Category: Thực quản

  • Thực quản II: Hẹp lòng, Hội chứng cấp tính, U tân sinh và Chèn ép mạch máu

    Thực quản II: Hẹp, Hội chứng cấp tính, Khối u và Ấn lõm mạch máu

    Terrence C. Demos, MD, Harold V. Posniak, MD, Wayde Nagamine, MD và Mary Olson, MD

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Loyola, Hoa Kỳ

    Ngày xuất bản

    Trong Thực quản II, chúng ta sẽ thảo luận về:

    • Hẹp thực quản
    • Các hội chứng thực quản cấp tính.
    • Khối u lành tính và ác tính.
    • Ấn lõm mạch máu.

    Hẹp Thực Quản

    Bảng trình bày các nguyên nhân thường gặp và ít gặp gây hẹp thực quản.

    Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy một vị trí hẹp (mũi tên) với các nếp niêm mạc không đều tại vị trí hẹp trên hình ảnh đối quang khí.
    Bệnh nhân này được chẩn đoán thực quản Barrett.
    Hẹp và loét thực quản đoạn giữa gợi ý nghi ngờ thực quản Barrett.

    Hai hình ảnh bên phải cho thấy thực quản Barrett với vị trí hẹp không đều do ung thư biểu mô tuyến.

    Hình ảnh cho thấy một đoạn hẹp lành tính dài, thon đều đối xứng xuất hiện nhiều tháng sau xạ trị.

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân có đoạn hẹp lành tính ở đoạn cao của thực quản (mũi tên).
    Có hình ảnh đông đặc phổi thùy dưới hai bên do hít sặc tái diễn nhiều lần.

    Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 5.000–15.000 trường hợp nuốt phải chất ăn mòn.
    Khoảng 50%–80% xảy ra ở nhóm bệnh nhân nhi.
    Hình bên trái cho thấy đoạn hẹp cao (mũi tên) sau khi nuốt phải chất ăn mòn.

    Các gai xương (mũi tên) có thể chèn ép vào thực quản và hạ họng.
    Tuy nhiên, chúng hiếm khi gây ra triệu chứng lâm sàng.

    Hẹp thực quản đa ổ là tình trạng ít gặp.
    Bảng trình bày các bệnh lý có thể biểu hiện với nhiều đoạn hẹp thực quản.


    Benign pemphigoid

    Pemphigoid lành tính

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân mắc pemphigoid lành tính.
    Các bóng nước niêm mạc đã dẫn đến hình thành nhiều đoạn hẹp (mũi tên).


    Epidermolysis bullosa

    Ly thượng bì bọng nước (Epidermolysis bullosa)

    Hình ảnh này của một bệnh nhân mắc ly thượng bì bọng nước lành tính.
    Nhiều đoạn hẹp (mũi tên) là di chứng của bệnh lý bọng nước niêm mạc.
    Bệnh lý bọng nước da lan rộng đã dẫn đến tình trạng dính ngón tay và co rút.


    Corrosive ingestion

    Nuốt phải chất ăn mòn

    Nuốt phải chất ăn mòn có thể dẫn đến hình thành nhiều đoạn hẹp thực quản.

    Các hội chứng thực quản cấp tính

    Bảng bên trái liệt kê các nguyên nhân gây hội chứng thực quản cấp tính.

    Hội chứng Boerhaave

    Hội chứng Boerhaave là tình trạng vỡ thành thực quản.
    Nguyên nhân thường gặp nhất là nôn mửa quá mức trong các rối loạn ăn uống như chứng cuồng ăn (bulimia), mặc dù hiếm gặp hơn có thể xảy ra khi ho quá mạnh hoặc trong các tình huống khác như tắc nghẽn do thức ăn.

    Hội chứng Boerhaave là thủng thực quản xuyên thành (toàn bộ chiều dày thành), khác biệt với hội chứng Mallory-Weiss – một dạng rách thực quản không xuyên thành cũng liên quan đến nôn mửa.
    Các hội chứng này khác biệt với thủng do thầy thuốc (iatrogenic perforation), vốn chiếm 85-90% các trường hợp vỡ thực quản, thường là biến chứng của thủ thuật nội soi, ống thông nuôi dưỡng hoặc phẫu thuật không liên quan.

    Hình ảnh này của một bệnh nhân mắc hội chứng Boerhaave.
    X-quang ngực cho thấy tràn khí trung thất (các mũi tên).
    Chụp thực quản cản quang cho thấy thuốc cản quang tan trong nước thoát ra ngoài lòng thực quản vào nửa ngực trái (dấu hoa thị).

    Thủng hầu như luôn xảy ra ở phía trái của thực quản đoạn xa.
    X-quang cho thấy khí trung thất, tràn dịch màng phổi và sau đó là tràn khí màng phổi.
    Chụp thực quản cản quang được sử dụng để xác nhận rò rỉ, trước tiên dùng thuốc cản quang tan trong nước, sau đó dùng barium nếu không phát hiện rò rỉ.


    Boerhaave's syndrome

    Hội chứng Boerhaave

    Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân mắc hội chứng Boerhaave.
    Chụp thực quản barium cho thấy khí ngoài lòng thực quản (mũi tên) mà không có hiện tượng thoát thuốc cản quang ra ngoài.
    CT cho thấy khí ngoài lòng thực quản (các mũi tên).
    Rách thực quản đoạn xa bên trái được xác nhận trong phẫu thuật.
    CT có thể phát hiện lượng nhỏ khí ngoài lòng thực quản hoặc thoát thuốc cản quang mà không thể nhìn thấy trên X-quang hoặc chụp thực quản cản quang.

    Rách niêm mạc Mallory-Weiss

    Rách niêm mạc Mallory-Weiss xảy ra do nôn mửa kéo dài và dữ dội, ho hoặc co giật.
    Thông thường, niêm mạc tại vùng nối thực quản – dạ dày bị rách và chảy máu, biểu hiện bằng máu đỏ tươi trong chất nôn hoặc phân có máu.
    Tình trạng này có thể xảy ra do uống rượu quá mức.
    Đây là một tình trạng cấp tính thường tự khỏi trong vòng 10 ngày mà không cần điều trị đặc hiệu.


    Mallory-Weiss tear

    Rách niêm mạc Mallory-Weiss

    Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân bị rách niêm mạc Mallory-Weiss.
    Phim chụp điểm (spot films) cho thấy barium (các mũi tên) trong đường rách niêm mạc dạng tuyến tính gần chỗ nối thực quản – dạ dày.
    Vết rách có thể ở thực quản đoạn xa, đáy vị hoặc kéo dài qua chỗ nối thực quản – dạ dày.

    Tụ máu thực quản

    Các tổn thương hiếm gặp này có liên quan đến tình trạng tăng áp lực trong lòng thực quản, thường gặp nhất là do nôn mửa, can thiệp dụng cụ, và dùng thuốc chống đông máu hoặc rối loạn đông máu.
    Một số trường hợp xảy ra tự phát.
    Chấn thương đụng dập là nguyên nhân hiếm gặp.
    Tụ máu thực quản có tính chất tự giới hạn và hầu như không bao giờ tiến triển thành thủng.
    Hầu hết các trường hợp tụ máu thực quản tự khỏi trong 1-2 tuần với điều trị bảo tồn.

    Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân bị tụ máu thực quản.
    Bệnh nhân nhập viện với triệu chứng đau ngực và khó nuốt sau khi nôn mửa.
    Ngoài hình ảnh động mạch chủ xoắn vặn, X-quang ngực bình thường.
    Chụp thực quản barium cho thấy lòng thực quản hẹp (các mũi tên) trên phim thẳng (AP) và lòng thực quản dẹt trên phim nghiêng (các đầu mũi tên), gợi ý tụ máu trong thành thực quản.

