Category: Đầu – Cổ

  • CT và MRI mắt

    CT và MRI Mắt

    bởi David Yousem

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh Thần kinh, Bệnh viện Johns Hopkins tại Baltimore

    Ngày đăng

    Bài tổng quan này dựa trên bài trình bày của David Yousem và được Robin Smithuis chuyển thể chothe Radiology Assistant.
    David Yousem hiện là Trưởng khoa Chẩn đoán Hình ảnh Thần kinh và Giáo sư Chẩn đoán Hình ảnh tại Bệnh viện Johns Hopkins.
    Ông cũng là biên tập viên của cuốn sách ‘Neuroradiology: the Requisites’.

    Bài viết này trình bày một phương pháp tiếp cận có hệ thống đối với bệnh lý hốc mắt, dựa trên việc phân chia hốc mắt thành các khoang sau:

    • Khoang nhãn cầu
    • Khoang trong nón cơ
    • Khoang nón cơ
    • Khoang ngoài nón cơ

    Các Lưu Ý Về Giải Phẫu

    Điều đầu tiên cần làm khi phát hiện một tổn thương trong hốc mắt là xác định đó là tổn thương nhãn cầu hay tổn thương ngoài nhãn cầu, tức là tổn thương có liên quan đến nhãn cầu hay các cấu trúc bên ngoài nhãn cầu.
    Nếu là tổn thương ngoài nhãn cầu, câu hỏi tiếp theo là tổn thương nằm trong khoang nội nón — tức là khoang được giới hạn bởi hình nón tạo thành từ các cơ vận nhãn — hay nằm trong khoang nón hoặc khoang ngoại nón?
    Sau khi xác định được vị trí tổn thương, hãy cân nhắc các khả năng chẩn đoán phân biệt bằng cách sử dụng từ gợi nhớ VITAMIN C và D.

    Trước tiên, chúng tôi sẽ mô tả các khoang giải phẫu của hốc mắt và tóm tắt các bệnh lý trong từng khoang, kể cả những bệnh lý không thể quan sát được trên hình ảnh học.
    Sau đó, chúng tôi sẽ thảo luận về các dấu hiệu hình ảnh học trong một số bệnh lý hốc mắt cụ thể.

    Khoang nhãn cầu
    Nhãn cầu có các khoang giải phẫu được xác định rõ ràng như sau:

    Tiền phòng
    Khi di chuyển từ trước ra sau, khu vực đầu tiên gặp là tiền phòng.
    Tiền phòng được giới hạn phía trước bởi giác mạc và phía sau bởi thể thủy tinh và mống mắt.

    Các bệnh lý đặc trưng trong tiền phòng bao gồm:

    • Vỡ nhãn cầu
    • Xuất huyết: còn gọi là xuất huyết tiền phòng (hyphema)
    • Đục thể thủy tinh
    • Viêm giác mạc: tình trạng viêm của giác mạc
    • Viêm mô tế bào quanh hốc mắt

    Hậu phòng
    Đây là một vùng rất nhỏ nằm phía sau mống mắt, không thể phân biệt được trên hình ảnh học.
    Các bệnh lý đặc trưng trong vùng này bao gồm: tăng nhãn áp (glaucoma), viêm màng bồ đào (uveitis) và u hắc tố thể mi (ciliary melanoma).

    Dịch kính
    Vùng lớn hơn nằm phía sau thể thủy tinh là buồng dịch kính.

    Các bệnh lý đặc trưng trong buồng dịch kính bao gồm:

    • Vỡ nhãn cầu
    • Xuất huyết dịch kính
    • Nhiễm CMV: đặc biệt gặp trong bệnh HIV
    • Tăng sản thủy tinh thể nguyên phát dai dẳng (PHPV): dịch kính nguyên phát không phát triển thành dịch kính thứ phát trong suốt, dẫn đến nhìn mờ
    • Các thủ thuật bơm tái phồng điều trị bong võng mạc dẫn đến sự thay đổi tỷ trọng bên trong buồng dịch kính

    Buồng dịch kính được bao quanh bởi các màng gồm võng mạc, hắc mạc và củng mạc.

    Bệnh lývõng mạc:

    • U nguyên bào võng mạc (Retinoblastoma): khối u thường gặp ở trẻ em
    • U nguyên bào mạch máu (Hemangioblastoma): khối u võng mạc thường gặp nhất ở người lớn, liên quan đến bệnh von Hippel-Lindau
    • Bong võng mạc: tổn thương võng mạc thường gặp nhất, chủ yếu gặp trong bệnh võng mạc đái tháo đường

    Bệnh lýhắc mạc:

    • U hắc tố (Melanoma): hắc mạc chứa các tế bào melanin
    • Di căn: hắc mạc là cấu trúc có mạch máu phong phú nhất trong mắt
    • Bong hắc mạc: thường do chấn thương

    Bệnh lýcủng mạc:

    • Nhiễm trùng: do viêm xoang hoặc virus
    • Giả u (Pseudotumor)
    • Bong củng mạc

    The intraconal space is marked by arrows and is located within the muscle cone It contains the optic nerve, vessels and cranial nerves III, IV and VI.

    Khoang nội nón được đánh dấu bằng các mũi tên và nằm bên trong hình nón cơ. Khoang này chứa thần kinh thị giác, các mạch máu và các dây thần kinh sọ III, IV và VI.

    Khoang nội nón
    Các cơ vận nhãn trong hốc mắt tạo thành một hình nón cơ.
    Các cơ vận nhãn này được kết nối với nhau qua vòng Zinn — một tấm mô liên kết sợi — và cùng nhau tạo thành khoang nón.
    Khoang nón phân tách khoang nội nón với khoang ngoại nón.
    Các bệnh lý trong hốc mắt không liên quan đến nhãn cầu có thể nằm ở khoang nội nón, khoang nón hoặc khoang ngoại nón.

    Bệnh lý khoang nội nón:

    • Dị dạng mạch máu tĩnh mạch
    • U máu mao mạch (Capillary hemangioma)
    • Tổn thương thần kinh thị giác
      • Viêm thần kinh thị giác
        • Xơ cứng rải rác (MS)
        • Hội chứng Devic
        • Viêm thần kinh do nhiễm trùng (ví dụ: herpes zoster)
        • Tự miễn (ví dụ: Lupus)
        • Do thuốc (ví dụ: chloramphenicol, ethambutol)
      • U thần kinh đệm thần kinh thị giác (Optic nerve glioma)
      • U màng não thần kinh thị giác (Optic nerve meningioma)
      • Giả u (Pseudotumor)
    • Giãn tĩnh mạch
      • Rò động tĩnh mạch cảnh-xoang hang (Carotid Cavernous Fistula)
      • Giãn tĩnh mạch (Varices)
    • U bao thần kinh (Schwannoma) của dây thần kinh sọ III, IV và VI

    Khoang nón
    Khoang nón được tạo thành bởi các cơ vận nhãn và một lớp bao cân mạc.

    Bệnh lý khoang nón:

    • Bệnh mắt do tuyến giáp; thường gặp phì đại cơ thẳng dưới và cơ thẳng trong
    • Giả u (Pseudotumor): viêm hốc mắt vô căn
    • Viêm lan từ vùng lân cận: viêm xoang
    • Các nguyên nhân hiếm gặp gây phì đại cơ vận nhãn bao gồm bệnh dự trữ glycogen và u lympho.

    Khoang ngoại nón
    Khoang ngoại nón là vùng nằm bên ngoài hình nón cơ.

    Bệnh lý khoang ngoại nón:

    • Áp xe do viêm xoang
    • U bao thần kinh (Schwannoma) của nhánh V1 và V2 thuộc dây thần kinh sinh ba
    • Tổn thương xương:
      • Loạn sản xơ (Fibrous dysplasia) cánh xương bướm
      • Di căn xương
      • Đa u tủy xương (Multiple myeloma)
      • Bệnh lý các phần phụ của hốc mắt

    Các phần phụ của hốc mắt

    Tuyến lệnằm ở góc trên ngoài của hốc mắt.
    Bệnh lý tuyến lệ có thể được phân loại thành: u hạt (granulomatous), bệnh lý tuyến (glandular) và bất thường phát triển (developmental) (xem Bảng).

    Dịch tiết di chuyển về phía trong qua bề mặt nhãn cầu và được thu vào điểm lệ (punctum), sau đó dẫn vàotúi lệ.
    Từ túi lệ, dịch tiết đi xuống dưới qua ống lệ mũi, đổ vào khoang mũi ở phía dưới cuốn mũi dưới.
    Ở trẻ em, tắc nghẽn bẩm sinh các van trong ống lệ mũi có thể dẫn đến hình thành các nang ở phía trong hốc mắt, còn gọi là nang túi lệ bẩm sinh (dacryocystocele).
    Ở người lớn, tắc nghẽn thường do hẹp từ viêm xoang sàng hoặc sỏi làm tắc ống lệ mũi.
    Tình trạng này sẽ dẫn đến chảy nước mắt sống (epiphora) hoặc tăng tiết nước mắt.
    Dẫn lưu có thể được cải thiện bằng thủ thuật nong bóng.

    Bệnh lý nhãn cầu

    Vôi hóa

    người lớn, vôi hóa trong hốc mắt thường gặp nhất tại vị trí bám gân của các cơ vận nhãn.
    Các vị trí vôi hóa thường gặp khác là tại đầu thần kinh thị giác trong nhãn cầu, còn được gọi là ‘drusen đĩa thị’.
    Những trường hợp này thường không có triệu chứng, nhưng khi nhà nhãn khoa kiểm tra mắt, sẽ có cảm giác giống phù gai thị, tức là giả phù gai thị.

    trẻ em, vôi hóa trong nhãn cầu được coi là u nguyên bào võng mạc (retinoblastoma) cho đến khi được chứng minh ngược lại, kể cả khi tổn thương xuất hiện hai bên.

    Hình bên trái là hình ảnh của một thiếu niên bị u nguyên bào võng mạc hai bên.

    U nguyên bào võng mạc (Retinoblastoma)

    Như có thể thấy trong bảng bên trái, u nguyên bào võng mạc là một trong những khối u thường gặp nhất trong năm đầu đời.
    Các khối u khác trong nhóm tuổi này bao gồm u nguyên bào thần kinh (neuroblastoma), u Wilms, bạch cầu cấp (leukemia) và u quái (teratoma).
    Tất cả các trường hợp hai bên đều có tính di truyền và xuất phát từ sự thiếu hụt gen ức chế khối u trên nhiễm sắc thể 13.
    Các bệnh được liệt kê trong chẩn đoán phân biệt đều hiếm gặp.


    Bilateral retinoblastoma

    U nguyên bào võng mạc hai bên

    Hình bên trái là hình ảnh của một bé gái 13 tháng tuổi với các tổn thương hai bên do u nguyên bào võng mạc hai bên.
    U nguyên bào võng mạc kích thước nhỏ được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau (áp lạnh, quang đông laser, hóa nhiệt liệu pháp, xạ trị áp sát, xạ trị mảng) nhằm bảo tồn nhãn cầu và tránh phải khoét bỏ mắt.

    Nếu bệnh nhân được điều trị bằng xạ trị, có 30% nguy cơ xuất hiện khối u ác tính thứ hai trong trường chiếu xạ, do tác động của tia xạ cũng như do sự thiếu hụt gen ức chế khối u.
    Ngoài trường chiếu xạ, nguy cơ ác tính là 8%.
    Theo thứ tự tần suất: Sarcoma xương > sarcoma khác > u hắc tố > ung thư biểu mô.


    Retinoblastoma with calcification

    U nguyên bào võng mạc có vôi hóa

    Những bệnh nhân này cũng có nguy cơ mắc u tuyến tùng và u nguyên thủy ngoại bì thần kinh (PNET) vùng cạnh yên.
    Tuyến tùng được xem như “con mắt thứ ba” và “tinh hoàn thứ ba”.
    Điều này có nghĩa là u nguyên bào võng mạc có thể phát triển tại tuyến tùng, gọi là u nguyên bào võng mạc tam bên (trilateral retinoblastoma), đồng thời cũng có thể xuất hiện u tế bào mầm (germinoma).
    Cần luôn khảo sát não bộ ở những bệnh nhân này và cần nhớ rằng ở độ tuổi 0-4 tuổi, là độ tuổi đỉnh của u nguyên bào võng mạc, tuyến tùng chưa vôi hóa, do đó bất kỳ vôi hóa nào ở vùng này đều cần nghi ngờ u nguyên bào võng mạc.

    Hình bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân khác bị u nguyên bào võng mạc.
    Khối u này biểu hiện dưới dạng một vôi hóa lớn.
    Khi u nguyên bào võng mạc chiếm hơn một nửa nhãn cầu, như trong trường hợp này, nhãn cầu phải được khoét bỏ.

    Bạch đồng tử (Leukocoria)
    Thông thường, khi ánh sáng chiếu qua mống mắt, võng mạc sẽ có màu đỏ khi quan sát.
    Trong bạch đồng tử (đồng tử trắng), võng mạc bất thường có màu trắng.
    U nguyên bào võng mạc thường được phát hiện qua dấu hiệu bạch đồng tử, xuất hiện ở hai phần ba số bệnh nhân mắc bệnh này.
    Những trẻ này thường còn quá nhỏ để có thể mô tả triệu chứng giảm thị lực.
    Có nhiều nguyên nhân gây bạch đồng tử như được liệt kê trong bảng bên trái.


    Melanoma

    U hắc tố (Melanoma)

    U hắc tố (Melanoma)

    Hình bên trái là hình ảnh của một người lớn có khối trong nhãn cầu.
    Tổn thương trong nhãn cầu thường gặp nhất ở người lớn là u hắc tố (như trong trường hợp này). Đứng thứ hai là di căn; các tổn thương khác như u mạch máu (hemangioma), u cơ trơn (leiomyoma) và u xương (osteoma) ít gặp hơn.


    Persistent hyperplastic primary vitrous

    Tồn lưu dịch kính nguyên phát tăng sản (Persistent hyperplastic primary vitrous)

    Tồn lưu dịch kính nguyên phát tăng sản (PHPV)

    Hình bên trái là một nguyên nhân khác gây bạch đồng tử.
    Đây là tồn lưu dịch kính nguyên phát tăng sản (PHPV).
    Có sự tồn tại của ống hyaloid khi động mạch hyaloid không thoái triển.
    Trên hình ảnh, chúng ta thấy một ống tồn lưu đi từ thần kinh thị giác đến thủy tinh thể.
    Ngoài ra còn có bong võng mạc (gặp trong 30-55% trường hợp) và lưu ý tình trạng nhãn cầu nhỏ (microphtalmia).

    PHPV là nguyên nhân thường gặp thứ hai gây bạch đồng tử.
    Những bệnh nhân này cũng có thể phát triển glaucoma và đục thủy tinh thể.

    Bệnh Coats

    Bệnh Coats là một rối loạn mắt hiếm gặp chưa rõ nguyên nhân, dẫn đến mù hoàn toàn hoặc một phần, đặc trưng bởi sự phát triển bất thường của các mạch máu sau võng mạc.


    Traumatic cataract

    Đục thủy tinh thể do chấn thương

    Vỡ nhãn cầu

    Hình bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân nhập cấp cứu với tình trạng sưng nề hốc mắt sau chấn thương.
    Bệnh nhân này bị vỡ nhãn cầu, cụ thể là vỡ tiền phòng.
    Là các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, chúng ta thường chú ý đến dịch kính khi nghi ngờ vỡ nhãn cầu, nhưng như vậy là chưa đủ.
    Lưu ý rằng độ sâu của tiền phòng bị giảm.
    Có tình trạng tăng tỷ trọng ở phía trước do xuất huyết tiền phòng (hyphema – máu trong tiền phòng).
    Cũng cần lưu ý rằng thủy tinh thể bên phải bị mờ và giảm tỷ trọng nhẹ.
    Đây được gọi là đục thủy tinh thể do chấn thương.
    Có thể bạn sẽ kỳ vọng thủy tinh thể tăng tỷ trọng hơn, nhưng thực tế thường không phải như vậy.


