Ở người trưởng thành, tủy xương chủ yếu được cấu tạo bởi mô mỡ.
    Các đảo tủy đỏ bình thường có thể tạo ra hình ảnh dễ gây nhầm lẫn.
    Tủy đỏ có thể nổi bật ở phụ nữ trẻ, người hút thuốc lá, người sống ở vùng cao, bệnh nhân mắc bệnh huyết sắc tố, hoặc không rõ nguyên nhân.
    Miễn là đáp ứng đủ các tiêu chí ở bên trái, đây vẫn được coi là bình thường.

    Tủy đỏ bình thường ở hình bên trái.
    Giới hạn trong vùng hành xương, không lan vào vùng đầu xương.
    Xuất hiện dưới dạng các đảo tủy.
    Trên chuỗi xung T1W có tín hiệu sáng hơn cơ.


    Bệnh nhân bạch cầu cấp với tủy xương bất thường

    Bệnh nhân bạch cầu cấp với tủy xương bất thường

    Tủy xương bất thường
    Ca lâm sàng bên trái cho thấy tủy xương bất thường.
    Trên chuỗi xung T1W, cường độ tín hiệu thấp hơn cơ.
    Trên chuỗi xung T2W, tín hiệu rất sáng.
    Tín hiệu bất thường lan vào vùng đầu xương.


    Tủy xương bất thường. Có tín hiệu bất thường dạng vòng tròn ở vùng hành xương và đầu xương.

    Tủy xương bất thường. Có tín hiệu bất thường dạng vòng tròn ở vùng hành xương và đầu xương.

    Một ca lâm sàng khác với tủy xương bất thường.
    Trong trường hợp này, tủy xương giảm tín hiệu quá mức trên cả T1 và T2 do lắng đọng sắt trong tủy sau nhiều lần truyền máu ở bệnh nhân mắc bệnh hemosiderosis (ứ sắt).


    Hoại tử vô mạch: dịch nằm dưới sụn khớp tương tự dấu hiệu liềm trên X-quang. Sụn khớp bình thường.

    Hoại tử vô mạch: dịch nằm dưới sụn khớp tương tự dấu hiệu liềm trên X-quang. Sụn khớp bình thường.

    Hoại tử vô mạch

    Bất thường tủy xương thường gặp nhất là Hoại tử vô mạch (AVN).
    Một số người cho rằng ‘AVN, Viêm xương sụn bóc tách và Gãy xương do stress trông giống nhau’.
    Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ ràng.
    AVN có các đặc điểm sau:
    1. Tổn thương khu trú nằm dưới sụn và có nguồn gốc từ xương.
    2. Sụn khớp bình thường (cho đến khi xẹp).
    3. Phù tủy xương hình chêm do nhồi máu xương.


    Nhồi máu xương hình chêm trong hoại tử vô mạch

    Nhồi máu xương hình chêm trong hoại tử vô mạch

    Hình thái phù tủy xương dạng hình chêm tương tự như bất kỳ nhồi máu nào khác trong cơ thể, ví dụ như nhồi máu gan hoặc nhồi máu thận.

    Gãy xương do suy yếu

    Bên trái là một thực thể bệnh lý khác, nhưng bệnh nhân có cùng triệu chứng.
    Khởi phát đau vùng trong gối cấp tính.
    Có phù tủy xương lan tỏa trên chuỗi xung T2W.
    Trên chuỗi xung T1W, tổn thương khu trú không nằm trực tiếp dưới sụn.
    Bất thường trên T1 nằm sâu hơn bên trong vùng phù.
    Trên chuỗi xung T1W, có thể thấy một đường giảm tín hiệu biểu hiện gãy xương do suy yếu.
    Bệnh nhân này sẽ hồi phục khi không chịu lực.

    Bên trái là một bệnh nhân khác đau gối sau chấn thương.
    Có tràn dịch khớp nhẹ nhưng X-quang không phát hiện bất thường.


    Gãy mâm chày. Đây cũng là gãy xương sụn vì đường gãy kéo dài xuyên qua sụn đến tận bề mặt khớp.

    Gãy mâm chày. Đây cũng là gãy xương sụn vì đường gãy kéo dài xuyên qua sụn đến tận bề mặt khớp.

    Ở cùng bệnh nhân, MRI cho thấy rõ ràng gãy mâm chày.
    Điểm quan trọng là bất kỳ bệnh nhân nào không thể chịu lực ở khớp háng, khớp gối hoặc khớp cổ chân với X-quang bình thường đều cần được thực hiện thêm phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác.


    Viêm xương sụn bóc tách không ổn định

    Viêm xương sụn bóc tách không ổn định

    Viêm xương sụn bóc tách

    Chẩn đoán Viêm xương sụn bóc tách thường được thực hiện trên X-quang.
    Câu hỏi đặt ra khi chụp MRI là tổn thương ổn định hay không ổn định.
    Ca lâm sàng bên trái là không ổn định vì hai lý do:
    – Các nang nhỏ ở nền tổn thương (mũi tên đỏ)
    – Quan trọng hơn là có dịch ở nền tổn thương (mũi tên xanh)
    Lưu ý rằng lớp dịch này khác với AVN, nơi dịch nằm giữa sụn và xương.


    Viêm xương sụn bóc tách không ổn định. Dấu hiệu duy nhất có giá trị để chẩn đoán OD không ổn định là dịch (mũi tên vàng), không phải phù tủy hay gián đoạn bề mặt xương sụn (mũi tên xanh lá).