    Trên CT, chẩn đoán tụ máu trong thành thực quản được xác nhận.
    Khối tụ máu thành thực quản tăng tỷ trọng (đầu mũi tên) được thấy kế bên ống thông mũi – dạ dày (mũi tên).
    Sau điều trị bảo tồn, sáu tháng sau chụp thực quản barium cho kết quả bình thường.

    Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân có biến chứng sau nội soi.
    Can thiệp dụng cụ gây rách niêm mạc và tụ máu trong thành thực quản dạng bóc tách, tạo ra hình ảnh lòng đôi với dải niêm mạc phân cách (các mũi tên).

    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh thoát thuốc cản quang trong thành thực quản (mũi tên) sau nong đoạn xa điều trị achalasia.
    Ở giữa là hình ảnh thoát thuốc cản quang trong thành thực quản (mũi tên) sau nội soi có biến chứng.
    Bên phải là hình ảnh thủng thực quản sau sinh thiết với thuốc cản quang thoát ra ngoài lòng thực quản (mũi tên).

    Khối u lành tính

    Dưới đây là danh sách các khối lành tính của thực quản.


    Esophageal leiomyoma

    U cơ trơn thực quản

    U cơ trơn (Leiomyoma)

    U cơ trơn là khối u lành tính thực quản thường gặp nhất, thường có kích thước lớn nhưng không gây tắc nghẽn. U mô đệm đường tiêu hóa (GIST) ít gặp nhất ở thực quản.

    Hình bên trái là bệnh nhân không có triệu chứng với u cơ trơn.
    Trên phim ngực thẳng, thấy một đám mờ bất thường phía sau tim (mũi tên).
    Hình chụp thực quản cản quang barium cho thấy một khối có múi (mũi tên) không gây tắc nghẽn mặc dù kích thước lớn.


    Esophageal leiomyoma

    U cơ trơn thực quản

    Các tổn thương niêm mạc được nhận biết qua hình ảnh bề mặt niêm mạc không đều.
    Các tổn thương trong thành dưới niêm mạc tạo ra hình khuyết lấp đầy nhẵn, và khi nhìn nghiêng, bờ tổn thương thường tạo góc gần vuông với thành thực quản.
    Các tổn thương ngoại lai có xu hướng tạo góc tù dài hơn nếu không dính vào thành thực quản, và tâm điểm của chúng có thể nằm ngoài thực quản. Trên thực tế, việc xác định vị trí của tổn thương có thể gặp khó khăn.

    Trên phim X-quang, khối u (mũi tên) lồi vào ngách thực quản-tĩnh mạch đơn.
    Trên hình chụp thực quản cản quang, bờ dưới của tổn thương trong thành này tạo góc gần vuông (mũi tên) với thành thực quản.


    Calcified esophageal leiomyoma

    U cơ trơn thực quản có vôi hóa

    Một khối thực quản có vôi hóa hầu như luôn là u cơ trơn.
    Hình bên trái là bệnh nhân có tổn thương thực quản vôi hóa (mũi tên) lồi vào ngách thực quản-tĩnh mạch đơn trên phim X-quang.
    Tổn thương (mũi tên) trên CT và hình X-quang bệnh phẩm phẫu thuật cho thấy vôi hóa.

    Hình bên trái là bệnh nhân với u nguyên bào cơ dạng hạt (granular cell myoblastoma), một loại khối u lành tính hiếm gặp.
    Hai tổn thương này (mũi tên) có hình ảnh không đặc hiệu, tuy nhiên tổn thương ở phía gần hơn có bờ nhô ra và góc vuông, gợi ý vị trí trong thành thực quản.


    Pedunculated fibrovascular polyps

    Polyp xơ mạch có cuống

    Polyp xơ mạch (Fibrovascular polyp)

    Polyp xơ mạch có cuống là tổn thương hiếm gặp, khó chẩn đoán trên hình chụp thực quản cản quang barium.
    Sự di chuyển của polyp trong quá trình thăm khám tạo ra vị trí không cố định.
    Hình dạng của polyp đôi khi có thể gợi ý chẩn đoán như trong trường hợp bệnh nhân này.
    Cuống polyp thường khó xác định.

    Dị tật nhân đôi thực quản

    Hình bên trái là bệnh nhân với dị tật nhân đôi thực quản.
    Các hình ảnh trên chụp thực quản cản quang barium không đặc hiệu.
    Tổn thương (mũi tên) có thể thấy phía sau tim trên phim X-quang.
    Hẹp thực quản (mũi tên) do dị tật nhân đôi gây ra.

    Nang nhân đôi ruột trước (foregut duplication cyst) là một nang bẩm sinh.
    Trong trường hợp hình bên trái, nang đẩy hạ họng và thực quản đã cản quang (mũi tên) ra phía sau, đồng thời đẩy khí quản và thanh quản (dấu hoa thị) ra phía trước.

    Khối u ác tính

    Dưới đây là danh sách các khối u thực quản ác tính.

    Ung thư thực quản sớm và ung thư thực quản kích thước nhỏ không phải là hai khái niệm đồng nghĩa.
    Ung thư thực quản sớm được giới hạn ở lớp niêm mạc, dưới niêm mạc và chưa có di căn hạch bạch huyết.
    Hầu hết có kích thước nhỏ ( Ung thư thực quản kích thước nhỏ được định nghĩa dựa trên kích thước tổn thương, với đường kính Vì vậy, một ung thư sớm có thể có kích thước nhỏ, nhưng một ung thư kích thước nhỏ vẫn có thể đã xâm lấn hoặc di căn và do đó không được xếp vào loại ung thư sớm.

    Hình ảnh này của một bệnh nhân có ung thư thực quản sớm.
    Tổn thương không hiển thị trên phim chụp thực quản cản quang đơn thuần.
    Phim chụp thực quản đối quang kép (không khí – cản quang) cho thấy bề mặt niêm mạc không đều (các mũi tên) gợi ý tổn thương niêm mạc.
    Đây vừa là tổn thương kích thước nhỏ, vừa được xác nhận về mặt giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô vảy giai đoạn sớm.


    LEFT: Small polypoid carcinoma. RIGHT: Large polypoid lesion.

    TRÁI: Ung thư biểu mô dạng polyp kích thước nhỏ. PHẢI: Tổn thương dạng polyp kích thước lớn.

    Ung thư thực quản giai đoạn tiến triển có nhiều hình thái đại thể:

    • Dạng polyp
    • Dạng giãn tĩnh mạch (varicoid)
    • Dạng thâm nhiễm
    • Dạng loét
    • Dạng lan rộng bề mặt
    • Dạng hẹp (stricture)
    • Giả co thắt tâm vị (Pseudoachalasia)

    Bên trái là hai trường hợp ung thư biểu mô dạng polyp.


    Esophageal carcinoma with ulcerations (arrows) and sharp right angle junction with esophageal wall (arrowheads)

    Ung thư biểu mô thực quản với các ổ loét (mũi tên) và góc tiếp giáp vuông góc sắc nét với thành thực quản (đầu mũi tên)

    Hình ảnh này của một bệnh nhân có ung thư biểu mô dạng thâm nhiễm loét.
    Tổn thương có ranh giới chuyển tiếp đột ngột tạo thành góc nhọn và bờ nhô ra (overhanging edge).
    Đặc điểm này gợi ý sự xâm lấn thành thực quản và khác với góc tù thường gặp trong các tổn thương ngoại sinh không dính vào thực quản.


