Category:

  • Bệnh lý vú nam giới

    Bệnh lý Tuyến Vú Nam giới

    Leonard M. Glassman

    Ngày xuất bản

    Bài tổng quan này dựa trên bài trình bày của Leonard Glassman và được Robin Smithuis biên soạn lại cho the Radiology Assistant.

    Chúng ta sẽ thảo luận về:

    • Hình ảnh nhũ ảnh bình thường ở nam giới
    • Các đặc điểm điển hình của chứng vú to ở nam giới (gynecomastia)
    • Các tổn thương cần sinh thiết

    bởi Leonard M. Glassman

    Nhũ ảnh Nam Giới Bình Thường


    Normal male mammogram Click on image to enlarge

    Nhũ ảnh nam giới bình thường. Nhấp vào ảnh để phóng to

    Khi thực hiện chẩn đoán hình ảnh tuyến vú ở nam giới, luôn tuân theo nguyên tắc sau:
    ‘Nếu tổn thương không bình thường, không phải chứng vú to (gynecomastia) hoặc không có hình ảnh lành tính điển hình,
    thì cần phải sinh thiết’.

    Vì vậy, trước tiên chúng tôi sẽ cung cấp một số ví dụ về tuyến vú nam giới bình thường, để làm quen với hình ảnh bình thường.
    Sau đó, chúng tôi sẽ thảo luận về chứng vú to và cuối cùng là một số khối u đặc hiệu.
    Rõ ràng, các tổn thương trong nhóm cuối này sẽ cần sinh thiết, trừ khi bạn chắc chắn rằng đó là tổn thương lành tính điển hình, chẳng hạn như hạch bạch huyết hoặc u mỡ (lipoma).

    Bên trái là hai ví dụ về nhũ ảnh nam giới bình thường.
    Hình bên trái cho thấy da bình thường, núm vú và một lượng nhỏ mô liên kết phía sau núm vú.
    Hình bên phải cho thấy nhiều mô liên kết hơn một chút, nhưng vẫn trong giới hạn bình thường.


    Normal male mammogram

    Nhũ ảnh nam giới bình thường

    Bên trái là một ví dụ khác về tuyến vú nam giới bình thường.
    Có nhiều mô mỡ và một số mạch máu.
    Có một lượng nhỏ mô liên kết xơ, nhưng về cơ bản phần lớn tuyến vú này chỉ là mô mỡ.


    MR of the male breast T1WI with fat suppression

    MRI tuyến vú nam giới trên chuỗi xung T1W có xóa mỡ

    Bên trái là hình ảnh MRI tuyến vú nam giới bình thường.
    Có một lượng nhỏ mô liên kết phía sau núm vú.

    Vú to ở nam giới (Gynecomastia)


    Gynecomastia

    Vú to ở nam giới (Gynecomastia)

    Gynecomastia là bất thường phổ biến nhất ở vú nam giới.
    Về lâm sàng, bệnh biểu hiện là một khối mềm, di động, đau tức vùng dưới quầng vú.
    Mỗi từ trong câu này đều mang ý nghĩa then chốt:
    mềm – di động – đau tức – dưới quầng vú.
    Do đó, khối phải có tính chất mềm và di động.
    Khối gây đau tức trong giai đoạn cấp tính, nhưng không đau trong giai đoạn mạn tính.
    Gynecomastia bắt buộc phải nằm ở vùng dưới quầng vú!
    Bất kỳ khối nào không nằm ở vùng dưới quầng vú đều không phải là gynecomastia.


    Gynecomastia: nodular glandular pattern.Notice how it blends into the surrounding fat.

    Gynecomastia: thể nốt tuyến. Lưu ý cách tổn thương hòa lẫn vào mô mỡ xung quanh.

    Hình ảnh học
    Có ba dạng hình ảnh học:

    • Thể nốt tuyến (giai đoạn cấp tính bùng phát)
    • Thể nhánh cây (giai đoạn xơ hóa mạn tính)
    • Thể tuyến lan tỏa

    Bên trái là hình chụp nhũ ảnh vú nam giới với dạng gynecomastia thể nốt tuyến.
    Có một vùng đậm độ hình quạt tỏa ra từ núm vú.
    Tổn thương có thể nổi bật hơn ở góc phần tư trên ngoài và, quan trọng hơn, nó hòa lẫn vào mô mỡ xung quanh.

    Nếu nhìn nhũ ảnh bên trái như là vú của một phụ nữ thay vì đàn ông, bạn có thể nhận định đây là một khối bờ không rõ và kết luận đây là tổn thương ác tính.
    Tuy nhiên, ở nam giới, bờ không rõ này lại là dấu hiệu của gynecomastia.

    Gynecomastia là sự tăng sinh đồng thời của các ống tuyến và mô đệm mà không có bao xơ bao quanh, do đó tổn thương phải hòa lẫn vào mô mỡ xung quanh.
    Không có sự tăng sinh của các tiểu thùy như ở phụ nữ.
    Vì vậy, bạn sẽ không thấy các khối u xuất phát từ tiểu thùy, ví dụ như u tuyến tiết sữa, u xơ tuyến, u phyllodes, và ung thư tiểu thùy xâm nhập cũng cực kỳ hiếm gặp.


    Left: gynecomastia in a young maleRight: Juvenile hypertrophy in an 8 year old female

    Trái: gynecomastia ở nam giới trẻ. Phải: Phì đại vú tuổi thiếu niên ở bé gái 8 tuổi

    Ngoài cùng bên trái là nhũ ảnh của một nam giới bị gynecomastia và bên cạnh là nhũ ảnh của một bé gái tám tuổi bị phì đại vú tuổi thiếu niên.
    Lưu ý rằng hai hình ảnh này trông rất giống nhau.


    Gynecomastia nodular pattern: Incidental finding on CT-scan

    Gynecomastia thể nốt: Phát hiện tình cờ trên CT

    Bên trái là gynecomastia một bên.
    Đây là phát hiện tình cờ trên CT được thực hiện vì một lý do khác.

    Theo định nghĩa, gynecomastia là mô dưới quầng vú có kích thước từ 2 cm trở lên ở nam giới không béo phì.
    Đây là một phát hiện ‘bình thường’ thường gặp, được ghi nhận ở 55% nam giới khi khám nghiệm tử thi.
    Đỉnh tần suất mắc bệnh là ở độ tuổi 60 – 69.
    Tình trạng này có ý nghĩa lâm sàng khi xuất hiện mới hoặc có triệu chứng.
    Ở nam giới cao tuổi, gynecomastia chiếm 65% tổng số các tổn thương vú.
    25% là ung thư và 10% là các tổn thương khác.


    Mammogran and rotated ultrasound image

    Nhũ ảnh và hình siêu âm đã xoay

    Thể nốt

    Thể nốt của gynecomastia được thấy trong giai đoạn sớm bùng phát.
    Bệnh khởi đầu bằng sự gia tăng số lượng ống tuyến và tăng sinh biểu mô kèm phù nề và mô đệm nguyên bào sợi giàu tế bào.
    Giai đoạn này có thể hồi phục.

    Bên trái là nhũ ảnh và hình siêu âm của một bệnh nhân có gynecomastia thể nốt tuyến.
    Lưu ý tổn thương nằm ngay dưới núm vú.
    Hình siêu âm cho thấy hình ảnh điển hình của gynecomastia: một khối giảm âm với bờ thùy múi hoặc thậm chí có gai.
    Nếu đây là hình ảnh của một phụ nữ, bạn sẽ nhận định đây là một khối có vi thùy múi và gai, tức là Birads IV hoặc V.
    Ở nam giới, đây là hình ảnh điển hình của gynecomastia.

    Bên trái là cùng hình siêu âm đó, nhưng ở tư thế bình thường.
    Lưu ý hình ảnh trông ‘ác tính’ như thế nào.


    Gynecomastia nodular pattern: T2W-fatsat and T1WI+Gd

    Gynecomastia thể nốt: Chuỗi xung T2W-fatsat và T1W+Gd

    Bên trái là hình ảnh chuỗi xung T2W có xóa mỡ và chuỗi xung T1W sau tiêm thuốc tương phản từ Gadolinium có xóa mỡ.
    Một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh không quen đọc nhũ ảnh nam giới đã chỉ định MRI để giải quyết vấn đề.
    Rõ ràng MRI này được thực hiện vì lý do không phù hợp.
    MRI không nên được sử dụng để giải quyết một vấn đề có thể được giải quyết bằng nhũ ảnh.
    Dù sao, MRI cũng cho thấy hình ảnh gynecomastia thể nốt.


    Dendritic pattern of gynecomastia

    Gynecomastia thể nhánh cây

    Thể nhánh cây

    Thể nhánh cây được thấy trong giai đoạn xơ hóa hay giai đoạn muộn.
    Có sự giãn nở các ống tuyến, tăng sinh biểu mô vừa phải và xơ hóa.

    Bên trái là nhũ ảnh cho thấy vùng đậm độ dưới quầng vú với các nhánh kéo dài nổi bật vào mô mỡ.
    Thông thường vùng đậm độ nhỏ hơn so với thể nốt.


    Classic benign chronic gynecomastia

    Gynecomastia mạn tính lành tính điển hình

    Trên nhũ ảnh bên trái, chúng ta có thể hình dung có sự xơ hóa với các nhánh kéo dài vào mô mỡ.
    Điều này khác với hình ảnh phù nề tuyến trong giai đoạn cấp tính của gynecomastia.
    Siêu âm cho thấy hình ảnh có gai.

    Các trường hợp này minh họa rõ ràng rằng gynecomastia có thể có hình ảnh mà chúng ta sẽ gọi là ác tính ở phụ nữ.
    Đáng tiếc là một số tổn thương ác tính ở nam giới lại có thể trông lành tính và chúng tôi sẽ trình bày một số ví dụ trong chương tiếp theo.

    Thể tuyến lan tỏa

    Thể này được thấy ở nam giới có nồng độ estrogen rất cao.

    Các hình ảnh bên trái trông đơn giản như những vú nữ nhỏ.
    Đây là bệnh nhân đang điều trị bằng liệu pháp estrogen cho ung thư tuyến tiền liệt.


    Pseudogynecomastia

    Giả gynecomastia (Pseudogynecomastia)

    Giả gynecomastia

    Tình trạng này thường gặp hai bên và không có khối sờ thấy được.
    Cần nhớ rằng gynecomastia biểu hiện lâm sàng là một khối mềm, di động, đau tức, nằm dưới quầng vú.
    Giả gynecomastia là do sự tích tụ mỡ quá mức ở vùng vú.
    Tình trạng này được gặp như một biến thể bình thường, trong béo phì và trong bệnh u xơ thần kinh (neurofibromatosis).

    Tổn Thương Lành Tính

    Trước tiên, hãy bắt đầu với danh sách các tổn thương không nên được chẩn đoán ở bệnh nhân nam, vì đơn giản là họ không mắc các tổn thương này.
    Nam giới không bị u tuyến tiết sữa (lactating adenoma), vì tổn thương này chỉ gặp trong thai kỳ.
    Do tuyến vú nam giới có rất ít tiểu thùy, các khối u tiểu thùy cực kỳ hiếm gặp.
    Chỉ có một vài trường hợp ung thư tiểu thùy xâm nhập được ghi nhận ở nam giới.
    Tổn thương xơ biểu mô (fibroepithelial lesions) cũng cực kỳ hiếm gặp vì chúng cũng khởi phát từ tiểu thùy.
    Vì vậy, không được chẩn đoán u xơ tuyến (fibroadenoma) ở nam giới, dù hình ảnh có trông giống u xơ tuyến đi nữa.
    Nếu kết quả sinh thiết ghi là u xơ tuyến, hãy tham khảo ý kiến của một bác sĩ giải phẫu bệnh khác.

    Bên trái là các tổn thương có thể gặp ở nam giới.
    Ngoại trừ chứng vú to nam giới (gynecomastia) và vú to giả (pseudogynecomastia), hầu hết các tổn thương này không thể được chẩn đoán xác định qua hình ảnh học.
    Chúng ta chỉ ghi nhận đây là tổn thương Birads IV và tiến hành sinh thiết.


    Myofibroblastoma

    U cơ xơ bào (Myofibroblastoma)

    U Cơ Xơ Bào (Myofibroblastoma)

    U cơ xơ bào là một tổn thương thú vị vì đây là tổn thương duy nhất gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới.
    Biểu hiện lâm sàng là một khối đơn độc, di động tự do, sờ thấy được, mật độ chắc.
    Không có vôi hóa.
    Tuổi trung bình gặp bệnh là cuối thập niên 50.

    Bên trái là một tổn thương lớn, trông giống u xơ tuyến.
    Tuy nhiên, chúng ta đã biết rằng nam giới không bị u xơ tuyến.
    Kết quả giải phẫu bệnh là u cơ xơ bào và tổn thương được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ tại chỗ.


