Category: Nốt phổi

  • ACR Lung-RADS v2022

    Lung- RADS

    Mô tả phân loại

    Các dấu hiệu

    Quản lý

    0

    Chưa hoàn

    thành

    Ước tính dân số: 1%

    Chụp CT ngực trước để so sánh (xem ghi chú 9)

    So sánh với CT ngực

    trước đó;

    Không đánh giá được một phần hoặc toàn bộ phổi

    Cần bổ sung hình ảnh CT tầm soát ung thư phổi

    Có dấu hiệu gợi ý viêm hoặc đang nhiễm trùng (xem ghi chú 10)

    Chụp lại LDCT 1-3 tháng

    1

    Âm tính Ước tính dân số: 39%

    Không có nốt ở phổi HOẶC

    Sàng lọc bằng LDCT sau 12 tháng

    Các nốt có đặc điểm lành tính:

    • Vôi hóa toàn bộ, vôi hóa trung tâm, vôi hóa dạng bỏng ngô, hoặc vôi hóa dạng vòng

    tròn đồng tâm HOẶC

    • Có chứa mỡ

    2

    Lành tính – Dựa trên đặc điểm hình ảnh hoặc tiến triển chậm Ước tính dân số: 45%

    Nốt cạnh màng phổi

    • < 10mm (524 mm3) đường kính trung bình tại baseline hoặc mới

    • Đặc; bờ đều; và dạng oval, thấu kính, hoặc tam giác

    Nốt đặc

    • < 6 mm (< 113 mm3) tại baseline HOẶC

    • Nốt mới < 4 mm (< 34 mm3)

    Nốt bán đặc:

    • < 6 mm tổng đường kính trung bình (< 113 mm³) tại baseline

    Không phải nốt đặc (nốt kính mờ):

    • < 30 mm (< 14,137 mm3) tại baseline, mới, hoặc đang tiến triển HOẶC

    • ≥ 30 mm (≥ 14,137 mm3) ổn định hoặc tiến triển chậm (xem ghi chú 7)

    Nốt đường dẫn khí, dưới phân thùy – tại baseline, nốt mới, hoặc ổn định (xem ghi chú 11)

    Tổn thương nhóm 3 ổn định hoặc giảm kích thước trong 6 tháng theo dõi bằng CT

    HOẶC

    Tổn thương nhóm 4B được chứng minh nguyên nhân lành tính sau chẩn đoán thích hợp

    3

    Khả năng lành tính – Dựa trên đặc điểm hình ảnh hoặc tiến triển

    Ước tính dân số: 9%

    Nốt đặc:

    • ≥ 6 đến < 8 mm (≥ 113 đến < 268 mm3) tại baseline HOẶC

    • Nốt mới từ 4 mm đến < 6 mm (34 đến < 113 mm3)

    Chụp LDCT sau 6 tháng

    Nốt bán đặc:

    • ≥ 6 mm tổng đường kính trung bình (≥ 113 mm3) với thành phần đặc < 6 mm (< 113 mm3) tại baseline HOẶC

    • Nốt mới < 6 mm tổng đường kính trung bình (< 113 mm3)

    Không phải nốt đặc (nốt kính mờ):

    • ≥ 30 mm (≥ 14,137 mm³) tại baseline hoặc nốt mới

    Kén khí phổi không điển hình (xem ghi chú 12)

    • Thành phần kén khí tăng lên (đường kính trung bình) của một kén khí thành dày

    Tổn thương nhóm 4A ổn định hoặc giảm kích thước trong 3 tháng theo dõi bằng CT (trừ các nốt đường dẫn khí)

    4A

    Nghi ngờ Ước tính dân số: 4%

    Nốt đặc:

    • ≥ 8 đến < 15 mm (≥ 268 đến < 1,767 mm3) tại baseline HOẶC

    • Đang tiến triển < 8 mm (< 268 mm3) HOẶC

    • Nốt mới từ 6 đến < 8 mm (113 đến < 268 mm3)