    Varicoid carcinoma

    Ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid)

    Các hình ảnh này của một bệnh nhân có ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid).
    Hình ảnh các khuyết thuốc không thay đổi gợi ý đây là khối u hơn là giãn tĩnh mạch thực sự.
    Lưu ý bờ trên sắc nét của tổn thương và ổ loét (các mũi tên)


    LEFT: Varicoid carcinoma. RIGHT: Superficial spreading carcinoma.

    TRÁI: Ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid). PHẢI: Ung thư biểu mô lan rộng bề mặt.

    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân có ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid).
    Các thùy dài mô phỏng hình ảnh giãn tĩnh mạch nhưng không thay đổi trong quá trình soi huỳnh quang.
    Lưu ý các nếp niêm mạc lớn không đều và khối mô mềm (mũi tên) ở đáy vị

    Bên cạnh đó là hình ảnh của một bệnh nhân có ung thư biểu mô lan rộng bề mặt.
    Tổn thương lan rộng bề mặt lan rộng liên quan đến đoạn thực quản xa.
    Hình ảnh này có thể gặp ở cả tổn thương sớm lẫn tổn thương giai đoạn tiến triển.


    LEFT: Long irregular distal stricture due to carcinomaRIGHT: Distal narrowing is not tapered and more proximal than achalasia. Irregularity (arrow) at narrowed site is subtle but persistent

    TRÁI: Hẹp đoạn xa dài và không đều do ung thư biểu mô. PHẢI: Hẹp đoạn xa không có dạng thuôn nhọn và ở vị trí gần hơn so với co thắt tâm vị. Sự không đều (mũi tên) tại vị trí hẹp tinh tế nhưng dai dẳng.

    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh bệnh nhân ung thư biểu mô có hẹp thực quản.
    Hẹp không đều, không đối xứng gợi ý mạnh đến ung thư biểu mô.
    Hẹp thuôn nhọn đều đặn, đối xứng là đặc trưng của nguyên nhân lành tính, tuy nhiên các hẹp ác tính cũng có thể có đặc điểm tương tự và bắt chước tổn thương lành tính.

    Bên cạnh đó là hình ảnh bệnh nhân ung thư biểu mô có hẹp thực quản giống co thắt tâm vị.
    Khối u ác tính đoạn thực quản xa có thể rất giống hình ảnh co thắt tâm vị.
    Nếu nhu động thực quản bình thường, có thể loại trừ co thắt tâm vị.
    Tuy nhiên, nếu nhu động bất thường, các đặc điểm hình ảnh tinh tế như: hẹp không đối xứng, không đều, đột ngột hoặc ở vị trí cao, bất thường niêm mạc, hoặc bất thường cố định sẽ gợi ý chẩn đoán.

    Bên trái là một trường hợp giả co thắt tâm vị khác.
    Hẹp đoạn xa mô phỏng hình ảnh co thắt tâm vị, nhưng vị trí hẹp lệch tâm, các bờ vai không đối xứng (các mũi tên), và niêm mạc không đều tại đỉnh vùng hẹp.
    CT cho thấy thành đáy vị dày lên (các mũi tên) do ung thư biểu mô tuyến.

    Dải khí quản – thực quản (Tracheoesophageal stripe)
    Chiều rộng của vùng tiếp giáp giữa thành sau khí quản và thành trước thực quản > 5 mm trên phim chụp ngực thẳng tư thế nghiêng là dấu hiệu nghi ngờ bệnh lý, thường gặp nhất là ung thư biểu mô thực quản hoặc co thắt tâm vị.

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có dải rộng 1 cm (các mũi tên).
    Phim chụp thực quản cản quang cho thấy dải rộng (các mũi tên) và bờ không đều của ung thư biểu mô đoạn thực quản giữa.
    CT cho thấy mô mềm bất thường ở phía sau khí quản.
    Khối u xâm lấn trung thất liền kề cung động mạch chủ (mũi tên)


    Barrett's esophagus with ulcerated (arrow) adenocarcinoma

    Thực quản Barrett với ung thư biểu mô tuyến có loét (mũi tên)

    Thực quản Barrett và Ung thư biểu mô tuyến

    Thực quản Barrett là yếu tố nguy cơ đã được chứng minh cho sự phát triển của ung thư biểu mô tuyến.
    Tuy nhiên, tỷ lệ mắc ung thư trong bối cảnh thực quản Barrett vẫn còn nhiều tranh cãi.
    Câu hỏi về đối tượng, phương thức và thời điểm tầm soát vẫn chưa được giải quyết thống nhất.

    Ung thư biểu mô tuyến chiếm 10% các khối u ác tính thực quản vào những năm 1960.
    Kể từ thập niên 1960, tỷ lệ mắc tại Hoa Kỳ tăng nhanh hơn bất kỳ loại ung thư nào khác.
    Tỷ lệ mắc hiện nay đang tiệm cận hoặc vượt qua ung thư biểu mô vảy ở nam giới da trắng tại Hoa Kỳ và châu Âu.

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có ung thư biểu mô tuyến dạng mảng (plaque-like) có loét (mũi tên) trên nền thực quản Barrett.

    Ung thư biểu mô tuyến nguyên phát của đáy vị có thể xâm lấn vào thực quản, tuy nhiên các tiêu chí phân biệt xâm lấn từ dạ dày với khối u nguyên phát thực quản vẫn còn là chủ đề tranh luận.

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có ung thư biểu mô tuyến đáy vị.
    Phim chụp cản quang barium cho thấy thành thực quản đoạn xa dày lên rõ rệt và không đều, cùng với các nếp niêm mạc bất thường tại vùng nối thực quản – dạ dày.
    CT cho thấy thành bờ cong nhỏ dày lên và không đều (các mũi tên) gần vùng nối thực quản – dạ dày.


    Spindle cell carcinoma

    Ung thư biểu mô tế bào hình thoi (Spindle cell carcinoma)

    Ung thư biểu mô tế bào hình thoi là các khối u hiếm gặp, còn được gọi là ung thư biểu mô – sarcoma (carcinosarcoma).
    Chúng thường có kích thước lớn nhưng không gây tắc nghẽn, như trong trường hợp được minh họa bên trái.
    U cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma) và u hắc tố ác tính nguyên phát hiếm gặp của thực quản cũng có xu hướng có kích thước lớn nhưng không gây tắc nghẽn đáng kể.


    Leiomyosarcoma of the esophagus

    U cơ trơn ác tính (Leiomyosarcoma) thực quản

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có u cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma) thực quản.
    Bờ (các mũi tên) của khối u kích thước lớn có thể nhìn thấy trên phim chụp ngực thẳng.
    Phim chụp thực quản cản quang tư thế nghiêng cho thấy sự không đều rõ rệt và hẹp lòng thực quản (các mũi tên).


    Leiomyosarcoma of the esophagus

    U cơ trơn ác tính (Leiomyosarcoma) thực quản

    Bên trái là một bệnh nhân khác có u cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma) thực quản.
    Khối u kích thước lớn làm biến dạng lòng thực quản.
    CT cho thấy khối tổn thương làm biến dạng nhưng không gây tắc nghẽn lòng

    Ấn lõm mạch máu

    Bên trái là danh sách các cấu trúc mạch máu có thể gây ấn lõm lên thực quản.


    Uphill varices in a patient with cirrhosis.

    Giãn tĩnh mạch hướng lên (Uphill varices) ở bệnh nhân xơ gan.