    Myofibroblastoma eccentric to the nipple in a patient with a little bit of gynecomastia bilaterally

    U cơ xơ bào lệch tâm so với núm vú ở bệnh nhân có vú to nam giới hai bên mức độ nhẹ

    Bên trái là một trường hợp u cơ xơ bào khác.
    Tổn thương biểu hiện là một khối có múi, bờ rõ, không có vôi hóa.
    Lưu ý rằng tổn thương nằm lệch tâm so với núm vú.
    Khối có múi này mới cần được sinh thiết, không phải tổn thương vú to nam giới vùng sau núm vú.


    Myofibroblastoma eccentric to the nipple

    U cơ xơ bào lệch tâm so với núm vú

    Bên trái là một trường hợp u cơ xơ bào khác.
    Núm vú được đánh dấu và tổn thương không nằm ở vùng sau núm vú.
    Trên hình ảnh siêu âm, tổn thương khó phân biệt với mô mỡ xung quanh.


    Myofibroblastoma presenting as a circumscribed lobulated mass without calcification

    U cơ xơ bào biểu hiện là khối có múi, bờ rõ, không có vôi hóa

    Bên trái là một trường hợp u cơ xơ bào khác.
    Ngay cả khi tổn thương này nằm sau núm vú, bạn cũng không nên chẩn đoán đây là vú to nam giới, vì đây là một khối có múi.


    Granular Cell Tumor

    U tế bào hạt (Granular Cell Tumor)

    U Tế Bào Hạt (Granular Cell Tumor)

    Đây là khối u lành tính có nguồn gốc thần kinh.
    Có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể.
    6% trường hợp xảy ra ở vú.
    Thường gặp ở nam giới trong độ tuổi 30.
    Ở nam giới, tổn thương thường có bờ rõ, nhưng đôi khi có hình dạng bờ tua gai.

    Lưu ý rằng tổn thương bên trái có bờ không rõ, tương tự như hình ảnh thường thấy trong vú to nam giới, nhưng trên phim nhũ ảnh, tổn thương không nằm ngay dưới da.
    Vì vậy, đây không phải là vú to nam giới và cần tiến hành sinh thiết.


    Granular Cell Tumor

    U tế bào hạt (Granular Cell Tumor)

    Bên trái là một trường hợp u tế bào hạt khác.


    Epidermal inclusion cyst

    Nang vùi biểu bì (Epidermal inclusion cyst)

    Nang Vùi Biểu Bì (Epidermal Inclusion Cyst)

    Nang vùi biểu bì là tổn thương da.
    Biểu hiện là một khối đặc, bờ rõ, hình tròn.

    Bên trái là một nang vùi biểu bì nhỏ.
    Lưu ý cách tổn thương làm phồng da lên.


    Epidermal inclusion cyst

    Nang vùi biểu bì (Epidermal inclusion cyst)

    Bên trái là một nang vùi biểu bì kích thước lớn.


    Epidermal inclusion cyst. T2WI with fat sat and pathology

    Nang vùi biểu bì. Chuỗi xung T2W có xóa mỡ và hình ảnh giải phẫu bệnh

    Bên trái là hình ảnh chuỗi xung T2W cho thấy bản chất dạng nang của tổn thương cùng với mẫu bệnh phẩm giải phẫu bệnh tương ứng.


    Granulomatous Mastitis

    Viêm vú u hạt (Granulomatous Mastitis)

    Viêm Vú U Hạt (Granulomatous Mastitis)

    Hầu hết các trường hợp là vô căn.
    Cần loại trừ các nguyên nhân đặc hiệu như lao, sarcoid và hoại tử mỡ.
    Bên trái là vú của một bệnh nhân nam trông giống như vú của nữ giới.
    Các tổn thương này đôi khi có thể có bờ tua gai.


    Varix

    Giãn tĩnh mạch (Varix)

    Giãn Tĩnh Mạch (Varix)

    Bên trái là một tổn thương trông giống như nang, nhưng cần nhớ rằng nang xuất phát từ tiểu thùy và nam giới không có tiểu thùy, trừ khi họ đang dùng estrogen.
    Đây là một giãn tĩnh mạch và nếu bạn chọc vào, sẽ có một bất ngờ lớn màu đỏ.


    Leiomyoma

    U cơ trơn (Leiomyoma)

    U Cơ Trơn (Leiomyoma)

    Bên trái là một tổn thương trông giống u xơ tuyến, nhưng nam giới không bị u xơ tuyến.
    Đây là một khối đặc có vỏ bao và kết quả sinh thiết xác định là u cơ trơn.
    Nếu có hơn 2 nhân chia trên mỗi vi trường độ phóng đại lớn, bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ chẩn đoán là u cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma).

    Ung Thư Vú ở Nam Giới


    Invasive ductal carcinoma

    Ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập

    Bệnh lý ác tính ở nam giới có hình ảnh tương tự như ở nữ giới.
    Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 1.700 ca mới, chiếm 1% tổng số ca ung thư vú.
    Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở người gốc Trung Quốc và châu Phi do tình trạng tăng estrogen thứ phát sau bệnh gan do ký sinh trùng.
    Các khối ung thư này thường biểu hiện là một khối dưới quầng vú một bên, không đau.
    Vị trí dưới quầng vú này tương tự như trong bệnh vú to ở nam giới (gynecomastia), nhưng thường lệch tâm so với núm vú.
    Đôi khi bệnh biểu hiện bằng tiết dịch núm vú lẫn máu, điều này khác với gynecomastia.
    Thông thường đây là ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập.
    Như đã đề cập ở trên, ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập cực kỳ hiếm gặp.
    Ngoài ra, ung thư biểu mô ống tuyến tại chỗ (DCIS) cũng hiếm gặp do không có chương trình tầm soát cho nam giới, vì vậy bệnh thường được phát hiện khi đã có khối u sờ thấy được.

    Hình bên trái cho thấy một khối lệch tâm, bờ không đều với các tua gai.
    Nếu đây là bệnh nhân nữ, bạn sẽ không gặp khó khăn gì trong việc chẩn đoán đây là ung thư.
    Ở nam giới cũng vậy.


    Invasive ductal carcinoma

    Ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập

    Ung thư vú ở nam giới biểu hiện là một khối tròn, bầu dục hoặc bờ không đều.
    Vôi hóa hiếm gặp, nhưng khi xuất hiện thì thường thô hơn so với ở nữ giới.

    Hình bên trái là một ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập nhỏ.
    Tổn thương nằm ở vùng dưới quầng vú và trung tâm, nhưng có vỏ bao.
    Đây không phải là gynecomastia.


    Invasive ductal carcinoma

    Ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập

    Bệnh Paget của núm vú và loét da gặp phổ biến hơn so với ở nữ giới.

    Hình bên trái là ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập kèm co rút da.


    Invasive ductal carcinoma

    Ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập

    Có một danh sách dài các yếu tố nguy cơ ung thư, tương tự như ở nữ giới:

    • Tuổi cao
    • Tiền sử gia đình
    • Nguồn gốc Do Thái
    • Xạ trị thành ngực
    • Tăng estrogen máu
    • Cường giáp
    • Phơi nhiễm với các chất gây độc gan
    • Phơi nhiễm nghề nghiệp với nhiệt độ cao (ngành công nghiệp thép)
    • BRCA 2 gặp ở 4 – 16% bệnh nhân ung thư vú nam (40% tại Iceland)
    • Tinh hoàn ẩn
    • Cắt bỏ tinh hoàn và viêm tinh hoàn
    • Hội chứng Klinefelter (47, XXY – 6% tổng số ung thư vú nam xảy ra ở bệnh nhân Klinefelter – nguy cơ suốt đời là 3%)

    Hình bên trái là một ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập nhỏ, lệch tâm, có vỏ bao.


    Invasive ductal carcinoma

    Ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập

    Hình bên trái là một ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập kích thước lớn kèm theo một số vôi hóa thô, có hình thái lành tính.

    Các bệnh lý ác tính khác của tuyến vú nam giới

    Các bệnh lý ác tính khác ngoài ung thư biểu mô ống tuyến là không phổ biến.
    Bên trái là danh sách tất cả các bệnh lý ác tính ở nam giới.

    Di căn

    Di căn từ ung thư tuyến tiền liệt là loại di căn phổ biến nhất ở nam giới.
    Bệnh xảy ra do lan rộng theo đường máu và thường gặp ở những bệnh nhân có bệnh lan tràn.
    Biểu hiện là các khối tròn hoặc có múi, không có vôi hóa.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân có hai tổn thương di căn từ ung thư biểu mô tế bào nhỏ của phổi.


    Liposarcoma

    Liposarcoma

    Liposarcoma

    Liposarcoma là một loại sarcoma hiếm gặp.
    Biểu hiện là một khối phát triển chậm, gây đau.
    Thường có tỷ trọng nước và không điển hình cho tổn thương chứa mỡ.

    Trên hình CT bên trái, có thể thấy tỷ trọng của tổn thương được xác định là liposarcoma.

    Kết luận

    Vú nam to (Gynecomastia) so với Ung thư biểu mô

    Tóm lại, bệnh lý tuyến vú ở nam giới thường biểu hiện dưới dạng khối, đau hoặc tiết dịch núm vú.
    Vú nam to (gynecomastia) và ung thư biểu mô ống tuyến xâm lấn là các tổn thương thường gặp nhất ở tuyến vú nam giới, tuy nhiên còn có các tổn thương lành tính và ác tính hiếm gặp khác.
    Vú nam to và ung thư biểu mô thường có thể được phân biệt với nhau, nhưng đôi khi cần sinh thiết để phân định.
    Tất cả các tổn thương lệch tâm so với núm vú đều cần sinh thiết, trừ khi chúng có đặc điểm điển hình của lành tính, tức là chứa mô mỡ hoặc hình ảnh hạch bạch huyết điển hình.

    Bên trái là bảng liệt kê các đặc điểm của vú nam to so với ung thư biểu mô.
    Lưu ý rằng có nhiều điểm tương đồng giữa hai thực thể này.
    Cả vú nam to và ung thư biểu mô đều thường gặp nhất ở độ tuổi 60, và đều có thể mềm, di động, nằm dưới quầng vú và xuất hiện một bên.
    Do đó, các đặc điểm này không có giá trị phân biệt.
    Ung thư biểu mô thường có vị trí lệch tâm, trong khi vú nam to không bao giờ có vị trí lệch tâm.
    Vú nam to phải có các dải mô kéo dài vào lớp mỡ xung quanh.
    Ung thư biểu mô đôi khi có thể có các bờ tua gai, trông tương tự như vậy.
    Thực ra, chúng ta gọi là “dải kéo dài vào mỡ” khi nghĩ đến vú nam to, và “bờ tua gai” khi nghĩ đến ung thư biểu mô.

    Bên trái là hai trường hợp minh họa cho thấy việc phân biệt vú nam to với ung thư biểu mô trên nhũ ảnh có thể rất khó khăn.
    Ung thư biểu mô ở bên phải có bờ được bao bọc rõ hơn một chút so với vú nam to ở bên phải.
    Trong chưa đến 10% các trường hợp, cần sinh thiết để phân biệt hai thực thể này.

    Bên trái là thêm hai trường hợp nữa.
    Ở ngoài cùng bên trái là hình ảnh vú nam to lan tỏa.
    Bên phải là một khối ung thư lớn có bờ được bao bọc.

    Các trường hợp cuối cùng ở bên trái trông rất giống nhau.
    Dựa trên nhũ ảnh, không thể phân biệt được hai trường hợp này.
    Trong những tình huống hiếm gặp như vậy, cần phải tiến hành sinh thiết.

  • Phân biệt vôi hóa tuyến vú

    Chẩn đoán Phân biệt Vôi hóa Vú

    Robin Smithuis và Ruud Pijnappel

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp và Bệnh viện Martini, Groningen, Hà Lan.

    Ngày đăng

    Ung thư biểu mô ống tuyến tại chỗ (DCIS) chiếm 25-30% tổng số ca ung thư vú được ghi nhận.
    Khoảng 95% các trường hợp DCIS được chẩn đoán nhờ phát hiện vi vôi hóa trên chụp nhũ ảnh.

    Trong bài tổng quan này, chúng tôi sẽ tập trung vào:

    • Mô tả đặc điểm vôi hóa vú
    • Chẩn đoán phân biệt
    • Phân loại BIRADS

    Giải phẫu


    Terminal Ductal Lobular Unit

    Đơn vị tiểu thùy ống tận cùng

    Đơn vị tiểu thùy ống tận cùng

    Đơn vị chức năng cơ bản của tuyến vú là tiểu thùy, còn được gọi là đơn vị tiểu thùy ống tận cùng (TDLU).
    TDLU bao gồm 10-100 nang tuyến (acini), dẫn lưu vào ống tận cùng.
    Ống tận cùng dẫn lưu vào các ống lớn hơn và cuối cùng vào ống chính của thùy (hoặc phân thùy), rồi dẫn lưu ra núm vú.
    Tuyến vú chứa 15-18 thùy, mỗi thùy gồm 20-40 tiểu thùy.

