HRCT – Các chẩn đoán thường gặp
Robin Smithuis, Otto van Delden và Cornelia Schaefer-Prokop
Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp và Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam, Hà Lan
Ngày đăng
Trong bài tổng quan này, chúng tôi trình bày các dấu hiệu then chốt trong những bệnh phổi kẽ thường gặp nhất.
Có rất nhiều loại bệnh phổi kẽ khác nhau, tuy nhiên trong thực hành lâm sàng, chỉ khoảng mười bệnh chiếm tới xấp xỉ 90% tổng số các trường hợp.
Do đó, việc nắm vững các đặc điểm hình ảnh học cũng như biểu hiện lâm sàng của những bệnh phổi kẽ thường gặp này là vô cùng quan trọng để nhận diện chúng trong thực hành hàng ngày và đưa vào chẩn đoán phân biệt.
Một số bệnh phổi kẽ ít gặp hơn cũng sẽ được trình bày, bởi hình ảnh HRCT của chúng có thể rất đặc trưng, cho phép chẩn đoán ngay lập tức trong một số trường hợp được chọn lọc.
Trong bài ‘HRCT – Đọc phim cơ bản‘, thuật ngữ chuyên ngành được giới thiệu cùng với hướng dẫn tiếp cận thực hành trong đọc phim HRCT.
Giới thiệu
Có hơn 100 thực thể bệnh lý biểu hiện dưới dạng bệnh phổi lan tỏa.
May mắn thay, chỉ khoảng 10 trong số đó chiếm tới khoảng 90% tổng số các trường hợp bệnh phổi lan tỏa được đánh giá qua sinh thiết phổi mở.
Việc nắm vững các hình ảnh HRCT điển hình cũng như không điển hình của những bệnh phổi lan tỏa thường gặp này là cực kỳ quan trọng.
Ở bên trái là ba danh sách chẩn đoán khác nhau.
Các danh sách này chiếm từ 80 đến 90% tổng số chẩn đoán theo nhiều tài liệu tham khảo y văn.
Trong một số danh sách, tên cũ được sử dụng, trong khi một số khác dùng tên mới hơn.
Từ gợi nhớ (mnemonic) cho danh sách đầu tiên là ‘SHIT FACED’ (hoặc thay thế bằng ‘shaded fit’).
Sarcoidosis
Sarcoidosis là một rối loạn hệ thống chưa rõ nguyên nhân.
Bệnh đặc trưng bởi các u hạt không hoại tử bã đậu ở nhiều cơ quan, có thể tự thoái lui hoặc tiến triển thành xơ hóa.
Biểu hiện tại phổi xuất hiện ở 90% bệnh nhân.
Các triệu chứng toàn thân như mệt mỏi, đổ mồ hôi đêm và sụt cân thường gặp.
Hội chứng Loefgren, một thể khởi phát cấp tính của sarcoidosis, bao gồm viêm khớp, hồng ban nút, hạch rốn phổi hai bên và xảy ra ở 9-34% bệnh nhân.
Hồng ban nút gặp chủ yếu ở phụ nữ, trong khi viêm khớp phổ biến hơn ở nam giới.
Hai phần ba bệnh nhân có thể lui bệnh trong vòng mười năm.
Một phần ba có bệnh tiến triển liên tục dẫn đến suy giảm chức năng cơ quan có ý nghĩa lâm sàng.
Ít hơn 5% bệnh nhân tử vong do sarcoidosis, thường là hậu quả của xơ phổi.
Phân giai đoạn
Hình ảnh X-quang ngực trong sarcoidosis được phân thành bốn giai đoạn:
- Hạch to rốn phổi hai bên
- Hạch to rốn phổi hai bên + tổn thương nhu mô phổi
- Chỉ có tổn thương nhu mô phổi
- Xơ hóa không hồi phục
Các giai đoạn này không phản ánh mức độ mạn tính của bệnh cũng như không tương quan với sự thay đổi chức năng hô hấp.
Hình ảnh
Bệnh nhân ở giai đoạn I.
Có hạch to rốn phổi và cạnh khí quản, không có dấu hiệu tổn thương nhu mô phổi.

Sarcoidosis: hình ảnh điển hình với các nốt dọc theo bó mạch phế quản và các khe liên thùy. Lưu ý hạch vôi hóa một phần ở rốn phổi trái.
Dấu hiệu HRCT trong Sarcoidosis
- Dấu hiệu thường gặp:
- Các nốt nhỏ phân bố theo đường bạch huyết (dọc theo bề mặt dưới màng phổi và các khe liên thùy, dọc theo vách liên tiểu thùy và bó mạch phế quản).
- Ưu thế ở vùng trên và giữa phổi.
- Hạch to ở rốn phổi trái, rốn phổi phải và cạnh khí quản (dấu hiệu 1-2-3). Thường kèm vôi hóa.
- Dấu hiệu ít gặp:
- Các khối hợp lưu ở vị trí quanh rốn phổi.
- Các nốt lớn hơn (> 1cm đường kính), dạng nốt tập hợp hoặc nốt hợp lưu được bao quanh bởi nhiều nốt vệ tinh (dấu hiệu Galaxy)
- Các nốt quá nhỏ và dày đặc đến mức có hình ảnh kính mờ hoặc thậm chí đông đặc (sarcoidosis phế nang)
Hình ảnh
Hình ảnh điển hình của sarcoidosis với hạch to rốn phổi và các nốt nhỏ dọc theo bó mạch phế quản (mũi tên vàng) và dọc theo các khe liên thùy (mũi tên đỏ).
Hình ảnh
Hình ảnh chi tiết với biểu hiện HRCT điển hình gồm các nốt dọc theo bó mạch phế quản (mũi tên đỏ) và các khe liên thùy (mũi tên vàng).
Đây là phân bố theo đường bạch huyết điển hình của các nốt.
Hình ảnh HRCT của sarcoidosis phổi rất đa dạng và được biết đến là có thể bắt chước nhiều bệnh phổi thâm nhiễm lan tỏa khác.
Khoảng 60 đến 70% bệnh nhân sarcoidosis có hình ảnh X-quang đặc trưng.
Trong 25 đến 30% trường hợp, hình ảnh X-quang không điển hình.
Ở 5 đến 10% bệnh nhân, X-quang ngực bình thường.
Bên trái là một hình ảnh điển hình khác của sarcoidosis với hạch to trung thất và các nốt nhỏ phân bố theo đường bạch huyết dọc theo bó mạch phế quản và dọc theo các khe liên thùy (mũi tên vàng).
Luôn tìm kiếm các nốt nhỏ dọc theo các khe liên thùy, vì đây là dấu hiệu rất đặc hiệu và điển hình của sarcoidosis.
Xơ hóa trong Sarcoidosis.
Xơ hóa tiến triển trong sarcoidosis có thể dẫn đến các khối hợp lưu mô xơ quanh phế quản mạch máu (quanh rốn phổi).
Vị trí điển hình là ở phần sau của thùy trên, gây mất thể tích thùy trên kèm di lệch khe liên thùy.
Các bệnh khác thường có hình ảnh tương tự bao gồm:
- Bệnh bụi phổi silic
- Lao phổi
- Bệnh bụi phổi talc
Đây là hình ảnh X-quang ngực điển hình của sarcoidosis giai đoạn muộn (giai đoạn IV) với xơ hóa ở vùng trên phổi và mất thể tích thùy trên dẫn đến nâng cao rốn phổi.
Xơ hóa gây tắc nghẽn các mạch máu phổi, có thể dẫn đến tăng áp động mạch phổi.
Đây là một trường hợp khác của sarcoidosis giai đoạn IV.
Lưu ý sự phân bố của các khối hợp lưu xơ hóa ở phần sau của phổi.
Ngoài ra còn có nhiều nốt nhỏ bờ rõ.
Một số nốt trong số này có phân bố dưới màng phổi điển hình.
Sarcoidosis phế nang.
Đây là một trường hợp sarcoidosis phế nang.
Hãy cuộn qua các hình ảnh.
Hình ảnh trông giống như tăng tỷ trọng dạng kính mờ, nhưng khi quan sát kỹ hơn có thể nhận thấy rằng sự tăng tỷ trọng này là kết quả của nhiều nốt nhỏ tập hợp lại.
Cũng lưu ý hạch to rốn phổi.
Sarcoidosis phế nang (2)
Bên trái là bệnh nhân nữ 47 tuổi với triệu chứng ho khan, khó thở nhẹ và xét nghiệm máu bình thường.
Bệnh nhân được chụp X-quang ngực và điều trị kháng sinh.
Phim kiểm tra được chụp lại do bệnh nhân không cải thiện.
Phim X-quang ngực đầu tiên cho thấy đông đặc hai bên ở thùy dưới (mũi tên), ban đầu được diễn giải là nhiễm trùng.
Sau hai tuần điều trị kháng sinh, không có cải thiện.
Chẩn đoán phân biệt lúc này bao gồm u ác tính (ung thư phế quản phế nang hoặc u lympho), viêm phổi tăng bạch cầu ái toan, viêm phổi tổ chức hóa, bệnh Wegener hoặc một thể không điển hình của sarcoidosis.
Tiếp tục với hình ảnh HRCT.
Hãy cuộn qua các hình ảnh bên trái.
Có nhiều vùng đông đặc.
Các dấu hiệu kèm theo bao gồm hạch to rốn phổi và trung thất.
Chẩn đoán phân biệt trên hình ảnh CT về cơ bản giống như trên X-quang ngực.
Kết quả mô bệnh học xác nhận sarcoidosis phế nang.
Chỉ có một gợi ý duy nhất cho chẩn đoán, đó là sự hiện diện của các nốt nhỏ có thể nhận thấy ở hình 3, nhưng rất khó quan sát.
Trường hợp này minh họa rõ ràng rằng sarcoidosis thực sự là “kẻ bắt chước vĩ đại”.
Do đó, sarcoidosis cần được đưa vào danh sách chẩn đoán phân biệt của chúng ta!
Bên trái là một trường hợp sarcoidosis xơ hóa, cho thấy hình ảnh xơ hóa, giãn phế quản do co kéo và sự tập trung các phế quản bị tổn thương, chủ yếu ở vùng quanh rốn phổi và thùy trên.
Không có bất thường dạng nốt, nhưng hình ảnh và vị trí của xơ hóa rất gợi ý chẩn đoán sarcoidosis.
Bệnh bụi phổi silic / Bệnh bụi phổi than ở thợ mỏ
Bệnh bụi phổi silic và bệnh bụi phổi than ở thợ mỏ (CWP) là hai thực thể bệnh lý riêng biệt với mô học khác nhau, phát sinh do hít phải các loại bụi vô cơ khác nhau.
Tuy nhiên, hình ảnh X-quang và HRCT của hai bệnh này có thể không phân biệt được với nhau và có thể tương tự như bệnh sarcoidosis.
Điều quan trọng cần nhận thức là các bệnh này hiếm gặp hơn so với sarcoidosis.
Bệnh bụi phổi silic và CWP xảy ra ở một nhóm bệnh nhân đặc thù (công nhân xây dựng, công nhân khai thác mỏ, công nhân tiếp xúc với phun cát, thổi thủy tinh và làm gốm sứ).
Dấu hiệu HRCT trong bệnh bụi phổi silic/CWP
- Các nốt nhỏ bờ rõ, đường kính từ 2 đến 5mm, xuất hiện ở cả hai phổi.
- Ưu thế ở thùy trên
- Các nốt có thể bị vôi hóa
- Phân bố trung tiểu thùy và dưới màng phổi
- Đôi khi có phân bố ngẫu nhiên
- Các khối tập hợp không đều, được gọi là xơ hóa khối tiến triển (progressive massive fibrosis)
- Các khối có thể tạo hang do hoại tử thiếu máu cục bộ.
- Thường có hạch bạch huyết rốn phổi và trung thất.
Hình bên trái là một trường hợp bệnh bụi phổi silic cho thấy các nốt có kích thước khác nhau với phân bố ngẫu nhiên và dưới màng phổi.
Một nốt có chứa vôi hóa (mũi tên).
Lưu ý sự vắng mặt của kiểu phân bố theo đường bạch huyết (quanh phế quản-mạch máu và dọc theo các khe liên thùy), vốn là gợi ý của bệnh sarcoidosis.

Cùng bệnh nhân bụi phổi silic như các hình trước, cho thấy một khối tập hợp ở vị trí cạnh rốn phổi thuộc thùy trên phổi phải. Thùy trái cho thấy nhiều nốt có kích thước khác nhau.
Chẩn đoán phân biệt bệnh bụi phổi silic / Bệnh bụi phổi.
- Sarcoidosis: có thể khó phân biệt (chú ý đến phân bố của các nốt).
- Nhiễm trùng: lao kê, nấm.
- Di căn theo đường máu: các nốt bụi phổi silic ở vị trí dưới màng phổi và quanh tiểu phế quản đến mức tiểu thùy phổi thứ cấp, có thể có phân bố có vẻ ngẫu nhiên và mô phỏng di căn cũng như nhiễm trùng dạng kê.
- Bệnh mô bào Langerhans: có thể khó phân biệt với bệnh bụi phổi silic ở giai đoạn sớm, khi LCH chỉ đặc trưng bởi sự hiện diện của các nốt nhỏ. Chú ý tìm các nốt có tạo hang.
Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa (Lymphangitic Carcinomatosis)
Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa (Lymphangitic Carcinomatosis) là hậu quả của sự lan rộng theo đường máu đến phổi, tiếp theo là xâm lấn vào mô kẽ và hệ bạch huyết.
Các triệu chứng khởi phát bao gồm khó thở và ho, có thể xuất hiện trước khi có bất thường trên hình ảnh X-quang.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, bệnh nhân hoàn toàn không có triệu chứng.
Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa thường gặp trong ung thư phổi, vú, dạ dày, tụy, tuyến tiền liệt, cổ tử cung, tuyến giáp và ung thư biểu mô tuyến di căn từ nguyên phát không rõ nguồn gốc.
Dấu hiệu HRCT trong Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa
- Dày vách liên tiểu thùy, dày các khe liên thùy và dày mô kẽ quanh phế quản-mạch máu (dấu hiệu “bronchial cuffing”).
- Tùy thuộc vào việc lấp đầy bởi dịch hay tế bào khối u, dày vách có thể không đều hoặc nhẵn.
- Bất thường khu trú hoặc một bên trong 50% bệnh nhân.
- Hạch bạch huyết rốn phổi to trong 50% bệnh nhân.
- Tràn dịch màng phổi do ung thư màng phổi lan tỏa ( > 50% bệnh nhân).
Hình ảnh
Bệnh nhân với Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa.
Lưu ý phân bố khu trú của tổn thương.
Đặc điểm này có giá trị trong việc phân biệt Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa với các nguyên nhân khác gây dày vách liên tiểu thùy như phù phổi hoặc sarcoidosis.
Ngoài ra còn có hình ảnh hạch to.
Hình ảnh
Bệnh nhân khác với Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa có dày vách liên tiểu thùy (mũi tên vàng).
Kèm theo tràn dịch màng phổi (mũi tên xanh) và tổn thương di căn phổi (vòng tròn).
Ví dụ về Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa và chẩn đoán phân biệt
- Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa: dày vách không đều, thường khu trú hoặc một bên, hạch to trong 50% trường hợp, có tiền sử ung thư đã biết.
- Phù phổi do tim: bất thường hai bên, lấp đầy phế nang, tim to, đáp ứng nhanh với thuốc lợi tiểu, kính mờ (ground-glass opacity) do phế nang lấp đầy dịch, phân bố dịch phế nang theo trọng lực.
- Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa.
- Ung thư hạch bạch huyết lan tỏa kèm hạch rốn phổi to và dày mô kẽ quanh phế quản-mạch máu trung tâm.
- Protein phế nang (Alveolar proteinosis): các tiểu thùy thứ cấp giới hạn rõ với đậm độ kính mờ tương phản với các tiểu thùy thứ cấp thông khí bình thường, dày vách liên tiểu thùy và nội tiểu thùy chồng lên nhau (hình ảnh “crazy paving”).
- Phù phổi do tim.
Phù phổi do tim (Cardiogenic pulmonary edema)
Bệnh nhân phù phổi thường không được chụp HRCT vì chẩn đoán thường dựa trên sự kết hợp giữa các dấu hiệu lâm sàng và hình ảnh X-quang ngực thẳng.
Tuy nhiên, đôi khi chẩn đoán không đơn giản như vậy, và việc nắm vững hình ảnh HRCT của phù phổi có thể hữu ích trong việc tránh chẩn đoán nhầm.