    Globe rupture

    Vỡ nhãn cầu

    Hình bên trái là hình ảnh CT của một bệnh nhân bị chấn thương mắt trái.
    Hãy phân tích hình ảnh để tìm 5 dấu hiệu trước khi tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Tiền phòng nông hơn so với bên phải, gợi ý vỡ nhãn cầu.
    • Tỷ trọng trong tiền phòng tăng, gợi ý xuất huyết tiền phòng (hyphema).
    • Tỷ trọng của thủy tinh thể giảm, cho thấy bệnh nhân bị đục thủy tinh thể do chấn thương.
    • Có vùng tăng tỷ trọng trong buồng dịch kính, gợi ý xuất huyết dịch kính.
    • Nhãn cầu dẹt ở mặt sau, cho thấy có vỡ dịch kính kèm theo.

    Vỡ nhãn cầu thường gặp nhất ở vị trí tiền phòng.


    The termination of the retina is called the ora serrata (arrows)

    Điểm tận cùng của võng mạc được gọi là ora serrata (mũi tên)

    Bong võng mạc và bong hắc mạc

    Máu có thể khu trú tại các vị trí sau:

    • Tiền phòng: xuất huyết tiền phòng trước
    • Hậu phòng: xuất huyết tiền phòng sau (quá nhỏ để quan sát)
    • Buồng dịch kính: xuất huyết dịch kính
    • Bong hắc mạc
    • Bong võng mạc

    Bong võng mạc có thể phân biệt với bong hắc mạc vì biểu mô võng mạc kết thúc tại ora serrata (hình minh họa).
    Rõ ràng, bong võng mạc sẽ không vượt quá điểm này.
    Bong võng mạc kèm xuất huyết thường gặp nhất ở người lớn mắc đái tháo đường và tăng huyết áp.
    Ở trẻ nhũ nhi, có thể gặp trong hội chứng rung lắc trẻ em (shaken baby syndrome).
    Trong bong hắc mạc, phẫu thuật nội nhãn gần đây là nguyên nhân liên quan thường gặp nhất, tiếp theo là chấn thương.


    Retinal detachment

    Bong võng mạc

    Ngoài cùng bên trái là hình CT của một trường hợp bong hắc mạc vượt quá vị trí 10 giờ và 2 giờ (với thủy tinh thể ở vị trí 12 giờ) và rõ ràng lan ra phía trước đến ora serrata.
    Có vẻ như vùng bong kết thúc tại thần kinh thị giác, nhưng nếu quan sát kỹ, bong hắc mạc thực sự vượt qua thần kinh thị giác.
    Điều này rất bất thường đối với bong võng mạc, nhưng đôi khi gặp trong bong hắc mạc.

    Bên phải là hình ảnh chuỗi xung T1W của một trường hợp bong võng mạc.
    Tổn thương kết thúc tại thần kinh thị giác và tại ora serrata.


    Choroidal detachment

    Bong hắc mạc

    Hình bên trái là hình ảnh của một trường hợp bong hắc mạc khác.


    Bilateral colobomas

    Coloboma hai bên

    Coloboma

    Coloboma là một dị tật bẩm sinh trong đó một phần của mắt không hình thành do sự thất bại trong quá trình liền của một cấu trúc phôi thai gọi là khe nội nhãn.
    Thường có kèm theo nhãn cầu nhỏ (microphtalmia) và nhãn cầu lồi ra phía dưới.
    Trong 10% trường hợp có kèm theo các bất thường hệ thần kinh trung ương khác.

    Hình bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân bị coloboma hai bên.


    Colobomas

    Coloboma

    Coloboma có thể là một phần của hội chứng CHARGE:

    • Coloboma
    • Dị tật tim (Heart anomalies)
    • Teo lỗ mũi sau (choanalAtresia)
    • Chậm tăng trưởng và phát triển (Rchậm phát triển)
    • Dị tật sinh dục và tai (Gsinh dục và Ear anomalies).

    Coloboma cũng có thể là một phần của hội chứng COACH:

    • Thiểu sản nhung

      Bệnh lý trong nón cơ


      Neuromyelitis optica

      Viêm tủy thị thần kinh (Neuromyelitis optica)

      Hội chứng Devic

      Hội chứng Devic còn được gọi là viêm tủy thị thần kinh (neuromyelitis optica).
      Hãy quan sát hình ảnh trước, sau đó chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn.
      Trên hình bên trái, thần kinh thị giác bên phải có hình ảnh bình thường.
      Lưu ý rằng thần kinh thị giác là một bó chất trắng.
      Nó có cùng cường độ tín hiệu với chất trắng trong não.
      Ở phía đối bên, thần kinh thị giác có tín hiệu tăng cao.
      Đây là tổn thương ngoài nhãn cầu trong nón cơ, và chúng ta cần nghĩ đến các bệnh lý tân sinh so với bệnh lý mất myelin.
      Tiếp tục xem hình ảnh tiếp theo.


      Neuromyelitis optica

      Viêm tủy thị thần kinh (Neuromyelitis optica)

      Bên trái là hình ảnh chuỗi xung FLAIR kết hợp kỹ thuật ức chế mỡ (fat-sat).
      Lưu ý tín hiệu bất thường và thực tế là thần kinh thị giác không bị phì đại, điều này giúp loại trừ khả năng u.


      Devic's syndrome

      Hội chứng Devic

      Hình ảnh tủy sống cổ cho thấy một đoạn dài tổn thương không chiếm chỗ.
      Dựa trên các hình ảnh này, chẩn đoán phân biệt bao gồm xơ cứng rải rác (MS) và hội chứng Devic (còn gọi là viêm tủy thị thần kinh).
      Do MS phổ biến hơn nhiều, đây sẽ là chẩn đoán có khả năng nhất, nhưng trường hợp này thực tế là hội chứng Devic.

      Một số tác giả coi hội chứng Devic là một thể của MS, tuy nhiên hội chứng Devic khác với MS ở các điểm sau:

      1. Bệnh nhân có tình trạng rất nặng, do hội chứng Devic có diễn tiến cấp tính và ác tính hơn.
      2. Thường có sự kết hợp giữa mù một mắt và liệt hai chi dưới do tổn thương viêm tủy cắt ngang đoạn dài (trong MS thường chỉ một hoặc hai đoạn).
      3. Hội chứng Devic thường có diễn tiến đơn pha.
      4. Thường không có mảng xơ cứng ở não.

      Multiple sclerosis

      Xơ cứng rải rác (Multiple sclerosis)

      Xơ cứng rải rác (MS)

      Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân khác, cũng có viêm thần kinh thị giác.
      Có tín hiệu tăng trong thần kinh thị giác và trong não có nhiều tổn thương là hậu quả của MS.
      Các tổn thương này không xuất hiện cùng một thời điểm, do đó có sự phân tán theo thời gian và không gian, đây là đặc điểm đặc trưng của MS.

      • 50% bệnh nhân viêm thần kinh thị giác cuối cùng sẽ tiến triển thành MS.
        50% còn lại có viêm thần kinh thị giác đơn độc (xem chẩn đoán phân biệt ở trên).
      • 80% bệnh nhân MS sẽ có biểu hiện viêm thần kinh thị giác tại một thời điểm nào đó trong quá trình bệnh.

      Meningioma

      U màng não (Meningioma)

      U màng não (Meningioma)

      Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân khác với tổn thương ngoài nhãn cầu trong nón cơ.
      Hãy quan sát hình ảnh, mô tả và đưa ra chẩn đoán phân biệt (tạm thời bỏ qua tiêu đề của đoạn này là u màng não).

      Các thần kinh thị giác bình thường, nhưng có hình ảnh ngấm thuốc dạng khối bất thường của bao thần kinh thị giác bên trái.
      Do đó đây có thể là một u tân sinh, và trong số các u tân sinh, u màng não là u bao thần kinh thị giác phổ biến nhất.
      U màng não biểu hiện rối loạn thị giác sớm trong quá trình bệnh do bệnh lý thần kinh thiếu máu cục bộ gây ra bởi tắc nghẽn tĩnh mạch.
      Về mặt lâm sàng, biểu hiện này là đĩa thị nhợt nhạt.

      Ngấm thuốc bất thường của bao thần kinh thị giác
      Bên trái là bảng chẩn đoán phân biệt của tình trạng ngấm thuốc bất thường bao thần kinh thị giác, còn được gọi là
      dấu hiệu đường ray xe điện (tram track sign) của thần kinh thị giác.
      U màng não của bao thần kinh là kết quả của sự phát triển dưới màng cứng dẫn đến mất thị lực tiến triển, phù gai thị, teo thần kinh thị giác.
      Có mối liên quan chặt chẽ với bệnh u xơ thần kinh type 2 (NF-2).
      Đĩa thị nhợt nhạt là do suy giảm dẫn lưu tĩnh mạch.
      Vôi hóa được ghi nhận trong 20-50% trường hợp.
      Gieo rắc vào khoang dưới nhện là một nguyên nhân khác gây ngấm thuốc bất thường của bao thần kinh thị giác, do bao thần kinh thị giác thông với khoang dưới nhện nội sọ.


      Optic glioma. CT and MR T1WI

      U thần kinh đệm thị giác. CT và MRI chuỗi xung T1W

      U thần kinh đệm thị giác

      Hãy quan sát hình ảnh bên trái trước.
      Bên nào bất thường và chẩn đoán có khả năng nhất là gì?

      Có hình ảnh thiểu sản cánh xương bướm bên phải và bên trái thần kinh thị giác gần giao thoa thị giác bị phì đại (thấy rõ trên MRI).
      Do đó chẩn đoán là bệnh u xơ thần kinh type I (NF-1) với thiểu sản cánh xương bướm và u thần kinh đệm đường thị giác.


      Optic glioma in NF1

      U thần kinh đệm thị giác trong bệnh NF1

      Thuật ngữ “u thần kinh đệm thị giác” thực ra không hoàn toàn chính xác.
      Trên thực tế, u có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào dọc theo đường thị giác, từ vùng chẩm đến giao thoa thị giác và thần kinh thị giác.
      Thuật ngữ “u thần kinh đệm” cũng khá không đặc hiệu.
      Các u này là u tế bào hình sao lông mao thể trẻ (juvenile pilocytic astrocytoma) WHO độ 1, là dạng lành tính nhất của u tế bào hình sao.
      Chúng chiếm 4% tổng số u hốc mắt.
      Hơn 50% bệnh nhân có u thần kinh đệm thị giác mắc bệnh NF1, nhưng trong số bệnh nhân NF1 chỉ khoảng 10% có u thần kinh đệm thị giác.
      U ít có dạng nang hơn trong NF so với không có NF.
      Tuổi trung bình khi chẩn đoán là 4-5 tuổi và chỉ 20% bệnh nhân có triệu chứng thị giác, vì u thần kinh đệm không ảnh hưởng đến thần kinh thị giác sớm và vì trẻ nhỏ không phàn nàn về vấn đề thị lực.

      Bên trái là một trường hợp khác với hình ảnh điển hình hơn của u thần kinh đệm thị giác cũng ở bệnh nhân NF1.


      LEFT: multiple iris hamartomas (Lisch nodules) RIGHT: axillary freckling (small brown spots)  and caf? au lait spots

      TRÁI: nhiều u mô thừa mống mắt (nốt Lisch) PHẢI: tàn nhang vùng nách (đốm nâu nhỏ) và đốm cà phê sữa (café au lait spots)

      Tiêu chuẩn chẩn đoán NF1 được xác lập khi một cá nhân có từ 2 dấu hiệu trở lên trong số các dấu hiệu sau:

      • Sáu hoặc nhiều hơn đốm cà phê sữa (café au lait macules)
      • Hai hoặc nhiều hơn u xơ thần kinh bất kỳ loại nào, hoặc 1 u xơ thần kinh đám rối
      • Nhiều tàn nhang ở vùng nách hoặc bẹn
      • Loạn sản xương
      • U thần kinh đệm thị giác
      • Hai hoặc nhiều hơn u mô thừa mống mắt (nốt Lisch)
      • Người thân bậc một mắc bệnh NF1

      Bệnh lý vùng nón cơ


      Thyroid eye disease

      Bệnh mắt tuyến giáp

      Bệnh mắt tuyến giáp

      Hãy quan sát các hình ảnh bên trái, mô tả chúng và đưa ra chẩn đoán phân biệt, đồng thời tạm thời bỏ qua tiêu đề của đoạn này.

      Chẩn đoán là bệnh mắt tuyến giáp và chẩn đoán phân biệt là giả u hốc mắt.
      Chúng ta sẽ thảo luận ngay sau đây về cách phân biệt hai bệnh lý này.
      Trước đây, thuật ngữ bệnh nhãn khoa Graves được sử dụng.
      Tuy nhiên, điều này gợi ý rằng bệnh nhân đang trong tình trạng cường giáp.
      Ngày nay, chúng ta biết rằng những bệnh nhân được điều trị bệnh Graves có thể có chức năng tuyến giáp bình thường hoặc thậm chí suy giáp mà vẫn có thể phát triển bệnh mắt tuyến giáp, do đó hiện nay chúng ta sử dụng thuật ngữ bệnh mắt tuyến giáp.
      Nguy cơ lớn nhất của bệnh mắt tuyến giáp là bệnh lý thần kinh thị giác do chèn ép, có thể do chèn ép trực tiếp bởi các cơ hoặc do thiếu máu cục bộ gây ra bởi sự chèn ép các mạch máu.
      Đặc điểm then chốt cần tìm kiếm là đỉnh hốc mắt.
      Nếu không thấy mô mỡ xung quanh đỉnh hốc mắt, khả năng cao có tình trạng chèn ép.
      Những bệnh nhân này được điều trị bằng phẫu thuật giải áp qua nội soi, trong đó thành trong của hốc mắt (tức là lá giấy – lamina papyracea) được phá vỡ.


      Pseudotumor of the orbit

      Giả u hốc mắt

      Giả u

      Hãy quan sát các hình ảnh bên trái.
      Đây là một trường hợp giả u.
      Giả u là tình trạng viêm vô căn của hốc mắt.
      Bệnh có thể ảnh hưởng đến mọi thành phần của hốc mắt: cơ, gân, mô mỡ, thần kinh thị giác, bao thần kinh, tuyến lệ, v.v.


      Thyroid eye disease versus pseudotumor

      Bệnh mắt tuyến giáp so với giả u

      Điểm phân biệt then chốt giữa giả u và bệnh mắt tuyến giáp là trong giả u, không chỉ các cơ mà cả các gân cũng bị tổn thương.
      Những bệnh nhân này cảm thấy đau khi cử động mắt do các gân bị kích thích.
      Trên hình ảnh bên trái ngoài cùng, hãy chú ý sự thon nhỏ dần của cơ bị phù nề tại điểm bám gân ở bệnh nhân mắc bệnh mắt tuyến giáp.
      Bên cạnh đó là hình ảnh của bệnh nhân mắc giả u.
      Hãy chú ý rằng tình trạng phù nề lan rộng đến tận điểm bám gân.

      Bệnh lý ngoài nón cơ


      Periorbital abscess

      Áp xe quanh hốc mắt

      Áp xe quanh hốc mắt

      Bên trái là hình ảnh CT không tiêm thuốc cản quang của một bệnh nhân có áp xe màng xương hoặc áp xe quanh hốc mắt rõ ràng do biến chứng của viêm xoang sàng.
      Điểm cần lưu ý như sau:
      Không cần chờ có viền ngấm thuốc ngoại vi mới chẩn đoán áp xe!
      Ở các vị trí khác, chúng ta thường chờ có viền ngấm thuốc rõ ràng mới chẩn đoán áp xe, nếu không có thì gọi là viêm mô tế bào (phlegmone).
      Điều trị là điều trị viêm xoang.