    Đơn vị tiểu thùy ống tận cùng là một cấu trúc quan trọng vì hầu hết các ung thư xâm lấn đều xuất phát từ TDLU.
    Đây cũng là nơi khởi phát của ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS), ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ, u xơ tuyến và bệnh xơ nang, như nang, dị sản apocrine, tăng sản tuyến và tăng sản biểu mô.
    Hầu hết các vôi hóa trong tuyến vú hình thành bên trong các ống tận cùng (vôi hóa trong ống) hoặc bên trong các nang tuyến (vôi hóa tiểu thùy).


    LEFT: Lobular calcifications: punctate, round or 'milk of calcium'  RIGHT: Intraductal calcifications: pleomorph and form casts in a linear or branching distribution.

    TRÁI: Vôi hóa tiểu thùy: dạng chấm, tròn hoặc ‘sữa canxi’ (milk of calcium). PHẢI: Vôi hóa trong ống: đa hình thái và tạo thành khuôn đúc theo phân bố tuyến tính hoặc phân nhánh.

    Vôi hóa tiểu thùy
    Các vôi hóa này lấp đầy các nang tuyến, thường ở trạng thái giãn rộng.
    Kết quả là tạo ra các vôi hóa đồng nhất, thuần nhất và có bờ viền rõ nét, thường có dạng chấm hoặc tròn.
    Khi các nang tuyến trở nên rất lớn, như trong tăng sản dạng nang, ‘sữa canxi’ (milk of calcium) có thể lấp đầy các khoang này.
    Tuy nhiên, khi có nhiều xơ hóa hơn, như trong tăng sản tuyến xơ hóa, các vôi hóa thường nhỏ hơn và kém đồng nhất hơn.
    Trong những trường hợp này, việc phân biệt chúng với vôi hóa trong ống có thể gặp khó khăn.
    Vôi hóa tiểu thùy thường có phân bố lan tỏa hoặc rải rác, do phần lớn mô tuyến vú đều tham gia vào quá trình hình thành vôi hóa.
    Vôi hóa tiểu thùy hầu như luôn luôn là lành tính.

    Vôi hóa trong ống
    Các vôi hóa này là các mảnh vụn tế bào hoặc chất tiết đã bị vôi hóa nằm trong lòng ống tuyến.
    Sự vôi hóa không đều của các mảnh vụn tế bào lý giải cho tình trạng phân mảnh và bờ viền không đều của các vôi hóa.
    Các vôi hóa này cực kỳ đa dạng về kích thước, tỷ trọng và hình dạng (tức là đa hình thái, từ tiếng Hy Lạp pleion ‘nhiều hơn’morphe ‘hình dạng’).
    Đôi khi chúng tạo thành khuôn đúc hoàn chỉnh của lòng ống tuyến.
    Điều này lý giải tại sao chúng thường có dạng và phân bố tuyến tính mảnh hoặc phân nhánh.
    Vôi hóa trong ống có tính chất nghi ngờ ác tính và được phân loại BI-RADS 4 hoặc 5.

    Tiếp Cận Chẩn Đoán

    Tiếp cận chẩn đoán vôi hóa tuyến vú dựa trên phân tích hình thái, phân bố và đôi khi là sự thay đổi theo thời gian.
    Hình dạng hay hình thái của vôi hóa là yếu tố quan trọng nhất để quyết định liệu vôi hóa có đặc điểm lành tính điển hình hay không.
    Nếu không, chúng được xếp vào nhóm nghi ngờ (mức độ lo ngại trung gian) hoặc có xác suất cao là ác tính.
    Thông thường, sinh thiết trong những trường hợp này là cần thiết để xác định căn nguyên của các vôi hóa này.

    Hình Thái

    Hình dạng của vôi hóa là yếu tố quan trọng nhất trong việc phân biệt giữa lành tính và ác tính.

    Nếu vôi hóa không thể được xác định rõ ràng là lành tính điển hình hoặc là ‘có xác suất cao ác tính’, chúng được gọi là ‘mức độ lo ngại trung gian hoặc nghi ngờ’.

    Nếu không thể xác định được căn nguyên cụ thể, mô tả vôi hóa cần bao gồm hình thái và phân bố của chúng theo các mô tả được nêu trong atlas BI-RADS (1).

    Phân Bố

    Trong atlas BI-RADS, các mô tả sau đây được đưa ra cho sự phân bố của vôi hóa (1):

    • Lan tỏa hoặc Rải rác:
      vôi hóa lan tỏa có thể là các vôi hóa rải rác hoặc nhiều cụm vôi hóa có hình thái tương tự nhau phân bố khắp toàn bộ tuyến vú.
    • Vùng: rải rác trong một thể tích lớn hơn (> 2 cc) của mô tuyến vú và không theo phân bố ống tuyến dự kiến.
    • Cụm: ít nhất 5 vôi hóa chiếm một thể tích nhỏ của mô (Tuyến tính: vôi hóa sắp xếp thành đường thẳng, gợi ý lắng đọng trong ống tuyến.
    • Phân thùy: lắng đọng canxi trong các ống tuyến và nhánh của một phân thùy hoặc thùy tuyến.

    Phân bố lan tỏa hoặc rải rác thường gặp trong các bệnh lý lành tính.
    Ngay cả khi các cụm vôi hóa phân bố rải rác khắp tuyến vú, điều này cũng nghiêng về bệnh lý lành tính.

    Phân bố vùng theo atlas BI-RADS nghiêng về phân bố không theo ống tuyến (tức là lành tính), trong khi

    Phân bố phân thùy nghiêng về phân bố theo ống tuyến (tức là ác tính).
    Đôi khi có thể thực hiện được sự phân biệt này, nhưng trong nhiều trường hợp, việc phân biệt giữa ‘phân bố vùng’ và ‘phân bố phân thùy’ gặp nhiều khó khăn, vì ranh giới chính xác của một phân thùy (hoặc một thùy tuyến) không thể xác định rõ ràng trên phim chụp nhũ ảnh hay MRI.

    Vôi hóa dạng cụm được gặp trong cả bệnh lý lành tính và ác tính, và thuộc mức độ lo ngại trung gian.
    Khi các cụm phân bố rải rác khắp tuyến vú, điều này nghiêng về bệnh lý lành tính.
    Một cụm vôi hóa đơn độc nghiêng về bệnh lý ác tính.

    Phân bố tuyến tính thường gặp khi DCIS lấp đầy toàn bộ ống tuyến và các nhánh của nó bằng vôi hóa.

    Thay Đổi Theo Thời Gian

    Có những dữ liệu mâu thuẫn nhau về giá trị của việc không có thay đổi theo thời gian.
    Người ta cho rằng sự vắng mặt của thay đổi khoảng thời gian trong các vi vôi hóa được xếp loại có khả năng lành tính dựa trên tiêu chí hình thái là một dấu hiệu đáng tin cậy và là chỉ định để tiếp tục theo dõi bằng nhũ ảnh (2).
    Mặt khác, trong một nghiên cứu hồi cứu bao gồm các cụm vi vôi hóa không xác định và nghi ngờ, sự ổn định không thể được coi là dấu hiệu đáng tin cậy của tính lành tính (3).
    Trong nhóm bệnh nhân này với kết quả sinh thiết xác nhận ác tính, 25% bệnh nhân có vi vôi hóa ổn định trong 8-63 tháng.
    Có vẻ như hình thái của vôi hóa quan trọng hơn nhiều so với tính ổn định, và tính ổn định chỉ có thể được tin cậy nếu vôi hóa có hình thái có khả năng lành tính.

    Trong cùng nghiên cứu đó, người ta chỉ ra rằng tỷ lệ chênh lệch của ung thư xâm lấn so với DCIS cao hơn có ý nghĩa thống kê ở những bệnh nhân có vi vôi hóa tăng số lượng hoặc mới xuất hiện.
    Khả năng ung thư là dạng xâm lấn tăng lên đáng kể khi một cụm vôi hóa nghi ngờ hoặc không xác định là mới xuất hiện hoặc đang tăng lên.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân với một vài vôi hóa thô không đồng nhất.
    Chúng được phân loại là BIRADS 3 (có khả năng lành tính với xác suất ác tính dưới 3%).
    Tại lần theo dõi sáu tháng, số lượng vôi hóa đã tăng lên và kết quả sinh thiết phát hiện DCIS.

    Vôi Hóa Lành Tính

    Vôi Hóa Da – Dấu Hiệu Hình Xăm (Tattoo Sign)

    Nhiều vôi hóa có thể được phân loại là điển hình lành tính và không cần theo dõi (tức là BI-RADS 1 hoặc 2).
    Phần lớn trong số này là vôi hóa da. Chúng thường là các lắng đọng có trung tâm sáng (lucent-centered).
    Các dạng không điển hình có thể được xác nhận bằng tư thế tiếp tuyến (tangential views) là nằm trong da.
    Thông thường chúng nằm dọc theo nếp gấp dưới vú (inframammary fold), cạnh xương ức và ở nách cũng như quầng vú.
    Khi cân nhắc khả năng vôi hóa ở lớp bì, hãy luôn quan sát phần da được nhìn thẳng (en face) để tìm các vôi hóa tương tự (mũi tên).


    Tattoo sign in dermal calcifications

    Dấu hiệu hình xăm trong vôi hóa ở lớp bì

    Dấu hiệu hình xăm (Tattoo sign)
    Vôi hóa da có thể giả dạng vôi hóa nhu mô vú và có thể trông giống như vôi hóa kiểu ác tính.

    Cụm vôi hóa bên trái được chỉ định sinh thiết.
    Trong quá trình sinh thiết hỗ trợ chân không, không thể sinh thiết được các vôi hóa này vì chúng nằm ngoài tầm với.
    Khi quan sát tư thế chếch (oblique) và tư thế đầu-đuôi (craniocaudal), hãy chú ý rằng cấu hình của các vôi hóa trông hoàn toàn giống nhau.
    Đây được gọi là dấu hiệu hình xăm (tattoo sign).
    Các tư thế chụp điểm (spot views) sau đó đã xác nhận đây là vôi hóa ở lớp bì.


    Click to enlarge

    Nhấp để phóng to

    Đây là một ví dụ khác về dấu hiệu hình xăm.
    Trước tiên hãy chú ý rằng có một số vôi hóa rõ ràng nằm trong da (mũi tên).
    Cụm vôi hóa trên tư thế MLO có cấu hình hoàn toàn giống với cụm trên tư thế CC (hình tiếp theo).


    Click to enlarge

    Nhấp để phóng to

    Trên tư thế CC, cấu hình của các vi vôi hóa hoàn toàn giống nhau.
    Nếu các vôi hóa này nằm ở trung tâm vú, chúng phải có cấu hình khác nhau vì góc chiếu khác nhau.
    Chỉ khi vôi hóa nằm trong da thì cấu hình của chúng mới giữ nguyên.

    Video dấu hiệu hình xăm

    Đây là hai trường hợp vôi hóa da biểu hiện dưới dạng dấu hiệu hình xăm (courtesy Roel Mus).

    Vôi Hóa Mạch Máu

    Chúng có dạng tuyến tính hoặc tạo thành hai đường song song, thường liên quan rõ ràng đến mạch máu.
    Vôi hóa mạch máu được ghi nhận ở phụ nữ

    Bên trái là hình ảnh vôi hóa mạch máu điển hình.
    Nếu chỉ một thành của mạch máu bị vôi hóa (mũi tên), vôi hóa có thể giả dạng vôi hóa trong ống dẫn sữa, nhưng thông thường chẩn đoán khá rõ ràng.

    Vôi Hóa Thô hoặc Dạng ‘Bỏng Ngô’ (Popcorn-like)

    Các vôi hóa lớn dạng ‘bỏng ngô’ điển hình được tạo ra bởi u xơ tuyến vú (fibroadenoma) đang thoái triển.
    Các vôi hóa này thường không gây khó khăn trong chẩn đoán.

    Khi vôi hóa trong u xơ tuyến có kích thước nhỏ và nhiều, chúng có thể giống vôi hóa kiểu ác tính và cần sinh thiết.

    Vôi Hóa Dạng Que Lớn – Viêm Vú Tế Bào Plasma (Plasma Cell Mastitis)

    Chúng được hình thành bên trong các ống dẫn sữa giãn (ectatic ducts).
    Các vôi hóa lành tính này tạo thành các que liên tục, đôi khi có thể phân nhánh.
    Chúng khác với vôi hóa phân nhánh mảnh kiểu ác tính vì thường có đường kính > 1 mm.
    Chúng có thể có trung tâm sáng nếu canxi lắng đọng ở thành ống dẫn sữa.
    Các vôi hóa này phân bố theo hướng ống dẫn sữa, tỏa về phía núm vú và thường gặp ở cả hai bên.
    Các vôi hóa tiết dịch này thường gặp nhất ở phụ nữ trên 60 tuổi.
    Đôi khi khó phân biệt chúng với vôi hóa dạng tuyến tính như thấy trong ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS).