Dấu hiệu HRCT trong phù phổi do tim
- Dày vách liên tiểu thùy hai bên và mờ dạng kính mờ (ground-glass opacity).
- Phân bố chủ yếu ở vùng quanh rốn phổi và vùng thấp (phụ thuộc trọng lực) của phổi.
- Tim to và tràn dịch màng phổi.
Hình bên trái minh họa các đặc điểm điển hình của phù phổi do tim.
Có hình ảnh dày vách liên tiểu thùy đều đặn và một số vùng mờ dạng kính mờ ở phần thấp của phổi.
Ngoài ra, có hình ảnh tràn dịch màng phổi hai bên.
Ở bệnh nhân có tiền sử ác tính đã biết, ung thư di căn dạng viêm bạch mạch (lymphangitic carcinomatosis) cần được đặt lên hàng đầu trong chẩn đoán phân biệt.
Chẩn đoán phân biệt phù phổi do tim.
- Ung thư di căn dạng viêm bạch mạch (Lymphangitic carcinomatosis)
- Viêm phổi kẽ (do virus, Mycoplasma)
- Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)
- Xuất huyết phổi
Hình bên trái là một ví dụ khác về phù phổi do tim.
Bệnh nhân này được chụp CT để loại trừ thuyên tắc phổi.
Có hình ảnh dày vách liên tiểu thùy đều đặn và mờ dạng kính mờ với phân bố dạng đốm không đều.
Lưu ý: phù phổi có thể có hình ảnh rất không điển hình và phân bố rất không đồng đều — một số vùng bị lấp đầy dịch trong khi các vùng lân cận ngay bên cạnh lại có hình ảnh hoàn toàn bình thường.
Viêm Phổi Quá Mẫn
Viêm phổi quá mẫn (HP) còn được gọi là viêm phế nang dị ứng ngoại sinh (EAA).
HP là bệnh phổi dị ứng do hít phải nhiều loại kháng nguyên khác nhau (phổi người nông dân, phổi người nuôi chim, phổi do bồn tắm nước nóng, phổi do máy tạo độ ẩm).
Các bất thường trên hình ảnh X-quang và mô bệnh học ở bệnh nhân có thể được phân loại thành giai đoạn cấp tính, bán cấp và mạn tính.
HRCT thường được thực hiện trong giai đoạn bán cấp của HP, từ vài tuần đến vài tháng sau lần tiếp xúc đầu tiên với kháng nguyên, hoặc trong giai đoạn mạn tính.
Viêm phổi quá mẫn bán cấp
Các dấu hiệu chính trong viêm phổi quá mẫn bán cấp bao gồm:
- Các nốt trung tâm tiểu thùy bờ không rõ có dạng kính mờ (80% các trường hợp) hoặc
- Hình ảnh khảm kết hợp giữa vùng kính mờ dạng đốm do thâm nhiễm phổi và vùng sáng dạng đốm do viêm tiểu phế quản với bẫy khí
Dưới đây là hai ví dụ về viêm phổi quá mẫn bán cấp.
Có thể thấy các nốt trung tâm tiểu thùy bờ không rõ dạng kính mờ.
Đây là một trường hợp khác của viêm phổi quá mẫn bán cấp.
Có thể thấy hình mờ mờ nhạt ở trung tâm các tiểu thùy thứ cấp (mũi tên) với vùng dưới màng phổi được bảo tồn.
Hình ảnh HRCT này cũng cho thấy hình mờ trung tâm tiểu thùy mờ nhạt ở bệnh nhân HP bán cấp.
Lưu ý ranh giới không rõ của các nốt trung tâm tiểu thùy này.
Đôi khi các hình mờ trung tâm tiểu thùy có hình thái dạng nốt rõ hơn như trong trường hợp này.
Đây là một trường hợp khác của viêm phổi quá mẫn.
Có hình ảnh khảm.
Một số tiểu thùy thứ cấp biểu hiện kính mờ do thâm nhiễm phổi, trong khi các tiểu thùy khác sáng hơn do viêm tiểu phế quản với bẫy khí.
Bệnh nhân này nhập viện với triệu chứng khó thở cấp tính và phim X-quang ngực bình thường (không trình bày).
HRCT lúc nhập viện (trái) cho thấy các vùng kính mờ theo phân bố tiểu thùy.
HRCT kiểm tra mười ngày sau (phải) cho thấy các tổn thương đã thoái lui hoàn toàn mà không cần điều trị.
Các tổn thương được cho là do viêm phổi quá mẫn.
Viêm phổi quá mẫn mạn tính
Các dấu hiệu chính trong viêm phổi quá mẫn mạn tính bao gồm:
- Hình ảnh khảm với các vùng kính mờ và các vùng giảm tỷ trọng.
- Xơ hóa và biến dạng nhu mô phân bố chủ yếu ở vùng giữa phổi.
Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân viêm phổi quá mẫn mạn tính.
HRCT cho thấy hình ảnh khảm với các tiểu thùy thứ cấp ứ khí và các tiểu thùy thứ cấp tăng tỷ trọng.
Ngoài ra còn có dày vách liên tiểu thùy và lưới nội tiểu thùy, gợi ý xơ hóa không hồi phục đã hình thành.
Chẩn đoán phân biệt của Viêm phổi quá mẫn.
-
Giai đoạn bán cấp:
- RB-ILD: gặp ở người hút thuốc, ưu thế ở thùy trên, thường kèm theo khí phế thũng trung tâm tiểu thùy.
- Protein phế nang.
-
Giai đoạn mạn tính:
-
UIP: có thể có hình ảnh HRCT rất tương đồng.
UIP có phân bố ưu thế ở vùng phổi dưới.
Trong HP mạn tính, các thay đổi xơ hóa thường gặp trên toàn bộ nhu mô phổi từ ngoại vi đến trung tâm.
-
UIP: có thể có hình ảnh HRCT rất tương đồng.
Viêm phổi quá mẫn mạn tính (2)
Trường hợp bên trái cho thấy hình ảnh chụp thì hít vào và thở ra: hình ảnh khảm với các vùng kính mờ và các vùng giảm tỷ trọng trở nên rõ ràng hơn trên ảnh thở ra, gợi ý bẫy khí.
Các dấu hiệu xơ hóa như biến dạng mạch máu và phế quản cũng như dày vách liên tiểu thùy rõ hơn ở vùng giữa và dưới phổi, nhưng không giới hạn ở vùng dưới màng phổi.
Các hình ảnh bên trái gợi ý chẩn đoán viêm phổi quá mẫn.
Dựa trên hình ảnh học đơn thuần, protein phế nang và các bệnh lý khác có hình ảnh khảm cần được đưa vào chẩn đoán phân biệt.
Lao phổi (Tuberculosis)
Lao nguyên phát (Primary TB):
Nhiễm trùng lần đầu với biểu hiện đông đặc phổi, hạch to và tràn dịch màng phổi.
Lao thứ phát (Secondary TB):
Lao sau nguyên phát hoặc lao tái hoạt động.
Đây là sự tái hoạt của ổ nhiễm trùng ban đầu.
Thường khu trú tại các phân thùy đỉnh của thùy trên với hình ảnh tạo hang.
Lan tràn qua đường phế quản (Endobronchial spread): Có thể xảy ra trong cả lao nguyên phát và thứ phát, khi nhiễm trùng không được kiểm soát.
Lan tràn theo đường máu (Lao kê – Miliary TB): Có thể xảy ra trong cả lao nguyên phát và thứ phát, khi nhiễm trùng không được kiểm soát.
Hình ảnh HRCT trong lao phổi
-
Lao nguyên phát:
- Đông đặc phổi ở bất kỳ vị trí nào, hạch bạch huyết to và tràn dịch màng phổi. Thường thoái triển thành nốt phổi vôi hóa và hạch bạch huyết cùng bên vôi hóa.
- Lao thứ phát:
- Đông đặc tại các phân thùy đỉnh của thùy trên hoặc phân thùy đỉnh của thùy dưới.
- Tạo hang
- Lan tràn qua đường phế quản:
- Hình ảnh “cành cây nảy chồi” (tree-in-bud)
- Lao kê:
- Các nốt 2-3 mm với phân bố ngẫu nhiên.
Hình bên trái là bệnh nhân lao phổi.
Có tổn thương tạo hang và hình ảnh “cành cây nảy chồi” điển hình.
Mũi tên màu xanh chỉ kim sinh thiết.
Lao kê (Miliary TB)
Đây là biểu hiện của sự phát tán nhiễm trùng theo đường máu, có thể xảy ra trong bối cảnh lao nguyên phát hoặc lao sau nguyên phát.
Đặc trưng bởi các nốt nhỏ đồng đều với phân bố ngẫu nhiên.
Tạo hang trong lao phổi
Phim X-quang ngực bên trái cho thấy các vùng đông đặc khoang khí dạng nốt lan tỏa.
HRCT chứng minh nhiều nốt phân bố quanh phế quản, một phần hợp lưu, và một ổ tạo hang ở phổi phải, gợi ý mạnh cho chẩn đoán lao phổi.
Các bệnh lý khác trong chẩn đoán phân biệt bao gồm u hạt Wegener hoặc ác tính (cả hai đều không có hình ảnh “cành cây nảy chồi”).
Lan tràn lao qua đường phế quản
Có thể xảy ra trong lao nguyên phát hoặc lao sau nguyên phát.
Ở hầu hết bệnh nhân, nhiễm trùng nguyên phát được khu trú và không có biểu hiện lâm sàng.
Tuy nhiên, ở 5 đến 10% bệnh nhân lao nguyên phát, nhiễm trùng không được kiểm soát tốt và xảy ra phát tán.
Tình trạng này được gọi là lao nguyên phát tiến triển.
Tạo hang lan rộng trong viêm phổi lao dẫn đến lan tràn nhiễm trùng qua đường phế quản.
Vỡ hạch bạch huyết hoại tử vào lòng phế quản cũng có thể gây phát tán qua đường phế quản.
Hình ảnh “cành cây nảy chồi” (tree-in-bud) là điển hình cho sự lan tràn nhiễm trùng qua đường phế quản đang hoạt động.
Hình ảnh này xuất hiện trong lao cấp tính nhưng cũng gặp trong bất kỳ nhiễm khuẩn nào khác.
Chẩn đoán phân biệt lao phổi.
- Lao nguyên phát: Viêm phổi vi khuẩn cấp tính
- Lao thứ phát: Sarcoidosis, Bụi phổi silic (Silicosis), Bệnh bụi phổi (Pneumoconiosis)
- Lao lan tràn qua đường phế quản: Viêm phế quản phổi, Viêm phổi quá mẫn
- Lao kê: Di căn từ ung thư tuyến giáp thể tủy, ung thư màng đệm (choriocarcinoma) và u hắc tố (melanoma).
Trong cả lao kê và di căn, các nốt đều có phân bố ngẫu nhiên.
Trong lao kê, các nốt đồng đều hơn về kích thước.
Hình ảnh
- Lao kê – các nốt nhỏ đồng đều phân bố ngẫu nhiên
- Di căn – các nốt có kích thước khác nhau phân bố ngẫu nhiên.
Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính
Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính là một bệnh lý vô căn, đặc trưng bởi sự lấp đầy các phế nang bởi bạch cầu ái toan.
Bệnh có liên quan đến tình trạng tăng số lượng bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi; bệnh nhân thường biểu hiện với sốt, ho, sụt cân, mệt mỏi và khó thở.
Các triệu chứng thường nặng nề và kéo dài từ ba tháng trở lên.
Bệnh nhân đáp ứng nhanh chóng với điều trị bằng corticosteroid.
Hình ảnh HRCT trong viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính
- Đông đặc ngoại vi với ưu thế ở thùy trên (hình ảnh âm bản của phù phổi).
Bên trái là hình ảnh CT có tiêm thuốc cản quang của một bệnh nhân viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính.
Lưu ý phân bố ngoại vi của các vùng đông đặc.
Chẩn đoán phân biệt viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính
- Viêm phổi tổ chức hóa (COP)
- Hội chứng Löffler (tăng bạch cầu ái toan và các vùng đông đặc ngoại vi thoáng qua)
- Hội chứng Churg-Strauss (cũng có tăng bạch cầu ái toan trong huyết thanh, hen phế quản, viêm mạch hệ thống ảnh hưởng nhiều cơ quan: suy thận, đau khớp, viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim)
- Nhồi máu phổi
Các hình ảnh bên trái cho thấy sự tương đồng giữa viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính và viêm phổi tổ chức hóa.
Việc phân biệt hai bệnh lý này cần dựa trên các dữ liệu lâm sàng và xét nghiệm.
Viêm phổi do Pneumocystis carinii
Viêm phổi do Pneumocystis carinii (PCP), hay còn gọi là Pneumocystis jiroveci theo danh pháp hiện hành, là một nhiễm trùng cơ hội xảy ra ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
PCP từng ảnh hưởng đến hầu hết bệnh nhân nhiễm HIV ở một giai đoạn nào đó trong quá trình diễn tiến bệnh, tuy nhiên với sự ra đời của các thuốc kháng vi-rút thế hệ mới, bệnh đã trở nên ít gặp hơn.
Hiện nay, PCP được ghi nhận nhiều hơn ở các bệnh nhân ức chế miễn dịch, bao gồm bệnh nhân ghép tạng và bệnh nhân đang điều trị hóa chất.
Hình ảnh HRCT trong PCP
- Mờ dạng kính mờ (ground-glass opacification) quanh rốn phổi hoặc lan tỏa.
- Đôi khi có dày các đường vách liên tiểu thùy kết hợp với vùng kính mờ.
- Giai đoạn muộn xuất hiện nang (hoặc phế nang khí thũng – pneumatoceles) ở 10-35% bệnh nhân, thường ở thùy trên.
- Các nang có thể có hình dạng bất thường và thành dày.
- Sau điều trị, các tổn thương này dần thoái triển, có thể biến mất hoàn toàn hoặc để lại các nốt hay sẹo xơ tồn dư.
- Tràn khí màng phổi gặp ở 35% bệnh nhân có nang.
Hình bên trái là bệnh nhân suy giảm miễn dịch mắc PCP.
Hình ảnh CT cho thấy mờ dạng kính mờ lan tỏa.
Hình ảnh này không đặc hiệu cho PCP, nhưng trong bối cảnh lâm sàng này, PCP là chẩn đoán có khả năng cao nhất.
PCP: Cuộn qua các hình ảnh
Hình bên trái là một bệnh nhân khác mắc PCP.
Cuộn qua các hình ảnh để xem.
ARDS
Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) là tình trạng suy hô hấp đột ngột, đe dọa tính mạng, đòi hỏi phải thở máy.
ARDS là hậu quả của tình trạng tăng tính thấm thành mạch, thường kết hợp với tổn thương biểu mô đường hô hấp.
Nhiều nguyên nhân khác nhau, từ nhiễm trùng đến chấn thương nặng, đều có thể gây ra ARDS.
Yếu tố nguy cơ từ phổi (nguyên phát) bao gồm hít sặc, viêm phổi, hít phải chất độc và đụng dập phổi.
Yếu tố nguy cơ ngoài phổi bao gồm nhiễm khuẩn huyết, viêm tụy, truyền máu nhiều lần, chấn thương và sử dụng các chất như heroin.
Các thể ARDS nhẹ có thể hồi phục hoàn toàn, trong khi các thể nặng dẫn đến xơ hóa không hồi phục.
Lý do tại sao một số người phát triển ARDS trong khi những người khác thì không vẫn chưa được biết rõ.
ARDS ngoài phổi
Hình bên trái là bệnh nhân bị tai nạn giao thông và trong vòng vài giờ đã phát triển ARDS.
Hình thái chiếm ưu thế là kính mờ (ground glass opacity).
Tại các vùng phụ thuộc trọng lực của phổi còn có thêm một số vùng đông đặc, tạo ra gradient từ trước ra sau.
Một đặc điểm quan trọng trong ARDS ngoài phổi là tính đối xứng của các bất thường.
ARDS tại phổi
Hình bên trái là bệnh nhân phát triển ARDS do viêm phổi (tức là ARDS tại phổi).
Lưu ý sự phân bố dạng đốm của tổn thương phổi và tình trạng biến dạng gần như hoàn toàn ở vùng đáy phổi.
Bệnh nhân được thở máy với PEEP (áp lực dương cuối thì thở ra) dẫn đến chấn thương áp lực (barotrauma) nhu mô phổi: có nhiều nang dưới màng phổi và tràn khí màng phổi hai bên.