      Periorbital abscess

      Áp xe quanh hốc mắt

      Đây là hình ảnh MRI của một bé trai 11 tuổi, có biểu hiện kích thích mắt phải vào tối hôm trước và thức dậy với tình trạng lồi mắt.

      Hình ảnh chuỗi xung T1W có tiêm thuốc tương phản từ kết hợp kỹ thuật xóa mỡ (fatsat) thể hiện rõ ràng áp xe quanh hốc mắt là nguyên nhân gây lồi mắt.

      Lưu ý hình ảnh viêm xoang sàng.

      Điểm quan trọng tiếp theo cần lưu ý là:
      Ở trẻ em, cần hết sức thận trọng với sự lan rộng ra ngoài xoang!
      Bất kỳ thay đổi nào bên ngoài xoang đều nên được chẩn đoán là áp xe.
      Ở trẻ em, màng xương quanh hốc mắt có nhiều lỗ thông hơn và bệnh sẽ dễ dàng lan rộng.
      Vì vậy, hãy mạnh dạn chẩn đoán áp xe ngay cả khi chỉ có những bất thường nhỏ.

      Áp xe quanh hốc mắt có thể dẫn đến huyết khối tĩnh mạch mắt trên và dưới.
      Trong một số trường hợp viêm xoang do nấm (ví dụ: aspergillosis), có thể xảy ra huyết khối xoang hang và rò động mạch cảnh – xoang hang.


      Orbital cellulitis

      Viêm mô tế bào hốc mắt

      Viêm mô tế bào hốc mắt và quanh hốc mắt

      Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân nhập cấp cứu với biểu hiện ‘mắt đỏ nóng’ và lồi mắt.
      Sự phân biệt giữa viêm mô tế bào hốc mắt và viêm mô tế bào quanh hốc mắt là rất quan trọng và dựa trên một cấu trúc giải phẫu gọi là vách ngăn hốc mắt.
      Nếu bệnh nhân vào cấp cứu với mắt đỏ nóng và tình trạng viêm chỉ liên quan đến vách ngăn hốc mắt và các cấu trúc nông hơn, chẩn đoán là viêm mô tế bào quanh hốc mắt và bệnh nhân được điều trị kháng sinh đường uống ngoại trú.
      Tuy nhiên, trong trường hợp bên trái, các cấu trúc phía sau vách ngăn cũng bị tổn thương.
      Bệnh nhân này bị viêm mô tế bào hốc mắt và cần nhập viện để điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch.


      Fibrous dysplasia of the sphenoid wing

      Loạn sản xơ cánh xương bướm

      Tổn thương cánh xương bướm

      Bên trái là hình ảnh CT của một bệnh nhân bị lồi mắt do tổn thương cánh xương bướm.

      Có bốn loại tổn thương cánh xương bướm có thể gây lồi mắt:

      • Loạn sản cánh xương bướm
      • Loạn sản xơ
      • Bệnh Paget
      • U màng não kèm tăng sinh xương cánh xương bướm

      Meningioma with hyperostosis of sphenoid wing and proptosis

      U màng não kèm tăng sinh xương cánh xương bướm và lồi mắt

      Đây là hình ảnh của một bệnh nhân có tình trạng lồi mắt tiến triển chậm.

      Trên chuỗi xung T2W, thấy hình ảnh tăng sinh xương cánh xương bướm phải, tương ứng với hình ảnh trên CT.
      Lưu ý tổn thương ngoài trục nhỏ (mũi tên).
      Đây là u màng não.
      Trên hình ảnh chuỗi xung T1W mặt phẳng coronal sau tiêm Gadolinium, có thể thấy sự ngấm thuốc của u màng não.

      Khi u màng não phát triển theo kiểu lan rộng dọc theo nền sọ như vậy, nó còn được gọi là u màng não dạng mảng (meningioma en plaque).

      Tổn thương tuyến lệ

      Các tổn thương tuyến lệ được liệt kê trong bảng bên trái. Các bệnh lý viêm là những tổn thương phổ biến nhất của tuyến lệ (ví dụ: hội chứng Sjögren, lao, nấm, u giả viêm). Các bệnh lý này không tạo thành khối.

      Khối thường gặp nhất của tuyến lệ là u lympho, tiếp theo là u tuyến đa hình (pleomorphic adenoma). Các u biểu mô bao gồm u nang tuyến dạng sàng (adenoid cystic tumor) ít gặp hơn.

      Dị Dạng Mạch Máu

      Dị dạng mạch máu có thể nằm trong khoang nón cơ, ngoài khoang nón cơ hoặc đa khoang, đó là lý do tại sao chúng không được thảo luận trong các phân loại ở trên.
      Trước khi trình bày một số ca lâm sàng, chúng ta cần thảo luận về
      hệ thống phân loại Mulliken và Glowacki dùng để phân loại các bất thường mạch máu vùng đầu cổ, hiện đã được chấp nhận rộng rãi.


      Capillary hemangioma

      U máu mao mạch

      U máu mao mạch

      Tổn thương đầu tiên trong hệ thống phân loại Mulliken & Glowacki là u máu mao mạch.

      U máu mao mạch có các đặc điểm sau:

      • Là một khối u thực sự với giai đoạn tăng trưởng từ 6-12 tháng tuổi và giai đoạn thoái triển từ 5-7 tuổi.
      • Chủ yếu nằm ở da, nhưng cũng có thể gặp ở khoang ngoài nón cơ của mắt.
      • Thường tự thoái triển, nhưng đôi khi được điều trị bằng corticosteroid, laser hoặc interferon.
      • Có thể là một phần của hội chứng PHACE: Dị dạng hố Sau (Dị tật hố sau),bạn máu (Hemangiomas), Bất thường Động mạch (Arterial anomalies), Dị dạng Tim mạch (Cardiac malformation) và Bất thường Mắt (Eye abnormalities) như tật khuyết mống mắt (coloboma), tăng nhãn áp (glaucoma).

      Venous vascular malformation

      Dị dạng mạch máu tĩnh mạch

      Dị Dạng Mạch Máu Tĩnh Mạch

      Tổn thương thứ hai trong hệ thống phân loại Mulliken & Glowacki là dị dạng mạch máu tĩnh mạch.
      Bên trái là hình ảnh của một dị dạng mạch máu tĩnh mạch.
      Có một tổn thương trong khoang nón cơ kèm theo sỏi tĩnh mạch (phlebolith).
      Hầu hết là đơn thùy, nhưng trường hợp này là đa thùy.

      Dị dạng mạch máu tĩnh mạch có các đặc điểm sau:

      • Khối trong khoang nón cơ thường gặp nhất ở người lớn
      • Thường gặp nhất ở phụ nữ, độ tuổi trung bình 45 tuổi, với sự phát triển to dần chậm
      • Còn được gọi là dị dạng hang (cavernous malformation), tuy nhiên thuật ngữ này không nên được sử dụng nữa
      • Tổn thương này đặc trưng bởi sỏi tĩnh mạch (phleboliths) và có thể là một phần của hội chứng Maffucci và hội chứng Blue Rubber Bleb
      • Có thể theo dõi, nhưng thường tổn thương sẽ phát triển to theo thời gian và có thể cần can thiệp phẫu thuật

      Lymphatic malformation with fluid-fluid levels locaed both in the intraconal and in the extraconal compartment.

      Dị dạng bạch mạch với mức dịch-dịch nằm cả trong khoang nón cơ và khoang ngoài nón cơ.

      Dị dạng bạch mạch

      Thực thể tiếp theo là dị dạng bạch mạch hoặc dị dạng tĩnh mạch-bạch mạch.
      Đây là những vùng nang nhỏ, thường chảy máu sau chấn thương nhẹ.
      Chúng có thể có tín hiệu cao trên chuỗi xung T1W do hàm lượng protein cao hoặc xuất huyết.
      Thường không ngấm thuốc tương phản từ trừ khi có thành phần tĩnh mạch, thành phần này có thể ngấm thuốc.
      Tổn thương này thuộc nhóm “u nang bạch huyết” (cystic hygroma).

      Các đặc điểm khác bao gồm:

      • Khởi phát ở trẻ em (60% trước 16 tuổi)
      • Có thể xuất huyết đột ngột tạo thành mức dịch-dịch
      • Có thể nằm ngoài khoang nón cơ hoặc đa khoang
      • Liên quan đến các dị dạng nội sọ như trong hội chứng Turner hoặc hội chứng thai nhi do rượu
      • Không ngấm thuốc tương phản từ trong các tổn thương bạch mạch thuần túy

      Varix visible during valsalva at the moment of sneezing.

      Giãn tĩnh mạch hốc mắt hiện rõ trong nghiệm pháp Valsalva tại thời điểm hắt hơi.

      Giãn tĩnh mạch hốc mắt

      Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch hốc mắt, người này nhận thấy mắt trái bị lồi ra khi rặn. Hình trên là lúc nghỉ ngơi và hình dưới là trong nghiệm pháp Valsalva tại thời điểm hắt hơi. Trong nghiệm pháp Valsalva, tĩnh mạch giãn giãn nở cực độ (mũi tên đỏ). Lưu ý rằng trong nghiệm pháp Valsalva, tĩnh mạch mắt trên ở bên bình thường cũng giãn ra (mũi tên xanh).

      Kết luận

      Các vấn đề quan trọng cần ghi nhớ:

      • Cách phân biệt viêm mô tế bào hốc mắt và viêm mô tế bào quanh hốc mắt.
      • Trong trường hợp vỡ nhãn cầu, không chỉ quan sát dịch kính xem có bị xẹp hay không, mà cần quan sát cả tiền phòng.
      • Phân biệt bong võng mạc và bong hắc mạc.

      Và hãy nghĩ đến VITAMIN C và D

      • Vascular (Mạch máu): Giãn tĩnh mạch và u máu
      • Infectious (Nhiễm trùng): Áp xe dưới màng xương và viêm mô tế bào hốc mắt
      • Traumatic (Chấn thương): Xuất huyết tiền phòng, bong tách
      • Acquired (Mắc phải): Bệnh mắt do tuyến giáp, loạn sản cánh xương bướm
      • Metabolic (Chuyển hóa): Bệnh mắt do tuyến giáp
      • Idiopathic (Vô căn): Giả u, Sarcoidosis, Hội chứng Devic
      • Neoplastic (Tân sinh): U nguyên bào võng mạc, U hắc tố, Lan rộng quanh thần kinh, U màng não và u thần kinh đệm dây thần kinh thị giác
      • Congenital (Bẩm sinh): Khuyết mống mắt-hắc mạc, Loạn sản vách ngăn-thị giác, U nguyên bào võng mạc, NFBT
      • Drugs (Thuốc): Chloramphenicol, Ethambutol

      Từ thiện

      Toàn bộ lợi nhuận từ Radiology Assistant được chuyển đến tổ chức Medical Action Myanmar, do Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis (giáo sư tại Đại học Oxford, đồng thời là anh trai của Robin Smithuis) điều hành.

      Nhấn vào đâyđể xem video về Medical Action Myanmar. Nếu bạn thấy Radiology Assistant hữu ích, xin hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Bản đồ hạch lympho cổ

    Bản Đồ Hạch Bạch Huyết Cổ

    chỉnh sửa từ phân loại Robbins

    Aurelia Fairise và Robin Smithuis

    Viện Ung thư Lorraine tại Nancy, Pháp và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Bài viết này dựa trên danh pháp được đề xuất bởi Hội Đầu Cổ Hoa Kỳ và Học viện Tai Mũi Họng – Phẫu thuật Đầu Cổ Hoa Kỳ.

    10 nhóm hạch được xác định với mô tả ngắn gọn về các ranh giới giải phẫu chính, các cấu trúc bình thường tiếp giáp với các hạch này, và các vị trí khối u chính có nguy cơ di căn đến các tầng tương ứng [1].

    Tổng quan

    Trong bản đồ hạch bạch huyết cổ này, các tầng được mở rộng lên đến 10.

    Một số tầng trong đó được chia thành các tầng phụ để tương ứng đầy đủ hơn với atlas TNM.

    Các mốc giải phẫu

    Các mốc giải phẫu quan trọng bao gồm:

    • Xương móng
    • Sụn nhẫn
    • Động mạch cảnh
    • Cơ ức đòn chũm
    • Cán xương ức

    CT Scan Mặt Cắt Ngang (Axial CT)


    Các lát cắt CT mặt phẳng ngang tương ứng với hình minh họa tổng quan.


    Các lát cắt CT mặt phẳng ngang với hình ảnh chi tiết hơn.
    Nhấp vào hình ảnh để phóng to.

    Các tầng hạch

    I – Dưới cằm và dưới hàm

    Các hạch bạch huyết ở tầng I có nguy cơ phát triển di căn từ các ung thư khoang miệng, hốc mũi trước, mô mềm vùng mặt giữa và tuyến dưới hàm.


    Tầng Ia
    là vùng giữa nằm giữa bụng trước của các cơ nhị thân, chứa các hạch dưới cằm.

    Tầng Ib
    chứa các hạch dưới hàm nằm trong khoang giữa mặt trong của xương hàm dưới ở phía ngoài và cơ nhị thân ở phía trong, từ khớp mu cằm ở phía trước đến tuyến dưới hàm ở phía sau.

    II – Tĩnh mạch cảnh trên

    Tầng II nhận bạch huyết hướng tâm từ mặt, tuyến mang tai, và các hạch dưới hàm, dưới cằm và sau hầu.
    Tầng II cũng nhận trực tiếp các bạch mạch thu thập từ hốc mũi, hầu, thanh quản, ống tai ngoài, tai giữa, và các tuyến dưới lưỡi và dưới hàm [1].

    Tầng II có thể được chia thành tầng IIa và tầng IIb bằng cách vẽ một đường tại bờ sau của tĩnh mạch cảnh trong.


    Các hạch bạch huyết ở tầng IIa và IIb có nguy cơ chứa di căn từ các ung thư hốc mũi và khoang miệng, vòm hầu, hầu miệng, hạ hầu, thanh quản và các tuyến nước bọt lớn.

    Tầng IIb thường liên quan hơn đến các khối u nguyên phát ở hầu miệng hoặc vòm hầu, và ít thường xuyên hơn với các khối u ở khoang miệng, thanh quản hoặc hạ hầu [1].

    III – Tĩnh mạch cảnh giữa

    Tầng III nhận các bạch mạch hướng tâm từ tầng II và V, và một số bạch mạch hướng tâm từ các hạch sau hầu, trước khí quản và thần kinh thanh quản quặt ngược.
    Tầng này thu nhận bạch huyết từ đáy lưỡi, amidan, thanh quản, hạ hầu và tuyến giáp.


    Bờ dưới của sụn nhẫn là ranh giới giữa tầng III và tầng IVA.

    Các hạch bạch huyết ở tầng III có nguy cơ chứa di căn từ các ung thư khoang miệng, vòm hầu, hầu miệng, hạ hầu và thanh quản.

    IV – Tĩnh mạch cảnh dưới và hố thượng đòn trong

    Ranh giới giữa tầng IVa và IVb được xác định tùy ý tại vị trí 2 cm phía trên khớp ức đòn.


    Tầng IVa
    Các hạch này có nguy cơ chứa di căn từ các ung thư hạ hầu, thanh quản, tuyến giáp và thực quản cổ.
    Hiếm gặp hơn, di căn từ khoang miệng trước có thể biểu hiện tại vị trí này với tổn thương hạch gần tối thiểu hoặc không có.

    Tầng IVb
    Các hạch này có nguy cơ chứa di căn từ các ung thư hạ hầu, thanh quản dưới thanh môn, khí quản, tuyến giáp và thực quản cổ.