    Vôi Hóa Tròn và Dạng Chấm (Punctate)

    Vôi hóa tròn có kích thước 0,5-1 mm và thường hình thành trong các nang tuyến (acini) của đơn vị tiểu thùy ống tận cùng (terminal duct lobular unit).
    Khi nhỏ hơn 0,5 mm, thuật ngữ ‘dạng chấm’ (punctate) được sử dụng.

    Vôi hóa tròn và dạng chấm có thể gặp trong bệnh xơ nang (fibrocystic changes) hoặc tuyến hóa (adenosis), vôi hóa da, bột talc trên da và hiếm gặp trong DCIS.
    Nghi ngờ DCIS khi các vôi hóa nhỏ, tức là dạng chấm, và có sự không đồng nhất, đặc biệt khi phân bố thành cụm, tuyến tính hoặc theo phân đoạn.

    Vôi hóa tròn và dạng chấm được phân loại như sau:

    • BI-RADS 2: khi vôi hóa tròn phân tán rải rác.
    • BI-RADS 3 hoặc 4: khi tập trung thành cụm đơn độc, hoặc khi mới xuất hiện, hoặc cùng bên với ung thư.

    Vôi Hóa Có Trung Tâm Sáng (Lucent-Centered)

    Đây là các vôi hóa tròn hoặc bầu dục có kích thước từ dưới 1 mm đến hơn một centimet.
    Chúng là kết quả của hoại tử mỡ (fat necrosis), mảnh vụn vôi hóa trong ống dẫn sữa và đôi khi từ u xơ tuyến.

    Vôi Hóa Dạng Vỏ Trứng hoặc Dạng Viền (Eggshell/Rim)

    Đây là các vôi hóa lành tính rất mỏng, xuất hiện khi canxi lắng đọng trên bề mặt của một hình cầu.
    Các lắng đọng này thường có độ dày dưới 1 mm khi nhìn theo cạnh.
    Mặc dù hoại tử mỡ có thể tạo ra các lắng đọng mỏng này, vôi hóa ở thành nang là loại vôi hóa ‘dạng viền’ phổ biến nhất.

    Bên trái là một tổn thương có bờ rõ nét.
    Tỷ trọng thấp cho thấy sự hiện diện của mỡ.
    Đây là hình ảnh điển hình của nang dầu (oil cyst).
    Trên phim chụp nhũ ảnh theo dõi, thành nang đã bị vôi hóa tạo thành hình ảnh vôi hóa dạng vỏ trứng.

    Vôi Hóa Dạng Sữa Canxi (Milk of Calcium)

    Đây là các vôi hóa lắng đọng lành tính trong các nang lớn hoặc vi nang.
    Trên tư thế đầu-đuôi (craniocaudal), chúng có dạng mờ, tròn hoặc vô định hình.
    Hãy cân nhắc chụp phim điểm phóng đại với chùm tia nằm ngang khi nghĩ đến khả năng sữa canxi, vì trên tư thế bên 90° chúng có thể có dạng hình bán nguyệt, hình lưỡi liềm như tách trà (tea cups).


    LEFT: cluster of pleiomorphic calcifications on oblique viewRIGHT: milk of calcium (teacups) on lateral view with horizontal beam

    TRÁI: cụm vôi hóa đa hình thái trên tư thế chếch | PHẢI: sữa canxi (hình tách trà) trên tư thế bên với chùm tia nằm ngang

    Tuy nhiên, nhiều vôi hóa dạng sữa canxi trong vi nang không tạo thành lớp trên phim chụp với chùm tia nằm ngang.
    Đặc điểm quan trọng nhất của các vôi hóa này là sự thay đổi rõ ràng về hình dạng của các hạt vôi hóa trên các tư thế chụp nhũ ảnh khác nhau (tư thế đầu-đuôi so với tư thế chếch hoặc bên 90°).

    Các hình ảnh cho thấy hình dạng khác nhau trên tư thế chếch so với tư thế bên trong-ngoài.
    Trên tư thế bên trong-ngoài có hiện tượng lắng đọng canxi thành lớp.


    Milk of calcium

    Sữa canxi (Milk of calcium)

    Trên hình chụp tư thế đầu-đuôi, các vôi hóa có dạng tròn, mờ và bờ không rõ nét.
    Trên tư thế bên trong-ngoài, các vôi hóa có dạng hình bán nguyệt, hình lưỡi liềm như tách trà.

    Nhấp vào hình để xem phóng to.

    Vôi Hóa Chỉ Khâu

    Chúng là lắng đọng canxi trên vật liệu chỉ khâu.
    Thường có dạng tuyến tính hoặc hình ống và đôi khi có thể nhìn thấy các nút thắt.

    Vôi Hóa Loạn Dưỡng (Dystrophic)

    Đây là các vôi hóa thô, không đều, có hình dạng như ‘dung nham’.
    Các vôi hóa này có kích thước lớn hơn 0,5 mm và thường có trung tâm sáng.
    Chúng gặp ở vú đã được xạ trị hoặc sau chấn thương.
    Chúng phát triển sau 3-5 năm điều trị ở khoảng 30% phụ nữ.
    Các vôi hóa này còn được mô tả là hoại tử mỡ.
    Điều quan trọng là phải phân biệt chúng với ung thư tái phát.

    Vôi Hóa Nghi Ngờ

    Nếu các vôi hóa không có đặc điểm lành tính điển hình, chúng được phân loại là ‘Nghi Ngờ hoặc Cần Theo Dõi Trung Gian’
    hoặc được gọi là ‘Khả Năng Cao Ác Tính’.
    Chúng ta sẽ thảo luận về các vôi hóa nghi ngờ trước.
    Các vôi hóa này có hình thái vô định hình hoặc thô không đồng nhất.
    Thông thường, các vôi hóa này cần được sinh thiết để xác định bản chất chính xác của chúng.

    Vôi hóa vô định hình

    Vôi hóa vô định hình hay không rõ nét được định nghĩa là ‘không có hình dạng hoặc hình thái được xác định rõ ràng’.
    Các vôi hóa này thường quá nhỏ hoặc có hình ảnh mờ nhạt đến mức không thể xác định được phân loại hình thái học cụ thể hơn.

    Hình bên trái: vôi hóa vô định hình và đa hình thái.
    Dựa trên hình thái học, các vôi hóa này được phân loại BI-RADS 4.
    Sinh thiết cho thấy thay đổi xơ nang tuyến vú (FCC).

    Vôi hóa vô định hình (2)
    Nhiều bệnh lý tuyến vú lành tính và ác tính có thể biểu hiện với vôi hóa vô định hình (Bảng).
    Khoảng 20% vôi hóa vô định hình được xác định là ác tính.
    Thường gặp nhất là DCIS độ thấp.

    Vôi hóa vô định hình (3)

    • BI-RADS 2: khi lan tỏa và hai bên
    • BI-RADS 3: khi có nhiều cụm ở hai bên
    • BI-RADS 4: khi tập trung thành cụm một bên, hoặc mới xuất hiện trong quá trình theo dõi, hoặc ở bệnh nhân có ung thư vú bên đối diện

    Hình bên trái: vôi hóa vô định hình trong vùng mô tuyến vú đậm đặc hơn.
    Tổn thương được phân loại BI-RADS 4 (khả năng ác tính 3-95%).
    Sinh thiết cho thấy DCIS kết hợp với ung thư biểu mô tuyến vú xâm lấn.

    Vôi Hóa Thô Không Đồng Nhất

    Vi vôi hóa thô không đồng nhất, trước đây gọi là dạng hạt thô, là các vôi hóa không đều, rõ nét, thường có kích thước lớn hơn 0,5 mm.
    Chúng được xếp vào nhóm cần theo dõi trung gian, cùng với vi vôi hóa vô định hình.
    Cần phân biệt với vi vôi hóa đa hình thái nhỏ, trước đây gọi là dạng hạt mịn, có kích thước và hình dạng thay đổi, thường nhỏ hơn 0,5 mm đường kính và được xếp vào nhóm có khả năng ác tính cao hơn, cùng với vi vôi hóa dạng tuyến tính nhỏ (1).
    Vi vôi hóa thô không đồng nhất có xu hướng hợp lại với nhau nhưng không đạt kích thước của các vôi hóa loạn dưỡng không đều lớn hơn.

    Hình bên trái: vôi hóa thô không đồng nhất.
    Được phân loại BI-RADS 4.
    Sinh thiết cho thấy DCIS.


    Coarse heterogeneous calcifications in fibrous stroma

    Vôi hóa thô không đồng nhất trong mô đệm xơ

    Chẩn đoán phân biệt của vôi hóa thô không đồng nhất bao gồm:

    • U xơ tuyến vú (Fibroadenoma)
    • Xơ hóa (Fibrosis)
    • Sau chấn thương, biểu hiện vôi hóa loạn dưỡng đang tiến triển (hoại tử mỡ)
    • DCIS.

    Tính đa ổ và phân bố hai bên của các vôi hóa này gợi ý nguyên nhân lành tính.
    DCIS được xem xét khi các vôi hóa này có phân bố dạng cụm, tuyến tính hoặc theo phân thùy.

    Hình bên trái: bệnh nhân được phát hiện vôi hóa mới trong quá trình theo dõi ung thư vú bên đối diện.
    Có các vôi hóa thô không đồng nhất phân bố theo phân thùy.
    Các vôi hóa này được phân loại BI-RADS 4.
    Sinh thiết cho thấy vôi hóa trong mô đệm xơ.
    Không có dấu hiệu ác tính.

    Khả Năng Cao Ác Tính

    Các vôi hóa có khả năng cao là ác tính bao gồm:

    • Đa hình thái mịn
    • Tuyến tính mịn
    • Tuyến tính phân nhánh mịn

    Magnified view: fine pleomorphic calcifications in a linear distribution.  Biopsy: High grade DCIS

    Hình phóng đại: vôi hóa đa hình thái mịn phân bố theo đường tuyến tính. Sinh thiết: DCIS độ cao

    Đa Hình Thái Mịn

    Các vôi hóa này thay đổi về kích thước và hình dạng.
    Chúng nổi bật hơn so với các vôi hóa vô định hình.
    Nguy cơ ác tính là 25-40%.

    Hình bên trái cho thấy vôi hóa đa hình thái mịn phân bố theo phân thùy và tuyến tính.
    Các tổn thương này được phân loại là BI-RADS 4B.
    Sinh thiết xác nhận DCIS độ cao.


    Fine pleomorphic calcifications in a segmental distribution in combination with an irregular mass (Bi-RADS 5)

    Vôi hóa đa hình thái mịn phân bố theo phân thùy kết hợp với một khối không đều (Bi-RADS 5)

    Hình bên trái là hình chụp nhũ ảnh cho thấy hai dạng vôi hóa.
    Có một số vôi hóa dạng tròn điển hình lành tính.
    Tuy nhiên, các vôi hóa nổi bật nhất là các vôi hóa đa hình thái mịn.
    Chúng phân bố theo phân thùy.

    Khi có sự hiện diện của khối, các vôi hóa này được phân loại là Bi-RADS 5.
    Sinh thiết xác nhận DCIS độ cao lan rộng kèm theo ung thư biểu mô xâm lấn.


    Amorphous and fine pleomorphic calcifications (Bi-RADS 4)Biopsy: fibrocystic changes

    Vôi hóa vô định hình và đa hình thái mịn (Bi-RADS 4). Sinh thiết: thay đổi xơ nang

    Các vôi hóa ở hình bên trái được phát hiện trên lần chụp nhũ ảnh đầu tiên trong chương trình tầm soát.

    Có một cụm vôi hóa vô định hình và đa hình thái mịn.
    Các vôi hóa này được phân loại là BI-RADS 4B.
    Sinh thiết được thực hiện và chỉ phát hiện các thay đổi xơ nang.

    Hình bên trái là một trường hợp trông khá tương tự với trường hợp trên.
    Các vôi hóa mới được phát hiện trong quá trình theo dõi thuộc chương trình tầm soát.
    Đây là các vôi hóa đa hình thái mịn tập trung thành cụm.
    Các vôi hóa này được phân loại là Bi-RADS 4.
    Kết quả xác nhận là DCIS.
    Thông điệp rút ra là với các vôi hóa dạng này, không thể xác định được chúng là ác tính hay không và bắt buộc phải tiến hành sinh thiết.

    Tuyến Tính Mịn hoặc Tuyến Tính Phân Nhánh Mịn

    Đây là các vôi hóa mịn, dạng tuyến tính hoặc cong không đều.
    Chúng có thể không liên tục.
    Hình thái của chúng gợi ý sự lấp đầy lòng ống tuyến, hay còn gọi là vôi hóa dạng “đúc khuôn”.
    Các vôi hóa này được phân loại là Bi-RADS 4C.