TRÁI: ARDS. PHẢI: Xơ hóa vùng phổi trước do tổn thương liên quan đến chấn thương áp lực và thở máy PEEP
Các vùng đông đặc có tác dụng bảo vệ nhu mô phổi khỏi tác động của thở máy PEEP, trong khi các vùng phổi bình thường hơn nằm ở phía bụng (ventral) lại dễ bị ảnh hưởng nhất bởi chấn thương áp lực.
Hậu quả là chúng ta thấy tình trạng phá hủy dạng nang ở vùng bụng và xơ hóa tồn dư chủ yếu ở các vùng phổi phía bụng.
Viêm phổi mô kẽ vô căn
Viêm phổi mô kẽ vô căn (IIPs) bao gồm một nhóm các rối loạn không đồng nhất.
Chúng đại diện cho các đáp ứng cơ bản của phổi trước tổn thương và về bản chất không phải là các ‘bệnh lý’ theo nghĩa thông thường.
‘Vô căn’ có nghĩa là nguyên nhân chưa được xác định, còn ‘viêm phổi mô kẽ’ đề cập đến sự tổn thương nhu mô phổi với các mức độ kết hợp khác nhau giữa xơ hóa và viêm.
IIPs bao gồm bảy thực thể được liệt kê trong bảng bên trái theo thứ tự tần suất tương đối.
Các bệnh lý này có các dạng tổn thương hình thái học đặc trưng trên HRCT và mô bệnh học.
Trước khi gọi các tổn thương này là vô căn hay ẩn nguyên, cần nhận thức rằng các dạng tổn thương này cũng là những phát hiện thường gặp trong bệnh mô liên kết (ví dụ: xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp) và bệnh phổi do thuốc.
Chẳng hạn, ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, người ta đã ghi nhận các dạng tổn thương NSIP, UIP, OP và LIP.
UIP
Viêm phổi mô kẽ thông thường (UIP) là một chẩn đoán mô bệnh học.
UIP có các đặc điểm HRCT đặc trưng và thường được xác nhận qua sinh thiết phổi khi có hình ảnh tổ ong.
Nếu dạng UIP không xác định được nguyên nhân (tức là vô căn), bệnh được gọi là Xơ phổi vô căn (IPF).
IPF chiếm hơn 60% các trường hợp UIP.
Khi sinh thiết phẫu thuật cho thấy dạng UIP, chẩn đoán IPF đòi hỏi phải loại trừ các nguyên nhân đã biết khác của UIP, bao gồm độc tính thuốc, phơi nhiễm môi trường (amiăng) và các bệnh mô liên kết như viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống, viêm đa động mạch nút và xơ cứng bì.
Nhiều loại thuốc đã được xác định có liên quan, nhưng dạng tổn thương này thường gặp nhất là hậu quả của các thuốc hóa trị liệu gây độc tế bào như bleomycin, busulfan, vincristine, methotrexate, adriamycin và carmustine (BCNU).
Việc phân biệt giữa NSIP và UIP có ý nghĩa tiên lượng rất lớn đối với bệnh nhân.
UIP tiến triển nặng hơn và hơn 50% bệnh nhân UIP tử vong trong vòng 3 năm.

Phim X-quang ngực của bệnh nhân UIP cho thấy dạng lưới ở vùng đáy phổi và dưới màng phổi do hình ảnh tổ ong.
Bên trái là phim X-quang ngực của bệnh nhân UIP do IPF.
Các dấu hiệu trên phim X-quang ngực bao gồm mất thể tích và các thay đổi xơ hóa ở vùng đáy phổi.
Hình ảnh X-quang của tổ ong bao gồm các đậm độ dạng lưới do thành dày của các nang.
Khi thấy phim X-quang ngực có hình lưới kéo dài với ưu thế ở thùy dưới và ngoại vi, hãy nghĩ đến ‘UIP’.
Dấu hiệu HRCT trong UIP
- Hình ảnh tổ ong gồm các nang thành dày nhiều lớp.
- Biến dạng cấu trúc với giãn phế quản do co kéo (traction bronchiectasis) do xơ hóa.
- Ưu thế ở vùng đáy phổi và dưới màng phổi.
- Hạch bạch huyết trung thất to nhẹ
UIP: Ưu thế ở thùy dưới
Chẩn đoán phân biệt của UIP.
- Viêm phổi quá mẫn mạn tính
- Sarcoidosis giai đoạn cuối
- NSIP
Viêm phổi quá mẫn mạn tính có thể không phân biệt được với UIP.
Cần nghi ngờ chẩn đoán này khi có dạng khảm với vùng đáy phổi được bảo tồn hoặc khi có các nốt trung tâm tiểu thùy.
Sarcoidosis là chẩn đoán có khả năng hơn nếu xơ hóa khu trú ở phần sau của thùy trên hoặc vùng quanh rốn phổi, đồng thời có các nốt phân bố quanh bạch huyết hoặc hạch bạch huyết trung thất to lan rộng.
Sự hiện diện của mảng màng phổi giúp phân biệt giữa IPF và bệnh phổi do amiăng.
Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân UIP.
Lưu ý hình ảnh tổ ong và ưu thế ở vùng dưới màng phổi và đáy phổi.
Thông thường, dạng UIP trên HRCT khá dễ nhận biết.
NSIP
Viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu (NSIP) được một số tác giả coi là một thực thể bệnh lý riêng biệt với các đặc điểm mô bệnh học đặc trưng, nhưng một số khác lại xem đây là chẩn đoán ‘thùng rác’, đại diện cho các trường hợp viêm phổi mô kẽ vô căn không thể phân loại thành UIP, DIP hay OP.
Về mô bệnh học, NSIP được đặc trưng bởi dạng viêm mô kẽ tế bào đồng nhất, đồng đều kết hợp với các mức độ xơ hóa khác nhau.
Ngược lại, UIP liên quan đến xơ hóa lan rộng không đồng nhất về thời gian (tức là các tổn thương ở các giai đoạn tiến triển khác nhau).
NSIP là một nhóm rất không đồng nhất.
NSIP dao động từ type I với dạng tế bào biểu hiện là mờ kính mờ trên HRCT đến type IV với dạng xơ hóa, có thể không phân biệt được với UIP.
Cuộn qua các hình ảnh.
Bên trái là bệnh nhân NSIP.
Bệnh nhân này có biểu hiện ban da và yếu cơ.
Cuộn qua các hình ảnh.
Dấu hiệu chủ yếu là mờ kính mờ (GGO).
Có giãn phế quản do co kéo rất tinh tế, cho thấy GGO là hậu quả của xơ hóa và do đó không hồi phục.
Điều quan trọng cần lưu ý là chúng ta không thấy phân bố điển hình của UIP, vốn là bệnh cần phân biệt với NSIP.
Tiền sử của bệnh nhân này gợi ý chẩn đoán viêm da cơ (dermatomyositis).
NSIP là bệnh phổi mô kẽ phổ biến nhất ở bệnh nhân mắc bệnh mô liên kết.
NSIP (2)
NSIP không phải là một chẩn đoán độc lập.
Đây là một dạng tổn thương phổi.
Đối với nhà giải phẫu bệnh, đặc điểm then chốt là tính đồng nhất của bất thường trong phổi.
Vai trò của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh là ‘loại trừ dạng UIP’ hơn là đưa ra chẩn đoán NSIP.
Chẩn đoán NSIP đòi hỏi phải có bằng chứng mô bệnh học.
Ở tất cả bệnh nhân có dạng NSIP, bác sĩ lâm sàng cần được tư vấn tìm kiếm bệnh mô liên kết, viêm phổi quá mẫn hoặc nguyên nhân do thuốc.
Bên trái là hai trường hợp NSIP.
Lưu ý sự kết hợp đa dạng giữa GGO và xơ hóa (giãn phế quản do co kéo), nhưng không có hình ảnh tổ ong.
NSIP (3)
NSIP là dạng tổn thương phổi chiếm ưu thế trong xơ cứng bì hệ thống và viêm đa cơ/viêm da cơ (hơn 90%), nhưng cũng có thể gặp trong viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjögren và bệnh mô liên kết hỗn hợp.
Trong các hình ảnh bên trái, bạn có thể thấy lại phổ các dấu hiệu gặp trong NSIP.
Cả ba bệnh nhân đều mắc bệnh mô liên kết và tất cả các trường hợp đều được xác nhận bằng sinh thiết.
Trường hợp đầu tiên (trên bên trái) cho thấy GGO rất tinh tế.
Lưu ý sự khác biệt về tỷ trọng giữa không khí trong phế quản và nhu mô phổi xung quanh (dấu hiệu phế quản tối).
Trường hợp thứ hai (trên bên phải) là ví dụ rõ ràng hơn về GGO với các đậm độ dạng lưới mịn chồng lên do dày vách tiểu thùy.
Hình ảnh cuối cùng cũng cho thấy GGO với dạng lưới mịn.
Lưu ý sự vắng mặt của hình ảnh tổ ong trong cả ba trường hợp, loại trừ UIP là chẩn đoán.
NSIP (4)
HRCT của bệnh nhân xơ cứng bì và NSIP này cho thấy dạng lưới mịn dưới màng phổi ở thùy trên và các bất thường lan rộng hơn ở vùng phổi dưới.
Cũng có các vùng kính mờ và giãn phế quản do co kéo, nhưng hình ảnh tổ ong thường vắng mặt.
Lưu ý thực quản giãn nhẹ, phù hợp với xơ cứng bì.
COP
Viêm phổi tổ chức hóa ẩn nguyên (COP) trước đây được mô tả là viêm tiểu phế quản tắc nghẽn kết hợp viêm phổi tổ chức hóa (BOOP) trong phiên bản phân loại cũ của viêm phổi mô kẽ vô căn.
Đây là một quá trình viêm trong đó quá trình lành thương được đặc trưng bởi sự tổ chức hóa của dịch tiết thay vì tái hấp thu (‘viêm phổi không hồi phục’).
Viêm phổi tổ chức hóa chủ yếu là v
Bệnh phổi do thuốc
Bệnh phổi do thuốc là một nguyên nhân quan trọng gây tổn thương phổi do thầy thuốc.
Vấn đề chẩn đoán chủ yếu là bệnh có thể biểu hiện với nhiều dạng hình ảnh X-quang khác nhau.
Bệnh có thể biểu hiện dưới dạng viêm phổi tổ chức hóa, viêm phổi tăng bạch cầu ái toan, xơ hóa, viêm phổi quá mẫn hoặc thậm chí là ARDS.
Chẩn đoán bệnh phổi do thuốc thường là chẩn đoán loại trừ.
Hình bên trái là một bệnh nhân đang được điều trị bằng thuốc độc tế bào cho một bệnh lý ác tính huyết học.
Các dấu hiệu X-quang bao gồm các vùng kính mờ, một số giãn phế quản do co kéo và hình tổ ong mờ nhạt ở thùy dưới phổi trái.
Đây có thể là kết quả của một dạng xơ hóa vô căn như xơ phổi vô căn và viêm phổi kẽ không đặc hiệu, hoặc xơ hóa trong viêm phổi quá mẫn mạn tính và sarcoid giai đoạn muộn.
Tuy nhiên, đây không phải là một trong những dạng xơ hóa điển hình mà chúng ta thường gặp ở bệnh nhân có dạng UIP hoặc dạng NSIP thấy trong các bệnh collagen mạch máu.
Khi có xơ hóa không phù hợp với bất kỳ bệnh xơ hóa phổ biến nào, hãy luôn xem xét bệnh phổi do thuốc trong chẩn đoán phân biệt.
Viêm phổi tổ chức hóa do thuốc thường do Bleomycin và Cyclophosphamide gây ra, cùng với các thuốc khác như Methotrexate, Amiodarone, Nitrofurantoin và Penicillamine (9).
Các dấu hiệu trên HRCT tương tự như trong viêm phổi tổ chức hóa ẩn nguyên.
Viêm phổi kẽ không đặc hiệu (NSIP) do thuốc thường xảy ra nhất như một biểu hiện của độc tính carmustine hoặc độc tính từ các thuốc không phải độc tế bào như amiodarone.
Các dấu hiệu X-quang tương tự như trong các dạng NSIP khác.
Các bệnh phổi kẽ không thường gặp
Lymphangiomyomatosis
- Bệnh hiếm gặp, chỉ xảy ra ở phụ nữ tiền mãn kinh.
- Đặc trưng bởi sự tăng sinh tiến triển của các tế bào cơ trơn bất thường dọc theo các tiểu phế quản, dẫn đến bẫy khí và hình thành các nang thành mỏng thay thế nhu mô phổi bình thường.
- Các biến đổi phổi tương tự được ghi nhận ở 1% bệnh nhân mắc bệnh xơ cứng củ (chủ yếu ảnh hưởng đến nam giới trẻ tuổi).
Biểu hiện lâm sàng:
- Đa số bệnh nhân biểu hiện bằng khó thở.
- Tràn dịch màng phổi dưỡng chấp (40%), tràn khí màng phổi (40%), ho ra máu (40%).
- Bệnh nhân tử vong trong vòng 10 năm kể từ khi khởi phát triệu chứng.
- Thai kỳ có thể làm bệnh tiến triển nặng hơn.
Các dấu hiệu chính trong Lymphangiomyomatosis:
- Nhiều nang thành mỏng, được bao quanh bởi nhu mô phổi bình thường.
- Các nang có đường kính từ 2mm đến 5cm, hình tròn và tương đối đồng đều.
- Các nang phân bố lan tỏa khắp phổi, ảnh hưởng tương đương ở cả thùy trên và thùy dưới.
- Độ dày thành nang dao động từ hầu như không nhìn thấy đến 4mm.
- Hạch bạch huyết trung thất hoặc rốn phổi và tràn dịch màng phổi (40%).
- Tràn khí màng phổi tái phát (40%).
Bên trái là một trường hợp điển hình của LAM với nhiều nang thành mỏng phân bố đều, biến chứng tràn khí màng phổi.
Chẩn đoán phân biệt Lymphangiomyomatosis:
- Mô bào tế bào Langerhans: > 90% là người hút thuốc lá, các nang có hình dạng bất thường và các góc sườn hoành đáy phổi không bị ảnh hưởng.
- Khí phế thũng trung tiểu thùy: đặc trưng bởi các khoang khí không có thành rõ ràng, động mạch trung tiểu thùy xuất hiện dưới dạng chấm ở trung tâm.
- Viêm phổi kẽ dạng lympho: gặp ở bệnh nhân HIV và hội chứng Sjögren.
Bên trái là một trường hợp điển hình khác của LAM.
Mô bào tế bào Langerhans
Mô bào tế bào Langerhans còn được gọi là mô bào X phổi hoặc u hạt bạch cầu ái toan.
LCH có thể là một phản ứng dị ứng với khói thuốc lá vì hơn 90% bệnh nhân là người đang hút thuốc.
Ở giai đoạn nốt sớm, bệnh đặc trưng bởi phản ứng u hạt trung tiểu thùy do các mô bào Langerhans.
Ở giai đoạn nang, tắc nghẽn tiểu phế quản gây xơ hóa thành phế nang và hình thành nang.
Dấu hiệu HRCT trong mô bào tế bào Langerhans:
- Giai đoạn sớm:
- Các nốt nhỏ không đều hoặc hình sao ở vị trí trung tiểu thùy.
- Giai đoạn muộn (thường gặp hơn)
- Các khoang khí dạng nang. Các nang có hình dạng bất thường, có thể hợp lại và trở nên lớn hơn.
- Ưu thế ở thùy trên và thùy giữa.
- Tràn khí màng phổi tái phát.
Bên trái là mô bào tế bào Langerhans giai đoạn sớm với các nốt nhỏ.
Không có nang nào được nhìn thấy.

Mô bào tế bào Langerhans giai đoạn muộn. Các nang tiến triển thành nang hình dạng bất thường điển hình.
Ở giai đoạn muộn hơn, các nốt bắt đầu hoại tử tạo hang và trở thành nang.
Các nang này ban đầu có dạng hình tròn nhưng cuối cùng hợp lại tạo thành các nang hình dạng bất thường điển hình của LCH.
Ở bệnh nhân LCH, 95% có tiền sử hút thuốc lá.
Bên trái là sự tương quan giữa hình ảnh học và giải phẫu bệnh của mô bào tế bào Langerhans lần lượt ở giai đoạn nốt, giai đoạn nang sớm và giai đoạn nang muộn.