    Viêm xương sụn bóc tách không ổn định. Dấu hiệu duy nhất có giá trị để chẩn đoán OD không ổn định là dịch (mũi tên vàng), không phải phù tủy hay gián đoạn bề mặt xương sụn (mũi tên xanh lá).

    Các dấu hiệu không có giá trị trong việc phân biệt OD ổn định và không ổn định bao gồm:
    – Phù tủy xương (có thể gặp trong cả hai trường hợp)
    – Gián đoạn bề mặt xương sụn.
    Vì vậy, ca lâm sàng bên trái là không ổn định vì có dịch ở nền tổn thương.

    Ca lâm sàng bên trái cho thấy viêm xương sụn bóc tách với phù tủy xương và gián đoạn bề mặt xương sụn.
    Tuy nhiên, vì không có dịch, chúng ta không thể xác định đây là tổn thương ổn định hay không ổn định.
    Trong phẫu thuật, tổn thương viêm xương sụn bóc tách được xác nhận là ổn định.

    Trong những trường hợp không thể xác định tổn thương ổn định hay không ổn định, chụp MRI khớp có thuốc tương phản từ (MR-arthrogram) rất có giá trị.
    Chúng ta tìm kiếm dấu hiệu Gadolinium thấm vào xung quanh tổn thương xương sụn.

  • Sụn chêm – Các trường hợp đặc biệt

    Các trường hợp đặc biệt của sụn chêm

    Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một số ví dụ về bệnh lý sụn chêm đặc biệt một cách chi tiết hơn.
    Để nắm vững kiến thức cơ bản về bệnh lý sụn chêm, chúng tôi khuyến nghị bạn đọc trước bài viết ‘Sụn chêm khớp gối – Phần 1’.

    Trên hầu hết các hình ảnh, bạn có thể nhấp vào để xem phóng to, tuy nhiên tính năng này không hoạt động trên ứng dụng iPhone.

    Sụn chêm lật (Flipped meniscus)

    Hãy quan sát hình ảnh bên trái và cố gắng xác định vấn đề của sụn chêm này là gì.

    Sau đó tiếp tục xem các hình ảnh liên tiếp tiếp theo của cùng bệnh nhân này.

    Truy cập ‘Sụn chêm gối – Phần 1’ để xem kiến thức cơ bản


    Cuộn qua các hình ảnh.
    Sau đó tiếp tục đọc…

    Như bạn đã đoán được qua tiêu đề của đoạn này, đây là một trường hợp sụn chêm lật (flipped meniscus).
    Sụn chêm lật là một dạng đặc biệt của rách dạng quai xô (bucket-handle tear).
    Sụn chêm lật xảy ra khi mảnh vỡ của sừng sau bị lật ra phía trước, khiến sừng trước của sụn chêm có vẻ to hơn bình thường.

    1. Thân sụn chêm ngoài.
    2. Sừng sau quá nhỏ và sừng trước có vẻ to hơn với đường viền không đều.
    3. Thoạt nhìn có vẻ như có một đường rách dọc ở sừng trước, nhưng thực chất phần sau của cấu trúc này chính là phần lật của sừng sau bị rách.
      Cấu trúc phía trước là sừng trước.
      Cũng cần lưu ý tình trạng phù tủy xương khu trú và dấu ấn lõm sụn khớp.
    4. Cấu trúc phía trước là sừng trước.
    5. Một số bất thường ở phần sau.
    6. Phần sau di chuyển về phía đuôi (caudal).
    7. Trong hố gian lồi cầu là điểm nối giữa mảnh di lệch và phần còn lại của sừng sau.


    Bên trái là một trường hợp sụn chêm lật khác.
    Lần này ở phía trong (medial).
    Một phần sừng trước bị lật ra phía sau.
    Chỉ một phần nhỏ của sừng trước được nhìn thấy ở phía trước.

    Hầu hết các trường hợp sụn chêm lật xảy ra ở phía ngoài (lateral).
    Dây chằng chéo trước (ACL) ngăn mảnh sụn chêm di chuyển hoàn toàn vào hố gian lồi cầu.

    Hình minh họa cơ chế hình thành sụn chêm lật.

    Trên hình ảnh mặt phẳng coronal, trước tiên sẽ thấy sừng trước to và phồng lên.
    Ở phía sau sẽ thấy sừng sau rất nhỏ.
    Xem ca tiếp theo.


    Bên trái là một trường hợp khác của sụn chêm ngoài bị lật.
    Cuộn qua các hình ảnh.

    1. Lưu ý sừng trước rất lớn.
      Phần trong là sừng sau đã bị di lệch.
    2. Phần trong chạy vào hố gian lồi cầu.
    3. Phần bị di lệch được nhìn thấy rõ ràng như là ‘cấu trúc thứ ba’
      trong hố gian lồi cầu.
    4. Điểm nối với phần còn lại của sừng sau.
    5. Điểm nối với phần còn lại của sừng sau.
    6. Phần còn lại rất nhỏ của sừng sau.


    Cùng ca bệnh trên với hình ảnh mặt phẳng sagittal.