    Giãn tĩnh mạch hướng lên (Uphill varices)

    Trong tăng áp lực tĩnh mạch cửa, áp lực tĩnh mạch cửa tăng cao dẫn đến dòng chảy đảo ngược (hướng ly gan) đi vòng qua gan qua tĩnh mạch vị trái đến các tĩnh mạch thực quản và cạnh thực quản giãn rộng, rồi nối thông với tĩnh mạch đơn và bán đơn, dẫn lưu hướng lên vào tĩnh mạch chủ trên.
    Các khuyết đọng thuốc do giãn tĩnh mạch được đặc trưng bởi sự thay đổi hình ảnh trong quá trình thăm khám liên quan đến việc nín thở và áp lực lồng ngực.

    Bên trái là hình ảnh CT của bệnh nhân có giãn tĩnh mạch hướng lên (Uphill varices) kích thước lớn thứ phát do xơ gan kèm tăng áp lực tĩnh mạch cửa.


    Large mediastinal and esophageal (arrows) varices

    Giãn tĩnh mạch trung thất và thực quản (mũi tên) kích thước lớn

    Bên trái là hình ảnh CT của bệnh nhân có giãn tĩnh mạch hướng lên (uphill varices).


    LEFT: Retrocardiac mass-like varices (arrow). RIGHT: Esophagram showing varices (arrows)

    TRÁI: Giãn tĩnh mạch sau tim dạng khối (mũi tên). PHẢI: Hình chụp thực quản cản quang cho thấy giãn tĩnh mạch (mũi tên)

    Giãn tĩnh mạch hướng lên có thể có dạng khối như trường hợp được minh họa bên trái.
    Tiếp tục với hình ảnh tiếp theo.


    Mediastinal varices (blue arrows) and esophageal varices (red arrow)

    Giãn tĩnh mạch trung thất (mũi tên xanh) và giãn tĩnh mạch thực quản (mũi tên đỏ)

    Hình CT cho thấy giãn tĩnh mạch trung thất và thực quản dạng khối (mũi tên).


    Varicoid carcinoma

    Ung thư dạng giãn tĩnh mạch (Varicoid carcinoma)

    Cần phân biệt giãn tĩnh mạch với ung thư dạng giãn tĩnh mạch (varicoid carcinoma).
    Bên trái, hình ảnh cố định của các khuyết đọng thuốc gợi ý khối u hơn là giãn tĩnh mạch.
    Lưu ý bờ trên sắc nét của tổn thương (mũi tên)


    Downhill varices in a patient with a superior vena cava obstruction

    Giãn tĩnh mạch hướng xuống (Downhill varices) ở bệnh nhân tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên

    Giãn tĩnh mạch hướng xuống (Downhill Varices)
    Khi tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên, máu tĩnh mạch phần thân trên chảy xuống dưới theo hướng xuôi dòng qua các tĩnh mạch thực quản đến tĩnh mạch đơn, rồi đổ vào tĩnh mạch chủ trên ở phía dưới vị trí tắc nghẽn.
    Nếu vị trí tắc nghẽn nằm tại hoặc dưới tĩnh mạch đơn, dòng máu sẽ tiếp tục chảy xuống dưới đến hệ thống tĩnh mạch cửa, rồi qua tĩnh mạch gan đến tĩnh mạch chủ dưới và tâm nhĩ phải.

    Bên trái là hình ảnh giãn tĩnh mạch hướng xuống ở bệnh nhân tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên do bệnh histoplasma.
    Trên hình chụp thực quản cản quang, các khuyết đọng thuốc không hằng định (mũi tên) biểu hiện giãn tĩnh mạch hướng xuống ở thực quản trên.
    Hình chụp mạch máu cho thấy các mạch bàng hệ bao gồm tĩnh mạch liên sườn trên trái giãn rộng (mũi tên).


    Downhill varices in a patient with a superior vena cava obstruction

    Giãn tĩnh mạch hướng xuống (Downhill varices) ở bệnh nhân tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên

    Hình chụp thực quản cản quang cho thấy các khuyết đọng thuốc không hằng định (mũi tên xanh) do giãn tĩnh mạch hướng xuống ở thực quản trên.
    CT cho thấy giãn tĩnh mạch thực quản (mũi tên đỏ) và trung thất.
    Tiếp tục với hình chụp tĩnh mạch.

    Hình chụp tĩnh mạch chi trên cho thấy tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên (SVC).


    Aberrant right subclavian artery

    Động mạch dưới đòn phải bất thường (Aberrant right subclavian artery)

    Động mạch dưới đòn phải bất thường

    Đây là dị tật động mạch lồng ngực thường gặp nhất và hiếm khi gây triệu chứng.
    Động mạch chạy lên trên và sang phải tạo ra ấn lõm chéo phía sau lưng trên thực quản (mũi tên).
    CT cho thấy động mạch bất thường (mũi tên) là mạch xuất phát cuối cùng từ quai động mạch chủ và chạy phía sau khí quản và thực quản.


    Right aortic arch with aberrant left subclavian artery

    Quai động mạch chủ phải kèm động mạch dưới đòn trái bất thường

    Quai động mạch chủ phải kèm động mạch dưới đòn trái bất thường

    Quai động mạch chủ phải kèm động mạch dưới đòn trái bất thường thường là phát hiện tình cờ.
    Tuy nhiên, quai động mạch chủ phải với phân nhánh đối xứng gương hầu như luôn liên quan đến bệnh tim bẩm sinh.

    CT cho thấy quai động mạch chủ phải (R) và động mạch dưới đòn trái bất thường (mũi tên) xuất phát thấp từ quai và chạy sang trái phía sau thực quản và khí quản.
    Bên trái là hình chụp thực quản cản quang của bệnh nhân có quai động mạch chủ phải tạo ra ấn lõm phía sau trên tư thế nghiêng (mũi tên xanh).
    Sơ đồ minh họa động mạch dưới đòn trái bất thường (L SCA) nằm phía sau khí quản và thực quản.


    Double ArchLEFT: Right and left arch indent esophagus (arrows) at  different levels RIGHT: Angiogram with double arch in asymptomatic 65-year-old

    Quai đôi động mạch chủ – TRÁI: Quai phải và quai trái ấn lõm thực quản (mũi tên) ở các mức độ khác nhau – PHẢI: Hình chụp mạch máu với quai đôi ở bệnh nhân 65 tuổi không có triệu chứng

    Quai đôi động mạch chủ (Double Arch)

    Quai đôi động mạch chủ thường biểu hiện bằng tắc nghẽn đường thở, khó nuốt và hít sặc ở trẻ em.
    Các quai ấn lõm thực quản ở các mức độ khác nhau.


    Double Arch

    Quai đôi động mạch chủ

    Bên trái là một trường hợp quai đôi động mạch chủ khác.
    Phim X-quang ngực cho thấy đông đặc phổi phải do hít sặc ở trẻ 6 tuổi.
    Quai phải và quai trái ấn lõm thực quản (mũi tên) ở các mức độ khác nhau.


    Aberrant left pulmonary artery: aberrant artery extends between trachea and esophagus indenting both (arrows)

    Động mạch phổi trái bất thường: động mạch bất thường chạy giữa khí quản và thực quản, ấn lõm cả hai cấu trúc (mũi tên)

    Động mạch phổi trái bất thường

    Động mạch phổi trái bất thường ấn lõm khí quản phía sau và thực quản phía trước khi chạy giữa hai cấu trúc này.
    Hẹp phế quản phải có thể gây bẫy khí hoặc xẹp phổi.

    Động mạch chủ xoắn vặn
    Động mạch chủ xuống xoắn vặn là nguyên nhân thường gặp gây ấn lõm ngoại sinh lên thực quản.
    Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy thực quản đoạn xa bị hẹp.
    Tư thế chếch cho thấy ấn lõm thực quản do động mạch chủ với bờ tù (mũi tên), đặc trưng của chèn ép ngoại sinh.