Bên trái là phim X-quang ngực của bệnh nhân 19 tuổi mắc mô bào tế bào Langerhans.
Dấu hiệu nổi bật trên phim X-quang ngực là hình ảnh lưới và đó là giới hạn có thể nhận định được.
Ngoài ra còn có hình ảnh ứ khí phổi.
Không thể nhận ra rằng hình ảnh này được gây ra bởi nhiều nang.
Đây là mô bào tế bào Langerhans giai đoạn muộn.
Chẩn đoán phân biệt khó khăn nhất ở bệnh nhân này là khí phế thũng trung tiểu thùy.
Tuy nhiên, khí phế thũng được định nghĩa là các khoang khí không có thành rõ ràng.
Thông thường chúng ta có thể nhận diện dấu hiệu chấm trung tâm.
Ưu thế ở thùy trên không hữu ích trong chẩn đoán phân biệt vì dấu hiệu này cũng gặp trong nhiều bệnh do hít phải và cả trong khí phế thũng.
Bên trái là một trường hợp khác của mô bào tế bào Langerhans.
Bệnh khởi đầu bằng các nốt nhỏ, tiến triển theo thời gian thành các nốt hoại tử tạo hang.
Cuối cùng sẽ tiến triển thành các nang hình dạng bất thường thay thế nhu mô phổi bình thường.
Video
Hình ảnh của một nam giới trẻ hút thuốc lá mắc mô bào tế bào Langerhans.
Lưu ý sự tiến triển trên lần chụp thứ hai sau 7 năm.
Chẩn đoán phân biệt mô bào tế bào Langerhans.
-
LCH dạng nốt:
- Sarcoidosis: phân bố quanh bạch huyết.
- Di căn: phân bố ngẫu nhiên.
- LCH dạng nang:
- LAM: nang hình tròn, phân bố đều ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
- Giãn phế quản dạng nang: ‘dấu hiệu nhẫn đeo dấu’.
- Khí phế thũng trung tiểu thùy: không có thành, chấm trung tâm.
- Viêm phổi kẽ dạng lympho (LIP).
Khí phế thũng nặng có thể bắt chước hình ảnh mô bào tế bào Langerhans.
Khi khí phế thũng lan rộng ra ngoài vùng trung tiểu thùy đến rìa tiểu thùy thứ cấp, hình ảnh có thể trông như nang có thành.
Ở bệnh nhân LCH, nhà giải phẫu bệnh có thể tìm thấy LCH, nhưng cũng có các vùng khí phế thũng, viêm tiểu phế quản hô hấp và thậm chí xơ hóa.
Do đó, các bệnh liên quan đến hút thuốc lá này không phải là các thực thể bệnh lý riêng biệt.
Protein phế nang
Protein phế nang là bệnh hiếm gặp, đặc trưng bởi sự lấp đầy các khoang phế nang bằng chất liệu dương tính với PAS do bất thường trong chuyển hóa surfactant.
Chẩn đoán dựa trên hình ảnh HRCT gợi ý (hình ảnh lát đá điên) và các đặc điểm đặc trưng của dịch rửa phế quản phế nang (BAL – Broncho Alveolar Lavage).
- Thường gặp ở độ tuổi từ 30 đến 50.
- Ho khan, sốt và khó thở nhẹ.
- Tiên lượng đã được cải thiện kể từ khi áp dụng điều trị bằng rửa phế quản phế nang.
Các dấu hiệu chính trong protein phế nang
- Hình ảnh lát đá điên: hình ảnh lưới chồng lên trên vùng kính mờ.
- Các vùng đục mờ dao động từ kính mờ đến đông đặc.
Bên trái là một trường hợp điển hình của protein phế nang với dày lan tỏa các vách liên tiểu thùy và nội tiểu thùy.
Điều này được giải thích bởi thực tế là chất liệu protein được đại thực bào vận chuyển từ khoang phế nang vào mô kẽ, do đó dẫn đến dày các vách.
Hình ảnh lát đá điên là một dấu hiệu khá không đặc hiệu.
Nhiều bệnh khác có thể biểu hiện với dấu hiệu này và được liệt kê trong chẩn đoán phân biệt.
Chẩn đoán phân biệt protein phế nang
-
Phù phổi không do tim:
ARDS, Viêm phổi kẽ cấp tính. -
Viêm phổi:
- Nhiễm trùng (PCP và CMV).
- Viêm phổi tổ chức hóa (OP).
- Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính.
- Xuất huyết phổi.
- Ung thư phế quản phế nang.
Lời cảm ơn đặc biệt
Các tác giả xin trân trọng cảm ơn Bác sĩ Sujal Desai tại Bệnh viện King’s College ở London vì những bài giảng truyền cảm hứng của ông.
Một số hình ảnh được sử dụng trong tổng quan này do ông cung cấp.
Chúng tôi cũng xin cảm ơn Bác sĩ Richard Webb đã tạo ra một đĩa CD giáo dục tuyệt vời (1).
Xơ phổi
Pulmonary Fibrosis
A stepwise approach to fibrosis on HRCT
Onno Mets, Lilian Meijboom and Robin Smithuis
Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam và Bệnh viện Alrijne Leiderdorp
Publicationdate
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về các bệnh lý phổi có dạng lưới và cung cấp hướng dẫn cho các bác sĩ X quang trong việc đánh giá các bệnh phổ biến nhất cùng các dạng tổn thương của chúng.
Một phương pháp tiếp cận từng bước được trình bày nhằm xác định các đặc điểm chính trong bệnh phổi xơ hóa và giúp đưa ra chẩn đoán phân biệt dễ dàng hơn.
Images can be enlarged by clicking on them.
Chúng tôi xin cảm ơn Nestor L. Müller vì những nhận xét của ông về bản thảo.
Lung anatomy
Giải phẫu của bệnh phổi dạng lưới liên quan đến mô kẽ phổi, là một cấu trúc liên tục bao gồm cả thành phần ngoại vi và thành phần trục (hình).
Mô kẽ ngoại vi nâng đỡ các tiểu thùy thứ cấp xa và bao gồm các vùng dưới màng phổi và quanh khe liên thùy, trong khi mô kẽ trục nâng đỡ các cấu trúc phế quản-mạch máu từ rốn phổi hướng ra ngoại vi.
Mô kẽ cũng chứa các mạch bạch huyết của phổi. Trong điều kiện bình thường, bản thân mô kẽ nằm dưới ngưỡng phân giải của CT.
Sự dày lên của mô kẽ là cơ chế nền tảng tạo nên hình ảnh dạng lưới.
Bảng thuật ngữ Fleischner [1] định nghĩa hình lưới là “tập hợp vô số các đám mờ dạng đường nhỏ mà khi chồng lên nhau tạo ra hình ảnh giống như một tấm lưới”.
Stepwise Approach
Bước
đầu tiên là xác định liệu hình ảnh lưới có thực sự đại diện cho xơ hóa hay không.
Bước
tiếp theo là xác định xem đó là kiểu UIP chắc chắn, có thể hoặc không xác định,
hay một kiểu thay thế khác.
Nếu
đó là UIP chắc chắn hoặc có thể, cần nhận thức rằng không phải tất cả UIP đều
bằng xơ phổi vô căn, vì UIP có/không có tổ ong cũng có thể gặp trong
sarcoid xơ hóa, viêm phổi quá mẫn, và bệnh phổi kẽ liên quan đến bệnh mô liên kết
giai đoạn cuối (CTD-ILD).
Step 1 – Is it really fibrosis?
Xơ hóa gây co kéo các cấu trúc xung quanh và sẽ dẫn đến:
- Volume loss
- Bronchiectasis
- Distortion of the secondary lobule
- Loss of the smooth air-to-interstitium interfaces
Do đó, đây là những đặc điểm đầu tiên cần tìm kiếm khi đánh giá liệu hình ảnh lưới có đại diện cho xơ hóa phổi hay không.
Hình ảnh cho thấy bệnh phổi xơ hóa với sự biến dạng của tiểu thùy thứ cấp, mất thể tích và giãn phế quản do co kéo (màu xanh lá là bình thường, màu vàng là bất thường).
Không phải tất cả các dạng lưới đều là xơ hóa, vì mô kẽ phổi có thể bị dày lên do các bệnh lý khác.
Most
commonly this is:
- Dịch do phù phổi.
Nhưng
cũng có thể gặp trong ví dụ như: - Tế bào ác tính trong ung thư biểu mô dạng bạch mạch, hoặc thâm nhiễm bạch cầu
- Protein trong bệnh protein phế nang, amyloid và bệnh tích lũy
- Benign cells in eosinophilic
lung disease
Các
hình ảnh minh họa các ví dụ về lưới không xơ hóa do dày thành kẽ trong phù phổi (A), ung thư biểu mô di căn đường bạch huyết (B), và浸润 bạch cầu ái toan trong u hạt bạch cầu ái toan kèm viêm đa mạch [EGPA,
trước đây gọi là hội chứng Churg-Strauss] (C).
ILA -interstitial lung abnormalities
Những thay đổi mô kẽ nhẹ tình cờ phát hiện – ở những bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ bệnh phổi kẽ (ILD) – được gọi là ‘bất thường phổi kẽ (ILA)’.
Những thay đổi không xác định và nhỏ này có thể đại diện cho giai đoạn sớm của bệnh phổi kẽ xơ hóa, nhưng cũng có thể chỉ là một số sẹo sau nhiễm trùng hoặc những thay đổi kẽ nhẹ liên quan đến hút thuốc hoặc tuổi tác.
Ngưỡng cắt 5% tổn thương phổi đã được đề xuất như một tiêu chí phân biệt bệnh lý có ý nghĩa lâm sàng [2], tuy nhiên, việc đánh giá trực quan chính xác là rất khó khăn.
Theo dõi có thể cho thấy đây có phải là phát hiện tình cờ có liên quan hay không, điều này là tùy chọn và phụ thuộc vào đặc điểm của bệnh nhân.
Step 2 – UIP pattern
Kiểu hình UIP dựa trên gradient tổn thương, phân bố của xơ hóa và sự vắng mặt của kiểu hình HRCT chiếm ưu thế khác.
Các
dạng tổn thương trên HRCT khác như kính mờ, nang phổi, nốt centrilobular hoặc
nốt quanh bạch mạch và đông đặc phổi cần vắng mặt, vì những dạng này liên quan
đến các bệnh lý nền khác và không ủng hộ chẩn đoán UIP/IPF.
Đầu tiên, xơ hóa phải có gradient hướng về phía đáy phổi, với thùy dưới và góc sườn hoành bị tổn thương nhiều hơn so với vùng phổi giữa và trên.
Xơ hóa có thể nằm hơi về phía trước hơn ở vùng phổi giữa/trên, được gọi là ‘dấu hiệu cánh quạt’, theo hình xoắn hiện diện trong cánh của một chiếc chân vịt.
Các hình ảnh cho thấy tổn thương xơ hóa ưu thế ở vùng đáy phổi và dưới màng phổi trong A, so với tổn thương xơ hóa ưu thế ở vùng đỉnh phổi và trung tâm trong B.

Subpleural dominant (A), subpleural sparing (B), and peribronchial dominant (C) patterns of fibrosis.
Thứ hai, xơ hóa phải có dạng chiếm ưu thế dưới màng phổi. Điều này có nghĩa là bệnh nhắm vào mô kẽ ngoại vi và tổn thương phổi ngay bên dưới màng phổi.
Bệnh không được bỏ qua mô phổi dưới màng phổi, cũng không được tập trung xung quanh bó phế quản-mạch máu (tức là không được tổn thương chủ yếu ở mô kẽ trục).
UIP classification
Có các hướng dẫn chẩn đoán hình ảnh cụ thể để đánh giá UIP/IPF – được ban hành bởi sự hợp tác của các Hội Lồng ngực trên toàn thế giới (ATS/ERS/JRS/ALAT) cũng như bởi Hội Fleischner [3,4].
Điểm mấu chốt của cả hai hướng dẫn là chẩn đoán hình ảnh HRCT cần đưa ra kết luận về một trong các trường hợp sau:
- Definite UIP pattern
- Probable UIP pattern
- Indeterminate UIP pattern
- Suggestive of another diagnosis than UIP/IPF
Ở bệnh nhân có xơ hóa ưu thế vùng đáy và dưới màng phổi, không có các đặc điểm phụ trợ không phù hợp, sự hiện diện hay vắng mặt của tổ ong sẽ quyết định việc phân loại là dạng UIP xác định hay có thể.
Tuy nhiên, việc đánh giá tổ ong có thể gặp phải sự biến thiên đáng kể giữa các quan sát viên, ngay cả giữa các chuyên gia [5].
Tổ ong trên hình ảnh CT được định nghĩa là “các khoang khí dạng nang tập hợp theo hướng dưới màng phổi, thường có kích thước khoảng 3-10 mm”.
Cần lưu ý rằng đây là khác biệt so với tổ ong quan sát thấy trên mô bệnh học, được định nghĩa là “mô phổi bị phá hủy và xơ hóa chứa nhiều khoang khí dạng nang với thành xơ dày, kèm mất hoàn toàn cấu trúc tiểu thùy” [1].
Mặc dù cả hai đều đại diện cho tình trạng xơ hóa đã hình thành và nặng nề, chúng được quan sát ở các mức độ phóng đại khác nhau đáng kể.
Trong A có hình ảnh tổ ong kết hợp với xơ hóa ưu thế ở nền phổi và dưới màng phổi, cho thấy hình thái UIP điển hình.
In B there is a probable UIP pattern without honeycombing.

The ongoing process of honeycombing formation. There is a spectrum ranging from normal lung tissue (A), through distortion of the secondary lobule with traction bronchiolectasis (B), to end stage cyst formation (C).
Tổ ong
là kết quả của xơ hóa tiến triển kèm theo biến dạng cấu trúc và nằm ở cuối thang điểm từ mô phổi bình thường, qua biến dạng tiểu thùy thứ cấp với giãn phế quản nhỏ do co kéo, đến hình thành nang giai đoạn cuối.
Mặc dù
sự hiện diện của tổ ong xác định sự khác biệt giữa thể UIP có thể và thể UIP chắc chắn,
tổ ong không phải là dấu hiệu đặc trưng của bệnh xơ phổi vô căn
(IPF) vì nó chỉ là một đặc điểm của xơ hóa nặng.
Tổ ong
cũng có thể xuất hiện trong giai đoạn xơ hóa (giai đoạn cuối) của bệnh sarcoidosis, NSIP và
viêm phổi quá mẫn. Tóm lại, hình ảnh UIP không đồng nghĩa với IPF.
Tuy nhiên,
trong bối cảnh lâm sàng phù hợp ở bệnh nhân được nghi ngờ lâm sàng mắc xơ phổi vô căn (IPF), hình ảnh UIP điển hình sẽ xác định chẩn đoán (tức là chẩn đoán UIP/IPF), loại bỏ nhu cầu thực hiện các xét nghiệm xâm lấn thêm như sinh thiết phổi qua nội soi phế quản bằng đầu dò lạnh hoặc sinh thiết phổi phẫu thuật.
Step 3 – Alternative Patterns
– Axial and non-basal distribution
Axial and non-basal distribution
Khi
bệnh lý mô kẽ không chủ yếu ở dưới màng phổi mà phân bố chủ yếu quanh phế quản,
hai chẩn đoán cần cân nhắc hàng đầu là viêm phổi quá mẫn (HP) mạn tính thể xơ hóa
và bệnh sarcoidosis.
Ưu thế thùy đỉnh thường gặp trong bệnh sarcoidosis, nhưng chỉ gặp ở một số ít trường hợp viêm phổi quá mẫn mạn tính.

Typical fibrotic hypersensitivity pneumonitis showing diffuse non-basal dominant (A), peribronchial orientated ground-glass and mild fibrotic changes with mosaicism (A and B), and expiratory air trapping (C).
Hypersensitivity pneumonitis
HP mạn tính xơ hóa điển hình được đặc trưng bởi xơ hóa quanh phế quản với các mức độ kính mờ khác nhau và suy giảm khảm rõ rệt do sự bảo tồn của các tiểu thùy thứ cấp.
Bẫy khí thì thở ra do tắc nghẽn đường thở nhỏ là một dấu hiệu đặc trưng.
Các nốt kính mờ trung tiểu thùy có thể xuất hiện, nhưng thường gặp hơn và chiếm ưu thế ở giai đoạn bán cấp (không xơ hóa) của bệnh.
Xơ
hóa có thể có phân bố ngẫu nhiên hoặc lan tỏa, hoặc ưu thế ở vùng phổi giữa hoặc trên với tương đối ít tổn thương ở vùng đáy phổi.