    V – Tam giác cổ sau và hố thượng đòn

    Tầng V chứa các hạch của nhóm tam giác cổ sau nằm ở phía sau cơ ức đòn chũm, xung quanh phần dưới của thần kinh phụ gai sống và các mạch máu cổ ngang.

    Các hạch bạch huyết ở tầng V thường liên quan nhất đến các ung thư nguyên phát của vòm hầu, hầu miệng, các cấu trúc da vùng da đầu phía sau và tuyến giáp.


    Tầng Vc – Hố thượng đòn

    Tầng này chứa các hạch thượng đòn bên nằm trong phần tiếp nối của các hạch tam giác cổ sau (tầng Va và Vb) từ các mạch máu cổ ngang xuống đến giới hạn được xác định tùy ý tại vị trí 2 cm phía trên cán ức.
    Tầng này tương ứng một phần với vùng được gọi là hố thượng đòn.

    Tầng Vc nhận các bạch mạch hướng tâm từ các hạch tam giác cổ sau (tầng Va và Vb) và thường liên quan hơn đến các khối u vòm hầu [1].

    Động mạch cổ ngang
    Cuộn qua các hình ảnh để xem giải phẫu của động mạch cổ ngang.

    VI – Cổ trước

    Tầng này chứa các hạch tĩnh mạch cảnh trước nông (tầng VIa) và các hạch sâu hơn bao gồm hạch trước thanh quản, trước khí quản, cạnh khí quản và hạch thần kinh thanh quản quặt ngược (tầng VIb).


  • Bệnh lý xương thái dương

    Bệnh Lý Xương Thái Dương

    Eric Beek và Frank Pameijer

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Mục tiêu của bài trình bày này là mô tả các đặc điểm hình ảnh của các bệnh lý thường gặp tại xương thái dương.
    CT là phương thức chẩn đoán hình ảnh được lựa chọn cho hầu hết các tình trạng bệnh lý của xương thái dương, đặc biệt là các bệnh lý ở tai giữa.
    MRI có giá trị hơn trong chẩn đoán các bệnh lý của tai trong.
    Các quá trình bệnh lý tại góc cầu tiểu não và ống tai trong không được đề cập trong bài này.

    Biến thể bình thường


    Illustration of a cholesteatoma

    Minh họa hình ảnh u cholesteatoma

    Có một số biến thể bình thường có thể bắt chước hình ảnh bệnh lý hoặc cần được ghi nhận trong báo cáo vì chúng có thể gây nguy hiểm cho đường tiếp cận phẫu thuật.

    Các biến thể có thể bắt chước bệnh lý:

    • Khe hở ốc tai (xốp xơ tai)
    • Ống đá chũm (đường gãy xương)
    • Cống ốc tai (đường gãy xương)

    Các biến thể có thể gây nguy hiểm trong phẫu thuật:

    • Hành tĩnh mạch cảnh cao hoặc túi thừa hành tĩnh mạch cảnh
    • Xoang sigma phồng

    Bên trái là hình minh họa u cholesteatoma.
    Tổn thương này sẽ được thảo luận ở phần sau.


    Bilateral cochlear cleft presents as a line-like lucency lateral to the cochlear apex. (arrows)

    Khe hở ốc tai hai bên biểu hiện là đường thấu quang dạng đường thẳng ở phía ngoài đỉnh ốc tai. (mũi tên)

    Khe hở ốc tai

    Khe hở ốc tai là một đường thấu quang hẹp, cong, kéo dài từ ốc tai về phía mỏm nhô.
    Hình ảnh này thường thấy ở trẻ sơ sinh và trẻ em, nhưng cũng có thể gặp ở người lớn.
    Có thể nhầm lẫn với đường gãy xương hoặc ổ xốp xơ tai.

    Bên trái là ví dụ về khe hở ốc tai hai bên ở một bé trai một tuổi bị nghe kém bẩm sinh.


    Petromastoid canal

    Ống đá chũm

    Ống đá chũm

    Ống đá chũm hay còn gọi là ống dưới cung nối thông hang chũm với khoang sọ, chứa động mạch và tĩnh mạch dưới cung.
    Đường kính của ống khoảng 0,5 mm.
    Có thể nhầm lẫn với đường gãy xương.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân nữ 40 tuổi với xương chũm xơ cứng.
    Ống đá chũm được nhìn thấy rõ ràng. (mũi tên)


    Petromastoid canal

    Ống đá chũm

    Bên trái là hình ảnh xương chũm thông bào tốt.
    Ống đá chũm khó phân biệt (mũi tên).


    Petromastoid canal

    Ống đá chũm

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân khác với xương chũm xơ cứng.
    Ống đá chũm được nhìn thấy rõ ràng.
    Nếu bệnh nhân này là nạn nhân chấn thương, ống này có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với đường gãy xương (mũi tên).


    Cochlear aqueduct

    Cống ốc tai

    Cống ốc tai

    Cống ốc tai nối thông dịch ngoại bạch huyết với khoang dưới nhện.
    Cống ốc tai là một ống hẹp chạy về phía ốc tai theo hướng gần như song song với ống tai trong, nhưng nằm ở vị trí thấp hơn.
    Đây là điểm mà dịch não tủy bị nhiễm khuẩn có thể xâm nhập vào tai trong.
    Điều này có thể xảy ra ở bệnh nhân viêm màng não và gây ra viêm mê đạo xương hóa.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân nam 58 tuổi.
    Mũi tên màu xanh chỉ cống ốc tai đi về phía ốc tai.
    Hình ảnh này có thể bị nhầm lẫn với đường gãy xương (mũi tên).
    Lưu ý có hình ảnh mờ đục của hòm nhĩ và các tế bào khí xương chũm.


    High jugular bulb: axial and coronal image

    Hành tĩnh mạch cảnh cao: hình ảnh cắt ngang và cắt vành

    Hành tĩnh mạch cảnh cao

    Bên trái là hình ảnh cắt ngang và cắt vành của một bệnh nhân nam 64 tuổi.
    Hành tĩnh mạch cảnh nhô lên cao hơn bờ dưới của ống bán khuyên sau (mũi tên).

    Hành tĩnh mạch cảnh thường không đối xứng, với hành tĩnh mạch cảnh bên phải thường lớn hơn bên trái.
    Khi hành tĩnh mạch cảnh vượt lên trên ống bán khuyên sau, được gọi là hành tĩnh mạch cảnh cao.
    Khi vách xương ngăn cách giữa hành tĩnh mạch cảnh và hòm nhĩ bị khuyết, được gọi là hành tĩnh mạch cảnh hở.
    Hiếm gặp hơn là hình ảnh túi phình nhỏ – được gọi là túi thừa hành tĩnh mạch cảnh.


    Jugular bulb diverticulum: axial and coronal image

    Túi thừa hành tĩnh mạch cảnh: hình ảnh cắt ngang và cắt vành

    Túi thừa hành tĩnh mạch cảnh

    Bên trái là hình ảnh cắt ngang và cắt vành của một bệnh nhân nam 50 tuổi.
    Phát hiện tình cờ túi thừa hành tĩnh mạch cảnh (mũi tên).


    Bulging sigmoid sinus

    Xoang sigma phồng

    Xoang sigma phồng

    Xoang sigma có thể lồi vào phần sau xương chũm.
    Xoang sigma có thể bị rách vô ý trong quá trình phẫu thuật khoét chũm, do đó cần được đề cập trong báo cáo chẩn đoán hình ảnh khi phát hiện.

    Bên trái là hình ảnh cắt ngang của một bệnh nhân nam 43 tuổi, sau phẫu thuật khoét chũm.
    Xoang sigma phồng về phía trước

    Dị tật bẩm sinh


    Large vestibular aqueduct bilaterally (black arrows). The bony modiolus is not visible (white arrow).

    Cống tiền đình giãn rộng hai bên (mũi tên đen). Trụ ốc tai xương không quan sát thấy (mũi tên trắng).

    Cống tiền đình giãn rộng

    Cống tiền đình là một ống xương hẹp (cống) nối túi nội dịch với tai trong (tiền đình).
    Chạy qua ống xương này là một ống gọi là ống nội dịch.
    Cống tiền đình giãn rộng có liên quan đến tình trạng nghe kém tiếp âm tiến triển.
    Sự tiến triển này được cho là có liên quan đến chấn thương đầu nhẹ, làm tai trong tiếp xúc với sóng áp lực qua cống tiền đình giãn rộng.
    Cống tiền đình giãn rộng có liên quan đến sự vắng mặt của trụ ốc tai xương ở hơn 90% bệnh nhân.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân có cống tiền đình giãn rộng hai bên.
    Lưu ý rằng trụ ốc tai xương không quan sát thấy.

    Bên trái là hình ảnh của một bé trai 5 tuổi với tình trạng nghe kém tiến triển hai bên.
    Quan sát thấy cống tiền đình giãn rộng (mũi tên đen).
    Ốc tai không có trụ ốc tai xương (mũi tên trắng).


    External auditory canal atresia

    Teo ống tai ngoài

    Teo ống tai ngoài

    Trong teo tai ngoài, ống tai ngoài không được phát triển và âm thanh không thể đến được màng nhĩ.
    Hậu quả là nghe kém dẫn truyền.
    Điều quan trọng cần lưu ý là tấm teo cấu thành từ mô mềm hay xương.
    Mức độ dị dạng chuỗi xương con có thể thay đổi từ sự hợp nhất của đầu xương búa và thân xương đe đến một cụm nhỏ các xương con dị dạng, thường hợp nhất với thành hòm nhĩ.
    Phần xương chũm của ống thần kinh mặt có thể nằm ở vị trí trước hơn so với bình thường, và điều này cần được báo cáo cho phẫu thuật viên tai mũi họng để tránh tổn thương thần kinh do thầy thuốc trong quá trình phẫu thuật.

    Bên trái là hình ảnh của một bé trai 2 tuổi với teo ống tai ngoài xương hai bên.
    Xương búa và xương đe hợp nhất (mũi tên).
    Ốc tai bình thường.


    Minor cochlear deformity

    Dị dạng ốc tai mức độ nhẹ

    Dị dạng ốc tai

    Ốc tai phát triển trong khoảng từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 10 của thai kỳ.
    Ngừng phát triển sớm dẫn đến tai trong chỉ bao gồm một nang nhỏ, gọi là dị dạng Michel.
    Ngừng phát triển ở giai đoạn muộn hơn dẫn đến các dị dạng ít hoặc nhiều nghiêm trọng của ốc tai và bộ máy tiền đình.
    Phân vách không hoàn toàn của ốc tai được gọi là dị dạng Mondini.
    Thay vì hai vòng rưỡi bình thường, chỉ có một vòng đáy bình thường và một đỉnh dạng nang.

    Bên trái là hình ảnh của một bé gái 2 tuổi.
    Các hình ảnh từ kết quả chụp CT được thực hiện trước khi cấy ốc tai điện tử.
    Quan sát thấy dị dạng nhẹ ở đỉnh ốc tai – không có sự phân tách giữa vòng thứ hai và vòng thứ ba, và trụ ốc tai xương vắng mặt.
    Cống tiền đình bình thường.


    Malformed lateral semicircular canal

    Dị dạng ống bán khuyên ngoài

    Dị dạng ống bán khuyên ngoài

    Các dị dạng của tiền đình và ống bán khuyên có thể thay đổi từ một khoang chung cho tất cả các cấu trúc này đến ống bán khuyên ngoài kém phát triển.
    Trong quá trình phôi thai học, ống bán khuyên ngoài là cấu trúc hình thành cuối cùng, do đó trong các dị dạng của ống bán khuyên, ống ngoài thường bị ảnh hưởng nhiều nhất.

    Bên trái là hình ảnh của một bé trai 10 tuổi, được lên kế hoạch cấy ốc tai điện tử.
    Có sự giãn rộng và ngắn lại của ống bán khuyên ngoài.
    Tiền đình tương đối lớn (mũi tên).


    Malformed lateral and superior semicircular canal

    Dị dạng ống bán khuyên ngoài và ống bán khuyên trên

    Bên trái là hình ảnh của một bé trai 16 tuổi, được khám tiền phẫu vì cholesteatoma tai phải.
    Là một phát hiện tình cờ, có hình ảnh ống bán khuyên ngoài phình to (mũi tên vàng) và vắng mặt ống bán khuyên trên (mũi tên xanh dương).
    Tại vị trí dự kiến của ống bán khuyên trên chỉ quan sát thấy một gờ nhỏ.
    Ống bán khuyên sau bình thường.

    Viêm tai giữa mạn tính


    Normal pneumatization (left) and a completely sclerotic mastoid (right)

    Thông bào bình thường (trái) và xương chũm xơ cứng hoàn toàn (phải)

    Đối với phẫu thuật viên Tai Mũi Họng, việc phân biệt viêm tai giữa mạn tính và cholesteatoma là rất quan trọng.
    Cả hai bệnh thường xảy ra ở những xương chũm kém thông bào.
    Một dấu hiệu quan trọng giúp phân biệt hai tình trạng này là sự ăn mòn xương.
    Ăn mòn thành bên của thượng nhĩ và chuỗi xương con thường gặp trong cholesteatoma (khoảng 75%).
    Ăn mòn xương có thể xảy ra trong viêm tai mạn tính, nhưng được ghi nhận ở dưới 10% bệnh nhân.
    Di lệch chuỗi xương con có thể thấy trong cholesteatoma, nhưng không gặp trong viêm tai mạn tính.
    Cholesteatoma có thể biểu hiện như một khối không phụ thuộc tư thế, trong khi viêm tai mạn tính cho thấy niêm mạc dày lên.
    Tuy nhiên, trong cả hai bệnh, hòm nhĩ có thể bị mờ đục hoàn toàn, che khuất cholesteatoma.

    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh của nam giới 54 tuổi với xương chũm thông bào bình thường, các tế bào khí còn thông thoáng.
    Bên cạnh là hình ảnh của nữ giới 69 tuổi.
    Xương chũm xơ cứng hoàn toàn – không còn tế bào khí nào.


    Chronic otitis media

    Viêm tai giữa mạn tính

    Bên trái là hình ảnh của bé trai 14 tuổi.
    Màng nhĩ dày lên.
    Một lượng nhỏ mô mềm (mũi tên) có thể thấy giữa scutum và chuỗi xương con nhưng không có ăn mòn xương.
    Điều này ủng hộ chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính.


    Tympanosclerosis

    Xơ nhĩ (Tympanosclerosis)

    Bên trái là hình ảnh của bé gái 11 tuổi bị viêm tai hai bên.
    Có vôi hóa màng nhĩ (mũi tên trắng) và các đám vôi hóa trên xương bàn đạp và gân cơ bàn đạp (mũi tên đen).


    Chronic otitis media

    Viêm tai giữa mạn tính

    Bên trái là hình ảnh của nữ giới 37 tuổi nhập viện vì áp xe quanh amidan.

    Bệnh nhân cũng mắc viêm tai giữa mạn tính.
    CT cho thấy ống thông nhĩ (mũi tên vàng) và gần như mờ đục hoàn toàn hòm nhĩ và các tế bào khí xương chũm bởi mô mềm.

    Lưu ý: Không có khí trong lòng ống thông nhĩ
    Vôi hóa có thể thấy xung quanh chỏm xương bàn đạp (mũi tên xanh).
    Không có ăn mòn xương.


    Chronic otitis media

    Viêm tai giữa mạn tính

    Bên trái là tái tạo mặt phẳng coronal của cùng bệnh nhân trên.
    CT cho thấy ống thông nhĩ (mũi tên vàng) và mờ đục hoàn toàn hòm nhĩ và các tế bào khí xương chũm bởi mô mềm.

    Cholesteatoma


    Cholesteatoma: 20-year old woman with recurrent otitis. Granulations on left ear drum. Soft tissue mass between ossicular chain and lateral tympanic wall, which is eroded. Right side for comparison.