    Normal and abnormal aortic arch impression on the esophagus

    Ấn lõm quai động mạch chủ lên thực quản bình thường và bất thường

    Bệnh lý động mạch chủ

    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh ấn lõm bình thường của quai động mạch chủ lên thực quản.
    Ấn lõm này có thể lớn hơn khi có giãn động mạch chủ, như thấy ở bệnh nhân này với phình quai động mạch chủ do nhiễm khuẩn (mũi tên).


    Coarctation: 'Reverse figure 3' indention of esophagus

    Hẹp eo động mạch chủ: Ấn lõm thực quản dạng ‘số 3 ngược’

    <div class=”dblok md:w-1/2 mx-2
    </article>

  • Thực quản I: Giải phẫu, vòng, viêm

    Thực quản I: Giải phẫu, vòng thực quản và viêm

    Terrence C. Demos, MD, Harold V. Posniak, MD, Wayde Nagamine, MD và Mary Olson, MD

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Loyola, Hoa Kỳ

    Ngày xuất bản

    Trong phần I về Thực quản, chúng tôi sẽ thảo luận về:

    • Giải phẫu và chức năng cơ bản.
    • Vòng thực quản, màng thực quản và túi thừa.
    • Thoát vị khe hoành.
    • Viêm và nhiễm trùng.
    • Hẹp thực quản.
    • Hội chứng thực quản cấp tính.
    • Khối u lành tính và ác tính.
    • Dấu ấn mạch máu.

    Giải phẫu và Chức năng


    LEFT: Lateral view: Epiglottis (red arrow). Post cricoid impression (yellow arrows). Cricopharyngeous   impression (white arrow).RIGHT: AP-view: Small lateral pharyngeal pouches (arrows)

    TRÁI: Tư thế nghiêng: Nắp thanh quản (mũi tên đỏ). Ấn lõm sau sụn nhẫn (mũi tên vàng). Ấn lõm cơ nhẫn hầu (mũi tên trắng). PHẢI: Tư thế AP: Túi thừa hầu bên nhỏ (mũi tên)

    Hạ họng

    Các cấu trúc thường được quan sát thấy bao gồm:

    • Nắp thanh quản
    • Ấn lõm sau sụn nhẫn: Đám rối tĩnh mạch dưới niêm mạc trên sụn nhẫn tạo ra vết lõm không hằng định trên thành trước thực quản.
    • Túi thừa hầu bên:
      Sự lồi ra của thành hầu bên qua màng giáp móng tại vị trí các nhánh mạch máu và thần kinh thanh quản xuyên qua.
      Khi một túi bình thường bị phình to, được gọi là túi thừa hầu bên.

    • Ấn lõm cơ nhẫn hầu:
      Ấn lõm từ bên ngoài vào mặt sau thực quản do cơ đang co.


    Esophagus mucosa: normal thin, parallel, uniform mucosal folds

    Niêm mạc thực quản: các nếp niêm mạc bình thường mỏng, song song và đều đặn

    Thành thực quản được cấu tạo bởi:

    1. Niêm mạc:

      • Biểu mô vảy tầng không sừng hóa
      • Xen kẽ với biểu mô trụ của dạ dày tại hoặc dưới cơ hoành, ranh giới không đều tạo thành đường Z.
    2. Lớp cơ:

      • Lớp cơ vòng bên trong
      • Lớp cơ dọc bên ngoài:

        • 1/3 trên: cơ vân
        • 1/3 giữa: cơ vân và cơ trơn
        • 1/3 dưới: cơ trơn
    3. Không có lớp thanh mạc

    Normal gastroesophageal junction (left), Fundal adenocarcinoma invades  esophagus (right)

    Nối thực quản – dạ dày bình thường (trái), Ung thư biểu mô tuyến vùng đáy vị xâm lấn thực quản (phải)

    Tại vùng nối thực quản – dạ dày, các nếp niêm mạc trơn nhẵn và đều đặn ở đáy vị hội tụ về phần thực quản xa nhất (mũi tên).
    Hình ảnh bên cạnh cho thấy vùng nối thực quản – dạ dày bất thường: Baryt bao phủ các nếp niêm mạc dày và không đều (dấu hoa thị).
    Ung thư biểu mô tuyến vùng đáy vị xâm lấn thực quản (mũi tên)


    Cricopharyngeal achalasia in 46-year-old woman. Feeling of lump in throat. Persistent indentation (arrow) by cricopharyngeus muscle that does not relax as bolus progresses caudally

    Achalasia cơ nhẫn hầu ở phụ nữ 46 tuổi. Cảm giác có khối vướng ở cổ họng. Ấn lõm dai dẳng (mũi tên) do cơ nhẫn hầu không giãn ra khi khối thức ăn di chuyển xuống phía dưới

    Cơ thắt thực quản trên

    • Được tạo thành chủ yếu bởi cơ nhẫn hầu.
    • Nằm ở mức C5-C6
    • Bình thường giãn ra khi có khối thức ăn đi qua
    • Các bất thường
      • Giãn chậm
      • Đóng sớm
      • Không giãn: có hoặc không có triệu chứng; nếu có triệu chứng, được gọi là achalasia cơ nhẫn hầu

    Cơ thắt thực quản dưới

    • Vùng áp lực cao 2-4 cm ở đoạn thực quản xa được xác định bằng đo áp lực.
      Tương ứng với vùng tiền đình trên hình chụp thực quản.
    • Ngăn ngừa trào ngược dạ dày – thực quản.
    • Thuốc và nhiều loại thực phẩm, đồ uống có thể ảnh hưởng đến cơ thắt thực quản dưới và gây ra trào ngược.
    • Glucagon làm giãn cơ thắt thực quản dưới khi được sử dụng trong chụp X-quang đường tiêu hóa trên đối quang khí.
    • Thực quản dạng ống kéo dài đến ngay trên cơ hoành.
    • Sự giãn phình dạng bóng ở đoạn thực quản xa được gọi là tiền đình, tương ứng với cơ thắt thực quản dưới được xác định bằng đo áp lực.
      Sự giãn phình này được thể hiện rõ nhất khi nín thở ở thì hít vào hoặc nghiệm pháp Valsalva.
      Không nhầm lẫn hình ảnh này với thoát vị khe hoành.

    Spontaneous  reflux extends to level of            aortic arch.

    Trào ngược tự phát lan đến mức cung động mạch chủ.

    Trào ngược dạ dày – thực quản

    Trào ngược dạ dày – thực quản tự phát đã được ghi nhận ở tới 1/3 số bệnh nhân bị viêm thực quản trào ngược.
    Nhiều nghiệm pháp khác nhau trong quá trình thăm khám đã được sử dụng để tăng độ nhạy, tuy nhiên các nghiệm pháp này thường bị bác bỏ vì không phản ánh đúng sinh lý bình thường.
    Ngoài ra, nhiều bệnh nhân không có triệu chứng vẫn có trào ngược tự phát, do đó hiện tượng trào ngược trong khi chụp thực quản không đủ độ nhạy và độ đặc hiệu để quy kết triệu chứng cho trào ngược.