Sarcoidosis
Sarcoidosis
is the great mimicker.
Xơ hóa trong bệnh sarcoidosis thường có biểu hiện ưu thế ở vùng quanh phế quản mạch máu và vùng phổi giữa đến trên với biến dạng cấu trúc và giãn phế quản do co kéo trung tâm, kèm theo một lượng thay đổi của dạng lưới và đôi khi thậm chí có tổ ong.
Mặc dù
sarcoidosis ban đầu thường biểu hiện với hạch bạch huyết rốn phổi hai bên và trung thất, nhưng ở giai đoạn xơ hóa muộn của bệnh, các hạch thường có kích thước bình thường và bị vôi hóa.
Các
hình ảnh cho thấy bệnh sarcoidosis xơ hóa điển hình với tổn thương ưu thế quanh phế quản-mạch máu và vùng đỉnh, biểu hiện dạng nốt (hợp lưu), lưới và kính mờ nhẹ, cùng với giãn phế quản do co kéo lan rộng.
– Ground-glass pattern and Consolidation
Ground-glass
Mặc dù có thể thấy một số kính mờ ở các vùng có dạng lưới – một dấu hiệu không loại trừ chẩn đoán kiểu UIP có thể – nhưng thành phần kính mờ chiếm ưu thế gợi ý một chẩn đoán thay thế khác.
Kính mờ có thể gợi ý một loạt các bệnh lý, bao gồm bệnh mô liên kết (CTD) liên quan đến ILD, viêm phổi quá mẫn, cũng như ILD liên quan đến hút thuốc và thuốc.
Kính mờ thường là đặc điểm của thể viêm phổi kẽ không đặc hiệu (NSIP).
Kính mờ thuần túy không có thay đổi xơ hóa là đặc điểm nổi bật của NSIP thể tế bào, được phân biệt với thể NSIP xơ hóa trong đó có lưới, giãn phế quản do co kéo và biến dạng cấu trúc do xơ hóa.
NSIP thường chiếm ưu thế ở vùng đáy phổi với hình ảnh kính mờ rõ rệt, lưới và giãn phế quản nhỏ do co kéo. Bảo tồn dưới màng phổi ở vùng lưng của thùy dưới chỉ xuất hiện trong khoảng 40% trường hợp và có thể là một đặc điểm hữu ích trong việc chẩn đoán.
Consolidations
Các vùng đông đặc không phải là một phần của hình ảnh UIP có thể. Các vùng xơ hóa nhỏ khu trú có thể gặp trong UIP, tuy nhiên, vùng đông đặc đáng kể hơn trên hình ảnh HRCT thường do thành phần viêm phổi tổ chức hóa và gợi ý chẩn đoán khác ngoài UIP/IPF.
Nhiễm trùng phổi tiến triển hoặc ác tính luôn cần được xem xét.
Connective tissue disease related ILD
Bảng hiển thị các dạng hình ảnh trong bệnh phổi kẽ liên quan đến bệnh mô liên kết (CTD-ILD), trong đó kích thước phông chữ tương quan với tần suất của từng dạng hình ảnh.
Bệnh phổi kẽ liên quan đến bệnh mô liên kết (CTD-ILD) có thể biểu hiện với nhiều dạng tổn thương khác nhau.
Trong nhóm bệnh không đồng nhất này, các biểu hiện bệnh với dạng tổn thương NSIP cùng với các thành phần khác như đông đặc dạng vòm cung do viêm phổi tổ chức hóa (OP) hoặc nang do viêm phổi kẽ lympho bào (LIP) có thể gợi ý một chẩn đoán cụ thể (xem Bảng).
NSIP
Hình ảnh NSIP xơ hóa điển hình trong bệnh Sjögren với các thay đổi xơ hóa và kính mờ chiếm ưu thế theo phân bố đáy phổi, lan rộng ra phần trung tâm.
Subpleural
sparing is not a dominant feature in this case.
Các hình ảnh cho thấy sự kết hợp giữa kính mờ ưu thế nền phổi và giãn phế quản do co kéo, kết hợp với các vùng đông đặc dạng cung quanh tiểu thùy giới hạn do viêm phổi tổ chức hóa (OP) đồng thời.
Chẩn đoán cuối cùng là NSIP xơ hóa trong hội chứng kháng synthetase.
Hội chứng kháng synthetase là một rối loạn đa hệ thống qua trung gian miễn dịch có thể bao gồm (trong số các biểu hiện khác) bệnh phổi kẽ, viêm cơ và/hoặc viêm đa khớp, thay đổi da và hiện tượng Raynaud.
Rheumatoid Arthritis
Những thay đổi xơ hóa nặng theo hướng ưu thế dưới màng phổi và đáy phổi, với hình ảnh tổ ong lan rộng, phù hợp với mô hình UIP do viêm khớp dạng thấp (RA).
Viêm khớp dạng thấp có thể biểu hiện tổn thương đa khoang và dẫn đến bệnh lý đường thở, bệnh lý màng phổi và bệnh phổi kẽ, thường gặp nhất với dạng UIP (viêm phổi kẽ thông thường).
Smoking-related ILD
Bệnh phổi kẽ liên quan đến hút thuốc là một phân nhóm khó, thường biểu hiện khí phế thũng nặng với những thay đổi xơ hóa chồng lấp nhẹ hơn, các bất thường lan tỏa hơn hoặc ưu thế ở vùng đỉnh, mất thể tích vùng đáy ít nghiêm trọng hơn và nhiều kính mờ hơn so với thể UIP (có thể) điển hình.
Tuy nhiên, những thay đổi ở phổi liên quan đến hút thuốc thường đồng thời xuất hiện với các bệnh phổi kẽ khác, do một số lượng đáng kể bệnh nhân mắc bệnh phổi kẽ là những người đang hoặc đã từng hút thuốc lá.
Người hút thuốc hiếm khi mắc HP mạn tính, trong khi đây là yếu tố nguy cơ cá nhân đối với UIP/IPF.
Xơ hóa mô kẽ liên quan đến hút thuốc (SRIF) và xơ hóa phổi kết hợp khí phế thũng (CPFE) là các thuật ngữ thường được sử dụng, tuy nhiên, chúng chưa được định nghĩa chặt chẽ như các dạng tổn thương trên X-quang.
Drug-induced ILD
Bệnh phổi kẽ do thuốc là một phân nhóm khó chẩn đoán với các đặc điểm hình ảnh thường không đặc hiệu.
Cần luôn xem xét trong mọi chẩn đoán phân biệt, đặc biệt trong các trường hợp có dạng không phải UIP.
Theo kinh điển, bệnh phổi kẽ do thuốc thường liên quan đến dạng kính mờ chiếm ưu thế và/hoặc dạng đông đặc viêm phổi tổ chức, nhiều hơn là xơ hóa thực sự.
Methotrexate, Amiodarone và Nitrofurantoin là những ví dụ điển hình về các thuốc gây độc phổi, mặc dù danh sách này còn được ghi nhận thêm rất nhiều loại khác.
So với các thập kỷ trước, việc sử dụng ngày càng nhiều liệu pháp miễn dịch có thể khiến chúng ta gặp các dạng viêm phổi do thuốc thường xuyên hơn.
Xem www.pneumotox.com để biết thêm thông tin về các thuốc gây độc phổi và các dạng hình ảnh học liên quan đã được báo cáo.
Radiologically non-classifiable disease
Không hiếm gặp trường hợp các phát hiện trên HRCT không phù hợp với một trong những dạng hình ảnh X quang đã được biết đến.
Điều này có thể do những thay đổi mô kẽ hạn chế và không đặc hiệu, hoặc do sự kết hợp của các đặc điểm thực sự không xác định được.
Ví dụ, có thể có dạng lưới ưu thế dưới màng phổi và giãn phế quản do co kéo, nhưng không có gradient rõ ràng hoặc thành phần kính mờ không rõ ràng và không có các phát hiện bổ sung nào khác để gợi ý một chẩn đoán cụ thể.
Thường có quan niệm rằng việc không đưa ra kết luận về một dạng hình ảnh cụ thể là biểu hiện của sự thiếu quyết đoán, tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng “bệnh không phân loại được trên X quang” cũng là một kết luận hoàn toàn hợp lệ trong báo cáo HRCT.
Trên thực tế, kết luận này còn tốt hơn nhiều so với “có thể là UIP, chẩn đoán phân biệt NSIP hoặc HP”.
Multidisciplinary approach
Chẩn đoán một bệnh điển hình dựa trên các hình ảnh học đặc trưng không phải là điều thường gặp.
Thay vào đó, việc đưa ra chẩn đoán phân biệt phổ biến hơn vì các đặc điểm hình ảnh học có thể không đặc hiệu.
Trong một nhóm đa chuyên khoa, các hình ảnh học có thể được đối chiếu với thông tin lâm sàng, kết quả đo chức năng hô hấp, kết quả xét nghiệm, kết quả rửa phế quản phế nang và sinh thiết phổi để đạt được chẩn đoán đồng thuận và kế hoạch điều trị.
Clinical information
Trong
quá trình đánh giá bệnh nhân ILD, thông tin lâm sàng được thu thập (bảng)
Mặc dù
có hơn 200 tác nhân được ghi nhận có liên quan đến viêm phổi quá mẫn mạn tính,
nhưng kết quả phân tích phơi nhiễm nghề nghiệp và môi trường thường còn hạn chế.
Pulmonary Function Tests
Hiểu biết cơ bản về cơ chế của các bài kiểm tra chức năng phổi là rất hữu ích.
Có ba thành phần chính trong kiểm tra chức năng phổi:
- Static lung volumes (TLC, RV, VC)
- Spirometry (forced expiratory flow in 1 second’ (FEV1)
- Diffusion capacity for carbon monoxide (DLCO)
Index parameters in static lung volume assessment are:
- TLC: dung tích toàn phổi, là tổng thể tích của phổi sau khi hít vào tối đa
- RV: thể tích khí cặn, là thể tích phổi ở cuối thì thở ra tối đa
- VC: dung tích sống, là hiệu số giữa TLC và RV
Thông thường, thể tích phổi giảm trong bệnh phổi hạn chế (ví dụ: xơ phổi, bệnh thần kinh cơ) và tăng trong bệnh phổi tắc nghẽn (ví dụ: COPD, hen suyễn).
DLCO đo khả năng trao đổi khí carbon monoxide, và là chỉ số thay thế phản ánh khả năng oxy được vận chuyển vào máu.
DLCO tỷ lệ thuận với diện tích bề mặt màng phế nang-mao mạch và tỷ lệ nghịch với độ dày của màng phế nang-mao mạch.
Thông thường, DLCO giảm trong các bệnh lý làm giảm diện tích bề mặt màng (ví dụ: khí phế thũng, bệnh huyết khối tắc mạch) hoặc làm dày màng khuếch tán (ví dụ: xơ phổi).
Kiểu mẫu PFT điển hình trong xơ hóa phổi là hạn chế, cho thấy kết quả đo phế dung tương đối bình thường với thể tích phổi và DLCO giảm.
Tuy nhiên, có thể gặp kiểu mẫu hỗn hợp ở những bệnh nhân có cả hai thành phần bệnh hạn chế và tắc nghẽn.
Ví dụ, các giai đoạn tiến triển của viêm phổi quá mẫn mạn tính hoặc sarcoidosis có thể biểu hiện đồng thời cả bệnh đường thở nhỏ lẫn xơ hóa phổi.
Ngoài ra, sự đóng góp cộng gộp của khí phế thũng và xơ hóa trong ‘xơ hóa phổi kết hợp khí phế thũng’ (CPFE) có thể dẫn đến hiện tượng ‘bình thường hóa giả’ của kết quả đo phế dung và thể tích phổi, trong khi các triệu chứng lâm sàng và DLCO thường bất thường một cách rõ rệt.
Laboratory analysis
Việc tìm kiếm các dấu ấn viêm và tự kháng thể là một phần trong đánh giá tiêu chuẩn của ILD.
Điều quan trọng cần nhận thức là sự hiện diện của một tự kháng thể không đồng nghĩa với chẩn đoán bệnh tự miễn.
Thay vào đó, huyết thanh học dương tính giúp hỗ trợ chẩn đoán nếu đi kèm với các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng phù hợp.
Common biomarkers are:
- Yếu tố dạng thấp (RF)
có thể gợi ý viêm khớp dạng thấp (RA), nhưng có độ nhạy và độ đặc hiệu hạn chế. RF có thể xuất hiện trong các bệnh khác bao gồm hội chứng Sjögren, lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau. - Anti-CCP
có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy hạn chế đối với viêm khớp dạng thấp. Nó cũng có thể xuất hiện trong các bệnh như viêm khớp vảy nến, lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjögren và viêm cơ viêm da. - Kháng thể đặc hiệu viêm cơ
thường được gọi là ‘blot viêm cơ’, do tính đặc hiệu cao đối với các bệnh viêm cơ tự miễn (IIM) như viêm da cơ. - Kháng thể kháng bào tương bạch cầu trung tính (ANCA)
xuất hiện dưới dạng bào tương (cANCA) hoặc quanh nhân (pANCA), và là các dấu ấn sinh học đặc trưng của viêm mạch máu. - Enzyme chuyển đổi angiotensin (ACE) và thụ thể interleukin-2 hòa tan (sIL2R)
là các dấu ấn sinh học được sử dụng trong đánh giá và theo dõi bệnh sarcoidosis. - Kết tủa huyết thanh
là các kháng thể IgG huyết thanh
chống lại các kháng nguyên đặc hiệu (ví dụ: vẹt hoặc ngỗng) và được sử dụng trong đánh giá
viêm phổi quá mẫn.
Bronchoalveolar lavage (BAL)
Rửa phế quản phế nang miễn dịch (BAL) là một thủ thuật chẩn đoán để thu thập dịch tiết đường hô hấp.
Kết quả BAL có giá trị hạn chế trong chẩn đoán UIP/IPF, ngoại trừ việc loại trừ các căn nguyên tiềm ẩn khác.
- Tăng lymphocyte trong dịch rửa phế quản phế nang (tức là số lượng tế bào >25%) rất có khả năng do bệnh phổi kẽ liên quan đến hình thành u hạt (ví dụ: viêm phổi quá mẫn hoặc độc tính thuốc), đặc biệt khi kèm theo tương bào và tiền sử phơi nhiễm phù hợp.
- Số lượng tế bào bạch cầu ái toan cao gợi ý bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan tiềm ẩn.
- Đại thực bào phế nang chứa sắc tố thường được tìm thấy ở người hút thuốc, và có thể hỗ trợ chẩn đoán viêm tiểu phế quản hô hấp (RB-ILD) hoặc viêm phổi kẽ dạng bong vảy (DIP).
- Xuất huyết phế nang lan tỏa (DAH) sẽ tạo ra dịch hút có màu đỏ với nhuộm hemosiderin dương tính.
Pathology
Nếu sau khi đánh giá lâm sàng, chụp CT và các xét nghiệm chẩn đoán bổ sung vẫn chưa có chẩn đoán xác định, nhóm đa chuyên khoa (MDT) có thể quyết định cần thực hiện sinh thiết phổi.
Tuy nhiên, điều này phụ thuộc nhiều vào nguyện vọng của bệnh nhân, các bệnh đồng mắc và các lựa chọn điều trị hiện có, vì thủ thuật này có nguy cơ tương đối cao về biến chứng và tử vong.
Thường thực hiện sinh thiết phổi bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực có hỗ trợ video (VATS), trong đó thông thường lấy ba mẫu từ mỗi thùy của phổi phải.
Một lựa chọn gần đây hơn là sinh thiết lạnh qua nội soi, tuy nhiên, hiệu suất thường không tối ưu so với sinh thiết phẫu thuật.
Chẩn đoán xác định IPF dựa trên các phát hiện trên HRCT kết hợp với mô bệnh học (bảng).
Treatment and follow-up
Bệnh nhân ILD thường được theo dõi bằng PFT và hình ảnh HRCT để đánh giá sự tiến triển của bệnh.
Tùy thuộc vào chẩn đoán cuối cùng, có thể áp dụng liệu pháp điều trị bằng thuốc.
Sự phân chia nhị phân của các lựa chọn điều trị là thuốc kháng xơ hóa (trong bệnh phổi xơ hóa nguyên phát như IPF) so với liệu pháp ức chế miễn dịch (trong bệnh phổi xơ hóa qua trung gian miễn dịch như HP mạn tính hoặc ILD liên quan đến CTD).