    Chụp LDCT sau 3 tháng; Có thể xem xét chụp PET/CT nếu nốt đặc hoặc thành phần đặc ≥ 8 mm (≥ 268 mm3)

    Nốt bán đặc:

    • ≥ 6 mm tổng đường kính trung bình (≥ 113 mm3) với thành phần đặc ≥ 6 mm đến < 8

    mm (≥ 113 đến < 268 mm3) tại baseline HOẶC

    • Thành phần đặc đang tiến triển hoặc phần đặc mới < 4 mm (< 34 mm3)

    Nốt ở đường dẫn khí, thùy hoặc gần trung tâm hơn – tại baseline (xem ghi chú 11)

    Kén khí phổi không điển hình: (xem ghi chú 12)

    • Kén thành dày HOẶC

    • Kén nhiều ngăn tại baseline HOẶC

    • Kén thành mỏng hay dày trở nên nhiều ngăn

    4B

    Rất nghi ngờ Ước tính dân số: 2%

    Nốt đường dẫn khí, thùy hoặc gần trung tâm hơn – ổn định hoặc đang tiến triển (xem ghi chú 11)

    Cần thêm đánh giá lâm

    sàng

    Nốt đặc:

    • ≥ 15 mm (≥ 1767 mm3) tại baseline HOẶC

    • Nốt mới hoặc đang tiến triển ≥ 8 mm (≥ 268 mm3)

    Chụp CT ngực chẩn đoán không hoặc có thuốc cản quang;

    Có thể xem xét chụp PET/CT nếu nốt đặc hoặc thành phần đặc ≥ 8 mm (≥ 268 mm3);

    Lấy mẫu mô;

    Và/hoặc thêm đánh giá

    lâm sàng

    Quản lý phụ thuộc vào đánh giá lâm sàng, mong muốn của bệnh nhân, và khả năng ác tính (xem ghi chú 13)

    Nốt bán đặc

    • Thành phần đặc ≥ 8 mm (≥ 268 mm3) tại baseline HOẶC

    • Thành phần đặc đang phát triển hoặc phần đặc mới ≥ 4 mm (≥ 34 mm3)

    Kén khi phổi không điển hình: (xem ghi chú 12)

    • Kén thành dày với bề dày thành hoặc nốt thành tăng kích thước

    HOẶC

    • Kén nhiều ngăn đang phát triển (đường kính trung bình) HOẶC

    • Kén nhiều ngăn với tăng số lượng ngăn hoặc xuất hiện mới/tăng kích thước (nốt, kính mờ, hoặc đông đặc)

    Nốt đặc hoặc bán đặc phát triển chậm qua nhiều lần chụp tầm soát (xem ghi chú 8)

    4X

    Ước tính dân số: 1%

    Các nốt nhóm 3 hoặc 4 có thêm các đặc điểm hoặc dấu hiệu hình ảnh tăng nghi ngờ ung thư phổi (xem ghi chú 14)

    S

    Có hoặc khả năng có ý

    nghĩa

    Ước tính dân số: 10%

    Điều chỉnh: Có thể thêm vào nhóm 0-4 những dấu hiệu có ý nghĩa lâm sàng hoặc khả năng có ý nghĩa lâm sàng không liên quan với ung thư phổi (xem ghi chú 15)

    Phù hợp với các dấu hiệu cụ thể.


    GHI CHÚ

    1.  Phân loại Lung-RADS: Mỗi lần kiểm tra nên phân loại 0-4 dựa trên nốt có mức độ nghi ngờ cao nhất.

    2.  Quản lý Lung-RADS: Thời điểm chụp tiếp theo tính từ ngày chụp lần này. Ví dụ, sàng lọc LDCT 12 tháng với Lung-RADS 2 là tính từ ngày khám hiện tại. Ngoài ra cần lưu ý rằng việc quản lý các tổn thương 4A theo cách tiếp cận từng bước dựa trên theo dõi kích thước ổn định hoặc giảm.