    Lưu ý phần bị rách của sụn chêm chạy ra phía trước qua hố gian lồi cầu (các mũi tên)

    1. Thông thường chỉ có hai cấu trúc chạy trong hố gian lồi cầu. Ở đây chúng ta thấy dây chằng chéo sau bình thường.
    2. Dây chằng chéo trước bình thường.
    3. Phần bị rách của sừng sau như là ‘cấu trúc thứ ba’
      trong hố gian lồi cầu.
    4. Phần bị rách chạy ra phía trước.
    5. Phần bị rách nhập vào sừng trước và giả tạo hình ảnh rách dọc ở sừng trước.
      Lưu ý phần còn lại nhỏ của sừng sau.


    Bên trái là các hình ảnh PD sagittal của một trường hợp sụn chêm lật.
    Toàn bộ sừng sau bị lật ra phía trước, tạo ra dấu hiệu sụn chêm rỗng (empty meniscus sign) (mũi tên).

    Rách kiểu quai xách (Bucket handle tear)


    Rách kiểu quai xách (Bucket handle tear)

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    1. Chúng ta bắt đầu với lát cắt ở giữa của khảo sát.
      Lưu ý thân sụn chêm bên có kích thước nhỏ với hình dạng bất thường (mũi tên xanh).
      Phần bờ trong bị khuyết được nhìn thấy ngay phía ngoài dây chằng chéo trước (mũi tên đỏ).
    2. Phần sụn chêm bị rách di lệch vào trong, tức là phần quai xách, có thể được theo dõi theo hướng ra sau trong hố gian lồi cầu.
    3. Tiếp tục.
    4. Đây là điểm nối giữa phần quai xách và sừng sau.
    5. Đây là lát cắt phía trước cho thấy một nang sụn chêm.
    6. Lưu ý tín hiệu cao theo chiều ngang.
    7. Tại đây chúng ta có thể nhận thấy sự phức tạp của tổn thương rách sụn chêm với thành phần theo chiều dọc và chiều ngang (các mũi tên).

    Rách kiểu quai xách là loại rách dọc theo chiều đứng có kèm di lệch.
    Mảnh bờ trong bị di lệch có hình dạng giống như quai của một chiếc xô.
    Phần ngoại vi còn lại của sụn chêm, phần lớn hơn, có hình dạng giống như thân chiếc xô.
    Loại rách này chiếm khoảng 10% trong tổng số các trường hợp rách sụn chêm.

    Dấu hiệu PCL đôi

    Dấu hiệu dây chằng chéo sau (PCL) đôi là một dải giảm tín hiệu nằm song song và ở phía trước-dưới so với PCL trên ảnh MRI mặt phẳng đứng dọc.
    Đây là dấu hiệu có độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán rách sụn chêm kiểu quai xô (3).

    Rách chân sụn chêm

    Trước tiên hãy quan sát hình ảnh bên trái và cố gắng nhận diện vị trí rách sụn chêm.
    Những tổn thương rách này thường dễ bị bỏ sót.
    Sau đó tiếp tục xem các hình ảnh tiếp theo.


    Ghi nhận một đường rách hướng tâm tại vị trí chân sụn chêm phía sau của sụn chêm trong, đường rách xuyên suốt toàn bộ chiều dày sụn chêm với hình ảnh khe dịch lan dọc theo khuyết tổn thương (mũi tên đỏ).


    Rách chân sụn chêm thường đi kèm với hiện tượng thoát vị sụn chêm ra ngoài bờ mâm chày.
    Thoát vị sụn chêm trên 3 mm thường liên quan đến các tổn thương rách tại vùng chân sụn chêm (6).

    Trong trường hợp bên trái, ghi nhận một đường rách hướng tâm hoàn toàn tách rời sừng sau khỏi chân bám của nó (mũi tên đỏ).
    Ngoài ra còn có hình ảnh thoát vị sụn chêm mức độ tối thiểu (hình 1/6).


    Đây là một trường hợp rách chân sụn chêm trong khác.
    Lưu ý rằng sừng sau không còn bám vào xương chày.
    Thay vào đó, có thể thấy một khoảng hở (mũi tên cong).

    Những tổn thương rách này rất dễ bị bỏ sót khi người đọc nhầm tưởng sừng sau vẫn bình thường.


    Đây là một trường hợp điển hình khác của rách chân sụn chêm trong.
    Lưu ý rằng trường hợp này còn kèm theo hình ảnh sụn chêm ngoài dạng đĩa.

    Dấu hiệu sụn chêm rỗng


    Khi có rách xuyên tâm hoàn toàn, hai mảnh sụn chêm có thể bị tách rời hoàn toàn.
    Điều này có thể dẫn đến hình ảnh khoang sụn chêm rỗng hay còn gọi là dấu hiệu sụn chêm rỗng (mũi tên).


    TRÁI: Hình ảnh sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng trên mặt phẳng đứng dọc. PHẢI: Hình ảnh mặt cắt ngang cho thấy rách xuyên tâm hoàn toàn dẫn đến khuyết hổng sụn chêm.

    TRÁI: Hình ảnh sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng trên mặt phẳng đứng dọc. PHẢI: Hình ảnh mặt cắt ngang cho thấy rách xuyên tâm hoàn toàn dẫn đến khuyết hổng sụn chêm.