    Hình bên trái cho thấy các vôi hóa phân bố theo phân thùy.
    Một số có phân bố tuyến tính và một số có hình thái phân nhánh.
    Điều này gợi ý mạnh mẽ ác tính (Bi-RADS 4C).


    High grade DCIS

    DCIS độ cao

    Hình bên trái cho thấy vôi hóa tuyến tính mịn và phân nhánh phân bố theo phân thùy, gợi ý mạnh mẽ ác tính (Bi-RADS 4C).

    Sinh thiết phát hiện DCIS độ cao lan rộng.


    High grade DCIS: Fine pleomorphic and fine linear calcifications in a linear distribution

    DCIS độ cao: Vôi hóa đa hình thái mịn và tuyến tính mịn phân bố theo đường tuyến tính

    Hình bên trái là bệnh nhân có vôi hóa mới được phát hiện trong chương trình tầm soát.
    Đây là các vôi hóa đa hình thái mịn và tuyến tính mịn.
    Phân bố theo đường tuyến tính.
    Dựa trên hình thái và phân bố, các vôi hóa này được phân loại là BI-RADS 4C.
    Sinh thiết xác nhận DCIS độ cao.

    Xảo ảnh

    Hình bên trái cho thấy các xảo ảnh trong cassette mô phỏng hình ảnh vôi hóa đa hình thái nhỏ.
    Chụp lại với cassette khác không phát hiện vôi hóa nào.

    Hình ảnh của cassette.

    Hình bên trái cho thấy các xảo ảnh tương tự.
    Hình bên phải là hình ảnh ung thư biểu mô tuyến vú tại chỗ (DCIS).

  • BI-RADS cho X-quang tuyến vú và Siêu âm 2013

    BI-RADS cho Chụp X-quang Tuyến vú và Siêu âm 2013

    Phiên bản cập nhật

    Harmien Zonderland và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Bài viết này cung cấp tóm tắt về Atlas BI-RADS® Phiên bản 5 (2013) dành cho chụp X-quang tuyến vú và siêu âm tuyến vú.
    Đây là phiên bản cập nhật của bài viết năm 2005.
    Từ năm 2000, việc áp dụng BI-RADS đã trở thành bắt buộc tại Hà Lan, được quy định trong Hướng dẫn Ung thư Vú cập nhật (2012) (6).
    Việc triển khai BI-RADS là một phần không thể tách rời của chương trình đảm bảo chất lượng quốc gia trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú.
    Chúng tôi khuyến khích tất cả các chuyên gia liên quan đến chẩn đoán hình ảnh tuyến vú tham khảo Atlas BI-RADS có minh họa, Phiên bản 5 (2013) để hiểu toàn diện và áp dụng đúng hệ thống này.

    Giới thiệu

    ACR BI-RADS Atlas 2013 (4) là phiên bản cập nhật của Atlas năm 2003.

    BI-RADS® được thiết kế nhằm chuẩn hóa báo cáo chẩn đoán hình ảnh tuyến vú và giảm thiểu sự nhầm lẫn trong quá trình diễn giải kết quả.
    Hệ thống này cũng hỗ trợ theo dõi kết quả điều trị và đánh giá chất lượng.

    Tài liệu bao gồm bộ từ điển thuật ngữ chuẩn hóa (các mô tả) dành cho chụp nhũ ảnh, siêu âm tuyến vú và MRI, cùng với các chương về Tổ chức Báo cáo và Hướng dẫn Thực hành lâm sàng hàng ngày.

    Báo cáo Chuẩn hóa

    Khi viết báo cáo một nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, cần bao gồm các yếu tố sau:

    1. Chỉ định thực hiện:
      Ghi rõ mục đích của thăm khám là tầm soát, chẩn đoán hay theo dõi.
      Tiền sử bệnh nhân: Bao gồm các thông tin lâm sàng liên quan. Nếu thực hiện siêu âm, cần ghi rõ đây là siêu âm có mục tiêu (tập trung vào vùng cụ thể cần khảo sát) hay siêu âm tầm soát bổ sung.
    2. Thành phần mô tuyến vú:
      Mô tả mật độ tuyến vú theo các phân loại BI-RADS.
    3. Mô tả các phát hiện:
      Sử dụng thuật ngữ chuẩn hóa để mô tả tất cả các phát hiện có ý nghĩa.
      Các mô tả hình thái học bao gồm:
      • Khối
      • Bất đối xứng
      • Biến dạng cấu trúc
      • Vôi hóa

      Ghi nhận các đặc điểm kèm theo như dày da, co kéo núm vú hoặc vôi hóa liên quan.
      Đối chiếu các phát hiện hình ảnh với thông tin lâm sàng và kết quả từ chụp nhũ ảnh, siêu âm và/hoặc MRI.
      Tích hợp các phát hiện trên nhũ ảnh và siêu âm vào một báo cáo thống nhất.

    4. So sánh với các nghiên cứu trước:
      So sánh với hình ảnh trước đó khi có sẵn.
      Việc chờ đợi hình ảnh cũ để so sánh chỉ nên trì hoãn báo cáo khi thực sự cần thiết cho đánh giá cuối cùng.
    5. Phân loại đánh giá cuối cùng:
      Xếp loại BI-RADS (0–6) và ghi kèm cụm từ chuẩn hóa tương ứng.
      Khi thực hiện cả chụp nhũ ảnh và siêu âm, đánh giá tổng thể phải phản ánh phát hiện đáng ngờ nhất — tức là phát hiện có khả năng ác tính cao nhất.
    6. Khuyến nghị xử trí:
      Đưa ra các khuyến nghị rõ ràng về xử trí tiếp theo hoặc theo dõi.
    7. Thông báo các phát hiện bất ngờ:
      Bất kỳ phát hiện bất ngờ hoặc có ý nghĩa lâm sàng nào cần được thông báo kịp thời cho bác sĩ lâm sàng chỉ định.
      Các trao đổi bằng lời giữa bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân hoặc bác sĩ lâm sàng cần được ghi lại trong báo cáo.

    Bộ Từ điển Thuật ngữ Chụp Nhũ ảnh và Siêu âm

    Bảng trình bày tóm tắt bộ từ điển thuật ngữ dùng trong chụp nhũ ảnh và siêu âm.
    Nhấp vào hình ảnh để phóng to bảng.

    Trước tiên, mô tả thành phần mô tuyến vú.
    Khi có phát hiện đáng kể, sử dụng các mô tả trong bảng.

    Bộ từ điển siêu âm có nhiều điểm tương đồng với bộ từ điển chụp nhũ ảnh, nhưng có một số mô tả đặc trưng riêng cho siêu âm.

    Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn về bộ từ điển này ở phần tiếp theo.

    Các Phân loại Đánh giá BI-RADS

    Bảng trình bày các phân loại đánh giá cuối cùng.

    Chúng ta sẽ thảo luận trước về bộ từ điển hình ảnh tuyến vú trong chụp nhũ ảnh và siêu âm, sau đó đi vào chi tiết hơn về các phân loại đánh giá cuối cùng cùng những điều nên và không nên làm trong từng phân loại.


    Nhấp vào hình ảnh để phóng to.

    Quan sát và phân tích các hình ảnh.

    Nếu phát hiện bất thường, hãy đưa ra mô tả và phân loại đánh giá tương ứng.

    Nhũ ảnh – Từ điển Hình ảnh Tuyến vú

    Thành phần Tuyến vú

    Trong phiên bản BI-RADS 2003, việc phân loại thành phần tuyến vú dựa trên mật độ tổng thể, chia thành các nhóm ACR: nhóm 1 (<25% mô tuyến xơ), nhóm 2 (25-50%), nhóm 3 (50-75%) và nhóm 4 (>75%).

    Trong BI-RADS 2013, việc sử dụng tỷ lệ phần trăm không được khuyến khích, vì trong từng trường hợp cụ thể, điều quan trọng hơn là đánh giá khả năng một khối có thể bị che khuất bởi mô tuyến xơ, thay vì dùng tỷ lệ phần trăm mật độ vú như một chỉ số nguy cơ ung thư vú.

    Trong phiên bản BI-RADS 2013, phân loại thành phần tuyến vú được thay đổi thành các nhóm a, b, c và d kèm theo mô tả:

    • a– Tuyến vú gần như hoàn toàn là mô mỡ.
      Nhũ ảnh có độ nhạy cao trong trường hợp này.
    • b– Có các vùng mô tuyến xơ rải rác.
      Thuật ngữ “mật độ” mô tả mức độ suy giảm tia X của mô vú, không phải các tổn thương nhũ ảnh riêng biệt.
    • c– Tuyến vú có mật độ không đồng nhất, có thể che khuất các khối nhỏ.
      Một số vùng trong tuyến vú có mật độ đủ cao để che khuất các khối nhỏ.
    • d
      – Tuyến vú có mật độ rất cao, làm giảm độ nhạy của nhũ ảnh.

    Lưu ý ở ví dụ bên trái, thành phần tuyến vú được phân loại là c – mật độ không đồng nhất, mặc dù thể tích mô tuyến xơ chiếm dưới 50%.

    Mô tuyến xơ ở phần trên có mật độ đủ cao để che khuất các khối nhỏ.
    Do đó được phân loại là c, vì các khối nhỏ có thể bị che khuất.
    Theo phân loại cũ, trường hợp này sẽ được gọi là ACR 2: mật độ 25-50%.

    Ví dụ bên phải có hơn 50% mô tuyến và cũng được phân loại là thành phần c.

    Khối

    Một ‘Khối’ là tổn thương chiếm chỗ ba chiều được quan sát thấy trên hai tư thế chụp khác nhau.
    Nếu một khối tiềm năng chỉ thấy trên một tư thế duy nhất, nên gọi là ‘bất đối xứng’ cho đến khi tính ba chiều của nó được xác nhận.

    1. Hình dạng: bầu dục (có thể có 2 hoặc 3 múi), tròn hoặc không đều
    2. Bờ: rõ nét, bị che khuất, vi thùy, không rõ ràng, tua gai
    3. Mật độ: cao, tương đương, thấp hoặc chứa mỡ.

    Các hình ảnh cho thấy một tổn thương chứa mỡ với vôi hóa dạng bỏng ngô.
    Tất cả các tổn thương chứa mỡ thường là lành tính.
    Các đặc điểm hình ảnh này có giá trị chẩn đoán u hamartoma – còn được gọi là u xơ tuyến mỡ (fibroadenolipoma).

    Hình dạng của một khối có thể là tròn, bầu dục hoặc không đều.

    Luôn đảm bảo rằng khối phát hiện qua thăm khám lâm sàng là cùng một khối được phát hiện trên nhũ ảnh hoặc siêu âm.
    Vị trí và kích thước cần được ghi nhận đối với bất kỳ tổn thương nào cần sinh thiết.

    Bờ của một tổn thương có thể là:

    • Rõ nét (trước đây gọi là bờ rõ).
      Đây là đặc điểm lành tính.
    • Bị che khuất hoặc che khuất một phần, khi bờ bị ẩn bởi mô tuyến xơ chồng lên. Siêu âm có thể hữu ích để xác định bờ rõ hơn.
    • Vi thùy. Đây là đặc điểm nghi ngờ ác tính.
    • Không rõ ràng (trước đây gọi là bờ không rõ).
      Đây cũng là đặc điểm nghi ngờ ác tính.
    • Tua gai với các đường tỏa ra từ khối là đặc điểm rất nghi ngờ ác tính.

    Mật độ của một khối được so sánh với mức độ suy giảm tia X dự kiến của một thể tích mô tuyến xơ tương đương.
    Mật độ cao có liên quan đến ác tính.
    Ung thư vú có mật độ thấp là cực kỳ hiếm gặp.

    Đây là hình ảnh nhiều khối tròn bờ rõ mật độ thấp ở vú phải.
    Đây là kết quả của thủ thuật ghép mỡ tự thân (lipofilling), tức là cấy ghép mỡ từ cơ thể vào tuyến vú.

    Đây là hình ảnh một khối tăng tỷ trọng với hình dạng không đều và bờ tua gai.
    Lưu ý hiện tượng co rút da khu trú.

    Trường hợp này được phân loại BI-RADS 5 và được xác nhận là ung thư biểu mô tuyến vú xâm lấn.

    Biến dạng cấu trúc

    Thuật ngữ biến dạng cấu trúc được sử dụng khi cấu trúc bình thường bị biến dạng mà không có khối rõ ràng nào được nhìn thấy.
    Điều này bao gồm các đường thẳng mảnh hoặc các tua gai tỏa ra từ một điểm, và hiện tượng co rút khu trú, biến dạng hoặc thẳng hóa ở rìa nhu mô tuyến.
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm mô sẹo hoặc ung thư biểu mô.