    Nhu động thực quản

    Bình thường:

    • Co bóp nguyên phát:
      Đẩy khối thức ăn qua thực quản
    • Co bóp thứ phát:
      Tiếp nối sau co bóp nguyên phát và đẩy phần khối thức ăn còn lại ra khỏi thực quản ngực

    Bất thường:

    • Co bóp bậc ba, thực quản lão hóa (presbyesophagus):
      Co bóp không có tính đẩy
    • Co thắt thực quản lan tỏa
    • Thực quản kiểu Nutcracker
    • Giảm nhu động do achalasia, xơ cứng bì, viêm da cơ, viêm đa cơ, viêm thực quản và thứ phát sau nhiều bệnh lý khác

    Bên trái: co bóp bậc ba ở lần nuốt đầu tiên (trái).
    Co bóp nguyên phát bình thường ở lần nuốt tiếp theo (phải).
    Các co bóp bậc ba này là những co bóp không có tính đẩy, thoáng qua và không liên tục, không cố định về vị trí và không kèm theo triệu chứng, thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi.


    A. Initial nonpropulsive tertiary contractions  B. Three images during examination show collections resembling diverticula                                   C. Image later in examination shows resolution of tertiary contractions

    A. Co bóp bậc ba không có tính đẩy ban đầu B. Ba hình ảnh trong quá trình thăm khám cho thấy các ổ đọng thuốc giống túi thừa C. Hình ảnh chụp muộn hơn trong quá trình thăm khám cho thấy các co bóp bậc ba đã biến mất

    Đôi khi các co bóp bậc ba thoáng qua có thể giả dạng túi thừa.
    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân có co bóp bậc ba, trong quá trình thăm khám trông giống như túi thừa.


    Diffuse esophageal spasm. Patient experienced chest pain during examination

    Co thắt thực quản lan tỏa. Bệnh nhân xuất hiện đau ngực trong quá trình thăm khám

    Co thắt thực quản lan tỏa

    Co thắt thực quản lan tỏa gây ra các co bóp ngắt quãng của cơ trơn thực quản đoạn giữa và đoạn xa, kèm theo các triệu chứng ở ngực.
    Đo áp lực cho thấy các co bóp đồng thời không có tính đẩy trong ít nhất 10% số lần nuốt.
    Chẩn đoán dựa trên hình ảnh học, đo áp lực và triệu chứng lâm sàng.

    Thực quản kiểu Nutcracker

    Thực quản kiểu Nutcracker là nguyên nhân gây đau ngực không do tim, được quy cho nhu động biên độ cao ở đoạn thực quản xa.
    Đây là một chẩn đoán còn gây tranh cãi, được xác định bằng đo áp lực và không có biểu hiện đặc trưng trên hình ảnh học.


    LEFT: Dilated esophagus (arrows) appears as long, well-defined structure paralleling heart RIGHT: Dilated esophagus usually deviates to right. Narrowing (arrow) at hiatus.

    TRÁI: Thực quản giãn (mũi tên) biểu hiện là cấu trúc dài, bờ rõ nét song song với tim. PHẢI: Thực quản giãn thường lệch sang phải. Hẹp (mũi tên) tại khe hoành.

    Achalasia

    • Biểu hiện lâm sàng:
      • Tỷ lệ mắc bệnh bằng nhau ở nam và nữ, thường gặp nhất ở độ tuổi trung niên
      • Khó nuốt tiến triển chậm
      • Tăng nguy cơ ung thư
    • Căn nguyên:

      • Chưa rõ, mặc dù số lượng tế bào hạch thực quản bị giảm
      • Cơ thắt thực quản dưới (LES) giãn không hoàn toàn hoặc không giãn khi nuốt
      • Mất sóng nhu động nguyên phát
    • Hình ảnh chụp thực quản:

      • Giãn thực quản kèm mất nhu động
      • Hẹp thuôn nhẵn tại khe thực quản của cơ hoành
      • Ung thư đoạn xa có thể giả dạng achalasia (giả achalasia)

    LEFT: CT shows dilated esophagus (arrow) that led to esophagram.RIGHT: Esophagram shows narrowing (arrow) at level of hiatus.

    TRÁI: CT cho thấy thực quản giãn (mũi tên) dẫn đến chỉ định chụp thực quản. PHẢI: Chụp thực quản cho thấy hẹp (mũi tên) tại mức khe hoành.

    Bên trái là một bệnh nhân khác bị achalasia.


    LEFT: Dilated esophagus (arrows) is projected behind right atrium.MIDDLE and RIGHT: Smooth, tapered narrowing just above diaphragm (arrows).

    TRÁI: Thực quản giãn (mũi tên) được chiếu phía sau nhĩ phải. GIỮA và PHẢI: Hẹp thuôn nhẵn ngay trên cơ hoành (mũi tên).

    Bên trái là một bệnh nhân khác bị achalasia.
    Trong quá trình soi huỳnh quang, quan sát thấy một số nhu động với hình ảnh hẹp thuôn nhẵn điển hình ngay trên cơ hoành (mũi tên).

    Vòng thực quản dưới


    Vòng thực quản do co thắt cơ. Hình ảnh thay đổi trong quá trình thăm khám và có thể không tồn tại liên tục.

    Vòng thực quản do co thắt cơ. Hình ảnh thay đổi trong quá trình thăm khám và có thể không tồn tại liên tục.

    • Vòng A
      • Co thắt cơ tại vị trí nối giữa thực quản ống và thực quản tiền đình
      • Không có tương quan giải phẫu rõ ràng
    • Vòng B

      • Vòng niêm mạc tại ranh giới biểu mô vảy-trụ theo giải phẫu (đường Z)

        • Thấy rõ nhất hoặc chỉ thấy khi tiền đình giãn căng
        • Bình thường
        • Có thể gây nuốt khó từng đợt nếu thực quản bị hẹp, khi đó được gọi là vòng Schatzki
          • > 20 mm chiều rộng, không gây tắc nghẽn
          • 13-20 mm chiều rộng, có thể gây tắc nghẽn

    • Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có vòng thực quản do co thắt cơ.
      Lưu ý túi thừa dạ dày phát hiện tình cờ (dấu hoa thị).


      Vòng A thực quản do co thắt cơ. Hình ảnh thay đổi trong quá trình thăm khám và có thể không tồn tại liên tục.

      Vòng A thực quản do co thắt cơ. Hình ảnh thay đổi trong quá trình thăm khám và có thể không tồn tại liên tục.

      Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân khác với vòng thực quản không tồn tại liên tục tại đỉnh của thoát vị hoành trượt.


      Vòng B thực quản

      Vòng B thực quản

      Vòng B thực quản nằm tại ranh giới biểu mô vảy-trụ, còn được gọi là đường ‘Z’.
      Hình ảnh không thay đổi trong suốt quá trình thăm khám.

      Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có vòng ‘B’ (các mũi tên) nằm cách cơ hoành vài cm, tại đỉnh của thoát vị hoành trượt.
      Lưu ý hình ảnh không thay đổi trên hai ảnh này.

      Bên trái là hình ảnh nam bệnh nhân 52 tuổi với triệu chứng nuốt khó từng đợt.
      Hình ảnh ngoài cùng bên trái không cho thấy bất thường, tuy nhiên thực quản đoạn xa chưa giãn căng.
      Khi thực quản đoạn xa giãn căng, vòng B Schatzki rộng 13 mm (các mũi tên) gây tắc nghẽn từng đợt được hiển thị rõ tại đỉnh của thoát vị hoành (đầu mũi tên).

      Bên trái là hình ảnh nam bệnh nhân 71 tuổi với triệu chứng đau ngực sau bữa ăn nhanh.
      Khiếm khuyết ngấm thuốc gây tắc nghẽn ở đoạn xa (mũi tên) là một mảnh thịt đã di chuyển vào dạ dày trong quá trình thăm khám.
      Hình ảnh thực quản chụp theo dõi cho thấy vòng B Schatzki (các mũi tên) là nguyên nhân gây tắc nghẽn.