    Cholesteatoma: Phụ nữ 20 tuổi với viêm tai tái phát. Mô hạt trên màng nhĩ trái. Khối mô mềm nằm giữa chuỗi xương con và thành nhĩ bên, có hình ảnh bị ăn mòn. Bên phải để so sánh.

    Cholesteatoma được cho là xuất phát từ các túi co kéo của màng nhĩ.
    Tổn thương dần dần phát triển theo thời gian do quá trình bong vảy và bao bọc mô.
    Hầu hết các cholesteatoma là mắc phải, nhưng một số là bẩm sinh.
    Các bác sĩ phẫu thuật Tai Mũi Họng thường cho rằng cholesteatoma là một chẩn đoán lâm sàng. Các mảnh cholesteatoma có thể nhìn thấy trong ống tai ngoài.

    Trên CT, cholesteatoma nhỏ biểu hiện là một khối mô mềm.
    Trong giai đoạn bệnh tiến triển hơn, có thể xuất hiện các vùng ăn mòn xương.
    Cholesteatoma lớn có thể ăn mòn các xương con và thành hòm nhĩ, đồng thời lan rộng vào hố sọ giữa.

    Các cấu trúc bị ảnh hưởng nhiều nhất là:

    • Các xương con, đặc biệt là mỏm dài và mỏm thấu kính của xương đe, cũng như chỏm xương bàn đạp
    • Thành ống bán khuyên ngoài
    • Thành thượng nhĩ bên (scutum)

    Bên trái là hình ảnh của một phụ nữ 20 tuổi với viêm tai tái phát.
    Có mô hạt trên màng nhĩ trái.
    CT cho thấy một khối mô mềm nằm giữa chuỗi xương con và thành nhĩ bên, có hình ảnh bị ăn mòn.
    Điều này ủng hộ chẩn đoán cholesteatoma.


    20-year old woman with recurrent otitis. Granulations on left ear drum. Soft tissue mass between ossicular chain and lateral tympanic wall,  which is eroded. Right side for comparison.

    Phụ nữ 20 tuổi với viêm tai tái phát. Mô hạt trên màng nhĩ trái. Khối mô mềm nằm giữa chuỗi xương con và thành nhĩ bên, có hình ảnh bị ăn mòn. Bên phải để so sánh.

    Bên trái là các hình ảnh mặt phẳng coronal của cùng bệnh nhân trên.
    Lưu ý cholesteatoma đã ăn mòn scutum (mũi tên).

    Có hai kiểu lan rộng:

    • Cholesteatoma pars flaccida
      Tổn thương bắt đầu ở vị trí trước-trên trong ‘khoang Prussak’, vùng ngay bên dưới scutum, được giới hạn bởi màng nhĩ, xương búa và dây chằng bên của xương búa.
      Cholesteatoma sau đó sẽ lan ra ngoài về phía chuỗi xương con và vào thượng nhĩ.
    • Cholesteatoma pars tensa
      Cholesteatoma bắt đầu ở vị trí sau-trên và lan ra sau về phía ngách mặt và xoang nhĩ, đồng thời lan vào trong về phía chuỗi xương con.

    Cholesteatoma of the right ear with destruction of body of the incus and the scutum

    Cholesteatoma tai phải với phá hủy thân xương đe và scutum

    Bên trái là hình ảnh cholesteatoma lớn trong hòm nhĩ phải với phá hủy thành bên của hòm nhĩ.
    Thân xương đe, nằm bên ngoài chỏm xương búa, cũng bị ăn mòn (mũi tên).

    Các dấu hiệu CT của cholesteatoma bao gồm:

    1. Khối mô mềm trong hòm nhĩ
      • Đặc biệt khi tổn thương nằm trong khoang Prussak
      • Trong cholesteatoma giai đoạn tiến triển, sự hiện diện của các phần hòm nhĩ còn chứa khí cho thấy đây là khối u chứ không phải tràn dịch
      • Mô mềm không phụ thuộc tư thế đặc biệt gợi ý đây là một khối
    2. Ăn mòn xương tại các vị trí ưu tiên sau:
      • Scutum (thành bên của thượng nhĩ)
      • Ống bán khuyên ngoài
      • Tegmen tympani (trần hòm nhĩ)
      • Mỏm dài xương đe và thượng tầng xương bàn đạp

    Ăn mòn ống thần kinh mặt khó phân biệt vì thành ống thường mỏng đến mức không thể nhìn thấy trên CT.


    Cholesteatoma

    Cholesteatoma

    Bên trái là hình ảnh của một nam giới 50 tuổi với nghe kém bên trái.
    Có một khối mô mềm kèm ăn mòn mỏm dài xương đe.
    Vị trí này điển hình của cholesteatoma pars tensa.


    Cholesteatoma with erosion of the wall of the lateral semicircular canal

    Cholesteatoma với ăn mòn thành ống bán khuyên ngoài

    Bên trái là hình ảnh cholesteatoma đã ăn mòn chuỗi xương con và thành ống bán khuyên ngoài (các mũi tên).
    Màng nhĩ dày lên và bị thủng.


    Automastoidectomy due to a large cholesteatoma

    Tự khoét chũm do cholesteatoma lớn

    Bên trái là hình ảnh của một bé trai 6 tuổi.
    Một cholesteatoma lớn đã gây ra hiện tượng gọi là ‘tự khoét chũm’, với ăn mòn nặng nề thành bên hòm nhĩ và phá hủy chuỗi xương con.


    Chronic mastoiditis. No cholesteatoma.

    Viêm xương chũm mạn tính. Không có cholesteatoma.

    Đây là hình ảnh của một nam giới 50 tuổi nhập viện với túi co kéo bên trái và chảy mủ tai.
    CT cho thấy ăn mòn mỏm dài xương đe và thượng tầng xương bàn đạp.
    Tất cả các dấu hiệu này ủng hộ chẩn đoán cholesteatoma, nhưng trong phẫu thuật, chỉ tìm thấy viêm xương chũm mạn tính mà không xác định được cholesteatoma.
    Một số ít bệnh nhân viêm xương chũm mạn tính có biểu hiện ăn mòn xương.


    Chronic mastoiditis. No cholesteatoma.

    Viêm xương chũm mạn tính. Không có cholesteatoma.

    Bên trái là các hình ảnh mặt phẳng coronal của cùng bệnh nhân.
    Scutum bị tù mòn (mũi tên).


    Cholesteatoma with fistula to the lateral semicircular canal (arrow)

    Cholesteatoma với lỗ rò vào ống bán khuyên ngoài (mũi tên)

    Bên trái là hình ảnh của một nam giới 53 tuổi với triệu chứng chóng mặt.
    Bệnh nhân đã trải qua nhiều lần phẫu thuật tai trước đây.
    CT cho thấy ăn mòn thành ống bán khuyên ngoài (mũi tên) do cholesteatoma.


    Cholesteatoma with lateral displacement of the incus with erosion of its lenticular process and of the stapes

    Cholesteatoma với di lệch xương đe ra ngoài kèm ăn mòn mỏm thấu kính và xương bàn đạp

    Bên trái là hình ảnh của một nam giới 22 tuổi bị viêm tai dai dẳng.
    Tai phải cho thấy một khối mô mềm nằm phía trong chuỗi xương con với di lệch xương đe ra ngoài kèm ăn mòn mỏm thấu kính và xương bàn đạp, phù hợp với cholesteatoma pars tensa (mũi tên).


    Cholesteatoma with lateral displacement of the incus with erosion of its lenticular process and of the stapes

    Cholesteatoma với di lệch xương đe ra ngoài kèm ăn mòn mỏm thấu kính và xương bàn đạp

    Bên trái là các hình ảnh mặt phẳng coronal của cùng bệnh nhân.


    75-year old man with known recurrent cholesteatoma. The examination shows a mass with mixed intensity on sagittal T1 and high intensity on transverse T2 weighted images. It has a high intensity on diffusion weighted images, which indicates restricted diffusion. (arrows)

    Nam giới 75 tuổi với cholesteatoma tái phát đã biết. Hình ảnh cho thấy khối có tín hiệu hỗn hợp trên chuỗi xung T1W mặt phẳng sagittal và tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W mặt phẳng axial. Khối tăng tín hiệu trên hình ảnh khuếch tán, cho thấy hạn chế khuếch tán. (các mũi tên)

    Cholesteatoma có tín hiệu hỗn hợp trên chuỗi xung T1W và tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W.
    MRI đặc biệt hữu ích trong việc đánh giá mức độ lan rộng của cholesteatoma vào hố sọ giữa và/hoặc hố sọ sau, cũng như phát hiện khả năng thoát vị của các cấu trúc nội sọ vào xương thái dương – đặc biệt sau phẫu thuật.
    Sau khi tiêm thuốc tương phản từ tĩnh mạch, MRI có thể phân biệt mô hạt với tràn dịch.

    MRI khuếch táncó thể phân biệt cholesteatoma – vốn có hạn chế khuếch tán – với các bất thường khác, đặc biệt là mô hạt – vốn có đặc điểm khuếch tán bình thường (hình minh họa).

    Xốp xơ tai (Otosclerosis)


    Otosclerosis anteriorly to the oval window (arrow)

    Xốp xơ tai ở phía trước cửa sổ bầu dục (mũi tên)

    Xốp xơ tai là một bệnh lý xương chuyển hóa có cơ sở di truyền với căn nguyên chưa được xác định rõ.
    Bệnh đôi khi được gọi là xốp xơ tai (otospongiosis) vì quá trình bệnh khởi đầu bằng giai đoạn xốp xương (otospongiotic), tiếp theo là giai đoạn xơ cứng (otosclerotic) khi các hủy cốt bào được thay thế bởi các tạo cốt bào và xương đặc xơ cứng được lắng đọng tại các vùng tiêu xương trước đó.
    Khi quá trình này liên quan đến cửa sổ bầu dục ở vùng đế xương bàn đạp, đế xương bàn đạp bị cố định, dẫn đến nghe kém dẫn truyền.
    Nghe kém dẫn truyền xuất hiện sớm vào thập niên thứ ba của cuộc đời và được xem là dấu hiệu đặc trưng của bệnh.
    Tuy nhiên, khi tổn thương lan đến các phần khác của bao tai (otic capsule) có thể gây ra nghe kém hỗn hợp tiếp nhận.
    Quá trình bệnh bắt đầu ở vùng cửa sổ bầu dục, điển hình tại khe fissula ante fenestram, tức là phía trước cửa sổ bầu dục (xốp xơ tai thể cửa sổ – fenestral otosclerosis).
    Bệnh cũng có thể xảy ra xung quanh ốc tai (xốp xơ tai thể sau cửa sổ – retrofenestral otosclerosis).

    Bên trái là hình ảnh CT cắt ngang của bệnh nhân nữ 23 tuổi với nghe kém dẫn truyền.
    Có một ổ xốp xơ tai nhỏ tại vị trí đặc trưng: khe fissula ante fenestram (mũi tên).


    Otosclerosis

    Xốp xơ tai

    Trên CT, việc phát hiện xốp xơ tai có thể khó khăn đối với người chưa có kinh nghiệm vì sự lan rộng của bệnh thường đối xứng hai bên.
    Một vùng giảm tỷ trọng nhỏ tại khe fissula ante fenestram là hình ảnh điển hình của xốp xơ tai.
    Trong các trường hợp nặng hơn, các vùng giảm tỷ trọng cũng xuất hiện xung quanh ốc tai.
    Đôi khi toàn bộ bao tai được bao quanh bởi các ổ xốp xương này, tạo thành cái gọi là “vòng thứ tư của Valvassori”.
    Ở một số ít bệnh nhân, bệnh chỉ xảy ra một bên.
    Trường hợp này hầu như luôn giới hạn ở một vùng giảm tỷ trọng tại khe fissula ante fenestram.

    Bên trái là bệnh nhân nam 49 tuổi với nghe kém dẫn truyền bên trái.
    Có một vùng giảm tỷ trọng ở phía trước cửa sổ bầu dục (mũi tên) và giữa ốc tai với ống tai trong.
    Đây là xốp xơ tai kết hợp cả thể cửa sổ và thể sau cửa sổ.


    Bilateral otosclerosis

    Xốp xơ tai hai bên

    Cùng bệnh nhân trên.
    Lưu ý rằng xốp xơ tai được thấy ở cả hai bên.


    Metallic stapedial prosthesis. Lucency between vestibule and cochlea as a manifestation of otosclerosis (arrow)

    Chân giả xương bàn đạp kim loại. Vùng giảm tỷ trọng giữa tiền đình và ốc tai là biểu hiện của xốp xơ tai (mũi tên)

    Bên trái là bệnh nhân với chân giả xương bàn đạp kim loại được đặt đúng vị trí: đầu trong tiếp xúc với cửa sổ bầu dục và đầu ngoài kết nối với mỏm dài của xương đe.
    Lưu ý vùng giảm tỷ trọng giữa tiền đình và ốc tai là biểu hiện của xốp xơ tai (mũi tên).

    Chấn thương


    Incus dislocation (arrow)

    Trật khớp xương đe (mũi tên)

    Hình ảnh bên trái của một phụ nữ 68 tuổi, có tiền sử chấn thương đầu do chấn thương 50 năm trước.
    Ba năm trước, bệnh nhân được chẩn đoán mất thính lực hoàn toàn tai phải.
    Hình ảnh cho thấy bán trật khớp búa-đe (mũi tên).
    Tai trái để so sánh.

    Gãy xương thái dương thường liên quan đến chấn thương đầu.
    Các hậu quả của tổn thương nội sọ chiếm ưu thế trong giai đoạn sớm sau chấn thương.
    Gãy xương thái dương có thể biểu hiện với các dấu hiệu cấp tính như chảy máu tai hoặc liệt mặt cấp tính.
    Mất thính lực tất nhiên không phải là tình trạng đe dọa tính mạng.
    Gãy xương thái dương có thể được phân loại thành gãy dọc hoặc gãy ngang.
    Gãy dọc thường không ảnh hưởng đến tai trong, trong khi gãy ngang thường xâm phạm tai trong nhiều hơn.
    Tuy nhiên, nhiều trường hợp gãy xương thái dương không thuần túy là gãy dọc hay gãy ngang, do đó cần mô tả toàn diện các cấu trúc bị đường gãy đi qua.


    Sensorineural hearing loss due to longitudinal fracture (arrows)

    Mất thính lực tiếp âm do gãy dọc (mũi tên)

    Hình ảnh bên trái của một phụ nữ bị ngã cầu thang ba ngày trước.
    Bệnh nhân bị mất thính lực tiếp âm nặng bên trái.
    Có thể thấy đường gãy dọc đi phía trước ốc tai qua vùng hạch gối (mũi tên).
    Không có dấu hiệu liệt dây thần kinh mặt.
    Không quan sát thấy đường gãy đi qua tai trong.
    Mờ đục hòm nhĩ, nhiều khả năng do tụ máu hòm nhĩ.
    Tai phải để so sánh.

    Mất thính lực dẫn truyền sau chấn thương có thể do tụ máu hòm nhĩ hoặc rách màng nhĩ.
    Trong những trường hợp này, mất thính lực thường tự hồi phục.
    Trong mất thính lực dẫn truyền kéo dài, thường có sự gián đoạn của chuỗi xương con.
    Tổn thương thường gặp nhất là trật khớp đe-bàn đạp, thường là một dấu hiệu khó phát hiện.
    Tổn thương cũng có thể xảy ra tại khớp búa-đe.
    Gãy mỏm dài xương đe hoặc gãy trụ xương bàn đạp rất khó chẩn đoán.
    Gãy xương tai trong được ghi nhận trong mất thính lực tiếp âm sau chấn thương.
    Cần kiểm tra tỉ mỉ để phát hiện các đường gãy mảnh này.
    Chấn động ốc tai với máu trong ốc tai có thể được hiển thị bằng MRI.


    Longitudinal fracture (yellow arrow) coursing through the mastoid towards the region of the geniculate ganglion. Dislocation of the incus with luxation of the incudo-mallear and incudo-stapedial joint (blue arrow).