    Nếu khảo sát một đường rách xuyên tâm hoàn toàn trực tiếp dọc theo chiều dài của đường rách, bạn sẽ thấy hình ảnh sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng.
    Các đường rách xuyên tâm hoàn toàn này mở ra và tạo ấn tượng rằng có một phần sụn chêm bị thiếu.
    Tuy nhiên, bạn sẽ không tìm thấy mảnh sụn chêm bị di lệch.
    Đây đơn thuần chỉ là sự tách rời của các phần sụn chêm.

    Hình bên trái minh họa một đường rách xuyên tâm hoàn toàn, có thể dẫn đến dấu hiệu sụn chêm rỗng.


    Hình bên trái là các ảnh PD mặt phẳng đứng ngang của một bệnh nhân có rách xuyên tâm hoàn toàn dẫn đến dấu hiệu sụn chêm rỗng.

    • 1/7: Dấu hiệu sụn chêm rỗng (mũi tên đỏ nằm ngang).
    • 2/7: Quan sát thấy một mảnh nhỏ còn lại của thân sụn chêm.
    • 3/7: Điểm bám gốc sụn chêm bình thường (mũi tên xanh).
    • 4/7: Sừng sau bình thường.
    • 5/7: Phía trước có hiện tượng thoát vị sụn chêm.
    • 6/7: Thoát vị sụn chêm.
    • 7/7: Thoát vị sụn chêm đáng kể hơn 3 mm (mũi tên đỏ thẳng đứng).

    Hình bên trái là các ảnh PD mặt phẳng đứng ngang liên tiếp của sừng sau sụn chêm, thoạt nhìn có thể tạo ấn tượng là bình thường.
    Tiếp tục xem các ảnh mặt phẳng đứng dọc.

    Khi quan sát kỹ các ảnh mặt phẳng đứng dọc, bạn sẽ nhận thấy dấu hiệu sụn chêm rỗng tại vị trí mà bình thường gốc sụn chêm bám vào (mũi tên đỏ).
    Điều này có nghĩa là chúng ta đang đối mặt với một trường hợp rách gốc sụn chêm.
    Phần sụn chêm phía sau cần đi vòng lên trên gai chày để bám vào gần dây chằng chéo sau.

    Hiện tượng chân không


    Trước tiên, hãy cuộn qua các hình ảnh ở bên trái.
    Hãy thử xác định xem có bất thường gì với sụn chêm này.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Ở ấn tượng ban đầu, hình ảnh này trông giống như một vết rách trong sụn chêm hình đĩa.
    Quan sát kỹ hơn, bạn sẽ nhận thấy rằng cấu trúc nằm ngang có tín hiệu thấp hơn so với sụn chêm và trông khá bất thường.
    Đây là một biến thể bình thường do hiện tượng chân không gây ra.
    Hiện tượng chân không xảy ra do áp suất âm trong khớp liên quan đến tư thế của bệnh nhân, dẫn đến sự tích tụ khí nitơ.
    Tiếp tục xem phim X-quang của cùng bệnh nhân này.

    Hiện tượng chân không ở phía bên ngoài (lateral).

    Sụn Chêm Hình Đĩa


    Trước tiên, hãy cuộn qua các hình ảnh ở bên trái.
    Hãy thử xác định xem có bất thường gì với sụn chêm này.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Cấu trúc giảm tín hiệu ở phía bên ngoài (lateral) là sụn chêm hình đĩa (mũi tên xanh).
    Cấu trúc ở phía trong (medial) là hiện tượng chân không (vacuum phenomenon).
    Trên lát cắt liền kề, hiện tượng chân không này không còn được quan sát thấy nữa.

    Rách sụn chêm vùng đỏ


    Trước tiên, hãy cuộn qua các hình ảnh ở bên trái.
    Hãy thử xác định tổn thương đang xảy ra với sụn chêm này.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Có một đường rách dọc ở ngoại vi của sụn chêm (mũi tên đỏ).
    Một phần ba phía ngoài của sụn chêm được gọi là vùng ‘đỏ’, do có nguồn cung cấp máu phong phú.
    Vị trí của đường rách sụn chêm có ý nghĩa quan trọng, vì các đường rách ở phần có mạch máu này có khả năng tự lành cao hơn so với các đường rách ở phần vô mạch hay vùng trắng của sụn chêm.

    Dấu hiệu sụn chêm trong sụn chêm

    Đôi khi có thể gặp vùng tăng tín hiệu hình tam giác hoặc hình nêm lan rộng nhưng không chạm đến bề mặt sụn chêm.
    Hình ảnh này đôi khi được gọi là dấu hiệu sụn chêm trong sụn chêm.
    Do bất thường sụn chêm này không chạm đến bề mặt sụn chêm, nên không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán rách sụn chêm.
    Nghiên cứu cho thấy một nửa số bệnh nhân có triệu chứng cần nội soi khớp theo dõi đã được xác nhận có rách sụn chêm (4).

    Hình bên trái là một sụn chêm khác với tăng tín hiệu lan tỏa tại thân sụn chêm.
    Trên các lát cắt khác (không hiển thị) không có bằng chứng của rách sụn chêm.
    Lưu ý tình trạng thoát vị sụn chêm nặng vượt ra ngoài bờ mâm chày.


    1. Dấu hiệu sụn chêm trong sụn chêm và thoát vị phần giữa sụn chêm (mũi tên đỏ).
    2. Rách xuyên tâm hoàn toàn tại sừng sau.
      Lưu ý thêm hình ảnh hoại tử vô mạch.
    3. Lưu ý thêm hình ảnh hoại tử vô mạch.
    4. Thoát vị sụn chêm kèm hoại tử vô mạch.