Thuốc có thể được kết hợp với việc chấm dứt tiếp xúc với kháng nguyên hoặc thuốc gây độc phổi, cai thuốc lá, phục hồi chức năng phổi, v.v.
Ghép phổi có thể là nỗ lực cuối cùng, nếu có thể thực hiện được.
HRCT – Đọc cơ bản
HRCT – Đọc Phim Cơ Bản
Robin Smithuis, Otto van Delden và Cornelia Schaefer-Prokop
Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp và Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam, Hà Lan
Ngày đăng
Bài viết này cung cấp một phương pháp tiếp cận thực hành trong việc đọc phim chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT) của phổi.
Các chủ đề sau sẽ được đề cập:
- Giải phẫu Tiểu thùy Phổi Thứ cấp
- Các Hình thái HRCT Cơ bản
- Phân bố của các Bất thường
- Chẩn đoán Phân biệt các Bệnh Phổi Kẽ
Giới thiệu

Tiểu thùy thứ cấp. Động mạch trung tiểu thùy (màu xanh lam: máu nghèo oxy) và tiểu phế quản tận cùng đi qua trung tâm. Hệ bạch huyết và tĩnh mạch (màu đỏ: máu giàu oxy) đi trong các vách liên tiểu thùy.
Giải phẫu Tiểu thùy Thứ cấp
Hiểu biết sâu sắc về giải phẫu phổi là yếu tố then chốt để đọc HRCT chính xác. Chẩn đoán các bệnh phổi kẽ (ILDs) dựa trên việc xác định mức độ tổn thương đặc hiệu của tiểu thùy phổi thứ cấp — đơn vị giải phẫu và chức năng cơ bản của phổi.
Tiểu thùy thứ cấp là đơn vị phổi nhỏ nhất được bao quanh bởi các vách mô liên kết, có đường kính khoảng 1–2 cm. Tiểu thùy bao gồm 5–15 tiểu nang phổi (acini), chứa các phế nang đảm nhiệm chức năng trao đổi khí. Tiểu thùy được cấp máu ở trung tâm bởi một tiểu phế quản nhỏ hoặc tiểu phế quản tận cùng, đi kèm với động mạch trung tiểu thùy. Tĩnh mạch phổi và hệ bạch huyết đi ở ngoại vi trong các vách liên tiểu thùy.
Trong điều kiện bình thường, chỉ có một số ít các vách mỏng này có thể nhìn thấy trên HRCT. Hệ bạch huyết của tiểu thùy bao gồm hai mạng lưới:
- Một mạng lưới trung tâm, đi dọc theo bó mạch phế quản hướng về trung tâm tiểu thùy.
- Một mạng lưới ngoại vi, nằm trong các vách liên tiểu thùy và dọc theo màng phổi.
Các Vùng Giải Phẫu Quan Trọng
- Vùng Trung Tiểu Thùy (Centrilobular Area): Phần trung tâm của tiểu thùy thứ cấp, thường bị tổn thương trong các bệnh xâm nhập phổi qua đường thở (ví dụ: viêm phổi quá mẫn, viêm phế quản hô hấp, khí phế thũng trung tiểu thùy).
- Vùng Cạnh Bạch Huyết (Perilymphatic Area): Phần ngoại vi của tiểu thùy thứ cấp, thường bị tổn thương trong các bệnh ảnh hưởng đến hệ bạch huyết hoặc các vách liên tiểu thùy (ví dụ: sarcoidosis, ung thư di căn đường bạch huyết, phù phổi). Các bệnh này cũng có thể liên quan đến mạng lưới bạch huyết trung tâm bao quanh bó mạch phế quản.
Nguyên tắc Cơ bản Đọc HRCT
Một quy trình tiếp cận có hệ thống trong đọc HRCT bao gồm việc trả lời các câu hỏi sau:
- Hình thái tổn thương HRCT chủ đạo là gì?
- Dạng lưới (ví dụ: xơ hóa)
- Dạng nốt (ví dụ: bệnh u hạt)
- Tăng tỷ trọng (ví dụ: kính mờ, đông đặc)
- Giảm tỷ trọng (ví dụ: khí phế thũng, tổn thương dạng nang)
- Tổn thương nằm ở vị trí nào trong tiểu thùy thứ cấp?
- Trung tiểu thùy
- Cạnh bạch huyết
- Phân bố ngẫu nhiên
- Có sự phân bố ưu thế theo vùng không?
- Vùng phổi trên so với vùng phổi dưới
- Phân bố trung tâm so với ngoại vi
- Có các dấu hiệu kèm theo không?
- Tràn dịch màng phổi
- Hạch bạch huyết to
- Giãn phế quản do co kéo

Hình ảnh UIP điển hình với tổn thương tổ ong và giãn phế quản do co kéo ở bệnh nhân xơ phổi vô căn (IPF)
Các dấu hiệu hình thái học này cần được đối chiếu với bệnh sử lâm sàng và kết quả thăm khám thực thể của bệnh nhân.
Cần lưu ý rằng HRCT thường được thực hiện trên một nhóm bệnh nhân được chọn lọc — các bệnh lý thường gặp như viêm phổi, thuyên tắc phổi, phù phổi do tim và ung thư phổi thường đã được loại trừ từ trước.
Do đó, các bệnh ít gặp hơn — như sarcoidosis, viêm phổi quá mẫn, bệnh mô bào Langerhans, ung thư di căn đường bạch huyết và viêm phổi kẽ thông thường (UIP) — trở thành những chẩn đoán được gặp thường xuyên hơn trên HRCT và có thể biểu hiện dưới dạng các trường hợp “Aunt Minnie” (hình ảnh kinh điển, đặc trưng bệnh lý).
Ví dụ
“Aunt Minnie” của UIP điển hình (Viêm phổi kẽ thông thường) — hình ảnh HRCT kinh điển đặc trưng bởi các đám mờ dạng lưới dưới màng phổi, ưu thế vùng đáy phổi, kèm theo tổn thương tổ ong và giãn phế quản do co kéo.
Dạng lưới
Trong dạng lưới, người ta quan sát thấy sự gia tăng các đường mờ dạng tuyến tính, xuất phát từ tình trạng dày vách liên tiểu thùy hoặc các thay đổi xơ hóa, chẳng hạn như hình ảnh tổ ong.
Dày vách liên tiểu thùy
Tình trạng dày mô kẽ phổi—do tích tụ dịch, lắng đọng mô xơ hoặc thâm nhiễm tế bào—biểu hiện dưới dạng dạng lưới trên HRCT.
Mặc dù dày vách liên tiểu thùy tương đối phổ biến trong bệnh phổi kẽ (ILD), đây hiếm khi là dấu hiệu chiếm ưu thế và có chẩn đoán phân biệt hạn chế (xem Bảng).
- Dày vách đều, nhẵn: Thường gặp trong:
- Phù phổi kẽ (ví dụ: đường Kerley B trên X-quang ngực)
- Lan tràn theo đường bạch huyết của ung thư biểu mô hoặc u lympho
- Protein phế nang
- Dày vách dạng nốt hoặc không đều: Gặp trong:
- Lan tràn theo đường bạch huyết của ung thư biểu mô hoặc u lympho
- Sarcoidosis
- Bệnh bụi phổi silic
Ca lâm sàng minh họa: Ung thư lan tràn theo đường bạch huyết
Hình ảnh
Dày vách khu trú, không đều ở thùy trên phổi phải trên bệnh nhân có tiền sử ác tính đã biết. Dấu hiệu này điển hình cho ung thư phổi lan tràn theo đường bạch huyết.
Các đặc điểm hỗ trợ chẩn đoán bao gồm:
- Hạch bạch huyết trung thất
- Tổn thương dạng nốt ở phổi trái, nhiều khả năng là di căn.
Ung thư phổi lan tràn theo đường bạch huyết (PLC):
- Trong 50% trường hợp, dày vách có tính chất khu trú hoặc một bên, giúp phân biệt với các nguyên nhân khác (ví dụ: sarcoidosis, phù phổi do tim).
- Hạch bạch huyết rốn phổi có thể thấy trong 50% bệnh nhân, và thường có tiền sử bệnh ác tính.
- Hình ảnh tương tự có thể gặp trong:
- U lympho
- Trẻ em nhiễm HIV phát triển viêm phổi kẽ tế bào lympho (LIP), một bệnh thâm nhiễm lympho lành tính hiếm gặp.
Ca lâm sàng minh họa: Phù phổi do tim
Hình ảnh: Chụp CT được thực hiện để loại trừ thuyên tắc phổi phát hiện sự kết hợp giữa dày vách đều, nhẵn và mờ kính mờ phân bố theo trọng lực.
Chẩn đoán là phù phổi do tim.
Đặc điểm chính của phù phổi do tim:
- Thường biểu hiện với dày vách liên tiểu thùy kết hợp mờ kính mờ.
- Phân bố quanh rốn phổi và theo trọng lực là đặc trưng của phù phổi thủy tĩnh.
- Các dấu hiệu bổ sung có thể bao gồm:
- Dày mô kẽ quanh phế quản-mạch máu (“viền quanh phế quản”)
- Dày rãnh liên thùy
- Tim to
- Tràn dịch màng phổi
- Mặc dù HRCT không được sử dụng thường quy để chẩn đoán (các dấu hiệu lâm sàng và X-quang thường đủ để kết luận), phù phổi thủy tĩnh không nghi ngờ trước đôi khi có thể được phát hiện tình cờ.
Ca lâm sàng minh họa: Protein phế nang
Hình ảnh: Bệnh nhân có dày vách liên tiểu thùy kết hợp mờ kính mờ dạng đốm. Một số tiểu thùy bị tổn thương trong khi các tiểu thùy khác được bảo tồn.
Sự kết hợp này được gọi là “crazy-paving” (dạng lát đá không đều).
Dấu hiệu Crazy-Paving:
- Ban đầu được coi là đặc hiệu cho protein phế nang, nhưng hiện nay được ghi nhận trong nhiều bệnh lý, bao gồm:
- Viêm phổi do Pneumocystis jirovecii
- Ung thư biểu mô phế quản-phế nang
- Sarcoidosis
- Viêm phổi kẽ không đặc hiệu (NSIP)
- Viêm phổi tổ chức hóa (COP)
- Hội chứng suy hô hấp cấp tính ở người lớn (ARDS)
- Xuất huyết phổi
Protein phế nang:
- Một bệnh phổi lan tỏa hiếm gặp, chưa rõ nguyên nhân.
- Đặc trưng bởi sự tích tụ trong phế nang và mô kẽ của chất phospholipo-protein dương tính với phản ứng acid periodic-Schiff (PAS), có nguồn gốc từ surfactant.
Hình ảnh tổ ong
Hình ảnh tổ ong là dạng lưới thứ hai có thể nhận biết được trên HRCT.
Do hình thái dạng nang, hình ảnh tổ ong cũng được đề cập trong bối cảnh các dạng giảm tỷ trọng.
Về mặt bệnh học, hình ảnh tổ ong được đặc trưng bởi sự hiện diện của các khoang nang nhỏ được lót bởi biểu mô tiểu phế quản, với thành cấu tạo từ mô xơ đặc.
Đây là dấu hiệu đặc trưng của viêm phổi kẽ thông thường (UIP).
Dạng nốt
Phân bố dạng nốt trên HRCT
Sự phân bố của các nốt quan sát được trên HRCT là yếu tố quan trọng nhất để đạt được chẩn đoán chính xác trong dạng nốt.
Trong hầu hết các trường hợp, các nốt nhỏ có thể được phân loại theo một trong ba kiểu phân bố: quanh bạch mạch, trung tâm tiểu thùy, hoặc ngẫu nhiên. Phân bố ngẫu nhiên đề cập đến các nốt không có xu hướng ưu tiên vị trí cụ thể nào trong tiểu thùy phổi thứ cấp.
Sự phân bố của các nốt trên HRCT là yếu tố quan trọng nhất trong việc đưa ra chẩn đoán chính xác theo dạng nốt:
- Phân bố quanh bạch mạch bao gồm các nốt nằm liên quan đến bề mặt màng phổi, vách gian tiểu thùy và mô kẽ quanh phế quản-mạch máu. Các nốt này hầu như luôn luôn có thể nhìn thấy ở vị trí dưới màng phổi, đặc biệt là tiếp giáp với các khe liên thùy.
- Phân bố trung tâm tiểu thùy được đặc trưng bởi các nốt khu trú ở vùng trung tâm tiểu thùy. Khác với các nốt quanh bạch mạch và ngẫu nhiên, các nốt trung tâm tiểu thùy không liên quan đến bề mặt màng phổi. Các nốt ngoại vi nhất thường có tâm cách khe liên thùy hoặc bề mặt màng phổi 5–10 mm.
- Phân bố ngẫu nhiên. Các nốt phân bố ngẫu nhiên được phân tán không có xu hướng ưu tiên so với các cấu trúc phổi hoặc tiểu thùy thứ cấp.
Mặc dù chúng có thể liên quan đến bề mặt màng phổi và khe liên thùy, nhưng chúng không có sự ưu thế dưới màng phổi như thường thấy trong phân bố quanh bạch mạch.
Thuật toán chẩn đoán dạng nốt
Để phân biệt giữa các nốt quanh bạch mạch, ngẫu nhiên và trung tâm tiểu thùy, thuật toán sau đây được áp dụng:
- Đánh giá sự hiện diện của các nốt màng phổi, thường thấy rõ nhất dọc theo các khe liên thùy.
- Nếu các nốt màng phổi vắng mặt hoặc tối thiểu, phân bố có khả năng là trung tâm tiểu thùy.
- Nếu có nốt màng phổi, dạng phân bố có thể là ngẫu nhiên (dạng kê) hoặc quanh bạch mạch.
- Nếu các nốt màng phổi đi kèm với các nốt dọc theo mô kẽ phế quản-mạch máu trung tâm và vách gian tiểu thùy, phân bố là quanh bạch mạch.
- Nếu các nốt lan tỏa và phân bố đồng đều, dạng phân bố có khả năng là ngẫu nhiên.
Phân bố quanh bạch mạch
Các nốt quanh bạch mạch thường gặp nhất trong sarcoidosis.
Chúng cũng xuất hiện trong bệnh bụi phổi silic, bệnh bụi phổi than và ung thư di căn đường bạch mạch.
Có sự chồng lấp trong chẩn đoán phân biệt giữa các nốt quanh bạch mạch và dày vách gian tiểu thùy dạng nốt trong dạng lưới, đôi khi được gọi là dạng lưới-nốt.
Ca lâm sàng 1
Hình ảnh cho thấy một trường hợp điển hình của phân bố nốt quanh bạch mạch ở bệnh nhân sarcoidosis.
Lưu ý các nốt dọc theo khe liên thùy (mũi tên đỏ), gợi ý phân bố quanh bạch mạch.
Việc kiểm tra cẩn thận các nốt này ở vùng dưới màng phổi và dọc theo khe liên thùy là cần thiết, vì đây là dấu hiệu có độ đặc hiệu cao cho sarcoidosis.
Thông thường, sarcoidosis biểu hiện ưu thế ở thùy trên và vùng quanh rốn phổi, với phần lớn các nốt nằm dọc theo bó phế quản-mạch máu (mũi tên vàng).
Ca lâm sàng 2
Hình ảnh cho thấy một trường hợp điển hình khác của sarcoidosis.
Các nốt quanh bạch mạch (mũi tên) đi kèm với nhiều hạch bạch huyết phì đại (vòng tròn), đây là đặc điểm đặc trưng của bệnh.
Ở giai đoạn cuối của sarcoidosis, xơ hóa chủ yếu ảnh hưởng đến thùy trên và vùng quanh rốn phổi.
Phân bố trung tâm tiểu thùy
Các nốt trung tâm tiểu thùy được quan sát thấy trong các bệnh xâm nhập phổi qua đường thở.
Các tác nhân gây bệnh tiếp cận vùng trung tâm của tiểu thùy thứ cấp qua tiểu phế quản tận, dẫn đến các tình trạng như:
- Viêm phổi quá mẫn
- Viêm phế quản hô hấp ở người hút thuốc
- Bệnh đường thở do nhiễm trùng (ví dụ: lan tràn nội phế quản của lao hoặc mycobacteria không điển hình, viêm phế quản phổi)
- Ít gặp hơn trong ung thư phế quản phế nang, phù phổi và viêm mạch máu.
Trong nhiều trường hợp, các nốt này biểu hiện là các tổn thương bờ không rõ với tỷ trọng kính mờ (hình) và đôi khi được gọi là nốt acinar.