    3.  Định nghĩa trong thực hành: Tầm soát âm tính được định nghĩa là phân loại 1 và 2; tầm soát dương tính được định nghĩa là phân loại 3 và 4. Tầm

    soát âm tính không có nghĩa là một cá nhân không bị ung thư phổi.

    4.  Đo kích thước nốt: Để tính đường kính trung bình của nốt, đo cả trục dài và trục ngắn đến một chữ số thập phân bằng mm, và báo cáo đường kính nốt trung bình đến một chữ số thập phân. Các phép đo trục dài và trục ngắn có thể ở bất kỳ mặt phẳng nào phản ánh đúng kích thước nốt. Thể tích nếu ghi nhận thì nên báo cáo đến số nguyên gần nhất tính bằng mm3.

    5.  Ngưỡng kích thước: Áp dụng cho các nốt phát hiện lần đầu và sau đó tăng kích thước, đạt đến kích thước phân loại cao hơn. Khi một nốt vượt qua ngưỡng kích thước mới trong phân loại Lung-RADS khác, ngay cả khi không đáp ứng định nghĩa về sự tăng trưởng, nốt đó nên được phân loại lại dựa vào kích thước và được quản lý tương ứng.

    6.  Tăng trưởng: Tăng kích thước đường kính trung bình > 1.5mm (> 2 mm3) trong khoảng thời gian 12 tháng.

    7.  Nốt kính mờ tiến triển chậm: Một nốt kính mờ thể hiện có tiến triển qua nhiều lần tầm soát nhưng không vượt quá ngưỡng tăng kích thước > 1.5 mm trong bất kỳ khoảng thời gian 12 tháng nào có thể được phân loại là Lung-RADS 2 cho đến khi nốt đó đáp ứng các tiêu chuẩn phân loại khác, chẳng hạn như phát triển thành phần đặc (khi đó quản lý như nốt bán đặc).

    8.  Nốt đặc hoặc nốt bán đặc tiến triển chậm: Một nốt đặc hoặc nốt bán đặc thể hiện có tiến triển qua nhiều lần tầm soát nhưng không vượt quá ngưỡng tăng kích thước > 1.5 mm trong bất kỳ khoảng thời gian 12 tháng nào là đáng nghi ngờ và có thể được phân loại là Lung-RADS 4B. Các nốt tiến triển chậm có thể không tăng hoạt động trao đổi chất trên PET/CT; vì vậy sinh thiết (nếu khả thi) hoặc đánh giá phẫu thuật có thể là khuyến cáo quản lý phù hợp nhất.

    9.  Các lần khám trước: Nếu trong thời gian chờ kết quả các lần khám trước (CT tầm soát hoặc CT chẩn đoán), phân loại tạm thời Lung-RADS 0 cho

    đến khi có kết quả so sánh và phân loại Lung-RADS mới được xác định.

    10.  Các dấu hiệu nghi ngờ nhiễm trùng hoặc viêm:

    a.      Lung-RADS 0 với 1-3 tháng theo dõi bằng LDCT có thể được khuyến cáo cho các dấu hiệu phổi gợi ý một quá trình viêm hoặc nhiễm trùng không xác định. Những dấu hiệu như vậy có thể bao gồm đông đặc thùy hoặc phân thùy, nhiều nốt mới (nhiều hơn sáu nốt), nốt đặc lớn (≥ 8 mm) xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn, và các nốt mới trong một số bối cảnh lâm sàng nhất định (ví dụ bệnh nhân suy giảm miễn dịch). Sau 1-3 tháng theo dõi, nên đưa ra phân loại Lung-RADS và khuyến cáo quản lý mới dựa trên nốt nghi ngờ nhất.

    b.      Các nốt đặc hoặc bán đặc mới với các đặc điểm hình ảnh liên quan với ác tính hơn nhiễm trùng hoặc viêm nhiễm, đáp ứng tiêu chuẩn kích

    thước của Lung-RADS 4B, có thể được phân loại 4B với đánh giá chẩn đoán và/hoặc lâm sàng phù hợp.

    c.      Một số dấu hiệu cho thấy quá trình viêm nhiễm hoặc nhiễm trùng có thể không đảm bảo theo dõi trong thời gian ngắn (ví dụ các nốt nụ trên cành hoặc nốt kính mờ < 3 cm). Những nốt này có thể được đánh giá bằng cách sử dụng tiêu chuẩn kích thước hiện có với phân loại Lung- RADS và khuyến cáo quản lý dựa trên dấu hiệu nghi ngờ nhất.