    Biến dạng cấu trúc cũng có thể được ghi nhận như một đặc điểm kèm theo.
    Ví dụ, nếu có một khối gây biến dạng cấu trúc, khả năng ác tính sẽ cao hơn so với trường hợp khối không có biến dạng.

    Lưu ý sự biến dạng cấu trúc vú bình thường trên tư thế chếch (vòng tròn vàng) và tư thế phóng đại.
    Bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt bỏ và chỉ tìm thấy mô sẹo trong bệnh phẩm.

    Bất đối xứng

    Định nghĩa
    Bất đối xứng là các hình ảnh đại diện cho các vùng mô một bên không đáp ứng định nghĩa của một khối.

    Các loại

    • Bất đối xứng trên một tư thế: Thường do sự chồng lấp của mô bình thường.
    • Bất đối xứng khu trú: Thấy trên hai tư thế; là một phát hiện thực sự cần phân biệt với khối.
    • Bất đối xứng toàn thể: Chiếm ít nhất một phần tư tuyến vú và thường là biến thể bình thường.
    • Bất đối xứng mới xuất hiện: Một vùng bất đối xứng mới, lớn hơn hoặc rõ ràng hơn so với các lần chụp trước.

    Đây là ví dụ về bất đối xứng khu trú thấy trên tư thế MLO và CC.
    Chụp ép khu trú và siêu âm không phát hiện khối nào.

    Siêu âm – Bảng Thuật ngữ Hình ảnh Vú

    Nhiều thuật ngữ mô tả trong siêu âm tương đồng với nhũ ảnh.
    Ví dụ như khi mô tả hình dạng hoặc bờ của một khối.

    Dưới đây chúng tôi sẽ tập trung vào các đặc điểm đặc trưng riêng của siêu âm:

    Thành phần mô vú:

    • Cấu trúc âm đồng nhất – mô mỡ
    • Cấu trúc âm đồng nhất – mô sợi tuyến
    • Cấu trúc âm không đồng nhất

    Khối:

    • Hướng của khối: đặc trưng riêng của siêu âm, được định nghĩa là song song (lành tính) hoặc không song song (dấu hiệu nghi ngờ) với bề mặt da.
    • Đặc điểm hồi âm: không có hồi âm, giảm âm, hỗn hợp dạng nang và đặc, đồng âm, tăng âm, không đồng nhất.
      Đặc điểm hồi âm có thể góp phần vào việc đánh giá tổn thương khi kết hợp với các đặc điểm khác. Riêng lẻ, đặc điểm này có độ đặc hiệu thấp.
    • Đặc điểm phía sau khối: tăng âm phía sau, bóng cản âm phía sau.
      Đặc điểm phía sau khối phản ánh đặc tính suy giảm âm của khối liên quan đến khả năng truyền âm, cũng có giá trị bổ sung. Riêng lẻ, đặc điểm này có độ đặc hiệu thấp.

    Vôi hóa:

    • Trên siêu âm, vôi hóa được đặc trưng kém hơn so với nhũ ảnh, nhưng có thể được nhận diện dưới dạng các ổ tăng âm, đặc biệt khi nằm trong một khối.

    Đặc điểm kèm theo:

    • Biến dạng cấu trúc
    • Thay đổi ống dẫn sữa
    • Thay đổi da
    • Phù nề
    • Mạch máu
    • Đánh giá độ đàn hồi

    Các trường hợp đặc biệt – các trường hợp có chẩn đoán đặc thù hoặc hình ảnh siêu âm mang tính bệnh lý đặc trưng:

    • Nang đơn thuần
    • Nang phức tạp
    • Cụm vi nang
    • Khối trong hoặc trên da
    • Dị vật bao gồm túi độn ngực
    • Hạch bạch huyết – trong tuyến vú
    • Hạch bạch huyết – vùng nách
    • Bất thường mạch máu
    • Tụ dịch sau phẫu thuật
    • Hoại tử mỡ

    Các Phân Loại Đánh Giá Cuối Cùng

    BI-RADS 0


    Cần Đánh Giá Hình Ảnh Bổ Sung và/hoặc Phim Chụp Nhũ Ảnh Cũ Để So Sánh:
    Phân loại 0 hay BI-RADS 0 được sử dụng khi cần đánh giá hình ảnh thêm (ví dụ: các tư thế bổ sung hoặc siêu âm) hoặc cần truy xuất các phim chụp trước đó.
    Khi các nghiên cứu hình ảnh bổ sung đã hoàn tất, một đánh giá cuối cùng sẽ được đưa ra.
    Luôn cố gắng tránh sử dụng phân loại này bằng cách thực hiện ngay các hình ảnh bổ sung hoặc truy xuất phim cũ trước khi đọc kết quả.
    Tốt hơn hết là có sẵn các phim chụp cũ trước khi bắt đầu thực hiện thăm khám.

    Bệnh nhân này được phát hiện có một khối trên phim nhũ ảnh tầm soát, được phân loại là BI-RADS 0 (cần đánh giá hình ảnh bổ sung).

    Siêu âm bổ sung cho thấy khối này là do một hạch bạch huyết trong tuyến vú gây ra.
    Đánh giá cuối cùng là BI-RADS 2 (tổn thương lành tính).

    Đừng quên đề cập trong báo cáo rằng hạch bạch huyết trên siêu âm tương ứng với khối không vôi hóa trên nhũ ảnh.
    Trong phần về vị trí, chúng ta sẽ thảo luận về cách xác định chắc chắn rằng hạch bạch huyết tìm thấy trên siêu âm chính là khối đã thấy trên nhũ ảnh.


    NÊN

    1. Sử dụng khi cần thêm hình ảnh nhũ ảnh: các tư thế bổ sung, nén điểm
    2. Sử dụng khi cần siêu âm bổ sung hoặc nhũ ảnh (toàn bộ) CHỈ KHI thiết bị hoặc nhân lực không có sẵn hoặc bệnh nhân không thể chờ đợi
    3. Sử dụng khi cần nhũ ảnh hoặc siêu âm trước đó để đưa ra đánh giá cuối cùng và ban hành phụ lục bao gồm đánh giá đã được điều chỉnh


    KHÔNG NÊN

    1. Không sử dụng khi nhũ ảnh hoặc siêu âm trước đó không có sẵn nhưng KHÔNG cần thiết để đưa ra đánh giá cuối cùng.
    2. Không sử dụng khi nhũ ảnh hoặc siêu âm trước đó không liên quan, vì tổn thương đã có tính chất nghi ngờ.
    3. Không sử dụng cho các tổn thương cần đánh giá thêm bằng MRI, mà hãy lập báo cáo trước khi thực hiện MRI.

    BI-RADS 1

    Âm tính:

    Không có gì cần nhận xét.

    Hai vú đối xứng và không có khối, biến dạng cấu trúc hay vôi hóa nghi ngờ.


    BI-RADS 1 (bình thường). Không có gì cần nhận xét.

    BI-RADS 1 (bình thường). Không có gì cần nhận xét.

    BI-RADS 1


    NÊN

    1. Sử dụng BI-RADS 1 khi không có bất thường trên hình ảnh ở bệnh nhân có bất thường sờ thấy được, có thể là ung thư sờ thấy được, NHƯNG cần thêm một câu khuyến nghị hội chẩn ngoại khoa hoặc chẩn đoán mô học nếu có chỉ định lâm sàng.

    BI-RADS 2

    Tổn Thương Lành Tính:

    Giống như BI-RADS 1, đây là đánh giá bình thường, nhưng ở đây, bác sĩ đọc phim chọn mô tả một tổn thương lành tính trong báo cáo nhũ ảnh, chẳng hạn như:

    • Theo dõi sau phẫu thuật bảo tồn vú
    • U xơ tuyến vú đang thoái triển và vôi hóa
    • Nhiều vôi hóa lớn dạng que
    • Hạch bạch huyết trong tuyến vú
    • Vôi hóa mạch máu
    • Túi ngực nhân tạo
    • Biến dạng cấu trúc rõ ràng liên quan đến phẫu thuật trước đó.
    • Các tổn thương chứa mỡ như nang dầu, u mỡ, nang sữa và u sai lạc mật độ hỗn hợp. Tất cả đều có hình ảnh đặc trưng lành tính và có thể được chẩn đoán một cách tự tin.

    Phân loại BI-RADS 2: Khối thấy trên nhũ ảnh được xác định là nang.

    Phân loại BI-RADS 2: Khối thấy trên nhũ ảnh được xác định là nang.

    BI-RADS 2


    NÊN

    1. Thống nhất trong nhóm thực hành về việc có hay không và khi nào thì mô tả các tổn thương lành tính trong báo cáo
    2. Sử dụng trong tầm soát hoặc chẩn đoán hình ảnh khi có tổn thương lành tính
    3. Sử dụng khi có hạch to hai bên, có thể do phản ứng hoặc nhiễm trùng
    4. Sử dụng trong chẩn đoán hình ảnh và khuyến nghị xử trí nếu phù hợp,
    5. – như trong áp xe hoặc tụ máu
    6. – như trong vỡ túi ngực và các dị vật khác


    KHÔNG NÊN

    1. Không sử dụng khi có tổn thương lành tính nhưng không được mô tả trong báo cáo, khi đó hãy dùng Phân loại 1.
    2. Không khuyến nghị MRI để đánh giá thêm một tổn thương lành tính.

    BI-RADS 3

    Tổn Thương Có Thể Lành Tính
    Đề Nghị Theo Dõi Ngắn Hạn Ban Đầu:

    Tổn thương được xếp vào phân loại này phải có nguy cơ ác tính dưới 2%.

    Tổn thương không được kỳ vọng sẽ thay đổi trong khoảng thời gian theo dõi, nhưng bác sĩ X-quang muốn xác nhận sự ổn định của nó.
    Các tổn thương phù hợp để xếp vào phân loại này bao gồm:

    • Khối bờ rõ không vôi hóa trên nhũ ảnh nền (trừ khi có thể xác định là nang, hạch bạch huyết trong tuyến vú, hoặc tổn thương lành tính khác),
    • Bất đối xứng khu trú trở nên kém đậm đặc hơn trên tư thế nén điểm
    • Nhóm vôi hóa chấm đơn độc

    Đây là một khối bờ rõ không sờ thấy được kèm theo một nhóm vôi hóa chấm.
    Khối được phân loại là BI-RADS 3.
    Tiếp tục theo dõi bằng hình ảnh.


    Đánh giá cuối cùng được thay đổi thành Phân loại 2

    Đánh giá cuối cùng được thay đổi thành Phân loại 2
    • Theo dõi ngắn hạn ban đầu đối với tổn thương BI-RADS 3 là nhũ ảnh một bên sau 6 tháng, sau đó khám theo dõi hai bên sau 12 tháng. Nếu ổn định, thực hiện theo dõi sau một năm và tùy chọn thêm một năm nữa.
    • Nếu tổn thương không thay đổi trong quá trình theo dõi, đánh giá cuối cùng được chuyển thành BI-RADS 2 (lành tính) và không cần theo dõi thêm.

    Theo dõi tại 6, 12 và 24 tháng không cho thấy thay đổi và đánh giá cuối cùng được chuyển thành Phân loại 2.
    Tuy nhiên, bệnh nhân và bác sĩ lâm sàng vẫn muốn phẫu thuật cắt bỏ, vì bác sĩ X-quang không thể đưa ra chẩn đoán phân biệt rõ ràng.

    Vì vậy, hãy thêm câu sau vào báo cáo của bạn:

    • BI-RADS 2 (tổn thương lành tính).
    • Thay vì ngừng theo dõi, chẩn đoán mô học sẽ được thực hiện theo nguyện vọng của bệnh nhân và bác sĩ lâm sàng.

    Giải phẫu bệnh: Dị dạng mạch máu lành tính.

    Nếu tổn thương BI-RADS 3 có bất kỳ thay đổi nào trong quá trình theo dõi, nó sẽ được chuyển thành BI-RADS 4 hoặc 5 và cần thực hiện sinh thiết.

    Hình ảnh phía trên cho thấy một vài vôi hóa vô định hình ban đầu được phân loại là BI-RADS 3.
    Tại lần theo dõi 12 tháng, ghi nhận hơn năm vôi hóa trong một nhóm.
    Tổn thương lúc này được phân loại là BI-RADS 4.
    Kết quả giải phẫu bệnh là DCIS kèm ung thư xâm nhập.