    Gãy dọc (mũi tên vàng) đi qua xương chũm về phía vùng hạch gối. Trật xương đe với trật khớp búa-đe và khớp đe-bàn đạp (mũi tên xanh).

    Hình ảnh bên trái của một nam bệnh nhân bị chấn thương đầu hai tháng trước.
    Bệnh nhân than phiền về ù tai từng cơn.
    Có đường gãy dọc (mũi tên vàng) đi qua xương chũm về phía vùng hạch gối.
    Có trật xương đe với trật khớp búa-đe và khớp đe-bàn đạp (mũi tên xanh).
    Không có tổn thương tai trong.
    Tai trái để so sánh.


    Transverse fracture through vestibule and facial nerve canal (arrows)

    Gãy ngang qua tiền đình và ống thần kinh mặt (mũi tên)

    Hình ảnh bên trái của một nam bệnh nhân 54 tuổi, nhiều năm sau chấn thương đầu, kèm theo mất thính lực bên trái. Có đường gãy ngang qua tiền đình và ống thần kinh mặt (mũi tên). Ống bán khuyên ngoài bị lấp đầy một phần bởi chất đặc, phù hợp với viêm mê đạo cốt hóa.

    Liệt dây thần kinh mặt có thể xảy ra cấp tính hoặc muộn.
    Trong liệt mặt cấp tính sau chấn thương, có thể quan sát thấy đường gãy đi qua ống thần kinh mặt – thường ở đoạn nhĩ – đôi khi kèm theo mảnh xương chèn ép vào ống.
    Trong liệt mặt muộn, dây thần kinh có thể bị phù nề và có thể không thấy đường gãy.
    Mặt khác, có thể thấy đường gãy đi qua ống thần kinh mặt mà không có rối loạn chức năng thần kinh kèm theo.

    Một số cấu trúc bình thường có thể bị nhầm lẫn với đường gãy:

    • Ống đá-chũm (ống dưới cung)
    • Cống ốc tai
    • Khe ốc tai

    Bất thường mạch máu

    Có thể nghi ngờ bất thường mạch máu khi bệnh nhân than phiền về tiếng ù tai theo nhịp mạch đập hoặc khi quan sát thấy một khối màu đỏ hoặc xanh phía sau màng nhĩ.

    Các bất thường mạch máu bao gồm:

    • Động mạch cảnh trong đi lạc chỗ
    • Hành tĩnh mạch cảnh hở

    Các bất thường không do mạch máu cũng có thể biểu hiện dưới dạng khối sau màng nhĩ:

    • U cuộn mạch (Glomus tumor)
    • U hạt cholesterol

    Aberrant internal carotid artery  (courtesy of Hervé Tanghe)

    Động mạch cảnh trong đi lạc chỗ (cung cấp bởi Hervé Tanghe)

    Động mạch cảnh trong đi lạc chỗ

    Ở những bệnh nhân có động mạch cảnh trong đi lạc chỗ, đoạn cổ của động mạch cảnh trong bị thiếu.
    Đoạn này được thay thế bởi động mạch hầu lên, nối với đoạn nằm ngang của động mạch cảnh trong.
    Động mạch đi qua tai giữa.


    Aberrant internal carotid artery  (courtesy of Hervé Tanghe)

    Động mạch cảnh trong đi lạc chỗ (cung cấp bởi Hervé Tanghe)

    Bên trái là các ảnh cắt coronal của cùng một bệnh nhân.
    Bên phải, động mạch cảnh trong tách biệt hoàn toàn với tai giữa (mũi tên xanh dương).
    Bên trái, động mạch cảnh trong đi xuyên qua tai giữa (mũi tên đỏ).


    Dehiscent jugular bulb

    Hành tĩnh mạch cảnh hở

    Hành tĩnh mạch cảnh hở

    Bên trái là hình ảnh hành tĩnh mạch cảnh hở (mũi tên xanh dương).
    Đây có thể là một nguy cơ nguy hiểm trong quá trình chích màng nhĩ.
    Lưu ý thêm hình ảnh xoang sigma phồng lồi (mũi tên vàng).

    Khối u

    Khối u xương thái dương là bệnh lý hiếm gặp.
    Các loại khối u có thể gặp bao gồm:

    • Xương thừa (Exostoses)
    • Ung thư ống tai ngoài
    • U cầu mạch (Glomus tumor)
    • U tuyến (Adenoma)
    • Cholesteatoma bẩm sinh
    • U túi nội dịch (EndoLymphatic Sac Tumor – ELST)

    U bao thần kinh (Schwannomas) sẽ không được đề cập trong phần này


    Bilateral exostoses

    Xương thừa hai bên

    Xương thừa (Exostoses)

    Hình bên trái cho thấy các tổn thương xương hai bên ở ống tai ngoài, điển hình của xương thừa.

    Xương thừa ở ống tai ngoài thường có nhiều tổn thương, dạng đáy rộng (sessile), xuất hiện hai bên và có thể gây hẹp nặng ống tai ngoài.
    Xương thừa được gây ra do tiếp xúc với nước lạnh và thường gặp ở vận động viên bơi lội và lướt sóng.

    U xương (Osteoma) ít gặp hơn, thường xuất hiện một bên và có dạng cuống (pedunculated).


    Glomus tumor in the  jugular foramen

    U cầu mạch tại lỗ tĩnh mạch cảnh

    U cầu mạch (Glomus tumor)

    Hình bên trái là hình ảnh của bệnh nhân nam 57 tuổi với u cầu mạch tĩnh mạch cảnh-nhĩ (glomus jugulotympanicum) tiến triển chậm, biểu hiện là một khối ở sàn hòm nhĩ (mũi tên).
    Có thể thấy dịch nhầy ở tầng giữa và tầng trên của hòm nhĩ.

    Trên CT, u cầu mạch tĩnh mạch cảnh-nhĩ biểu hiện là tổn thương phá hủy xương tại lỗ tĩnh mạch cảnh, thường lan vào hạ nhĩ.
    Khối u có thể xâm lấn vào xương.
    U cầu mạch nhĩ (glomus tympanicum) điển hình là một khối mô mềm nhỏ trên ụ nhô (promontory).
    Các khối u lớn có hình ảnh “muối và tiêu” (salt and pepper) trên MRI do mạch máu phong phú với các khoảng trống dòng chảy (flow voids).
    Các khối u này ngấm thuốc tương phản từ mạnh sau tiêm tĩnh mạch.


    Glomus tumor before and after embolization

    U cầu mạch trước và sau thuyên tắc mạch

    Thuyên tắc mạch có thể làm giảm lượng máu mất trong phẫu thuật.
    Hình bên trái là hình ảnh chụp mạch động mạch cảnh ngoài trái trước thuyên tắc và động mạch cảnh chung sau thuyên tắc (mũi tên xanh).

    Chỉ còn lại một vệt ngấm thuốc mờ nhạt.

    U cầu mạch xuất phát từ các tế bào cận hạch (paraganglion cells) hiện diện tại lỗ tĩnh mạch cảnh và trên ụ nhô của ốc tai, xung quanh nhánh nhĩ của dây thần kinh thiệt hầu.
    Bệnh thường gặp ở người cao tuổi với tỷ lệ nữ giới chiếm ưu thế.
    Các triệu chứng khởi phát bao gồm nghe kém dẫn truyền, ù tai và đau.
    Khi soi tai, màng nhĩ có màu xanh.
    U cầu mạch tại lỗ tĩnh mạch cảnh (còn gọi là u cầu mạch tĩnh mạch cảnh-nhĩ) phổ biến hơn so với các khối u khu trú trong tai giữa (u cầu mạch nhĩ)


    EndoLymphatic Sac Tumor: destructive process of the dorsal temporal bone, with some calcification (arrow). The location, destruction, and calcification are typical for ELST. A small extension of the tumor into the middle ear is present

    U túi nội dịch (ELST): quá trình phá hủy xương thái dương mặt lưng, kèm vôi hóa (mũi tên). Vị trí, mức độ phá hủy và vôi hóa là những đặc điểm điển hình của ELST. Có một phần nhỏ khối u lan vào tai giữa

    U túi nội dịch (EndoLymphatic Sac Tumor – ELST)

    ELST là một thực thể bệnh lý hiếm gặp.
    Các khối u này xuất phát từ túi nội dịch.
    Chúng tôi đề cập đến loại u này vì hình ảnh CT của chúng rất điển hình.
    Trên CT, có thể thấy quá trình phá hủy xương ở mặt lưng phần đá của xương thái dương kèm theo các vôi hóa dạng chấm.
    Trên MRI, thường có ngấm thuốc tương phản từ mạnh.
    Mức độ phá hủy xương trong trường hợp này sẽ không điển hình cho u màng não (meningioma).


    EndoLymphatic Sac Tumor: T1WI before and after i.v. contrast

    U túi nội dịch (ELST): Chuỗi xung T1W trước và sau tiêm thuốc tương phản từ tĩnh mạch

    Hình bên trái cho thấy một quá trình phá hủy xương lớn ở mặt lưng xương thái dương.
    Một phần khối u ngấm thuốc tương phản từ mạnh.
    Có một thành phần dạng nang ở mặt lưng không ngấm thuốc.


    EndoLymphatic Sac Tumor: T2WI

    U túi nội dịch (ELST): Chuỗi xung T2W

    Lưu ý thành phần dạng nang của khối u trên hình ảnh chuỗi xung T2W

    Tai sau phẫu thuật

    Tai sau phẫu thuật thường khó mô tả.
    Hình ảnh CT trước đó, nếu có, có thể rất hữu ích.
    Điều tốt nhất có thể làm là mô tả phạm vi của cuộc phẫu thuật trước, tình trạng của chuỗi xương con (nếu còn), và sự thông khí của hốc sau phẫu thuật.
    Hốc này có thể được lấp đầy bởi niêm mạc phù nề, bệnh tái phát hoặc mô được cấy ghép trong quá trình phẫu thuật.


    Attico-antrotomy

    Phẫu thuật mở thượng nhĩ-hang chũm (Attico-antrotomy)

    Phẫu thuật mở thượng nhĩ-hang chũm (Attico-antrotomy)

    Bên trái là hình ảnh của một bé gái 15 tuổi bị viêm tai giữa mạn tính, được điều trị bằng phẫu thuật mở thượng nhĩ-hang chũm.
    Một đường vào hang chũm được tạo ra, nhưng hầu hết các tế bào khí xương chũm vẫn còn hiện diện.
    Chuỗi xương con được bảo tồn.


    Attico-antrotomy

    Phẫu thuật mở thượng nhĩ-hang chũm (Attico-antrotomy)

    Bên trái là hình ảnh cắt coronal của cùng bệnh nhân.
    Lưu ý màng nhĩ dày và vôi hóa.


    Phẫu thuật khoét chũm (Mastoidectomy): cuộn qua các hình ảnh

    Phẫu thuật khoét chũm (Mastoidectomy)

    Bên trái là hình ảnh của một nam giới 42 tuổi được điều trị bằng phẫu thuật khoét chũm.
    Thành sau ống tai ngoài và chuỗi xương con còn nguyên vẹn.
    Hầu hết các tế bào khí xương chũm đã được lấy bỏ.


    Attico-antrotomy

    Phẫu thuật mở thượng nhĩ-hang chũm (Attico-antrotomy)

    Bên trái là hình ảnh cắt coronal của cùng bệnh nhân.
    Thành sau ống tai ngoài và chuỗi xương con còn nguyên vẹn.
    Hầu hết các tế bào khí xương chũm đã được lấy bỏ.


    4 year old boy with recurrent otitis.  The tube is in good position

    Bé trai 4 tuổi bị viêm tai tái phát. Ống thông nhĩ ở vị trí tốt

    Ống thông nhĩ (Tympanostomy tubes)

    Nếu vòi nhĩ (Eustachian) được cho là rối loạn chức năng, ống thông nhĩ có thể được đặt vào màng nhĩ để tạo điều kiện dẫn lưu dịch tai giữa.
    Ở trẻ nhỏ, đường đi của vòi nhĩ giữa tai giữa và vòm họng có hướng nằm ngang hơn so với người lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự ứ đọng dịch ở tai giữa và nhiễm trùng thứ phát.

    Sau một thời gian, ống thông nhĩ bị màng nhĩ đẩy ra ngoài và có thể thấy nằm trong ống tai ngoài.
    Hình ảnh bên trái cho thấy một ống thông nhĩ bị lạc chỗ nằm trong ống tai ngoài.


    Metallic stapes prosthesis

    Xương bàn đạp nhân tạo bằng kim loại

    Xương bàn đạp nhân tạo (Stapes prosthesis)

    Xương bàn đạp nhân tạo được đặt ở những bệnh nhân xơ cứng tai (otosclerosis) để thay thế xương bàn đạp tự nhiên bị cố định trong cửa sổ bầu dục.
    Xương bàn đạp nhân tạo bằng thép dễ dàng nhìn thấy.
    Xương bàn đạp nhân tạo làm bằng Teflon có thể gần như không nhìn thấy được.
    Cần mô tả vị trí của xương bàn đạp nhân tạo trong cửa sổ bầu dục và tính toàn vẹn của kết nối với mỏm dài của xương đe.

    Bên trái là hình ảnh của xương bàn đạp nhân tạo bằng kim loại.
    Xương bàn đạp nhân tạo ở vị trí tốt.
    Phía trong nằm trong cửa sổ bầu dục, phía ngoài kết nối với mỏm dài của xương đe.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân có xương bàn đạp nhân tạo.
    Xương bàn đạp nhân tạo bằng kim loại bị lạc chỗ và nằm trong tiền đình.
    Bệnh nhân được phẫu thuật lại và đặt xương bàn đạp nhân tạo mới.
    Lưu ý vùng giảm tỷ trọng nhỏ tại fissula ante fenestram, dấu hiệu của xơ cứng tai (mũi tên).


    Synthetic stapes prosthesis

    Xương bàn đạp nhân tạo tổng hợp

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân có xương bàn đạp nhân tạo tổng hợp.
    Xương bàn đạp nhân tạo kết nối với mỏm dài của xương đe (mũi tên vàng).
    Đầu tận nằm trong cửa sổ bầu dục (mũi tên xanh).

    Đặt xương đe trung gian (Incus interposition)

    Xương đe được tạo hình lại có thể được sử dụng để tái tạo chuỗi xương con.
    Thông thường nhất, xương đe được đặt giữa màng nhĩ và phần thượng tầng của xương bàn đạp.
    Xương đe được đặt trung gian có thể là xương của chính bệnh nhân hoặc lấy từ tử thi.
    Ngoài ra, có thể sử dụng xương con nhân tạo thay thế một phần (PORP – Partial Ossicular Replacement Prosthesis) hoặc thay thế toàn bộ (TORP – Total Ossicular Replacement Prosthesis).

    Bên trái là hình ảnh của một bé trai 13 tuổi.
    Năm năm trước, bệnh nhân đã được phẫu thuật lấy cholesteatoma.
    Năm sau đó, chuỗi xương con được tái tạo bằng xương đe từ người hiến tặng (mũi tên).
    Cán xương búa vẫn còn hiện diện.


    Bên trái là hình ảnh cắt coronal của cùng bệnh nhân.


    Bên trái là hình ảnh cắt axial của một bệnh nhân được tái tạo chuỗi xương con bằng xương đe tự thân (mũi tên) đặt giữa màng nhĩ và xương bàn đạp.

    Màng não thoát vị sau phẫu thuật (Postoperative meningocele)

    Trong chẩn đoán hình ảnh sau phẫu thuật, cần tìm kiếm sự khuyết hổng của lớp xương che phủ xoang sigma và sự gián đoạn của trần hòm nhĩ (tegmen tympani).
    Có thể có hiện tượng thoát vị các thành phần nội sọ.