    11.  Các nốt trong đường dẫn khí:

    a.      Những bất thường ở nội khí quản hoặc nội phế quản phân thùy hoặc gần hơn được phân loại là Lung-RADS 4A.

    b.      Các bất thường nội phế quản hạ phân thùy và/hoặc nhiều ống nội phế quản thiên về quá trình nhiễm trùng; nếu không xác định được nốt tắc nghẽn bên dưới thì các tổn thương này có thể được phân loại là Lung-RADS 0 (có khả năng nhiễm trùng hoặc viêm) hoặc Lung-RADS 2 (lành tính).

    c.      Sự hiện diện của khí trong các bất thường đường dẫn khí phân thùy hoặc gần trung tâm hơn thường thiên về dịch tiết; nếu không xác định được nốt mô mềm bên dưới thì những dấu hiệu này có thể được phân loại là Lung-RADS 2.

    d.      Các nốt đường dẫn khí phân thùy hoặc gần trung tâm hơn vẫn tồn tại trên CT trong 3 tháng theo dõi được nâng lên Lung-RADS 4B với khuyến cáo quản lý là bổ sung thêm đánh giá lâm sàng (thường là nội soi phế quản).

    12.  Kén khí phổi không điển hình:

    a.      Kén khí thành mỏng: Một ngăn với thành dày đều < 2 mm. Kén thành mỏng được xem là lành tính và không được phân loại hoặc quản lý trong Lung-RADS.

    b.      Kén khí thành dày: Một ngăn với thành dày đều, thành dày không đối xứng, hoặc nốt thành dày ≥ 2 mm (thành phần kén khí chiếm ưu thế); quản lý như kén phí khổi không điển hình.

    c.      Kén khí đa ngăn: Kén khí có thành mỏng hoặc dày với các vách ngăn bên trong. Quản lý như kén khí phổi không điển hình.

    d.      Nốt tạo hang: thành dày là đặc điểm nổi bật; quản lý như nốt đặc (tổng đường kính trung bình).

    e.      Kén khí có nốt liên kết: Bất kỳ kén khí với nốt (đặc, bán đặc, kính mờ) kế cận bên trong (endophytic) hoặc bên ngoài (exophytic). Quản lý dựa trên tiêu chí Lung-RADS đối với đặc điểm nghi ngờ nhất.

    f.       Tăng trưởng: Kích thước nốt (đường kính trung bình), độ dày thành, và/hoặc kích thước thành phần kén khí (đường kính trung bình) tăng >

    1.5 mm trong khoảng thời gian 12 tháng.

    g.      Các kén khí chứa dịch có thể là biểu hiện của quá trình nhiễm trùng và không được phân loại vào Lung-RADS trừ khi xác định được các đặc điểm nghi ngờ khác.

    h.      Nhiều kén khí có thể chỉ ra một chẩn đoán thay thế như bệnh mô bào Langerhans (LCH) hoặc bệnh đa u cơ trơn-mạch bạch huyết (LAM) và không được phân loại vào Lung-RADS trừ khi xác định được các đặc điểm nghi ngờ khác. (Reference: Seaman DM, Meyer CA, Gilman MD, McCormack FX. Diffuse Cystic Lung Disease at High-Resolution CT. AJR 2011;196: 1305-1311).