    BI-RADS 3


    NÊN

    1. Thực hiện theo dõi ngắn hạn ban đầu sau 6 tháng. Nếu ổn định, thực hiện theo dõi ngắn hạn lần hai sau 6 tháng (Với nhũ ảnh: chụp cả hai vú). Nếu ổn định, thực hiện theo dõi sau một năm và tùy chọn thêm một năm nữa. Sau đó chuyển sang Phân loại 2.
    2. Nhận thức rằng đánh giá lành tính luôn có thể được đưa ra trước khi hoàn thành phân tích Phân loại 3, nếu theo ý kiến của bác sĩ X-quang, tổn thương không có khả năng ác tính và do đó thuộc Phân loại 2.
    3. Sử dụng cho các tổn thương trên nhũ ảnh như:
      – Khối đặc bờ rõ không vôi hóa
      – Bất đối xứng khu trú
      – Nhóm vôi hóa chấm đơn độc
    4. Sử dụng cho các tổn thương trên siêu âm có bằng chứng vững chắc gợi ý:
      – U xơ tuyến điển hình
      – Nang phức tạp đơn độc
      – Nang vi thể cụm
    5. Sử dụng cho tổn thương có thể lành tính, trong khi bệnh nhân hoặc bác sĩ lâm sàng vẫn muốn sinh thiết. Khi đó thêm câu: ‘Thay vì theo dõi, chẩn đoán mô học sẽ được thực hiện theo nguyện vọng của bệnh nhân hoặc bác sĩ lâm sàng’.


    KHÔNG NÊN

    1. Không sử dụng khi không chắc chắn giữa đánh giá lành tính (Phân loại 2) hay nghi ngờ (Phân loại 4). Khi đó hãy dùng Phân loại 4.
    2. Không sử dụng trong thăm khám tầm soát
    3. Không sử dụng trong thăm khám chẩn đoán nếu cần thêm hình ảnh để đưa ra đánh giá cuối cùng
    4. Không sử dụng nếu tổn thương trước đó được đánh giá là Phân loại 3 đã tăng kích thước hoặc mức độ, như khối trên siêu âm tăng 20% hoặc hơn về kích thước lớn nhất. Khi đó hãy dùng Phân loại 4.
    5. Không khuyến nghị MRI để đánh giá thêm tổn thương có thể lành tính

    BI-RADS 4

    Bất Thường Nghi Ngờ – Nên Cân Nhắc Sinh Thiết:

    Phân loại này dành cho các tổn thương không có hình ảnh điển hình của ác tính nhưng đủ nghi ngờ để có chỉ định sinh thiết.
    BI-RADS 4 có phạm vi

    Vị trí trên Nhũ ảnh và Siêu âm


    Quan sát thấy một khối ở góc phần tư dưới ngoài của vú trái tại vị trí 4 giờ, ở phần sâu của vú, cách núm vú 4cm.

    Quan sát thấy một khối ở góc phần tư dưới ngoài của vú trái tại vị trí 4 giờ, ở phần sâu của vú, cách núm vú 4cm.

    Một bộ mô tả vị trí đầy đủ bao gồm:

    1. Xác định vú phải hay vú trái
    2. Ký hiệu theo góc phần tư và theo mặt đồng hồ (tốt nhất nên ghi cả hai)
    3. Trên siêu âm, ký hiệu theo góc phần tư và mặt đồng hồ cần được bổ sung trực tiếp trên hình ảnh bằng ký hiệu vị trí cơ thể và tư thế đầu dò.
    4. Độ sâu: một phần ba trước, giữa hoặc sau (chỉ áp dụng cho Nhũ ảnh)
    5. Khoảng cách từ núm vú

    Có thể có sự khác biệt trong thực hành chẩn đoán hình ảnh tuyến vú; các thành viên trong cùng một nhóm thực hành nên thống nhất một chính sách nhất quán trong việc ghi chép tài liệu.

    Khi sử dụng nhiều phương thức chẩn đoán, cần luôn đảm bảo rằng các phương thức đó đang khảo sát cùng một tổn thương.
    Chẳng hạn, một tổn thương phát hiện trên siêu âm không nhất thiết phải là cùng tổn thương với phát hiện trên nhũ ảnh hoặc khám lâm sàng.
    Đôi khi, chụp nhũ ảnh lại với các đánh dấu đặt tại vị trí tổn thương phát hiện trên siêu âm có thể hữu ích.

    Các nang có thể được chọc hút hoặc bơm khí sau khi hút để xác nhận rằng tổn thương thấy trên nhũ ảnh là do nang gây ra.

    Đối với các tổn thương đặc, có thể tiêm thuốc cản quang vào tổn thương hoặc đặt dấu định vị trong các trường hợp khó.

    Đây là những hình ảnh mà bạn đã xem trước đó.
    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân có tổn thương mới phát hiện khi tầm soát.
    Trên siêu âm phát hiện một hạch bạch huyết trong tuyến vú, nhưng chúng tôi không chắc liệu đây có phải là cùng tổn thương với khối trên nhũ ảnh hay không.
    Tiếp tục xem các hình ảnh nhũ ảnh sau khi tiêm thuốc cản quang.

    Thuốc cản quang được tiêm vào hạch và chụp nhũ ảnh lại.
    Qua đó, chúng tôi có bằng chứng xác nhận rằng khối trên nhũ ảnh chính là hạch bạch huyết trong tuyến vú, vì khối trên nhũ ảnh có chứa thuốc cản quang.

    Bệnh nhân này nhập viện vì có khối u ở vú trái.
    Tuy nhiên, ở vú phải phát hiện một nhóm vôi hóa dạng vô định hình và đa hình thái nhỏ.
    Siêu âm được thực hiện để đánh giá thêm.

    Siêu âm vùng này phát hiện một khối bờ không đều, được xác nhận là ung thư biểu mô tuyến qua chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA).
    Để xác định liệu khối có nằm trong vùng vôi hóa hay không, thuốc cản quang được tiêm vào trong khối.

    Rõ ràng khối nằm ở một vùng khác của tuyến vú.
    Lúc này cần tiến hành sinh thiết hút chân không đối với vùng vôi hóa, vì có thể chúng ta đang đối mặt với ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS) ở một vùng và ung thư biểu mô xâm lấn ở một vùng khác.

    Đo kích thước

    Khối
    Trục dài nhất của tổn thương và số đo thứ hai vuông góc với trục đó.
    Đối với khối có bờ tua gai, không tính phần tua gai vào số đo.

    Biến dạng cấu trúc và Bất đối xứng
    Ước tính kích thước tuyến tính lớn nhất của tổn thương.

    Vôi hóa
    Phân bố vôi hóa được đo bằng cách ước tính kích thước tuyến tính lớn nhất.

    Hạch bạch huyết
    Chụp nhũ ảnh: trục ngắn.
    Siêu âm: độ dày vỏ hạch.

    Báo Cáo

    1. Mô tả chỉ định thực hiện nghiên cứu.
      Tầm soát, chẩn đoán hoặc theo dõi.
      Đề cập đến tiền sử bệnh của bệnh nhân.
      Nếu thực hiện Siêu âm, cần ghi rõ siêu âm được thực hiện có mục tiêu tại một vị trí cụ thể hay là tầm soát bổ sung.
    2. Mô tả thành phần mô tuyến vú.
    3. Mô tả bất kỳ phát hiện đáng kể nào bằng thuật ngữ chuẩn hóa.
      Sử dụng các mô tả hình thái học: khối, bất đối xứng, biến dạng cấu trúc và vôi hóa.
      Các phát hiện này có thể có các đặc điểm kèm theo, ví dụ như một khối có thể đi kèm với dày da, co rút núm vú, vôi hóa, v.v.
      Đối chiếu các phát hiện này với thông tin lâm sàng, nhũ ảnh, siêu âm hoặc MRI.
      Tích hợp các phát hiện trên nhũ ảnh và siêu âm vào một báo cáo duy nhất.
    4. So sánh với các nghiên cứu trước đó.
      Việc chờ đợi các phim chụp trước để so sánh chỉ nên thực hiện khi chúng thực sự cần thiết để đưa ra đánh giá cuối cùng.
    5. Kết luận theo danh mục đánh giá cuối cùng.
      Sử dụng các danh mục BI-RADS 0-6 và cụm từ tương ứng với từng danh mục.
      Nếu cả nhũ ảnh và siêu âm đều được thực hiện: đánh giá tổng thể phải dựa trên kết quả bất thường nhất trong hai phương pháp, dựa trên khả năng ác tính cao nhất.
    6. Đưa ra khuyến nghị xử trí.
    7. Thông báo các phát hiện ngoài dự kiến cho bác sĩ lâm sàng yêu cầu.
      Các trao đổi bằng lời giữa bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ lâm sàng yêu cầu cần được ghi lại trong báo cáo.

    Ví dụ về báo cáo

    Chỉ định thực hiện
    Khối di động gây đau, ở phía ngoài vú phải. Không có tiền sử bệnh lý vú.

    Phát hiện
    Không có phim chụp trước để so sánh.

    Nhũ ảnh
    Thành phần mô tuyến vú tổng thể: b. Các vùng mật độ tuyến xơ rải rác.
    Ở phía ngoài vú phải, tương ứng với khối sờ thấy, có một khối với hình dạng bầu dục và bờ một phần rõ, một phần bị che khuất.
    Khối đồng tỷ trọng so với mô tuyến xơ.
    Vị trí: Vú phải, vị trí 9 giờ, một phần ba giữa của vú.
    Kích thước: ước tính đường kính lớn nhất = 3 cm.
    Siêu âm bổ sung khối: Tương ứng với khối sờ thấy và khối trên nhũ ảnh, có một nang đơn giản hình bầu dục, định hướng song song, bờ rõ, không có hồi âm với tăng âm phía sau. Kích thước: 3,5 x 1,5 cm.
    Trong vú phải có ít nhất 2 nang nhỏ hơn.

    Đánh giá
    BI-RADS 2 (phát hiện lành tính).
    Khối sờ thấy là một nang đơn giản. Có ít nhất hai nang nhỏ hơn trong vú phải.

    Xử trí

    Nang sờ thấy gây đau, sau khi được sự đồng ý có thông tin, đã thực hiện chọc hút nang không biến chứng.

    Không có chỉ định theo dõi, trừ khi các triệu chứng tái phát, như đã giải thích cho bệnh nhân.

    Lưu ý:

    1. Không cần mô tả chi tiết nang: đây là ‘trường hợp đặc biệt’/chẩn đoán đặc thù.
    2. Không cần mô tả chi tiết hơn hoặc kích thước các nang bổ sung. Chỉ cần đề cập kích thước của nang quan trọng nhất (1).
    3. Không sử dụng các thuật ngữ khác ngoài các mô tả trong BI-RADS 2013.
    4. Nếu cả nhũ ảnh và siêu âm đều được thực hiện: Luôn mô tả trong hai đoạn văn được tích hợp trong một báo cáo duy nhất.
    5. Các trao đổi bằng lời giữa bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân và bác sĩ lâm sàng yêu cầu cần được ghi lại trong báo cáo gốc hoặc trong phần bổ sung.

    Chỉ định thực hiện

    Được giới thiệu từ bác sĩ đa khoa.
    Khối di động, ở phía ngoài vú trái, xuất hiện trong 2 tháng.
    Không có tiền sử bệnh lý vú.
    Không có phim chụp trước để so sánh.

    Phát hiện
    Nhũ ảnh: Thành phần mô tuyến vú tổng thể: a. Vú gần như hoàn toàn là mô mỡ.
    Ở phía ngoài vú trái, tại vị trí 3 giờ ở một phần ba sau của vú, tương ứng với khối sờ thấy, có một khối tăng tỷ trọng kích thước 3 cm với hình dạng tròn nhưng cũng có bờ không đều.

    Bờ một phần rõ và một phần không rõ với một số thùy nhỏ.

    Siêu âm: Tương ứng với khối sờ thấy và khối trên nhũ ảnh, có một khối giảm âm hơi không đều với định hướng không song song, > 75% bờ rõ và bờ không rõ cục bộ.

    Đánh giá
    BI-RADS 4a (nghi ngờ ác tính thấp).
    Khối sờ thấy tương ứng với một khối đặc, chủ yếu có bờ rõ.
    Ở bệnh nhân 35 tuổi này, chẩn đoán phân biệt bao gồm u xơ tuyến vú không điển hình hoặc u phyllodes.

    Xử trí
    Sau khi được sự đồng ý có thông tin của bệnh nhân, đã thực hiện sinh thiết lõi kim 14G, lấy được hai mẫu bệnh phẩm. Không có biến chứng.

    Đã trao đổi với bệnh nhân và bác sĩ đa khoa yêu cầu rằng trong trường hợp BI-RADS 4(a), nên chuyển đến phòng khám vú. Bệnh nhân và bác sĩ đa khoa yêu cầu ưu tiên chờ kết quả sinh thiết.

    Bổ sung
    Kết quả sinh thiết cho thấy tổn thương xơ-biểu mô, có thể là u phyllodes lành tính.
    Việc chuyển đến phòng khám vú lúc này được chỉ định mạnh mẽ và đã được bác sĩ đa khoa thực hiện sau khi tư vấn qua điện thoại.
    Chẩn đoán sau phẫu thuật cắt bỏ: u xơ tuyến vú tế bào cao 3 cm.