Dấu hiệu cành cây nảy chồi (Tree-in-Bud)
Trong bối cảnh các nốt trung tâm tiểu thùy, việc nhận diện dấu hiệu “cành cây nảy chồi” có giá trị trong việc thu hẹp chẩn đoán phân biệt.
Dấu hiệu cành cây nảy chồi mô tả cấu trúc phân nhánh không đều, thường dạng nốt, dễ quan sát nhất ở ngoại vi phổi.
Về mặt bệnh lý, nó đại diện cho các tiểu phế quản trung tâm tiểu thùy bị giãn và tắc nghẽn (chứa đầy chất nhầy hoặc mủ).
Sự hiện diện của dấu hiệu cành cây nảy chồi hầu như luôn luôn chỉ ra:
- Lan tràn nội phế quản của nhiễm trùng, chẳng hạn như lao (TB), phức hợp Mycobacterium avium (MAC), hoặc viêm phế quản phổi do vi khuẩn.
- Bệnh đường thở liên quan đến nhiễm trùng, bao gồm xơ nang và giãn phế quản.
- Ít gặp hơn, bệnh đường thở chủ yếu liên quan đến ứ đọng chất nhầy, chẳng hạn như bệnh phổi do nấm Aspergillus dị ứng phế quản (ABPA) và hen phế quản.
- Hít sặc.
Ví dụ minh họa
Trong hình ảnh bên trái, dấu hiệu cành cây nảy chồi được minh họa rõ ràng.
Trong bối cảnh lâm sàng phù hợp, dấu hiệu này cần gợi ý nghi ngờ lan tràn nội phế quản hoạt động của lao.
Đáng chú ý, ở hầu hết bệnh nhân lao hoạt động, HRCT thường cho thấy bằng chứng của lan tràn phế quản phổi ngay cả trước khi có xác nhận vi khuẩn học (6).
Phân bố ngẫu nhiên
Các nốt nhỏ phân bố ngẫu nhiên được quan sát thấy trong:
- Di căn theo đường máu
- Lao kê
- Nhiễm nấm dạng kê
- Sarcoidosis
- Bệnh mô bào Langerhans (LCH) (giai đoạn nốt sớm)
Mặc dù sarcoidosis thường biểu hiện phân bố quanh bạch mạch, bệnh lan rộng có thể lan theo đường bạch mạch trong bó phế quản-mạch máu đến ngoại vi phổi, có thể đến vùng trung tâm tiểu thùy.
Điều này có thể dẫn đến dạng phân bố kết hợp quanh bạch mạch-trung tâm tiểu thùy, có thể bắt chước phân bố ngẫu nhiên.
Ví dụ minh họa
Hình ảnh bên trái mô tả bệnh nhân có các nốt phân bố ngẫu nhiên do lao kê.
Phân bố ngẫu nhiên là kết quả của sự lan tràn theo đường máu của nhiễm trùng.
Ví dụ minh họa
Hình ảnh được trình bày minh họa dạng nốt ngẫu nhiên điển hình ở bệnh nhân mắc bệnh mô bào Langerhans (LCH).
LCH là một bệnh hiếm gặp được đặc trưng bởi nhiều nang không đều, chủ yếu ở bệnh nhân có tiền sử lạm dụng nicotine.
Trong giai đoạn sớm, LCH biểu hiện như một bệnh dạng nốt (hình).
Theo thời gian, các nốt này tạo hang và tiến triển thành nang.
Cũng như các bệnh liên quan đến hút thuốc khác, có sự ưu thế ở thùy trên.
High Attenuation pattern

Dark bronchus sign in ground glass opacity. Complete obscuration of vessels in consolidation and air bronchogram.
Tăng độ đậm phổi được phân loại là kính mờ (GGO) khi có sự tăng độ đậm mờ của phổi mà không che khuất các mạch máu bên dưới. Nếu độ đậm tăng che khuất các mạch máu, được gọi là đông đặc. Trong cả GGO và đông đặc, mật độ phổi tăng là do sự thay thế không khí phế nang bởi dịch, tế bào hoặc xơ hóa.
Dấu hiệu Phế quản Tối
Trong tổn thương kính mờ (GGO), các phế quản chứa khí trông tối bất thường so với mô phổi xung quanh có độ mờ bất thường, trong đó vẫn còn chứa một ít khí. Hiện tượng này được gọi là dấu hiệu phế quản tối, chỉ có thể nhìn thấy trên cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT), và nó làm nổi bật bệnh lý phổi tiềm ẩn bên dưới.
Dấu hiệu Khí Phế Quản Đồ
Về mặt khái niệm tương tự như dấu hiệu phế quản tối, dấu hiệu khí phế quản đồ xuất hiện trong tình trạng đông đặc hoàn toàn, khi mô phổi xung quanh có mật độ đặc hơn đáng kể. Dấu hiệu này có thể quan sát thấy trên cả HRCT và X-quang ngực thẳng.
Ground-glass opacity
Ground-glass opacity (GGO) represents:
- Lấp đầy các khoang phế nang bởi mủ, phù nề, xuất huyết, tế bào viêm, hoặc tế bào khối u.
- Dày lên của mô kẽ hoặc thành phế nang dưới độ phân giải không gian của HRCT, như thấy trong xơ hóa.
Do đó, GGO có thể là kết quả của bệnh lý khoang khí (lấp đầy phế nang) hoặc bệnh phổi kẽ (ví dụ: xơ hóa).
Vị trí của các bất thường trong GGO có thể cung cấp các gợi ý chẩn đoán:
- Ưu thế vùng trên: Viêm tiểu phế quản hô hấp, Viêm phổi do Pneumocystis.
- Ưu thế vùng dưới: Viêm phổi mô kẽ thông thường (UIP), viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu (NSIP), viêm phổi mô kẽ tróc vảy (DIP).
- Phân bố trung tiểu thùy: Viêm phổi quá mẫn, viêm tiểu phế quản hô hấp.
Bản thân hình ảnh kính mờ tương đối không đặc hiệu. Không có gì đáng ngạc nhiên khi có sự chồng lấp đáng kể trong các nguyên nhân gây ra kính mờ và đông đặc, và một số bệnh có thể biểu hiện cả hai dạng kính mờ và đông đặc.
Ví dụ
Trong hình ảnh bên trái, đông đặc và kính mờ (GGO) được quan sát thấy ở một bệnh nhân có bất thường lồng ngực kéo dài và sụt cân, không có dấu hiệu nhiễm trùng.
Biểu hiện này gợi ý một bệnh lý mạn tính.
Sự vắng mặt của tổ ong hoặc giãn phế quản co kéo đã loại trừ xơ hóa, trong khi tình trạng sụt cân làm tăng nghi ngờ về bệnh ác tính.
Mô bệnh học xác nhận ung thư biểu mô phế quản phế nang (BAC).
BAC may present as:
- A solitary nodule or mass (40% of patients).
- Focal or diffuse consolidation (30%), as in this case.
- Các nốt trung tiểu thùy lan tỏa, ranh giới không rõ (30%) do lan tràn nội phế quản.

LEFT: No fibrosis, so potentially treatable lung disease. RIGHT: Fibrosis, so no treatable lung disease.
Có thể điều trị hay không thể điều trị?
Mặc dù GGO không đặc hiệu, đây là một dấu hiệu có ý nghĩa quan trọng: 60–80% bệnh nhân có GGO trên HRCT mắc bệnh phổi đang hoạt động và có khả năng điều trị được.
Trong 20–40% trường hợp còn lại, GGO phản ánh tình trạng xơ hóa và bệnh không thể điều trị được.
Trong những trường hợp này, các dấu hiệu xơ hóa đi kèm trên HRCT thường hiện diện, chẳng hạn như giãn phế quản do co kéo và tổ ong.
Ví dụ
Các hình ảnh cho thấy hai trường hợp có GGO: một trường hợp không có xơ hóa (có khả năng điều trị được) và một trường hợp có giãn phế quản do co kéo (cho thấy có xơ hóa).
Ví dụ
Các hình ảnh mô tả một bệnh nhân với kính mờ (GGO) là dạng tổn thương chủ đạo, kèm theo giãn phế quản do co kéo, gợi ý xơ hóa.
Biểu hiện này phù hợp với một trong những dạng tổn thương có thể gặp của viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu (NSIP).
NSIP được đặc trưng về mặt mô học bởi hình thái tương đối đồng nhất của viêm mô kẽ tế bào với các mức độ xơ hóa khác nhau.
Giống như UIP, NSIP chủ yếu ảnh hưởng đến các vùng phụ thuộc trọng lực của thùy dưới nhưng không có xơ hóa lan rộng và tổ ong như trong UIP.
NSIP có thể là vô căn hoặc liên quan đến các bệnh mô liên kết mạch máu hoặc phơi nhiễm với thuốc hay hóa chất.
Bệnh có tiên lượng tương đối tốt, với đa số bệnh nhân đáp ứng với điều trị bằng corticosteroid—khác với UIP vốn có tiên lượng xấu.
Mosaic attenuation
Thuật ngữ suy giảm khảm mô tả sự khác biệt về tỷ trọng giữa các vùng phổi bị tổn thương và không bị tổn thương, tạo ra hình ảnh loang lổ xen kẽ giữa các vùng phổi sáng và tối. Vai trò của bác sĩ X-quang là xác định thành phần nào — vùng phổi tối hay vùng phổi sáng — là bất thường.
Khi đục kính mờ (GGO) biểu hiện dưới dạng suy giảm khảm, hãy xem xét các khả năng sau:
- Infiltrative processes adjacent to normal lung.
- Phổi bình thường có hình ảnh tương đối đậm hơn so với các vùng phổi có bẫy khí.
- Phổi tăng tưới máu liền kề với phổi giảm tưới máu do bệnh huyết khối tắc mạch mạn tính.
Việc phân biệt các thực thể này có thể là một thách thức. Hai dấu hiệu chẩn đoán giúp phân biệt thêm:
- Expiratory scans for air trapping.
- Đánh giá mạch máu:
- Nếu mạch máu kém rõ hơn ở vùng phổi “đen” so với phổi “trắng”, thì vùng phổi “đen” có khả năng là bất thường. Điều này gợi ý viêm tiểu phế quản tắc nghẽn hoặc thuyên tắc phổi mạn tính. Chụp cắt lớp thì thở ra có thể giúp phân biệt các tình trạng này.
- Nếu mạch máu xuất hiện tương tự nhau ở cả vùng phổi “đen” và “trắng”, bệnh nhân có khả năng mắc bệnh phổi thâm nhiễm, chẳng hạn như xuất huyết phổi (như được minh họa ở bên phải).
Temporary bronchiolitis with air trapping is observed in:
- (Post-)infectious states
- Inhalation of toxins
- Rheumatoid arthritis, Sjögren syndrome
- Post-transplant settings
- Drug reactions (e.g., penicillamine)
Suy giảm hệ số hấp thụ dạng khảm trong Viêm phổi quá mẫn
Hình ảnh bên trái cho thấy bệnh nhân có hình ảnh kính mờ phân bố dạng khảm. Một số tiểu thùy bị tổn thương, trong khi các tiểu thùy khác không bị ảnh hưởng.
Chẩn đoán phân biệt bao gồm viêm phổi quá mẫn (HP), viêm tiểu phế quản hoặc bệnh huyết khối tắc mạch.
Tiền sử lâm sàng điển hình của viêm phổi quá mẫn.
HP thường biểu hiện với các nốt trung tiểu thùy có tỷ trọng kính mờ (nốt acinar).
Khi hợp lưu, HRCT cho thấy hình ảnh kính mờ lan tỏa.
HP là bệnh phổi dị ứng do hít phải các kháng nguyên có trong nhiều loại bụi hữu cơ.
Phổi nông dân, hội chứng HP được biết đến nhiều nhất, xảy ra do hít phải các vi nấm trong cỏ khô ẩm hoặc tiếp xúc với chim cảnh.
HP typically manifests in two forms:
- Mờ kính mờ phân bố dạng khảm (như trong trường hợp này).
- Các nốt centrilobular có mật độ kính mờ (nốt acinar).
Suy Giảm Thông Khí Dạng Khảm trong Bệnh Huyết Khối Tắc Mạch Mãn Tính
Hình ảnh bên trái mô tả một bệnh nhân có dạng kính mờ phân bố theo kiểu khảm.
Dấu hiệu chính ở đây là sự giãn rộng của các động mạch phổi (mũi tên) tại các vùng có độ mờ dạng kính mờ.
Hình ảnh này là kết quả của vùng phổi được tưới máu quá mức nằm kề cạnh vùng phổi thiểu máu với khẩu kính mạch máu giảm do bệnh huyết khối tắc mạch mãn tính.
Một bệnh nhân khác (bên trái) cho thấy hình ảnh kính mờ tương tự theo phân bố khảm.
Hình ảnh kính mờ là do vùng phổi được tưới máu nhiều với các mạch máu lớn liền kề với vùng phổi thiểu huyết (mũi tên vàng) với các mạch máu nhỏ do bệnh huyết khối tắc mạch mạn tính.
Huyết khối thành mạch và vách ngăn nội mạch là những đặc điểm điển hình của huyết khối tắc mạch mạn tính, phản ánh sự tái thông một phần (mũi tên xanh).
Crazy Paving
Hình ảnh “crazy paving” (lát đá không đều) kết hợp kính mờ với dày vách liên tiểu thùy chồng lên.
Ban đầu được cho là đặc hiệu cho bệnh protein phế nang, nhưng sau đó đã được ghi nhận trong các bệnh lý khác, bao gồm:
- Alveolar proteinosis
- Sarcoidosis
- Nonspecific interstitial pneumonia (NSIP)
- Organizing pneumonia (COP/BOOP)
- Nhiễm trùng (ví dụ: viêm phổi do Pneumocystis jirovecii, virus, Mycoplasma, vi khuẩn)
- Neoplasms (e.g., bronchioloalveolar carcinoma)
- Pulmonary hemorrhage
- Phù (ví dụ: suy tim, ARDS, viêm phổi kẽ cấp tính)
Consolidation
Đông đặc là thuật ngữ đồng nghĩa với bệnh lý khoang khí.
Khi xem xét các nguyên nhân gây đông đặc, câu hỏi then chốt là: “Chất gì đang thay thế không khí trong các phế nang?”
Các chất có thể thay thế bao gồm mủ, dịch phù, máu hoặc tế bào khối u. Ngay cả xơ hóa, như thấy trong UIP, NSIP và sarcoidosis giai đoạn muộn, cũng có thể thay thế không khí phế nang và dẫn đến đông đặc.
Acute consolidation is seen in:
- Pneumonias (bacterial, mycoplasma, PCP)
- Pulmonary edema due to heart failure or ARDS
- Hemorrhage
- Acute eosinophilic pneumonia
Chronic consolidation is seen in:
- Organizing Pneumonia
- Chronic eosinophilic pneumonia
- Fibrosis in UIP and NSIP
- Bronchoalveolar carcinoma or lymphoma
Hầu hết bệnh nhân được đánh giá bằng HRCT sẽ có hình ảnh đông đặc mạn tính, điều này giúp thu hẹp chẩn đoán phân biệt.
Bên trái là hai trường hợp đông đặc mạn tính.
Có các vùng đông đặc không theo phân thùy dạng đốm, phân bố dưới màng phổi và ngoại vi.
Chẩn đoán phân biệt tương tự như danh sách trên.
Chẩn đoán cuối cùng là viêm phổi tổ chức hóa không rõ nguyên nhân (COP).
Trong viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính, các hình ảnh HRCT sẽ tương tự, nhưng sẽ có tăng bạch cầu ái toan.
Trong xơ hóa sẽ có các dấu hiệu xơ hóa khác như tổ ong hoặc giãn phế quản do co kéo.
Ung thư biểu mô phế quản phế nang cũng có thể có hình ảnh tương tự.
Viêm phổi tổ chức hóa (OP)
Viêm phổi tổ chức hóa là một quá trình viêm trong đó quá trình lành bệnh được đặc trưng bởi sự tổ chức hóa và hình thành sẹo của dịch tiết thay vì bằng sự phân giải và tái hấp thu.
Bệnh còn được mô tả là ‘viêm phổi không hồi phục’.
Nếu không xác định được nguyên nhân, bệnh được gọi là viêm phổi tổ chức hóa ẩn nguyên (COP).
Trong những năm trước đây, bệnh được mô tả là viêm tiểu phế quản tắc nghẽn-viêm phổi tổ chức hóa (BOOP).