    Thoát vị sụn chêm


    Các rách liên quan đến chân sụn chêm (điểm bám trung tâm) cũng có mối tương quan đáng kể với mức độ thoát vị sụn chêm, gặp trong 3% trường hợp thoát vị nhẹ và 42% trường hợp thoát vị nặng.
    Khi sụn chêm bị thoát vị, sụn chêm mất khả năng chịu đựng lực căng vòng và không còn có thể bảo vệ sụn khớp lân cận khỏi tải trọng trục quá mức.
    Theo thời gian, tình trạng này có thể dẫn đến viêm khớp gối có triệu chứng.
    Rách chân sụn chêm sau có thể dễ bị bỏ sót do các triệu chứng lâm sàng không điển hình và có thể bị bỏ qua nếu không thực hiện nội soi khớp kỹ lưỡng.
    Việc phát hiện thoát vị sụn chêm có tầm quan trọng không chỉ vì nó liên quan đến tổn thương rách tiềm ẩn, mà còn vì bản thân thoát vị sụn chêm được cho là có liên quan đến sự phát triển của viêm khớp thoái hóa.

    Gãy xương Segond và rách sụn chêm

    Gãy xương Segond là tổn thương bong gân (avulsion) của dây chằng bao khớp bên ngoài.
    Cơ chế chấn thương là xoay trong kết hợp với lực varus.
    Trên phim X-quang, tổn thương biểu hiện dưới dạng một mảnh xương hình bầu dục tách rời khỏi mặt ngoài đầu gần xương chày (hình).
    Gãy xương Segond có mối liên quan chặt chẽ với rách dây chằng chéo trước (75-100%) và tổn thương sụn chêm trong và ngoài (66-70%).

    Trên phim X-quang, gãy xương Segond có thể dễ bị bỏ sót (mũi tên đỏ).
    Lưu ý rằng còn có thêm tổn thương bong gân của dây chằng bên trong.
    Tiếp tục xem các hình ảnh MRI.


    Bên trái là ba lát cắt coronal PD liên tiếp:

    1. Rách bó dây chằng bên trong sâu (mũi tên vàng).
      Bong mảnh xương ở mặt ngoài đầu gần xương chày, tức là gãy xương Segond (mũi tên đỏ).
    2. Lưu ý mảnh sụn chêm phía trong bị di lệch.
      Điều này cho thấy còn có thêm rách dạng quai xô (bucket handle tear).
    3. Ngoài rách dạng quai xô (mũi tên xanh phía trong), còn có một đường rách ngang khó nhận thấy ở phần ngoại vi của sụn chêm (mũi tên xanh phía ngoài).
      Đường rách ngang này được thể hiện rõ hơn trên các hình ảnh khác (không trình bày ở đây).

    Tiếp tục xem các hình ảnh sagittal.

    Gãy xương Segond gần như là dấu hiệu đặc trưng (pathognomonic) của rách dây chằng chéo trước, điều này cũng được ghi nhận ở bệnh nhân này.

    Bên trái là hình chụp tư thế AP của một bệnh nhân khác.
    Kết hợp với gãy xương Segond (mũi tên đỏ), còn có thêm gãy bong điểm bám của dây chằng chéo trước (mũi tên xanh).

    Nang sụn chêm

    Nang sụn chêm hình thành do dịch hoạt dịch thoát ra qua một vết rách sụn chêm theo hướng ngang lan ra ngoại vi.
    Nang sụn chêm trong thường khu trú liền kề sừng sau, trong khi nang sụn chêm ngoài thường khu trú liền kề sừng trước hoặc thân sụn chêm.

    Hình bên trái là ảnh chuỗi xung PD và chuỗi xung T2W cho thấy nang sụn chêm ngoài nằm liền kề sừng trước, là hệ quả của một vết rách phức tạp.

    Hình bên trái gồm ba lát cắt liên tiếp cho thấy một nang sụn chêm nhỏ (mũi tên xanh) là hệ quả của một vết rách theo hướng ngang (mũi tên đỏ).

    Hình bên trái là ảnh chuỗi xung PD mặt phẳng coronal không có và có kỹ thuật ức chế mỡ (fatsat).
    Quan sát thấy một nang sụn chêm kích thước lớn liên quan đến vết rách theo hướng ngang (mũi tên đỏ).

  • Bệnh lý sụn chêm

    Bệnh lý sụn chêm

    David Rubin và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trường Đại học Y Washington, St. Louis, Hoa Kỳ và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Bài viết này được xây dựng dựa trên bài thuyết trình của David Rubin và được Robin Smithuis chuyển thể cho the Radiology Assistant.
    Các ca lâm sàng tương tác được trình bày trong thanh menu để kiểm tra kiến thức của bạn.

    bởi David Rubin và Robin Smithuis

    Giải Phẫu Sụn Chêm Bình Thường


    Sụn chêm trong: Sừng sau luôn lớn hơn sừng trước.

    Sụn chêm trong: Sừng sau luôn lớn hơn sừng trước.

    Sụn chêm trong

    Cả hai sừng đều có hình tam giác với các đỉnh rất nhọn.
    Sừng sau luôn lớn hơn sừng trước (hình minh họa).
    Nếu không phải như vậy, hình dạng được xem là bất thường, có thể là dấu hiệu của rách sụn chêm hoặc cắt sụn chêm một phần.