      Màng và Túi Thừa Thực Quản

      Màng thực quản

      • Tỷ lệ gặp 10% trong các ca tử thiết
      • Có thể bẩm sinh hoặc mắc phải
      • Thường gặp nhất ở hạ họng và thực quản đoạn gần
      • Đa số nhô ra từ thành trước thực quản
      • Có triệu chứng khi lòng ống bị hẹp > 50%
      • Chứng khó nuốt do thiếu sắt (Hội chứng Plummer-Vinson)
        • Thiếu máu thiếu sắt
        • Màng thực quản kèm khó nuốt
        • Tăng nguy cơ ung thư
        • Tính xác thực của hội chứng còn đang tranh luận

      Bên trái là hình ảnh của một nam giới 52 tuổi không có triệu chứng.
      Hình chiếu thẳng (AP) và hình chiếu nghiêng cho thấy màng mỏng, ngắn (mũi tên) với mức độ nhô vào lòng ống tối thiểu.

      Bên trái là hình ảnh của một phụ nữ 42 tuổi bị khó nuốt do màng thực quản.
      Lòng ống bị hẹp > 50%


      Zenker's diverticulum in early and late phase of swallowing

      Túi thừa Zenker ở giai đoạn sớm và muộn của quá trình nuốt

      Túi thừa

      Túi thừa do áp lực (pulsion diverticula) hình thành do tăng áp lực trong lòng ống.
      Có nhiều loại túi thừa do áp lực:

      • Zenker
      • Killian-Jamieson
      • Trên cơ hoành (Epiphrenic)
      • Đoạn giữa thực quản
      • Hốc cửa sổ chủ-phổi (Aortopulmonary recess)

      Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân có túi thừa Zenker do cơ nhẫn-hầu đóng sớm.

      Túi thừa do kéo (Traction diverticula) là thứ phát do bệnh lý lân cận.
      Thường gặp nhất ở đoạn giữa thực quản.


      Zenker's diverticulum on chest film, barium study and CT

      Túi thừa Zenker trên phim ngực, chụp thực quản cản quang và CT

      Túi thừa Zenker

      Túi thừa Zenker là túi thừa giả hạ họng do áp lực, trong đó chỉ có lớp niêm mạc và dưới niêm mạc nhô qua điểm yếu hình tam giác ở thành sau (khe hở Killian) nằm giữa các thành phần ngang và chéo của cơ nhẫn-hầu.
      Nguyên nhân còn gây tranh cãi, có thể do tăng áp lực thực quản trên, rối loạn chức năng cơ nhẫn-hầu và trào ngược.
      Biểu hiện lâm sàng có thể là khó nuốt, trào ngược, hít sặc hoặc xuất hiện khối hay mức khí-dịch trên phim X-quang cổ hoặc ngực.
      Chụp thực quản cản quang cho thấy hình ảnh túi chứa có nguồn gốc từ đường giữa phía sau, ngay trên cơ nhẫn-hầu, nhô sang bên (thường sang trái) và xuống dưới, kích thước tăng dần.


      Killian-Jamieson diverticulum: AP and lateral view

      Túi thừa Killian-Jamieson: hình chiếu thẳng (AP) và hình chiếu nghiêng

      Túi thừa Killian-Jamieson là túi thừa do áp lực, nhô qua điểm yếu giải phẫu ở mặt bên của thực quản cổ, phía dưới cơ nhẫn-hầu, khác với túi thừa Zenker có nguồn gốc từ đường giữa phía sau.
      Hình chiếu thẳng (AP) cho thấy túi thừa (mũi tên) xuất phát từ phía bên.
      Hình chiếu nghiêng xác nhận túi thừa không xuất phát từ phía sau như túi thừa Zenker.


      LEFT: Small diverticulum (arrow)  in asymptomatic patient RIGHT: Large diverticulum (arrow)  in patient with aspiration

      TRÁI: Túi thừa nhỏ (mũi tên) ở bệnh nhân không có triệu chứng. PHẢI: Túi thừa lớn (mũi tên) ở bệnh nhân có hít sặc

      Túi thừa trên cơ hoành (Epiphrenic diverticulum)
      Các túi thừa do áp lực này được phân loại dựa theo vị trí gần cơ hoành. /ul>
      Nếu kích thước lớn, chúng có thể gây hẹp thực quản hoặc dẫn đến hít sặc.


      Large epiphrenic diverticulum

      Túi thừa trên cơ hoành kích thước lớn

      Bên trái là một ví dụ khác về túi thừa trên cơ hoành.
      CT cho thấy túi thừa kích thước lớn (mũi tên) lan sang phải, ngay trên cơ hoành.
      Bệnh nhân này không có triệu chứng.

      Túi thừa cửa sổ chủ-phổi (Aortopulmonary window diverticulum)
      Thực quản bình thường có thể thoáng qua nhô vào cửa sổ chủ-phổi.
      Nhô ra cố định là túi thừa không có ý nghĩa lâm sàng.
      Bên trái là các túi thừa cửa sổ chủ-phổi nhỏ (mũi tên), là phát hiện tình cờ ở hai bệnh nhân.

      Ngoài cùng bên trái là túi thừa do kéo (mũi tên) do bệnh u hạt vùng rốn phổi.
      Hạch vôi hóa (dấu hoa thị).
      Ở giữa là túi thừa do áp lực (mũi tên) do tăng áp lực trong lòng ống.
      Bên phải là nhiều túi thừa do áp lực (mũi tên) xuất hiện trước khi thực hiện phẫu thuật cắt cơ Heller điều trị co thắt tâm vị (achalasia).

      Bên trái là túi thừa do kéo (mũi tên) thứ phát sau lao hậu nguyên phát.
      Hình ảnh này có thể nhầm lẫn với tổn thương phổi dạng hang trên phim X-quang ngực.

      Túi thừa giả (pseudodiverticula) có thể gặp trong viêm thực quản trào ngược.
      Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân có thoát vị hoành, viêm thực quản trào ngược và túi thừa giả (mũi tên) tại vị trí hẹp đoạn gần.


      Left: Iatrogenic perforation (arrow). MIDDLE: Communicating esophageal duplication (arrows). RIGHT: Extravasation from iatrogenic perforation of hypopharynx in neonate

      Trái: Thủng do thủ thuật (mũi tên). GIỮA: Nang đôi thực quản có thông nối (mũi tên). PHẢI: Thoát thuốc do thủng hạ họng do thủ thuật ở trẻ sơ sinh

      Một số tình trạng bệnh lý khác có thể bắt chước hình ảnh túi thừa.
      Bên trái là hình ảnh hai bệnh nhân bị thủng do thủ thuật và một bệnh nhân có nang đôi thực quản dạng thông nối.

      Thoát vị khe hoành

      Các thể thoát vị khe hoành được liệt kê trong bảng bên trái.

      Mối liên quan giữa thoát vị khe hoành, trào ngược và viêm thực quản trào ngược vẫn còn nhiều tranh cãi và chưa được hiểu rõ.
      Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh trào ngược dạ dày-thực quản (GERD) đều có thoát vị khe hoành.
      Nhiều bệnh nhân có thoát vị khe hoành nhưng không có trào ngược.
      Nhiều bệnh nhân bị trào ngược nhưng không có thoát vị khe hoành.
      Sự hiện diện của trào ngược tương quan kém với chẩn đoán GERD.
      Thoát vị khe hoành trượt có ý nghĩa lâm sàng không chắc chắn khi là phát hiện đơn độc, không kèm theo các biểu hiện lâm sàng hoặc hình ảnh học của viêm thực quản.
      Chẩn đoán GERD dựa trên các phát hiện hình ảnh học hoặc nội soi của viêm thực quản, không phải dựa vào sự hiện diện của thoát vị khe hoành.