    13.  Lung-RADS 4B: Quản lý dựa trên đánh giá lâm sàng (bệnh kèm theo), mong muốn của bệnh nhân, và nguy cơ ác tính. Các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh được khuyến khích sử dụng Công cụ đánh giá của McWilliams (và cộng sự) khi đưa ra khuyến cáo (https://brocku.ca/lung-cancer-screening-and- risk-prediction/risk-calculators/)

    14.  Lung-RADS 4X: Nốt nhóm 3 hoặc 4 với các dấu hiệu bổ sung làm tăng nguy cơ ung thư phổi, như bờ tua gai, kèm hạch to, có bệnh ung thư di căn,

    nốt kính mờ tăng gấp đôi kích thước trong 1 năm,… 4X là phân loại Lung-RADS riêng biệt; X không nên được dùng như một công cụ điều chỉnh.

    15.  Điều chỉnh: Có thể điều chỉnh thêm S vào các loại Lung-RADS 0-4 với các phát hiện có ý nghĩa lâm sàng hoặc có khả năng có ý nghĩa lâm sàng không liên quan đến ung thư phổi.

    a.      Quản lý phải tuân thủ khuyến cáo quản lý Các dấu hiệu phát hiện tình cờ của ACR (https://www.acr.org/Clinical-Resources/Incidental- Findings). Hướng dẫn tham khảo nhanh về các dấu hiệu phát hiện tình cờ trên CT sàng lọc ung thư phổi của ACR tóm tắt các phát hiện phổ biến và cách quản lý (https://www.acr.org/-/media/ACR/Files/Lung-Cancer-Screening-Resources/LCS-Incidental-Findings-Quick-Guide.pdf).

    b.      b. Những phát hiện đã biết, và đã hoặc đang trong quá trình đánh giá lâm sàng KHÔNG yêu cầu sử dụng S-modifier. Bất kỳ bằng chứng nào về sự thay đổi đáng lo ngại của một dấu hiệu quan trọng hoặc có khả năng quan trọng đã biết mà dấu hiệu này không mong đợi thì cần đảm bảo việc sử dụng lại S-modifier.

    16.  Chẩn đoán ung thư phổi: Khi bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư phổi, có thể tiến hành các biện pháp điều trị tiếp theo (bao gồm các hình

    ảnh bổ sung như PET/CT) nhằm mục đích phân loại giai đoạn ung thư phổi; biện pháp này không còn được coi là sàng lọc nữa./.

  • Hướng dẫn Fleischner 2017

    Hướng dẫn Fleischner 2017

    bởi Onno Mets và Robin Smithuis

    Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam và Bệnh viện Alrijne, Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Các nốt phổi thường được phát hiện tình cờ trên CT ngực.
    Vai trò của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh là phân biệt giữa các tổn thương lành tính và các tổn thương có khả năng ác tính, đồng thời tư vấn về theo dõi hình ảnh hoặc các kỹ thuật hình ảnh xâm lấn bổ sung.

    Bài viết này tóm tắt những kiến thức cơ bản về các nốt phổi chưa xác định được bản chất, và trình bày các khuyến nghị quản lý mới nhất của Hội Fleischner.

    Giới thiệu

    Các nốt phổi có thể được phân chia thành tổn thương đặc và tổn thương bán đặc, trong đó tổn thương bán đặc có thể được phân loại thêm thành nốt bán đặc một phần và nốt kính mờ thuần túy.

    Một số định nghĩa:

    • Nốt bán đặc (SSN)
      Nốt phổi có hình ảnh kính mờ ít nhất một phần
    • Kính mờ
      Vùng mờ có tỷ trọng cao hơn mô xung quanh, không che khuất các cấu trúc phế quản-mạch máu bên dưới

    Hướng dẫn Fleischner 2017

    Giới thiệu

    Năm 2017, hướng dẫn cập nhật của Hội Fleischner đã được công bố[1].
    Hướng dẫn này thay thế các khuyến nghị trước đây về nốt phổi đặc (2005) [2] và nốt phổi bán đặc (2013) [3].
    Các hướng dẫn mới này nhằm mục đích giảm số lượng các lần theo dõi không cần thiết và đưa ra các quyết định xử trí rõ ràng hơn.

    Việc đặc trưng hóa nốt phổi nên được thực hiện trên các lát cắt CT mỏng ≤1,5 mm, vì một nốt đặc nhỏ có thể có hình ảnh giảm tỷ trọng dạng kính mờ trên lát cắt dày do hiệu ứng thể tích riêng phần.