    TRÁI: chân bám sụn chêm trong bình thường nằm ngay phía trước dây chằng chéo sau. PHẢI: mất chân bám sừng sau do rách chân bám sụn chêm.

    TRÁI: chân bám sụn chêm trong bình thường nằm ngay phía trước dây chằng chéo sau. PHẢI: mất chân bám sừng sau do rách chân bám sụn chêm.

    Chân bám sừng sau nằm ngay phía trước dây chằng chéo sau.
    Nếu không thấy chân bám này trên các lát cắt sagittal, cần nghĩ đến rách chân bám sụn chêm (hình minh họa).
    Sừng trước có điểm bám vào mâm chày và một phần thứ hai chạy từ trong ra ngoài để nối với sừng trước của sụn chêm ngoài (dây chằng liên sụn chêm hay dây chằng ngang).


    Sụn chêm ngoài. Cả hai sừng có kích thước xấp xỉ nhau.

    Sụn chêm ngoài. Cả hai sừng có kích thước xấp xỉ nhau.

    Sụn chêm ngoài

    Trên các lát cắt sagittal, sừng sau nằm ở vị trí cao hơn so với sừng trước.
    Cả hai sừng có kích thước xấp xỉ nhau.


    Sụn chêm ngoài: sừng sau và chân bám sừng sau.

    Sụn chêm ngoài: sừng sau và chân bám sừng sau.

    Phần sau của sụn chêm ngoài vươn cao lên trên gai chày để bám vào vị trí gần dây chằng chéo sau.
    Vị trí cao của sừng sau có thể là nguyên nhân gây tăng tín hiệu tại sừng sau trên tất cả các mặt phẳng do hiệu ứng góc ma thuật (magic angle effect).

    Rách sụn chêm

    Tiêu chuẩn chẩn đoán rách

    Hai tiêu chuẩn quan trọng nhất để chẩn đoán rách sụn chêm là hình dạng bất thường của sụn chêm và tín hiệu cao rõ ràng chạm đến bề mặt sụn chêm trên ảnh PD.


    High signal intensity not unequivocally contacting surface. Small black line on inferior margin of the meniscus. At arthroscopy the meniscus was normal.

    Tăng tín hiệu không chạm rõ ràng đến bề mặt. Đường đen nhỏ ở bờ dưới sụn chêm. Khi nội soi khớp, sụn chêm hoàn toàn bình thường.

    Đây là một quan niệm sai lầm khi cho rằng sụn chêm phải đồng nhất giảm tín hiệu trên ảnh mật độ proton (proton-density).
    Sụn chêm không nhất thiết phải có màu đen.
    Chỉ khi tín hiệu cao chạm rõ ràng đến bề mặt sụn chêm, bạn mới có thể chẩn đoán rách.
    Nếu còn nghi ngờ liệu tín hiệu cao có chạm đến bề mặt hay không, hãy xem xét tất cả các lát cắt lân cận.
    Nếu vẫn còn nghi ngờ, không nên chẩn đoán rách.
    Nếu bạn còn dấu hỏi trong đầu, hãy kết luận “sụn chêm bình thường”. (hình)


    Basic shapes: Longitudinal, Horizontal and Radial.

    Các hình thái cơ bản: Dọc, Ngang và Xuyên tâm.

    Danh pháp các loại rách sụn chêm

    Hình thái. Có 3 hình thái cơ bản của rách sụn chêm: rách dọc, rách ngang và rách xuyên tâm.
    Rách phức tạp là sự kết hợp của các hình thái cơ bản này.


    Bucket handle, Horizontal Flap tear and Parrot beak.

    Rách hình quai xô, rách vạt ngang và rách hình mỏ vẹt.

    Rách có di lệch
    Rách hình quai xô (Bucket-handle) = rách dọc có di lệch.
    Rách vạt (Flap tear) = rách ngang có di lệch.
    Rách hình mỏ vẹt (Parrot beak) = rách xuyên tâm có di lệch.

    Rách dọc, rách ngang và rách xuyên tâm

    Rách dọc
    Rách dọc chạy song song với trục dài của sụn chêm, chia sụn chêm thành phần trong và phần ngoài.
    Do đó, khoảng cách từ đường rách đến bờ ngoài sụn chêm luôn không đổi (hình).
    Đường rách không bao giờ chạm đến bờ trong.


    Three sagittal images of a longitudinal tear

    Ba lát cắt đứng dọc của một trường hợp rách dọc sụn chêm.

    Rách dọc đi theo các bó sợi collagen chạy song song với đường viền sụn chêm.
    Nếu rách dọc có thêm các thành phần khác (ngang hoặc xuyên tâm), thì đó là rách phức tạp, phá vỡ các bó sợi collagen.
    Loại rách này đòi hỏi chấn thương với năng lượng cao hơn.


    LEFT: abnormal shape of posterior horn. A piece is missing. RIGHT: displaced fragment in the intercondylar fossa.

    TRÁI: hình dạng bất thường của sừng sau. Một phần bị khuyết. PHẢI: mảnh di lệch trong hố liên lồi cầu.

    Rách dọc (2)

    Rách hình quai xô (Bucket handle tear)
    là rách dọc có di lệch.


    LEFT: meniscus is abnormal in shape and there is a displaced fragment. RIGHT: Three structures in the intercondylar fossa: post cruciate lig (1), ant cruciate lig (2) and displaced fragment (3).