Bệnh nhân mắc COP thường có tiền sử ho khan kéo dài vài tháng.
Nhiều trường hợp là vô căn, nhưng OP cũng có thể gặp ở bệnh nhân nhiễm trùng phổi, phản ứng thuốc, bệnh mô liên kết mạch máu, u hạt Wegener và sau khi hít phải khói độc.
Bên trái là một trường hợp viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính.
Đây là bệnh nhân có sốt nhẹ, khó thở tiến triển và hình ảnh X-quang ngực bất thường.
Có tình trạng tăng bạch cầu ái toan đáng kể trong máu ngoại vi.
Tương tự như trong COP, chúng ta thấy các vùng đông đặc không theo phân thùy, phân bố dưới màng phổi.
Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính là một tình trạng vô căn đặc trưng bởi sự lấp đầy lan rộng các phế nang bởi dịch thẩm xuất bao gồm chủ yếu là bạch cầu ái toan.
Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính thường liên quan đến sự gia tăng số lượng bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi và bệnh nhân đáp ứng nhanh chóng với điều trị bằng corticosteroid.
Low Attenuation pattern
Mẫu thứ tư bao gồm các bất thường dẫn đến giảm độ suy giảm của phổi hoặc các tổn thương chứa khí.
Bao gồm:
- Emphysema
- Lung cysts (LAM, LIP, Langerhans cell histiocytosis)
- Bronchiectasis
- Honeycombing
Hầu hết các bệnh có dạng tổn thương giảm tỷ trọng có thể được phân biệt dễ dàng dựa trên các dấu hiệu HRCT.

Centrilobular emphysema due to smoking. The periphery of the lung is spared (blue arrows). Centrilobular artery (yellow arrows) is seen in the center of the hypodense area.
Emphysema
Khí phế thũng thường biểu hiện là các vùng giảm tỷ trọng không có thành rõ ràng do hậu quả của sự phá hủy nhu mô phổi.
-
Khí phế thũng trung tiểu thùy
- Loại phổ biến nhất
- Phá hủy không hồi phục vách phế nang ở phần trung tâm tiểu thùy
- Ưu thế ở thùy trên và phân bố không đều
- Liên quan chặt chẽ với hút thuốc lá.
-
Khí phế thũng toàn tiểu thùy
- Ảnh hưởng toàn bộ tiểu thùy thứ cấp
- Ưu thế ở thùy dưới
- Trong thiếu hụt alpha-1-antitrypsin, nhưng cũng gặp ở người hút thuốc với khí phế thũng giai đoạn tiến triển
-
Khí thũng cạnh vách
- Tiếp giáp với màng phổi và các khe liên thùy
- Có thể là hiện tượng đơn độc ở người trẻ tuổi, hoặc ở bệnh nhân lớn tuổi kèm theo khí thũng tiểu thùy trung tâm
- Ở người trẻ tuổi thường liên quan đến tràn khí màng phổi tự phát
Khí thũng cạnh vách
Khí thũng cạnh vách khu trú gần các khe liên thùy và màng phổi, thường liên quan đến sự hình thành bóng khí (vùng khí thũng có đường kính lớn hơn 1 cm).
Các bóng khí ở đỉnh phổi có thể dẫn đến tràn khí màng phổi tự phát.
Các bóng khí khổng lồ đôi khi gây chèn ép nặng nề mô phổi lân cận.
Khí phế thũng toàn tiểu thùy
Bên trái là một trường hợp điển hình của khí phế thũng toàn tiểu thùy.
Có sự phá hủy đồng đều cấu trúc nền của các tiểu thùy phổi thứ cấp, dẫn đến các vùng rộng lớn có tỷ trọng thấp bất thường.
Các mạch máu phổi trong vùng phổi bị tổn thương trông ít hơn và nhỏ hơn so với bình thường.
Khí phế thũng toàn tiểu thùy có tính chất lan tỏa và nặng nhất ở các thùy dưới.
Trong khí phế thũng toàn tiểu thùy nặng, hình ảnh đặc trưng của sự phá hủy phổi lan rộng và sự giảm thiểu các dấu hiệu mạch máu đi kèm có thể dễ dàng phân biệt với nhu mô phổi bình thường.
Mặt khác, khí phế thũng toàn tiểu thùy mức độ nhẹ và thậm chí trung bình có thể rất kín đáo và khó phát hiện trên HRCT(1).
Cystic lung disease
Nang phổi được định nghĩa là các vùng thấu quang với độ dày thành dưới 4mm.
Các bệnh phổi dạng nang được liệt kê trong bảng ở bên trái.
Hang (cavity) được định nghĩa là các vùng thấu quang có độ dày thành hơn 4mm và được thấy trong nhiễm trùng (lao, tụ cầu, nấm, bệnh sán chó), thuyên tắc nhiễm trùng, ung thư biểu mô tế bào vảy và bệnh Wegener.
Bên trái là một trường hợp có nhiều nang hình tròn và hình dạng kỳ lạ.
Tổn thương chiếm ưu thế ở thùy trên.
Bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá lâu dài.
Sự kết hợp các dấu hiệu này điển hình cho bệnh mô bào Langerhans.
Bệnh mô bào tế bào Langerhans (LCH) là một bệnh vô căn, đặc trưng ở giai đoạn sớm bởi các nốt u hạt chứa mô bào Langerhans và bạch cầu ái toan.
Ở giai đoạn muộn hơn, các u hạt được thay thế bởi xơ hóa và hình thành các nang.
Đây là một tình trạng không phổ biến.
Phần lớn bệnh nhân là người trẻ hoặc trung niên, biểu hiện với các triệu chứng không đặc hiệu như ho và khó thở. Có đến 20% bệnh nhân biểu hiện bằng tràn khí màng phổi và hơn 90% bệnh nhân là người hút thuốc lá.
Hầu hết các nang có hình tròn, nhưng cũng có thể có hình dạng bất thường (hình thùy đôi hoặc hình lá ba thùy).
Sự chiếm ưu thế ở thùy trên về kích thước và số lượng nang là phổ biến.
Bên trái là một trường hợp có nhiều nang phân bố đều khắp phổi (trái ngược với LCH).
Lưu ý tình trạng tràn khí màng phổi.
Bệnh nhân không có tiền sử hút thuốc và là nữ giới 40 tuổi.
Sự kết hợp các dấu hiệu này điển hình cho Bệnh U Cơ Bạch Huyết (LAM).
Bệnh u cơ bạch huyết là một bệnh hiếm gặp đặc trưng bởi sự tăng sinh tiến triển của các tế bào hình thoi, giống với cơ trơn.
Sự tăng sinh của các tế bào này dọc theo các tiểu phế quản dẫn đến hiện tượng bẫy khí và hình thành các nang phổi thành mỏng.
Vỡ các nang này có thể gây ra tràn khí màng phổi.
Các biểu hiện khác của LAM bao gồm bệnh hạch và tràn dịch màng phổi.
U cơ mạch bạch huyết chỉ xảy ra ở phụ nữ, thường trong độ tuổi sinh đẻ, từ 17 đến 50 tuổi.
Các biến đổi lâm sàng, X-quang và bệnh lý phổi tương tự được thấy ở khoảng 1% bệnh nhân mắc bệnh xơ cứng củ.
Hầu hết bệnh nhân tử vong trong vòng 10 năm kể từ khi khởi phát triệu chứng.
Giãn phế quản
Giãn phế quản được định nghĩa là tình trạng giãn phế quản cục bộ.
Chẩn đoán giãn phế quản thường dựa trên sự kết hợp của các dấu hiệu sau:
- bronchial dilatation (signet-ring sign)
- bronchial wall thickening
- thiếu sự thon dần bình thường với khả năng nhìn thấy đường thở ở phổi ngoại vi
- mucus retention in the broncial lumen
- associated atelectasis and sometimes air trapping
Dấu hiệu nhẫn con dấu đại diện cho mặt cắt ngang của một phế quản giãn (vòng nhẫn) kèm theo động mạch nhỏ đi kèm (con dấu).
Nguyên nhân phổ biến nhất của giãn phế quản là nhiễm trùng trước đó, thường do virus, xảy ra ở độ tuổi còn nhỏ.
Bệnh cũng xảy ra ở những bệnh nhân mắc viêm phế quản mạn tính, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và xơ nang.
Giãn phế quản có thể bắt chước bệnh phổi nang và khí phế thũng bọng khí.
Giãn phế quản do bệnh đường thở nguyên phát cần được phân biệt với giãn phế quản co kéo do xơ hóa.

ABPA: glove-finger shadow due to mucoid impaction in central bronchiectasis in a patient with asthma.
Bên trái chúng ta thấy một phim chụp ngực với hình ảnh bóng ngón tay trong găng tay điển hình.
Chụp HRCT cho thấy giãn phế quản khu trú với tắc nghẽn chất nhầy lan rộng, trong bối cảnh lâm sàng phù hợp (hen phế quản và tăng bạch cầu ái toan trong huyết thanh) điển hình cho Bệnh viêm phế quản phổi dị ứng do Aspergillus (ABPA).
Viêm phế quản phổi dị ứng do Aspergillus là bệnh phổi xảy ra ở bệnh nhân hen phế quản hoặc xơ nang, được kích hoạt bởi phản ứng quá mẫn với sự hiện diện của Aspergillus fumigatus trong đường thở.
Bệnh đặc trưng bởi các biểu hiện giãn phế quản trung tâm, tắc nghẽn chất nhầy và xẹp phổi.
Honeycombing
Tổ ong được định nghĩa bởi sự hiện diện của các khoang nang nhỏ với thành dày không đều được cấu tạo bởi mô xơ.
Các nang tổ ong thường chiếm ưu thế ở vùng phổi ngoại vi và dưới màng phổi bất kể nguyên nhân của chúng.
Các nang tổ ong dưới màng phổi thường xuất hiện theo nhiều lớp liên tiếp.
Đặc điểm này có thể giúp phân biệt tổ ong với khí phế thũng cạnh vách ngăn, trong đó các nang dưới màng phổi thường chỉ xuất hiện theo một lớp duy nhất.
Trường hợp bên trái cho thấy các nang tổ ong dưới màng phổi ở nhiều lớp liên tiếp.
Ngoài ra còn có sự chiếm ưu thế ở thùy dưới và giãn phế quản do co kéo lan rộng.
Những phát hiện này điển hình cho Viêm phổi Mô kẽ Thông thường (UIP).
UIP hay ‘phổi giai đoạn cuối’ là một chẩn đoán bệnh lý và thường được xác định qua sinh thiết phổi, khi hình ảnh tổ ong có thể nhìn thấy được.
Xơ phổi vô căn (IPF) chiếm hơn 60% các trường hợp UIP.
UIP kèm xơ hóa phổi cũng là một dạng tổn thương phổ biến trong bệnh tự miễn và tổn thương phổi do thuốc.
Nhiều loại thuốc đã được xác định có liên quan, nhưng dạng tổn thương này thường gặp nhất là do các thuốc hóa trị liệu gây độc tế bào như bleomycin, busulfan, vincristine, methotrexate, adriamycin và carmustine (BCNU).
UIP in a patient with progressive shortness of breath. Scroll through the images.
Bên trái là một trường hợp khác của UIP.
Sự chiếm ưu thế ở vùng phổi dưới được thể hiện khi bạn cuộn qua các hình ảnh.
Lưu ý độ mờ kính mài ở thùy dưới phổi trái do mô xơ thay thế không khí trong các phế nang.
Distribution within the lung
Upper versus lower zone distribution
Ưu thế vùng phổi trên thường gặp trong các bệnh do hít phải:
- Inhaled particles: pneumoconiosis (silica or coal)
- Smoking related diseases (centrilobular emphysema)
- Respiratory bronchiolitis (RB-ILD)
- Langerhans cell histiocytosis
- Hypersensitivity pneumonitis
- Sarcoidosis
Lower zone preference is seen in:
- UIP
- Aspiration
- Pulmonary edema
Central versus peripheral distribution
Phân bố trung tâm được thấy trong bệnh sarcoidosis, viêm phế quản và phù phổi do tim.
Phân bố ngoại vi chủ yếu gặp trong viêm phổi tổ chức hóa ẩn nguyên (COP), viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính và UIP.
Additional findings
Pleural effusion
Các bệnh biểu hiện với tràn dịch màng phổi được liệt kê trong bảng.
Lymphadenopathy
Trong bệnh sarcoidosis, hình thái thường gặp là hạch to cạnh khí quản phải và rốn phổi hai bên (dấu hiệu ‘1-2-3’).
Trong ung thư phổi và ung thư dạng viêm bạch mạch, hạch to thường chỉ xuất hiện một bên.
Vôi hóa dạng vỏ trứng
Dạng này thường gặp ở các hạch bạch huyết ở bệnh nhân bụi phổi silic và bụi phổi than, đôi khi gặp trong bệnh sarcoidosis, bệnh Hodgkin sau xạ trị, bệnh blastomycosis và xơ cứng bì.
Differential diagnosis of interstitial lung diseases
Examples of reticular pattern:
- Ung thư hạch bạch huyết: dày vách liên tiểu thùy không đều, thường khu trú hoặc một bên 50% có hạch to, có tiền sử ung thư.
- Phù phổi do tim: phát hiện tình cờ trên HRCT, dày vách liên tiểu thùy trơn láng với ưu thế ở vùng đáy (đường Kerley B), mờ kính mờ phân bố theo trọng lực và quanh rốn phổi, dày mô kẽ quanh bó mạch phế quản (dày bao quanh phế quản)
- Lymphangitic carcinomatosis
- Lymphangitic carcinomatosis with hilar adenopathy.
- Protein phế nang: tăng đậm độ dạng kính mờ kèm dày vách liên tiểu thùy (hình ảnh “crazy paving”).
- Cardiogenic pulmonary edema.
Examples of nodular pattern
- Viêm phổi quá mẫn: các nốt centrilobular không rõ ranh giới.
- Miliary TB: random nodules
- Sarcoidosis: các nốt phân bố quanh bạch mạch, dọc theo các khe liên thùy, hạch to.
- Viêm phổi quá mẫn: các nốt trung tâm tiểu thùy, lưu ý vùng kế cận màng phổi và khe liên thùy được bảo tồn.
More nodular pattern
- Sarcoidosis: các nốt phân bố quanh bạch mạch, dọc theo các khe liên thùy, hạch to.
- TB: Tree-in-bud appearance in a patient with active TB.
- Mô bào tế bào Langerhans: giai đoạn nốt sớm trước khi các nang điển hình xuất hiện.
- Respiratory bronchiolitis in infection.
Examples of High Attenuation pattern
- Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính với các vùng ngoại vi có đậm độ kính mờ.
- Sarcoid giai đoạn cuối với xơ hóa lan rộng ở thùy trên biểu hiện dưới dạng các vùng đông đặc. Lưu ý hạch to.
- Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính với các vùng đông đặc ngoại vi.
- Ung thư biểu mô phế nang phế quản với cả vùng kính mờ và đông đặc
High Attenuation pattern (2)
- Viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu (NSIP): kính mờ kèm giãn phế quản do co kéo, không có tổn thương tổ ong.
- Cryptogenic organizing pneumonia (COP).
- Sarcoidosis giai đoạn cuối: đông đặc do xơ hóa lan rộng vùng quanh rốn phổi và thùy trên.
- COP.
Low Attenuation pattern
- Bệnh u cơ bạch mạch (LAM): các nang đồng đều ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ; không có tiền sử hút thuốc; hạch to và tràn dịch màng phổi; đôi khi tràn khí màng phổi.
- LCH: nhiều nang hình tròn và hình dạng bất thường; tiền sử hút thuốc lá.
- Honeycombing
- Khí phế thũng trung tiểu thùy: vùng giảm đậm độ không có thành.
Low Attenuation pattern (2)
- Khí phế thũng trung tiểu thùy: các vùng giảm đậm độ không có thành. Lưu ý động mạch trung tiểu thùy ở trung tâm.
- Mô bào tế bào Langerhans (LCH): nhiều nang thành dày; tiền sử hút thuốc lá.
- Honeycombing.
- Bệnh u cơ bạch mạch (LAM): các nang đều đặn ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.






























































































