    Nốt đặc

    Các nốt phổi đặc có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau:

    • U hạt lành tính
    • Sẹo khu trú
    • Hạch bạch huyết trong phổi
    • Ung thư nguyên phát
    • Bệnh di căn.

    Nốt cạnh rãnh liên thùy là một thực thể riêng biệt, vì chúng thường đại diện cho các hạch bạch huyết trong phổi, vốn là lành tính và không cần theo dõi.
    Chúng được thảo luận trong chương cuối.

    Trong một bài viết khác, chúng tôi đã trình bày một số đặc điểm có thể giúp phân biệt giữa tổn thương lành tính và ác tính (nhấp vào đây)
    Thật không may, có sự chồng lấp đáng kể và thường không thể đưa ra câu trả lời dứt khoát dựa trên hình thái học hình ảnh.
    Do đó, theo dõi là một chiến lược thường được áp dụng.

    Nốt bán đặc

    Hầu hết các nốt bán đặc là thoáng qua và là kết quả của nhiễm trùng hoặc xuất huyết.
    Tuy nhiên, các nốt bán đặc tồn tại dai dẳng thường đại diện cho bệnh lý trong phổ ung thư biểu mô tuyến.

    Không thể phân biệt đáng tin cậy trên hình ảnh học, mặc dù các nghiên cứu cho thấy kích thước lớn hơn và thành phần đặc có liên quan đến hành vi xâm lấn hơn.
    So với các tổn thương đặc, các nốt bán đặc tồn tại dai dẳng có tốc độ tăng trưởng chậm hơn nhiều, nhưng mang nguy cơ ác tính cao hơn nhiều.
    Trong một nghiên cứu của Henschke và cộng sự, các nốt bán đặc một phần có tỷ lệ ác tính là 63%, nốt kính mờ thuần túy là 18% và nốt đặc chỉ là 7% [4].

    Các nốt bán đặc trong phổ ung thư biểu mô tuyến trước đây được gọi là ung thư biểu mô phế quản phế nang hay BAC.
    Thuật ngữ này không còn được sử dụng nữa.

    Một phân loại mới dựa trên giải phẫu bệnh cho ung thư biểu mô tuyến đã được giới thiệu vào năm 2011 và phân loại hiện tại này phân biệt giữa:

    1. Ung thư biểu mô tuyến tại chỗ.
    2. Ung thư biểu mô tuyến xâm lấn tối thiểu.
    3. Ung thư biểu mô tuyến xâm lấn.

    Nốt bán đặc thoáng qua

    Nốt bán đặc thoáng qua

    Các nốt bán đặc thoáng qua thường đại diện cho nhiễm trùng hoặc xuất huyết phế nang.
    Để phân biệt giữa nốt bán đặc thoáng qua hay tồn tại dai dẳng, cần thực hiện CT theo dõi.
    Trước đây, khuyến nghị là chụp lại sau 3 tháng, tuy nhiên khoảng thời gian này đã được tăng lên 12 tháng.
    Do tốc độ tăng trưởng chậm hơn, tổng thời gian theo dõi đối với các nốt bán đặc tồn tại dai dẳng đã được tăng lên 5 năm.

    Các hình ảnh cho thấy một nốt bán đặc kính mờ thuần túy 7 mm ở thùy trên phổi phải.
    Trên CT theo dõi, nốt này được xác nhận là nốt bán đặc thoáng qua.


    Nốt bán đặc ác tính tồn tại dai dẳng

    Nốt bán đặc ác tính tồn tại dai dẳng

    Các hình ảnh này cho thấy một nốt bán đặc kính mờ thuần túy ở thùy dưới phổi phải.
    Tổn thương này cho thấy sự tăng trưởng trong khoảng thời gian hai năm và được xác nhận là ác tính sau khi phẫu thuật cắt bỏ.