    TRÁI: sụn chêm có hình dạng bất thường và có mảnh di lệch. PHẢI: Ba cấu trúc trong hố liên lồi cầu: dây chằng chéo sau (1), dây chằng chéo trước (2) và mảnh di lệch (3).

    Trên ảnh mặt phẳng coronal, rách hình quai xô dễ nhận biết hơn.
    Bình thường, trong hố liên lồi cầu chỉ có hai cấu trúc: dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau.
    Bất kỳ cấu trúc nào khác trong hố liên lồi cầu đều là bất thường, và mảnh sụn chêm di lệch là khả năng có thể xảy ra nhất.

    Xem thêm về rách hình quai xô


    Flipped meniscus: posterior horn is missing because it is flipped over and located on top of the anterior horn.

    Sụn chêm lật (Flipped meniscus): sừng sau không thấy vì đã bị lật và nằm chồng lên sừng trước.

    Rách dọc (3)

    Sụn chêm lật (Flipped meniscus) là một dạng của rách hình quai xô.
    Có sự bong tách bao khớp hoặc rách ngoại vi của sụn chêm, thường ở sừng sau.
    Sừng sau bị lật chồng lên sừng trước.

    Xem thêm về sụn chêm lật


    Horizontal tear with a meniscal cyst

    Rách ngang kèm nang sụn chêm.

    Rách ngang
    Rách ngang chia sụn chêm thành phần trên và phần dưới (giống bánh pita).
    Nếu rách ngang kéo dài từ đỉnh đến bờ ngoài sụn chêm, có thể dẫn đến hình thành nang sụn chêm.
    Dịch khớp chảy ra ngoại vi qua đường rách ngang, tích tụ bên trong sụn chêm và cuối cùng tạo thành nang.
    Sự thông thương với khoang khớp thường bị mất, do đó nang sẽ không ngấm thuốc tương phản từ trên MRI khớp.
    Dịch khớp được hấp thu và được thay thế bằng chất dạng keo.

    Có 3 tiêu chuẩn để chẩn đoán nang sụn chêm:

    1. Rách ngang.
    2. Tích tụ dịch với tín hiệu sáng trên T2W.
    3. Áp sát vào ngoại vi sụn chêm.

    Chẩn đoán nang sụn chêm rất quan trọng đối với phẫu thuật viên vì cần một lần phẫu thuật ở mặt ngoài khớp gối để lấy nang và một lần phẫu thuật ở mặt trong để xử lý sụn chêm.

    Rách xuyên tâm
    Rách xuyên tâm vuông góc với trục dài của sụn chêm.
    Loại rách này phá vỡ các bó sợi collagen chạy song song với trục dài của sụn chêm.
    Đây là loại rách do chấn thương năng lượng cao. Rách bắt đầu từ bờ trong và lan ra một phần hoặc toàn bộ chiều dày sụn chêm, chia sụn chêm thành phần trước và phần sau.
    Rách xuyên tâm khó nhận biết. Cần kết hợp các dấu hiệu trên cả ảnh đứng dọc (sagittal) và ảnh trán (coronal) để chẩn đoán.


    LEFT: triangle missing the tip.RIGHT: disrupted bow tie.

    TRÁI: hình tam giác mất đỉnh. PHẢI: hình nơ bị gián đoạn.

    Sự kết hợp các dấu hiệu sau có giá trị chẩn đoán:
    Trên một mặt phẳng: hình tam giác mất đỉnh; và trên mặt phẳng kia: hình nơ bị gián đoạn.


    Disrupted bow tie indicating a small radial tear.

    Hình nơ bị gián đoạn gợi ý rách xuyên tâm nhỏ.

    Rách xuyên tâm nhỏ khó chẩn đoán.
    Đôi khi dấu hiệu duy nhất là hình nơ bị gián đoạn.


    LEFT: Absent or empty meniscus on sagittal image.RIGHT: Axial image shows complete radial tear leading to a defect in the meniscus.

    TRÁI: Dấu hiệu sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng trên ảnh đứng dọc. PHẢI: Ảnh axial cho thấy rách xuyên tâm hoàn toàn tạo ra khuyết hổng trong sụn chêm.

    Nếu chụp ảnh rách xuyên tâm hoàn toàn dọc theo chiều dài đường rách, bạn sẽ thấy hình ảnh sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng.
    Các rách xuyên tâm hoàn toàn này mở ra và tạo ấn tượng như có một phần sụn chêm bị mất.
    Tuy nhiên, bạn sẽ không tìm thấy mảnh sụn chêm di lệch. Đây đơn giản là sự tách rời của các phần sụn chêm.

    Xem thêm về dấu hiệu sụn chêm rỗng


    Meniscal root tear: on sagittal images there is an absent or empty meniscus-sign adjacent to the posterior cruciate ligament where the meniscal root should be. On coronal images a meniscal root tear is confirmed.

    Rách chân bám sụn chêm: trên ảnh đứng dọc có dấu hiệu sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng kề cạnh dây chằng chéo sau tại vị trí lẽ ra phải thấy chân bám sụn chêm. Trên ảnh coronal, rách chân bám sụn chêm được xác nhận.