      Thoát vị trượt
      Ở hình bên trái ban đầu, chỗ nối dạ dày-thực quản (GE) nằm dưới khe thực quản của cơ hoành.
      Sau đó, dạ dày thoát vị qua khe hoành.
      Cả thoát vị lẫn chỗ hẹp (mũi tên) do viêm thực quản trào ngược đều không thấy rõ ở giai đoạn đầu của quá trình thăm khám.

      Thoát vị cạnh thực quản
      Các thoát vị lớn có thể gây triệu chứng, và khi khe hoành ngày càng giãn rộng, tình trạng thoát vị và xoay dạ dày tiến triển có thể dẫn đến xoắn dạ dày, với các biến chứng bao gồm xuất huyết, tắc nghẽn, thắt nghẹt và thủng.

      Bên trái là hai ví dụ minh họa.
      Ở hình ngoài cùng bên trái, đáy vị chứa khí (dấu hoa thị) thoát vị qua khe hoành nhưng chỗ nối dạ dày-thực quản (mũi tên) vẫn nằm dưới cơ hoành.
      Hình kế bên là thoát vị cạnh thực quản với phần lớn dạ dày “lộn ngược” nằm trong lồng ngực, bờ cong lớn (các mũi tên) bị lật lên trên.

      Hình bên trái là thoát vị hỗn hợp.
      Đoạn thực quản xa nằm kề cạnh đáy vị đã thoát vị, tuy nhiên khác với thoát vị cạnh thực quản, chỗ nối dạ dày-thực quản (mũi tên) nằm trên cơ hoành thay vì ở dưới.

      Viêm và Nhiễm trùng

      Trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm thực quản.
      Các nguyên nhân khác gây viêm thực quản được liệt kê trong bảng bên trái.

      Viêm thực quản trào ngược

      Các dấu hiệu trên chụp thực quản cản quang barium được liệt kê trong bảng bên trái.

      Chụp thực quản cản quang kép cho thấy các nếp niêm mạc thực quản dày (mũi tên) và một ổ loét (đầu mũi tên) do GERD.
      Chụp thực quản cản quang đơn cho thấy hẹp thực quản (mũi tên) và thoát vị hoành kiểu trượt.

      Hình bên trái cho thấy hẹp thực quản không đều (đầu mũi tên) và các vết trợt (mũi tên) do GERD.


      Barrett's esophagus with reticular mucosa and  web-like (arrow) stricture

      Thực quản Barrett với niêm mạc dạng lưới và hẹp dạng màng (mũi tên)

      Thực quản Barrett

      Thực quản Barrett (dị sản trụ) là hậu quả của viêm thực quản trào ngược mạn tính.
      Hầu hết bệnh nhân có triệu chứng trào ngược và thoát vị hoành.

      Chẩn đoán được gợi ý mạnh mẽ khi có:

      • Loét thực quản đoạn giữa hoặc đoạn cao
      • Hẹp dạng màng ở đoạn giữa hoặc đoạn cao thực quản
      • Hình ảnh niêm mạc dạng lưới

      Hình bên trái là một bệnh nhân thực quản Barrett.
      Hình ảnh niêm mạc dạng lưới là đặc trưng của dị sản trụ Barrett, đặc biệt khi kết hợp với hẹp dạng màng (mũi tên).

      Hình bên trái là một bệnh nhân thực quản Barrett có ung thư biểu mô tuyến.
      Có các nếp niêm mạc đoạn xa bất thường.
      Bờ trên của ung thư biểu mô tuyến tạo góc vuông với thành thực quản (mũi tên), gợi ý tổn thương thành thực quản ở bệnh nhân GERD và thực quản Barrett.

      Viêm thực quản do nhiễm trùng

      Viêm thực quản do Candida
      Hình bên trái là một bệnh nhân viêm thực quản nhiễm trùng do Candida.
      Chụp thực quản barium cho thấy nhiều vết trợt nhỏ và các mảng nhỏ do Candida albicans ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch.

      Viêm thực quản do Cytomegalovirus
      Hình bên trái là một bệnh nhân AIDS bị viêm thực quản nhiễm trùng do Cytomegalovirus.
      Các ổ loét khổng lồ như vậy cũng có thể do HIV đơn thuần gây ra.

      Viêm thực quản do Crohn
      Hình bên trái là một bệnh nhân mắc bệnh Crohn.
      Có hình ảnh viêm thực quản dạng u hạt với các ổ loét áp-tơ (mũi tên).
      Đây là biểu hiện không thường gặp của bệnh Crohn.
      Hình bên phải cho thấy các ổ loét áp-tơ đại tràng, là biểu hiện phổ biến hơn.

      Viêm thực quản do lao
      Hình bên trái là một bệnh nhân viêm thực quản nhiễm trùng do lao nguyên phát.
      Có hình ảnh đường rò không đều từ thực quản đoạn gần (mũi tên).
      Phim X-quang ngực cho thấy các hạch bạch huyết phì đại làm rộng trung thất do lao nguyên phát.

      Giả túi thừa thực quản

      Giãn các tuyến thành thực quản hay còn gọi là giả túi thừa thực quản, thường liên quan đến các dấu hiệu viêm trên mô học hoặc nội soi, và nhiều bệnh nhân có hẹp thực quản do GERD.
      Hình bên trái là một bệnh nhân giả túi thừa thực quản.

      Viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan
      Chẩn đoán có thể được gợi ý bởi tăng bạch cầu ái toan ngoại vi và được xác nhận khi sinh thiết có > 20 bạch cầu ái toan trên mỗi vi trường độ phóng đại cao (HPF).
      Bệnh nhân thường có triệu chứng khó nuốt và dị ứng.
      Các dấu hiệu hình ảnh bao gồm hẹp lan tỏa, hẹp thực quản và hình ảnh có vòng nhẫn tương tự các nếp ngang (thực quản mèo) có thể thoáng qua hoặc liên quan đến trào ngược.
      Điều trị bằng corticosteroid thường cho kết quả tốt.

      Hình bên trái là một bệnh nhân viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan.
      Có hình ảnh hẹp lan tỏa đoạn xa và bờ gợn sóng (mũi tên) do các vết lõm dạng vòng nhẫn, đặc trưng của viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan.


      Glycogen acanthosis

      Gai hóa glycogen

      Gai hóa glycogen
      Các mảng glycogen thường được phát hiện qua nội soi.
      Tỷ lệ gặp qua nội soi được báo cáo là 5 đến 15% tổng số bệnh nhân.
      Các tập hợp glycogen biểu mô lành tính này tạo ra các nốt niêm mạc nhỏ.
      Các nốt có bề mặt nhẵn và bờ rõ.
      Đây có thể là một quá trình thoái hóa và không gây ra triệu chứng.


      Feline esophagus: A, B: Show fine horizontal esophageal folds; C: Later image during study no longer shows folds

      Thực quản mèo: A, B: Cho thấy các nếp ngang mảnh của thực quản; C: Hình ảnh chụp muộn hơn trong quá trình thăm khám không còn thấy các nếp này

      Thực quản mèo
      Cần phân biệt các nếp đồng tâm mảnh, xuất hiện thoáng qua của thực quản mèo với các nếp dày hơn, gián đoạn, cố định gợi ý sẹo xơ hóa theo chiều dọc do viêm thực quản trào ngược.

      Đặc điểm của thực quản mèo bao gồm:

      • Các vân ngang do co thắt cơ niêm mạc
      • Bình thường ở loài mèo
      • Thường thoáng qua và không có ý nghĩa bệnh lý
      • Có thể liên quan đến trào ngược dạ dày thực quản hoặc viêm thực quản