    Cấy ghép ốc tai


    Phẫu thuật cấy ghép ốc tai được thực hiện ở những bệnh nhân bị điếc tiếp âm do thoái hóa cơ quan Corti.
    Sau khi cấy điện cực đa kênh, một loạt các xung điện có thể được tạo ra để kích thích dây thần kinh thính giác.
    Điện cực được đưa vào thang nhĩ (scala tympani) của ốc tai qua cửa sổ tròn hoặc qua một lỗ khoan trực tiếp vào vòng đáy (cochleostomy).
    Sau phẫu thuật, vị trí của điện cực có thể được đánh giá bằng CT.

    Hình ảnh
    Bé trai 8 tuổi được cấy ghép ốc tai hai bên. Vị trí bình thường ở tai phải.
    Một điện cực được đặt đúng vị trí với tất cả các kênh của nó, hiện ra như một chuỗi hạt, nằm trong ốc tai và xoắn lên theo hướng đỉnh ốc tai.

    Tiếp tục xem hình ảnh của tai trái.


    Điện cực cấy ghép lạc chỗ

    Ca lâm sàng 1
    Các hình ảnh cho thấy tai trái của cùng bệnh nhân, nơi thính lực bị suy giảm.
    Điện cực không được đưa vào đủ sâu, năm kênh nằm trong hòm nhĩ và đầu điện cực không đạt tới đỉnh ốc tai.


    Ca lâm sàng 2
    Các hình ảnh này cho thấy một điện cực cấy ghép bị lạc chỗ.

    Điện cực ốc tai được đưa vào phía dưới vòng đáy của ốc tai và kết thúc ở vùng hạch gối (geniculate ganglion).

    Tiêu chí để cấy ghép ốc tai bao gồm:

    • Xương chũm thông bào tốt
    • Không có dấu hiệu viêm tai giữa
    • Không có vôi hóa ốc tai

    MRI có thể phát hiện tình trạng xơ hóa tắc nghẽn ốc tai, điều mà CT không thể đánh giá được.
    Ngược lại, MRI có thể cho thấy ốc tai chứa đầy dịch trong khi CT lại phát hiện được các vôi hóa nhỏ.
    Do đó, có thể kết hợp cả hai phương thức chẩn đoán hình ảnh này.

    MRI cũng có thể xác định sự vắng mặt của dây thần kinh số VIII, đây là chống chỉ định của phẫu thuật cấy ghép ốc tai.

    Viêm mê đạo xương hóa (Labyrinthitis ossificans)

    Viêm mê đạo xương hóa thường gặp sau viêm màng não.
    Đây là tình trạng tai trong bị lấp đầy bởi mô xơ, sau đó tiến triển thành vôi hóa.
    Tổn thương chủ yếu ảnh hưởng đến ốc tai, tuy nhiên tiền đình và các ống bán khuyên cũng có thể bị liên quan.

    Hình ảnh bên trái của bệnh nhân nam 56 tuổi, là ứng viên cấy ốc tai điện tử.
    Vôi hóa nhỏ tại vòng đáy ốc tai là hậu quả của viêm mê đạo xương hóa (mũi tên).


    Labyrinthitis ossificans of the left superior semicircular canal (yellow arrow)

    Viêm mê đạo xương hóa tại ống bán khuyên trên bên trái (mũi tên vàng)

    Hình ảnh bên trái của bệnh nhân nam 14 tuổi với điếc tiếp nhận hai bên.
    Vôi hóa ống bán khuyên trên bên trái (mũi tên vàng).
    Tai phải để so sánh (mũi tên xanh lam).


    Labyrinthitis ossificans of the left superior semicircular canal (yellow arrow)

    Viêm mê đạo xương hóa tại ống bán khuyên trên bên trái (mũi tên vàng)

    Hình ảnh mặt phẳng coronal của cùng bệnh nhân trên.

  • Giải phẫu xương thái dương 1.0

    Giải Phẫu Xương Thái Dương 1.0

    Erik Beek và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht và Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Phiên bản cập nhật: 21-2-2007
    Trong bài tổng quan này, chúng tôi trình bày giải phẫu bình thường của xương thái dương trên mặt phẳng cắt coronal và axial.
    Tìm hiểu giải phẫu bằng cách cuộn qua các hình ảnh.

    Xương thái dương

    Tai giữa bao gồm hòm nhĩ và hang chũm.
    Hang chũm là một tế bào khí lớn nằm phía trên và phía sau hòm nhĩ, thông với hòm nhĩ qua ống thông hang (aditus ad antrum).
    Thượng nhĩ (epitympanum) hay còn gọi là tầng áp mái (attic) là phần trên của hòm nhĩ nằm trên màng nhĩ, chứa đầu xương búa và thân xương đe.
    Màng nhĩ, xương búa, xương đe và xương bàn đạp truyền sóng âm đến đế xương bàn đạp, vốn gắn vào đáy ốc tai tại cửa sổ bầu dục.

    Giải phẫu trên mặt phẳng axial


    Cuộn qua các hình ảnh giải phẫu axial.

    Cuộn qua các lát cắt axial từ dưới lên trên

    • A = Hang chũm (Antrum)
    • f = Dây thần kinh mặt
    • genu = Gối thứ nhất của dây thần kinh mặt tại hạch gối (geniculate ganglion)
    • IAC = Ống tai trong (internal auditory canal)
    • long crus = Ngành dài của xương đe
    • short crus = Ngành ngắn của xương đe
    • U = Túi bầu dục (utricle) của tiền đình

    Giải phẫu axial từ dưới lên trên

    Ở mức thấp nhất, ta thấy dây thần kinh mặt đi xuống dưới để cuối cùng đến lỗ trâm chũm (stylomastoid foramen) (không hiển thị trong hình này).
    Động mạch cảnh được thấy bên trong ống cảnh (carotid canal).
    Cũng ở mức này là đỉnh của hành tĩnh mạch cảnh trong (jugular bulb).

    Màng nhĩ

    Cán xương búa (mũi tên vàng) được nối với màng nhĩ.


    Xương búa (mũi tên vàng). Cửa sổ tròn (mũi tên xanh lam)

    Xương búa (mũi tên vàng). Cửa sổ tròn (mũi tên xanh lam)

    Ở mức này, ta có thể thấy cán xương búa (mũi tên vàng) nằm phía trước mỏm dài của xương đe.
    Cửa sổ tròn được chỉ bởi mũi tên xanh lam.
    Cửa sổ tròn có chức năng giải phóng áp lực được tạo ra bởi các dao động dịch bên trong ốc tai, do đó đóng vai trò như một van giảm áp.


    Xương bàn đạp (mũi tên xanh lá) được thấy kết nối với cửa sổ bầu dục.

    Xương bàn đạp (mũi tên xanh lá) được thấy kết nối với cửa sổ bầu dục.

    Xương bàn đạp

    Đế xương bàn đạp dao động ra vào tại cửa sổ bầu dục.
    Các dao động được truyền qua nội dịch đến các tế bào lông của cơ quan Corti trong ốc tai.

    Ốc tai

    Bên trong ốc tai, sự chuyển động của các tế bào lông chuyển đổi các dao động âm thanh thành xung thần kinh, truyền theo dây thần kinh ốc tai đến vỏ não thính giác, nơi diễn giải các xung này thành âm thanh.
    Đầu xương búa được thấy nằm phía trước đầu xương đe (mũi tên vàng).

    Đoạn nhĩ của dây thần kinh mặt

    Trong hình ảnh này ở mức ống tai trong, đoạn nhĩ của dây thần kinh mặt được thấy nằm ngay phía trong và song song với thành của thượng nhĩ.
    Đầu xương búa (mũi tên vàng) được thấy nằm phía trước đầu và mỏm ngắn của xương đe.

    Hạch gối của dây thần kinh mặt

    Ở mức này, ống thông hang (aditus ad antrum) được thấy rõ. Đây là đường thông nối giữa hòm nhĩ và hang chũm.
    Đoạn mê đạo của dây thần kinh mặt xuất phát từ ống tai trong, chạy gần như vuông góc với trục dài của xương đá về phía trước để đến hạch gối (geniculate ganglion).
    Tại hạch, dây thần kinh mặt tạo thành một vòng chữ U (gối thứ nhất của dây thần kinh mặt) để chạy ra phía sau như đoạn nhĩ dọc theo thành trong của thượng nhĩ.

    Hang chũm

    Ở mức này, hang chũm được thấy bao quanh bởi các tế bào khí chũm nhỏ hơn, nằm ngay bên ngoài các ống bán khuyên trên.
    Ba ống bán khuyên nằm vuông góc với nhau để cảm nhận các chuyển động gia tốc và giảm tốc trong mỗi trong 3 mặt phẳng không gian.
    Vị trí tĩnh của đầu được cảm nhận bởi tiền đình, nơi chứa các tế bào lông cảm nhận vị trí.
    Các tư thế đầu khác nhau tạo ra các hiệu ứng trọng lực khác nhau bởi các hạt canxi carbonat nhỏ (otolith) lên các tế bào lông này.

    Giải phẫu trên mặt phẳng coronal

    Xương đá được định hướng theo chiều chéo từ sau-ngoài đến trước-trong.
    Do đó, hầu hết các cấu trúc sẽ bị cắt theo hướng chéo trên các hình ảnh coronal.
    Các hình ảnh coronal sau đây đi từ trước ra sau.
    Đầu tiên ta sẽ thấy màng nhĩ cùng các xương con, tiếp theo là ốc tai, hang chũm và các ống bán khuyên.
    Cuối cùng, hình ảnh sau nhất sẽ cho thấy điểm dây thần kinh mặt thoát ra khỏi xương thái dương tại lỗ trâm chũm (stylomastoid foramen).


    Scutum (mũi tên vàng). Đầu xương búa (mũi tên cam) được thấy nằm phía trong so với xương đe (mũi tên xanh lá)

    Scutum (mũi tên vàng). Đầu xương búa (mũi tên cam) được thấy nằm phía trong so với xương đe (mũi tên xanh lá)

    Scutum

    Scutum (mũi tên vàng) là một gai xương nhọn được tạo thành bởi thành ngoài của hòm nhĩ và thành trên của ống tai ngoài.
    Đây thường là cấu trúc xương đầu tiên bị ăn mòn do cholesteatoma, được hình thành bởi sự co kéo vào trong của màng Shrapnell (pars flaccida) của màng nhĩ vào thượng nhĩ.
    Nếu sự co kéo tiếp tục sẽ dẫn đến phá hủy các xương con.
    Nếu cholesteatoma lan ra phía sau qua ống thông hang vào trong bản thân xương chũm, có thể gây ăn mòn trần chũm (tegmen mastoideum), làm lộ màng cứng và ăn mòn ống bán khuyên ngoài gây điếc và chóng mặt.

    Bên trái, điểm trước nhất của dây thần kinh mặt được thấy (mũi tên trắng).
    Tại điểm này, dây thần kinh tạo thành vòng chữ U.
    Vị trí này được gọi là genu hay geniculum và đại diện cho hạch gối (geniculate ganglion).
    Xương búa được thấy nối với màng nhĩ và với xương đe.


    Tái tạo coronal cho thấy rõ ràng xương đe (I) nằm ở phía sau-ngoài so với đầu xương búa (H). Trên hình axial, mỏm ngắn của xương đe được thấy chỉ về phía sau-ngoài.

    Tái tạo coronal cho thấy rõ ràng xương đe (I) nằm ở phía sau-ngoài so với đầu xương búa (H). Trên hình axial, mỏm ngắn của xương đe được thấy chỉ về phía sau-ngoài.

    Trong nhiều hình minh họa, bạn sẽ thấy xương đe kết nối vào phía trong của xương búa, nhưng điều này không chính xác.
    Trên hình tái tạo coronal bên trái, có thể thấy rõ ràng rằng xương đe nằm ở phía sau-ngoài so với đầu xương búa.
    Ngành dài của xương đe sau đó chạy xuống dưới-vào trong đến xương bàn đạp.


    Đầu xương búa (mũi tên cam) được thấy nằm phía trong so với xương đe (mũi tên xanh lá)

    Đầu xương búa (mũi tên cam) được thấy nằm phía trong so với xương đe (mũi tên xanh lá)

    Một lát cắt coronal hơi ra phía sau hơn sẽ cho thấy dây thần kinh mặt hai lần.
    Phần phía trong là đoạn thoát ra khỏi ống tai trong và chạy về phía hạch gối (mũi tên trắng phía trong).
    Phần phía ngoài là đoạn chạy theo hướng ra sau, xuất phát từ vòng chữ U của gối thứ nhất.

  • Giải phẫu xương thái dương 2.0

    Giải Phẫu Xương Thái Dương 2.0

    Giải phẫu và bệnh lý liên quan

    Erik Beek và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Đây là phiên bản cập nhật của bài viết năm 2007.
    Trong bài tổng quan này, chúng tôi trình bày giải phẫu bình thường trên mặt phẳng cắt ngang (axial) và mặt phẳng cắt đứng ngang (coronal) của xương thái dương thông qua việc duyệt qua các hình ảnh.

    Một số cấu trúc được thảo luận chi tiết hơn với trọng tâm là các bệnh lý liên quan.

    Bạn có thể tìm thêm các bệnh lý xương thái dương tại đây.

    Giới thiệu

    Tai giữa bao gồm hòm nhĩ và hang chũm.
    Hòm nhĩ là phần chính của tai giữa và chứa các xương con.

    Thông qua ngách thượng nhĩ (aditus ad antrum), hòm nhĩ thông với hang chũm — một tế bào khí lớn nằm phía trên và phía sau hòm nhĩ — và thông với các tế bào khí chũm.

    Màng nhĩ, xương búa, xương đe và xương bàn đạp dẫn truyền sóng âm đến đế xương bàn đạp, vốn gắn vào đáy ốc tai tại cửa sổ bầu dục.

    Giải phẫu xương đá trên mặt phẳng cắt ngang (Axial)


    Nhấp vào hình ảnh để phóng to.

    Cuộn qua các hình ảnh.

    Giải phẫu mặt phẳng coronal của xương đá


    Nhấp vào hình ảnh để phóng to.

    Cuộn qua các hình ảnh.

    Hòm nhĩ

    Hòm nhĩ là phần chính của tai giữa, chứa các xương con của tai giữa.

    Thành trong
    chứa cửa sổ bầu dục, cửa sổ tròn và gờ nổi của đoạn nhĩ dây thần kinh mặt.

    Thành ngoài
    được tạo thành chủ yếu bởi màng nhĩ. Scutum (mảnh xương hình khiên) là gờ xương nằm ở phần trên hay còn gọi là pars flaccida của màng nhĩ.

    Trần
    được gọi làtegmen, ngăn cách phần trên của hòm nhĩ (thượng nhĩ) với hố sọ giữa.

    Thành sau
    tạo nên lối vào xương chũm và được gọi là aditus ad antrum (lỗ thông hang).

    Màng nhĩ

    Màng nhĩ hay còn gọi là màng tai, là một màng hình nón ngăn cách tai ngoài với tai giữa.

    Pars flaccida là phần trên mỏng manh của màng nhĩ, liên quan đến rối loạn chức năng vòi nhĩ và cholesteatoma.

    Pars tensa có kích thước lớn hơn và chắc hơn, thường liên quan đến các trường hợp thủng màng nhĩ.
    Cán búa (manubrium) của xương búa được gắn vào phần trung tâm của màng nhĩ, vùng này được gọi là rốn nhĩ (umbo).


    Perforation of the tympanic membrane.

    Thủng màng nhĩ.

    Hình ảnh một bệnh nhân có cholesteatoma.

    Có một khối mô mềm ở vùng thượng nhĩ.
    Lưu ý hình ảnh thủng màng nhĩ (mũi tên vàng) và bào mòn ống bán khuyên ngoài (mũi tên đỏ).
    Scutum bị tù mòn.