    Các yếu tố nguy cơ

    Việc xác định nguy cơ cao hay thấp hiện nay khó khăn hơn so với hướng dẫn cũ.
    Trước đây, đối tượng nguy cơ cao được xác định dựa trên tiền sử hút thuốc lá nặng, tiền sử ung thư phổi ở người thân thế hệ thứ nhất hoặc phơi nhiễm với amiăng, radon hoặc uranium.

    Hiện nay, mục tiêu là phân tách các tổn thương nguy cơ cao khỏi nguy cơ thấp bằng cách xem xét nhiều thông số hơn là chỉ dựa vào đặc điểm của đối tượng (Xem Bảng).

    Do các yếu tố nguy cơ này rất nhiều và có tác động khác nhau đến nguy cơ ác tính, người ta đề xuất đánh giá các phân loại nguy cơ cuối cùng liên quan đến xác suất ác tính [8] (Bảng).

    Ghi chú

    Hướng dẫn khuyến nghị theo dõi đối với các nốt có nguy cơ ung thư phổi ước tính khoảng 1% hoặc cao hơn, đây là một ngưỡng cắt tùy ý.

    Khả năng ác tính khác nhau đối với một nốt phổi được phát hiện tình cờ ở thùy dưới của bệnh nhân tương đối trẻ so với một nốt ở thùy trên của người hút thuốc nặng có nguy cơ cao, hoặc ở bệnh nhân có bệnh ác tính đã biết hoặc nghi ngờ.
    Vì lý do này, hướng dẫn Fleischner về quản lý nốt phổi phân tách nguy cơ cao và thấp, và không áp dụng cho các đối tượng dưới 35 tuổi, bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc bệnh nhân ung thư [1].

    Đo lường Nốt Phổi


    Một tổn thương đo được 8 x 5 mm có giá trị trung bình là (8 + 5) : 2 = 6,5 mm - làm tròn lên 7 mm

    Một tổn thương đo được 8 x 5 mm có giá trị trung bình là (8 + 5) : 2 = 6,5 mm – làm tròn lên 7 mm

    Trong các hướng dẫn Fleischner, kích thước nốt có thể được đo bằng phép đo thủ công 2D bằng thước kẹp hoặc đo thể tích nốt 3D.
    Phép đo thủ công 2D bằng thước kẹp nên dựa trên giá trị trung bình của đường kính trục dài và trục ngắn của nốt.
    Các số đo này nên được thực hiện trên cùng một ảnh tái tạo mặt phẳng ngang, mặt phẳng vành hoặc mặt phẳng đứng dọc, tùy theo mặt phẳng nào cho thấy kích thước lớn nhất [1].
    Đây là điểm mới so với hướng dẫn trước, trong đó kích thước được tính trung bình chỉ trên mặt phẳng trục [2].
    Phép đo thủ công 2D bằng thước kẹp nên được làm tròn đến milimét nguyên gần nhất.

    Đối với các nốt bán đặc một phần, cả kích thước toàn bộ nốt lẫn kích thước thành phần đặc đều cần được đo riêng biệt, đều sử dụng kỹ thuật lấy trung bình nêu trên.

    Nốt cạnh rãnh liên thùy

    Nốt cạnh rãnh liên thùy là một thực thể riêng biệt, và có khả năng đại diện cho các hạch bạch huyết trong phổi.
    Về mặt hình thái, đây là các nốt đặc, đồng nhất với bờ nhẵn, có hình bầu dục hoặc tròn, hình thấu kính hoặc hình tam giác.
    Vị trí của chúng nằm trong vòng 15 mm so với rãnh liên thùy hoặc màng phổi. Chúng có thể có hoặc không có tiếp xúc với vách liên tiểu thùy.
    Đặc điểm sau phân biệt giữa PFN điển hình và không điển hình (xem Hình).
    PFN có thể cho thấy tốc độ tăng trưởng đáng kể trên hình ảnh theo dõi liên tiếp, đôi khi tương đương với các nốt ác tính.
    Đây không phải là dấu hiệu điển hình của ác tính, mà chỉ là kết quả của nguồn gốc bạch huyết được cho là của chúng.