    Rách chân bám sụn chêm

    Rách chân bám sụn chêm là rách xuyên tâm xảy ra tại vị trí chân bám của sụn chêm.
    Bình thường, khi quan sát dây chằng chéo sau trên ảnh đứng dọc, bạn phải thấy một phần đáng kể của sừng sau sụn chêm trên lát cắt đó hoặc lát cắt kề cạnh.
    Nếu không thấy, đó là dấu hiệu sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng, gợi ý rách xuyên tâm.

    Xem thêm về rách chân bám sụn chêm

    Sụn chêm sau phẫu thuật

    Sụn chêm sau phẫu thuật khó đánh giá hơn vì hai tiêu chí quan trọng nhất, đó là tín hiệu bất thường và hình dạng bất thường, không còn áp dụng được nữa.

    Tín hiệu bất thường không còn là dấu hiệu đáng tin cậy của rách sụn chêm, vì nếu đã được khâu phục hồi, vùng này sẽ lành với mô sẹo, mô sẹo cũng có tín hiệu cao trên ảnh PD (hình minh họa).
    Mặc dù là một phát hiện không phổ biến, nếu đồng thời có tín hiệu cao trên chuỗi xung T2W, thì có thể chẩn đoán rách sụn chêm, vì đây là kết quả của dịch hoạt dịch rò rỉ vào vị trí rách.
    Tuy nhiên, đây là một phát hiện không thường gặp.

    Hình dạng bất thường có thể là kết quả của cắt sụn chêm một phần.
    Do đó, cần biết thủ thuật nào đã được thực hiện trong quá trình nội soi khớp.
    Chỉ khi so sánh với hình ảnh sau phẫu thuật trước đó, mới có thể xác định liệu hình dạng bất thường có phải là phát hiện mới gợi ý rách mới hay không.

    Đôi khi không thể phân biệt giữa hình ảnh sau phẫu thuật bình thường và rách tái phát trên MRI thông thường.
    Trong những trường hợp này, chụp MRI-khớp với 40cc Gadolinium pha loãng giúp phân biệt vì ngay cả lượng nhỏ Gadolinium rò rỉ vào vị trí rách cũng dễ dàng nhìn thấy trên ảnh T1 xóa mỡ.


    PD and T2W images. Prior partial meniscectomy and suture repair. At arthroscopy, there was no tear.

    Ảnh PD và T2W. Tiền sử cắt sụn chêm một phần và khâu phục hồi. Khi nội soi khớp, không phát hiện rách.

    Sụn chêm sau phẫu thuật 1
    Trường hợp bên trái cho thấy sụn chêm có hình dạng bất thường cũng như tín hiệu bất thường chạm đến bề mặt trên ảnh PD nhưng không thấy trên ảnh T2W.
    Bệnh nhân này có tiền sử cắt sụn chêm một phần và khâu phục hồi.
    Dựa trên các phát hiện hình ảnh này, không thể xác định đây là rách hay là hình ảnh bình thường sau phẫu thuật.
    Bệnh nhân này được phẫu thuật lại để tái tạo dây chằng chéo trước (ACL).
    Phẫu thuật viên đã quan sát sụn chêm và xác nhận sụn chêm bình thường, tức là không có rách.


    LEFT: Old MR exam with tear. Patient had a suture repair. RIGHT: On new exam, there is a new tear (yellow arrow). It is not possible to tell if the old tear has healed.

    TRÁI: Phim MRI cũ có rách. Bệnh nhân đã được khâu phục hồi. PHẢI: Trên phim MRI mới, có rách mới (mũi tên vàng). Không thể xác định liệu vết rách cũ đã lành hay chưa.

    Sụn chêm sau phẫu thuật 2
    Bệnh nhân này đã được khâu phục hồi do rách sụn chêm.
    Sau đó bệnh nhân bị chấn thương mới.
    Trên phim MRI mới, không thể xác định liệu vết rách cũ đã lành hay chưa.
    Tuy nhiên, phát hiện thấy rách mới, nên trường hợp này dễ chẩn đoán.


    MR-arthrogram: In the new tear the signal is as bright as in the synovial fluid (yellow arrows). In the healed tear the signal is not as bright.

    Chụp MRI-khớp: Tại vị trí rách mới, tín hiệu sáng tương đương dịch hoạt dịch (mũi tên vàng). Tại vị trí rách đã lành, tín hiệu không sáng bằng.

    Trên ảnh chụp MRI-khớp, vị trí rách mới có cường độ tín hiệu rất cao tương đương dịch hoạt dịch, trong khi vị trí rách cũ đã lành chỉ có cường độ tín hiệu trung bình.
    Do đó, so sánh với phim cũ giúp chẩn đoán xác định rách mới, trong khi ảnh chụp khớp cho thấy vết rách cũ đã lành.


    PD and MR-arthrogram after suture repair for meniscal tear: healed tear.

    Ảnh PD và chụp MRI-khớp sau khâu phục hồi rách sụn chêm: vết rách đã lành.

    Sụn chêm sau phẫu thuật 3
    Bệnh nhân này cũng đã được khâu phục hồi do rách sụn chêm.
    Sau một chấn thương mới, ảnh PD cho thấy tín hiệu cao rõ ràng chạm đến bề mặt sụn chêm (thấy rõ trên phim gốc, nhưng không thấy rõ trên ảnh đã nén bên trái).
    Trên ảnh này, không thể xác định liệu vết rách đã lành hay chưa.
    Do đó, chụp MRI-khớp được thực hiện và cho thấy vết rách đã lành.