    Erosion of scutum in a patient with a cholesteatoma. Also erosion of body of incus.

    Bào mòn scutum ở bệnh nhân cholesteatoma. Đồng thời có bào mòn thân xương đe.

    Scutum

    Đây thường là cấu trúc xương đầu tiên bị bào mòn do cholesteatoma, hình thành bởi sự co kéo vào trong của pars flaccida màng nhĩ vào vùng thượng nhĩ.
    Nếu quá trình co kéo tiếp tục tiến triển sẽ dẫn đến phá hủy chuỗi xương con.
    Nếu cholesteatoma lan ra phía sau qua aditus ad antrum vào trong xương chũm, có thể gây bào mòn tegmen mastoideum làm lộ màng cứng, đồng thời bào mòn ống bán khuyên ngoài dẫn đến điếc và chóng mặt.

    Chuỗi xương con

    Trong nhiều hình minh họa, xương đe thường được vẽ kết nối về phía trong với xương búa, tuy nhiên điều này không chính xác.
    Trên ảnh tái tạo mặt phẳng coronal bên trái, có thể thấy rõ ràng rằng xương đe nằm ở phía sau ngoài so với đầu xương búa.
    Ngành dài của xương đe sau đó chạy xuống dưới và vào trong để tiếp khớp với xương bàn đạp.

    Hang bào chũm (Antrum)

    Hang bào chũm là một tế bào khí lớn nằm phía trên và phía sau hòm nhĩ, thông với hòm nhĩ qua ngách hang (aditus ad antrum).

    Hang bào chũm được bao quanh bởi các tế bào khí chũm nhỏ hơn.

    Dây thần kinh mặt

    Đoạn mê nhĩ của dây thần kinh mặt xuất phát từ ống tai trong, chạy gần như vuông góc với trục dài của xương đá, gập góc nhọn về phía trước để đến hạch gối (geniculate ganglion).

    Tại hạch gối, dây thần kinh mặt tạo thành một khúc quặt hình chữ U (genu thứ nhất của dây thần kinh mặt) để chạy ra phía sau theo đoạn nhĩ dọc theo thành trong của thượng nhĩ.

    Cửa sổ bầu dục và cửa sổ tròn

    Đế xương bàn đạp dao động ra vào so với màng tại cửa sổ bầu dục.
    Các dao động được truyền từ cửa sổ bầu dục qua nội dịch đến các tế bào lông của cơ quan Corti trong ốc tai.

    Cửa sổ tròn có chức năng giải phóng áp lực được tạo ra bởi các dao động dịch lỏng bên trong ốc tai, do đó đóng vai trò như một van giảm áp.

  • Hạch lympho cổ

    Bản Đồ Hạch Bạch Huyết Trung Thất

    Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Đây là bản cập nhật của bài viết năm 2007, trong đó sử dụng phân loại hạch bạch huyết theo vùng của Mountain-Dresler để phân giai đoạn ung thư phổi (bản đồ MD-ATS)(1).
    Năm 2009, Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu Ung thư Phổi (IASLC) đã đề xuất một bản đồ hạch bạch huyết mới trong ung thư phổi nhằm dung hòa sự khác biệt giữa bản đồ Naruke và bản đồ MD-ATS, đồng thời làm rõ hơn các định nghĩa về ranh giới giải phẫu của từng trạm hạch bạch huyết (2).
    Trong bài viết này, chúng tôi cung cấp các hình minh họa và hình ảnh CT để giúp hiểu rõ hơn về bản đồ hạch bạch huyết theo IASLC.

    Bản đồ hạch bạch huyết IASLC 2009


    Phân loại hạch bạch huyết vùng trong phân giai đoạn ung thư phổi, được điều chỉnh từ sơ đồ phân vùng của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ

    Phân loại hạch bạch huyết vùng trong phân giai đoạn ung thư phổi, được điều chỉnh từ sơ đồ phân vùng của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ

    Hạch thượng đòn
    1.Hạch cổ thấp, thượng đòn và hõm ức
    Từ bờ dưới sụn nhẫn đến xương đòn và bờ trên cán ức.
    Đường giữa khí quản là ranh giới phân chia giữa nhóm 1R và 1L.

    Hạch trung thất trên nhóm 2-4
    2R.Cạnh khí quản trên (phải)
    Hạch nhóm 2R trải dài đến bờ bên trái của khí quản.
    Từ bờ trên cán ức đến điểm giao nhau giữa bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản.
    2L.Cạnh khí quản trên (trái)
    Từ bờ trên cán ức đến bờ trên quai động mạch chủ.
    Hạch nhóm 2L nằm ở phía trái so với bờ bên trái của khí quản.
    3A.Trước mạch máu
    Các hạch này không tiếp giáp với khí quản như các hạch ở trạm 2, mà nằm ở phía trước các mạch máu.
    3P.Trước cột sống
    Các hạch không tiếp giáp với khí quản như các hạch ở trạm 2, mà nằm sau thực quản, tức là ở vị trí trước cột sống.
    4R.Cạnh khí quản dưới (phải)
    Từ điểm giao nhau giữa bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản đến bờ dưới tĩnh mạch đơn.
    Hạch nhóm 4R trải dài từ bờ bên phải đến bờ bên trái của khí quản.
    4L.Cạnh khí quản dưới (trái)
    Từ bờ trên quai động mạch chủ đến bờ trên động mạch phổi chính trái.

    Hạch cạnh động mạch chủ nhóm 5-6
    5. Dưới động mạch chủ
    Các hạch này nằm trong cửa sổ phế động mạch (AP window), ở phía ngoài dây chằng động mạch.
    Các hạch này không nằm giữa động mạch chủ và thân động mạch phổi mà nằm ở phía ngoài các mạch máu này.
    6. Cạnh động mạch chủ
    Đây là các hạch cạnh động mạch chủ lên hoặc hạch cơ hoành, nằm ở phía trước và bên của động mạch chủ lên và quai động mạch chủ.

    Hạch trung thất dưới nhóm 7-9
    7.Dưới carina
    8. Cạnh thực quản
    Các hạch nằm dưới carina.
    9. Dây chằng phổi
    Các hạch nằm trong dây chằng phổi.

    Hạch rốn phổi, thùy phổi và (phân) phân thùy nhóm 10-14
    Tất cả các hạch này đều thuộc nhóm N1.
    10. Hạch rốn phổi
    Bao gồm các hạch tiếp giáp với phế quản gốc và các mạch máu rốn phổi.
    Bên phải, trải dài từ bờ dưới tĩnh mạch đơn đến vùng gian thùy.
    Bên trái, từ bờ trên động mạch phổi đến vùng gian thùy.


    Giải phẫu CT cắt ngang

    Nhấp vào ảnh để phóng to.
    Sau đó cuộn qua các ảnh CT cắt ngang.

    Hình ảnh do Bác sĩ Aurelia Fairise thuộc Viện Ung thư Lorraine tại Nancy cung cấp.

    Các Vị Trí Hạch Bạch Huyết Cụ Thể


    1. Supraclavicular zone nodes

    1. Hạch vùng thượng đòn

    1. Hạch vùng thượng đòn
    Bao gồm các hạch cổ thấp, thượng đòn và hạch khuyết ức.
    Ranh giới trên: bờ dưới sụn nhẫn.
    Ranh giới dưới: xương đòn và bờ trên cán ức.

    Đường giữa khí quản là ranh giới phân chia giữa nhóm 1R và 1L.

    2R. Hạch cạnh khí quản trên bên phải
    Hạch nhóm 2R trải dài đến bờ bên trái của khí quản.
    Ranh giới trên: bờ trên cán ức.
    Ranh giới dưới: giao điểm của bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản.

    2L. Hạch cạnh khí quản trên bên trái
    Ranh giới trên: bờ trên cán ức.
    Ranh giới dưới: bờ trên quai động mạch chủ.

    Bên trái là hạch nhóm 2 nằm trước khí quản, tức là hạch 2R.
    Ngoài ra còn có một hạch mạch máu trước nhỏ, tức là hạch nhóm 3A.


    3A and 3P nodes

    Hạch nhóm 3A và 3P

    3. Hạch trước mạch máu và trước cột sống
    Hạch nhóm 3 không nằm kề khí quản như hạch nhóm 2.
    Chúng có thể là:
    3A nằm trước các mạch máu, hoặc
    3B nằm sau thực quản, tức là vị trí trước cột sống.

    Hạch nhóm 3 không thể tiếp cận bằng nội soi trung thất.
    Hạch nhóm 3P có thể tiếp cận bằng siêu âm nội soi (EUS).

    Bên trái là hạch 3A nằm trong khoang trước mạch máu.
    Lưu ý cũng có các hạch cạnh khí quản dưới bên phải, tức là hạch nhóm 4R.


    4R. Lower Paratracheal nodes

    4R. Hạch cạnh khí quản dưới bên phải

    4R. Hạch cạnh khí quản dưới bên phải
    Ranh giới trên: giao điểm của bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản.
    Ranh giới dưới: bờ dưới tĩnh mạch đơn.
    Hạch nhóm 4R trải dài đến bờ bên trái của khí quản.

    Bên trái là hình ảnh các hạch cạnh khí quản nhóm 4R.
    Ngoài ra còn có một hạch động mạch chủ nằm bên ngoài quai động mạch chủ, tức là hạch nhóm 6.


    4L. Lower paratracheal nodes

    4L. Hạch cạnh khí quản dưới bên trái

    4L. Hạch cạnh khí quản dưới bên trái
    Hạch nhóm 4L là các hạch cạnh khí quản dưới nằm ở phía trái của bờ trái khí quản, giữa đường nằm ngang tiếp tuyến với bờ trên quai động mạch chủ và đường tiếp tuyến với bờ trên động mạch phổi trái.

    Bao gồm các hạch cạnh khí quản nằm ở phía trong (trung gian) so với dây chằng động mạch.
    Hạch nhóm 5 (cửa sổ phế động mạch) nằm ở phía ngoài (bên) so với dây chằng động mạch.

    Bên trái là hình ảnh ngay trên mức thân động mạch phổi, cho thấy các hạch cạnh khí quản dưới bên trái và bên phải.
    Ngoài ra còn có các hạch nhóm 3 và nhóm 5.

    Bên trái là hình ảnh ở mức khí quản dưới, ngay trên carina.
    Bên trái khí quản là các hạch 4L.
    Lưu ý rằng các hạch 4L này nằm giữa thân động mạch phổi và động mạch chủ, nhưng không nằm trong cửa sổ phế động mạch, vì chúng nằm ở phía trong so với dây chằng động mạch.
    Hạch nằm bên ngoài thân động mạch phổi là hạch nhóm 5.

    5. Hạch dưới động mạch chủ
    Hạch dưới động mạch chủ hay hạch cửa sổ phế động mạch nằm ở phía ngoài dây chằng động mạch hoặc động mạch chủ hoặc động mạch phổi trái, gần với nhánh đầu tiên của động mạch phổi trái và nằm trong bao màng phổi trung thất.

    6. Hạch cạnh động mạch chủ
    Hạch cạnh động mạch chủ (động mạch chủ lên hoặc cơ hoành) nằm ở phía trước và bên ngoài động mạch chủ lên và quai động mạch chủ, từ bờ trên đến bờ dưới của quai động mạch chủ.

    7. Hạch dưới carina
    Các hạch này nằm ở phía dưới carina khí quản, nhưng không liên quan đến phế quản thùy dưới hoặc các động mạch trong phổi.
    Bên phải, chúng trải dài xuống đến bờ dưới phế quản trung gian.
    Bên trái, chúng trải dài xuống đến bờ trên phế quản thùy dưới.

    Bên trái là hạch dưới carina nhóm 7 nằm bên phải thực quản.


    .

    .

    8. Hạch cạnh thực quản
    Các hạch này nằm dưới các hạch carina và trải dài xuống đến cơ hoành.

    Bên trái là hình ảnh dưới mức carina.
    Bên phải thực quản là một hạch nhóm 8.

    Bên trái là hình ảnh PET cho thấy sự hấp thu FDG tại hạch nhóm 8.
    Trên hình CT tương ứng, hạch không to (mũi tên xanh).
    Khả năng đây là hạch di căn là cực kỳ cao, vì độ đặc hiệu của PET trên các hạch không to cao hơn so với các hạch to.

    9. Hạch dây chằng phổi
    Hạch dây chằng phổi nằm trong dây chằng phổi, bao gồm các hạch ở thành sau và phần dưới của tĩnh mạch phổi dưới.
    Dây chằng phổi là phần kéo dài xuống dưới của các nếp gấp màng phổi trung thất bao quanh rốn phổi.

    10. Hạch rốn phổi
    Hạch rốn phổi là các hạch thùy gần, nằm xa so với nếp gấp màng phổi trung thất và các hạch kề phế quản trung gian bên phải.
    Các hạch từ nhóm 10 đến 14 đều là hạch N1, vì chúng không nằm trong trung thất.

    CT Axial Hạch Bạch Huyết


    Cuộn qua các hình ảnh ở bên trái.

    1. Các hạch bạch huyết vùng khuyết ức có thể quan sát thấy ở mức này và phía trên mức này
    2. Cạnh khí quản trên: nằm dưới xương đòn, bên phải nằm trên giao điểm của bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản, bên trái nằm trên cung động mạch chủ.
    3. Trước mạch máu và sau khí quản: nằm trước các mạch máu (3A) hoặc trước cột sống (3P)
    4. Cạnh khí quản dưới: nằm dưới bờ trên của cung động mạch chủ đến ngang mức phế quản gốc
    5. Dưới động mạch chủ (cửa sổ A-P): các hạch bạch huyết nằm bên ngoài dây chằng động mạch hoặc bên ngoài động mạch chủ hay động mạch phổi trái
    6. Cạnh động mạch chủ: các hạch bạch huyết nằm ở mặt trước và bên của động mạch chủ lên và cung động mạch chủ, phía dưới bờ trên của cung động mạch chủ
    7. Dưới carina
    8. Cạnh thực quản (dưới carina)
    9. Dây chằng phổi: các hạch bạch huyết nằm trong dây chằng phổi.
    10. -14: tất cả các hạch bạch huyết thuộc nhóm N1

    Nội soi Trung thất và Siêu âm Nội soi (EUS)

    Nội soi trung thất qua cổ thông thường

    Các nhóm hạch bạch huyết sau đây có thể được sinh thiết qua nội soi trung thất cổ: hạch cạnh khí quản trên bên trái và bên phải (nhóm 2L và 2R), hạch cạnh khí quản dưới bên trái và bên phải (nhóm 4L và 4R) và hạch dưới carina (nhóm 7).
    Hạch nhóm 1 nằm phía trên khuyết ức và thường không được tiếp cận thường quy qua nội soi trung thất cổ.

    Nội soi trung thất mở rộng

    Các khối u thùy trên phổi trái có thể di căn đến hạch bạch huyết dưới động mạch chủ (nhóm 5) và hạch cạnh động mạch chủ (nhóm 6).
    Các hạch này không thể được sinh thiết qua nội soi trung thất cổ thông thường.
    Nội soi trung thất mở rộng là một phương pháp thay thế cho phẫu thuật mở trung thất qua khoang liên sườn 2 phía trước, vốn được sử dụng phổ biến hơn để thăm dò các nhóm hạch trung thất.
    Thủ thuật này khó thực hiện hơn nhiều và do đó ít được áp dụng thường quy hơn so với nội soi trung thất thông thường.

    EUS-FNA

    Siêu âm nội soi kết hợp chọc hút bằng kim nhỏ (EUS-FNA) có thể được thực hiện đối với tất cả các hạch bạch huyết trung thất có thể tiếp cận qua thực quản.
    Ngoài ra, tuyến thượng thận trái và thùy gan trái cũng có thể được quan sát.
    EUS đặc biệt hữu ích trong việc tiếp cận các hạch ở trung thất dưới (nhóm 7, 8 và 9)