  • Siêu âm tuyến vú

    Siêu âm Vú

    Robin Smithuis, Lidy Wijers và Indra Dennert

    Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp – Hà Lan

    Bài viết này cung cấp kiến thức cơ bản về siêu âm vú.

    Chúng tôi sẽ tập trung vào cách siêu âm di động có thể được sử dụng bởi các nhân viên y tế tại các khu vực mà các phương tiện chẩn đoán khác như chụp nhũ ảnh (mammography) hoặc MRI chưa được phổ biến rộng rãi.

    Tuy nhiên, bài viết này cũng là một tài liệu giới thiệu hữu ích cho những ai đang thực hành chụp nhũ ảnh và MRI tuyến vú.

    Các video trong phần giới thiệu bao quát hầu hết nội dung của bài viết.

    Giới thiệu

    Video 1

    Trong video này chúng ta sẽ thảo luận về:

    • Giải phẫu bình thường
    • Chẩn đoán phân biệt khối tổn thương tuyến vú
    • Mô tuyến vú dày đặc
    • Nang
    • U xơ tuyến vú
    • Ung thư vú

    Video 2

    Trong video này chúng ta sẽ thảo luận về:

    • Nhiều ví dụ điển hình về ung thư vú
    • Ung thư trong nang
    • Chẩn đoán phân biệt khối u lành tính và ác tính
    • Kỹ thuật tạo ảnh hài hòa mô
    • Chẩn đoán và điều trị áp xe vú

    Đầu dò mảng tuyến tính kết nối với điện thoại thông minh

    Đầu dò mảng tuyến tính kết nối với điện thoại thông minh

    Siêu âm chủ yếu được sử dụng bổ sung cho nhũ ảnh và MRI.
    Tuy nhiên, đây là công cụ chẩn đoán ban đầu xuất sắc để khảo sát tuyến vú ở phụ nữ có triệu chứng như sờ thấy khối hoặc đau khu trú tại vú.

    Trong hầu hết các trường hợp, có thể xác định được liệu tổn thương là lành tính hay ung thư vú.
    Trong một số trường hợp, chọc hút có thể giúp phân biệt nang phức tạp với tổn thương đặc, đồng thời chọc hút cũng được sử dụng để điều trị áp xe.

    Siêu âm vú thường không được chỉ định để tầm soát ung thư vú. Nguyên nhân là do kỹ thuật này tốn nhiều thời gian và có thể bỏ sót một số dấu hiệu ung thư sớm như ung thư vú nhỏ không sờ thấy hoặc ung thư biểu mô ống tuyến tại chỗ, vốn chỉ biểu hiện bằng các vôi hóa nhỏ trên nhũ ảnh.

    Tuy vậy, siêu âm là một công cụ cực kỳ nhanh chóng và hiệu quả.
    Phương pháp này an toàn, chi phí thấp và có tính cơ động cao; các máy siêu âm cầm tay hiện đại chỉ bao gồm một đầu dò kết nối với điện thoại di động hoặc máy tính bảng.
    Các hệ thống này cung cấp hình ảnh độ phân giải cao với giá chỉ hơn một nghìn đô la.

    Chúng tôi kỳ vọng rằng ngày càng nhiều bác sĩ và nhân viên y tế sẽ ứng dụng siêu âm trong chăm sóc tuyến vú tại những nơi không có điều kiện tiếp cận hoặc chi trả cho các phương tiện khác như nhũ ảnh hay MRI.
    Khả năng kết nối với điện thoại di động giúp dễ dàng lưu trữ hình ảnh hoặc chia sẻ để xin ý kiến tư vấn thêm.

    Vú Bình Thường

    Tuyến vú được cấu tạo bởi sự pha trộn giữa mô xơ tuyến và mô mỡ.

    Mô tuyến không phân bố đồng đều trong vú.
    Thông thường, mô tuyến tập trung nhiều hơn ở góc phần tư trên ngoài và tỏa ra từ phía sau núm vú ra ngoại vi.

    Lượng mô tuyến đáp ứng với sự dao động nội tiết tố và thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt.
    Lượng mô tuyến giảm dần theo tuổi tác.

    Các ổ mô tuyến khu trú có thể biểu hiện như một khối u, do mô tuyến có độ chắc hơn so với mô mỡ xung quanh.

    Ở phụ nữ trẻ, đây là nguyên nhân rất phổ biến gây ra các khối u thường kèm theo đau ở vú.

    Khi đặt đầu dò lên vú, lớp đầu tiên quan sát được là da, bên dưới là sự pha trộn giữa mô tuyến và mô mỡ.

    Lớp sâu nhất là thành ngực với cơ ngực, các xương sườn và các cơ gian sườn.

    Phía sau hoặc sâu hơn so với xương sườn, không thể tạo hình ảnh do sóng âm bị hấp thụ, tạo ra một xảo ảnh gọi là bóng cản âm phía sau.

    Điều này có nghĩa là không thể quan sát được cấu trúc phía sau xương sườn, và vùng phía sau xương sườn trên hình ảnh sẽ có màu đen.

    Phổi bình thường chứa đầy không khí, cũng phản xạ sóng siêu âm.
    Bờ trước của phổi tạo ra một đường tăng âm (hyperechoic) hay đường trắng di động theo nhịp thở bình thường (xem video bên dưới).

    Sự phản xạ âm của các bóng khí trong phổi tạo ra cái mà chúng ta gọi là bóng cản bẩn (dirty shadow) (xem hình tiếp theo).
    Hiện tượng này không rõ rệt như ở xương sườn.


    Press Command + to enlarge images – Scroll for text

    Đây là hình ảnh siêu âm bình thường của tuyến vú.

    Lớp xám phía trên là da.

    Tiếp theo là sự pha trộn giữa mô mỡ (tối hoặc giảm âm) và mô tuyến (xám sáng hoặc tăng âm).

    Lớp có vân sọc phía sau mô vú là cơ ngực.

    Phía sau hoặc sâu hơn so với xương sườn có một vùng đen hay bóng cản âm phía sau.

    Phổi là lớp có thể quan sát sâu nhất.
    Không khí trong phổi phản xạ hầu hết sóng âm, tạo ra một đường sáng hoặc tăng âm với bóng cản bẩn phía sau.

    Video này trình bày giải phẫu vú bình thường.

    Lưu ý sự di động của phổi trong quá trình thở.

    Trong video này, có thể thấy một khối ung thư vú nằm trong mô tuyến.

    Thành phần mô vú

    Siêu âm cho phép xác định thành phần mô vú: mô xơ tuyến đồng nhất – mô không đồng nhất – hoặc mô mỡ đồng nhất (hình).
    Lưu ý rằng hình ảnh nhũ ảnh và siêu âm rất tương đồng nhau.

    Ở phụ nữ trẻ, vú chủ yếu chứa mô tuyến.

    Mô tuyến này có thể rất phát triển trong thời kỳ mang thai và cho con bú, đồng thời có thể biến đổi theo chu kỳ ở phụ nữ tiền mãn kinh, khiến vú có cảm giác u cục hoặc đau.

    Ở phụ nữ lớn tuổi, mô tuyến dần được thay thế bởi mô mỡ, mặc dù một số phụ nữ lớn tuổi vẫn có thể còn một lượng mô tuyến đáng kể.

    Ở phụ nữ béo phì, lượng mỡ trong vú nhiều hơn ngay cả ở độ tuổi trẻ hơn.

    Gần đường giữa, các xương sườn chỉ được cấu tạo bởi sụn và chưa bị vôi hóa.

    Sụn không tạo ra phản âm trắng ở mặt trước hay bóng cản âm phía sau.
    Thay vào đó, một cấu trúc giảm âm được quan sát thấy phía trước phổi.

    Không nên nhầm lẫn cấu trúc này với khối u vú.
    Thoạt nhìn, cấu trúc này có thể trông giống u xơ tuyến vú khi hình ảnh xương sườn được cắt trên mặt phẳng ngang.
    Khi xoay đầu dò, sẽ nhận thấy đây là một cấu trúc dài liên tục với phần xương sườn đã vôi hóa.

    Tổn thương nhỏ dưới da là một nang bì (dermoid cyst), sẽ được thảo luận ở phần sau.

    Trong cùng một tuyến vú có thể tồn tại các vùng có nhiều mô mỡ xen kẽ với các vùng chủ yếu là mô xơ tuyến, như có thể thấy trên video.

    Khi quan sát đường bờ của mô tuyến (mũi tên), có thể hình dung rằng khi sờ nắn sẽ cảm thấy gồ ghề và đôi khi tạo cảm giác như có một khối u khi mô tuyến rất phát triển.

    Hình ảnh vú trên siêu âm có thể khác nhau tùy theo máy của các nhà sản xuất khác nhau.

    Điều này có nghĩa là cần làm quen với hình ảnh trên máy siêu âm của chính mình.

    Các hình ảnh được chụp từ máy siêu âm Philips (trái) và Siemens (phải).

    Hãy chú ý sự khác biệt trong cách hiển thị lớp da chẳng hạn.

    Hình ảnh siêu âm – tổng quan

    Các bất thường phổ biến nhất ở tuyến vú, thường biểu hiện dưới dạng một khối ở vú, bao gồm: nang, u xơ tuyến vú, ung thư vú và mô tuyến có thể sờ thấy.

    Bảng dưới đây liệt kê các hình ảnh siêu âm điển hình (nhấp để phóng to).

    Chúng tôi sẽ thảo luận chi tiết từng đặc điểm này trong phần tiếp theo.

    Nang có thể gặp ở mọi lứa tuổi.

    U xơ tuyến vú là các khối u lành tính, thường gặp ở phụ nữ trẻ (đặc biệt trong độ tuổi 15-25) và hiếm khi xuất hiện như một phát hiện mới ở phụ nữ trên 50 tuổi.

    Ung thư vú chủ yếu gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi và ít phổ biến hơn ở phụ nữ trẻ.

    Mô tuyến có thể sờ thấy thường gặp ở phụ nữ trẻ, trong thai kỳ và thời kỳ cho con bú.
    Tình trạng này thường thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt.

    Nang

    Nang là loại khối u lành tính phổ biến nhất ở vú.
    Đây là các túi chứa dịch nằm bên trong tuyến vú và luôn luôn có bản chất lành tính.

    Việc xác định bản chất dạng nang của một khối u có thể sờ thấy là vô cùng quan trọng, vì khi đó bác sĩ có thể hoàn toàn yên tâm trấn an bệnh nhân rằng mọi thứ đều ổn.

    Trên siêu âm, các đặc điểm điển hình của nang bao gồm:

    • Hình ảnh trống âm (hay còn gọi là vùng đen)
    • Hình dạng tròn hoặc bầu dục
    • Bờ rõ nét, giới hạn rõ ràng
    • Tăng âm phía sau

    Phía sau nang thường có hiện tượng tăng âm, còn gọi là tăng âm phía sau, đề cập đến sự gia tăng các tín hiệu âm ở phía sâu sau nang, do dịch lỏng truyền âm rất tốt.

    Khi dịch trong nang chịu áp lực căng, nang trở nên tròn hơn và có thể sờ thấy được.

    Đây là một ví dụ điển hình về nhiều nang ở một phụ nữ có khối u sờ thấy được ở vú.

    Mặc dù có nhiều nang, nhưng chỉ có nang ở trung tâm mới sờ thấy được, vì nang này có hình tròn với dịch chịu áp lực căng bên trong.
    Các nang còn lại không sờ thấy được, vì chúng có cảm giác tương tự như mô vú bình thường xung quanh.

    Việc phát hiện thêm nhiều nang ở một phụ nữ đến khám vì có nang sờ thấy được là điều rất thường gặp.

    Người phụ nữ này có nhiều nang nhỏ ở cả hai vú.

    Các nang này không sờ thấy được.

    Đây là video về một nang có thể sờ thấy được.

    Trong trường hợp này, nang gây đau và được quyết định thực hiện chọc hút dịch.

    Lưu ý rằng thành nang hơi dày.
    Đây thường là dấu hiệu của nhiễm trùng độ thấp và giải thích tại sao nang gây đau.
    Các nang không biến chứng thường không gây đau.

    Đây là một nang nhiễm trùng khác, đã được chọc hút.

    Chọc hút là một thủ thuật nhanh chóng và đơn giản.
    Trong hầu hết các trường hợp, dịch hút ra có màu vàng trong suốt, nhưng cũng có thể có màu xanh lá hoặc nâu.
    Không cần thiết phải xét nghiệm dịch hút ra.

    Nang phức tạp

    Hầu hết các nang có hình ảnh điển hình như đã trình bày ở trên.

    Nang phức tạp có hình ảnh không điển hình:

    • Nội dung giảm âm – nội dung của nang có thể trở nên giàu protein và đặc quánh hơn do nhiễm trùng hoặc chảy máu bên trong. Kết quả là hình ảnh âm có thể trở nên giảm âm thay vì hình ảnh trống âm bình thường.
      Thông thường, các nang phức tạp này vẫn còn tăng âm phía sau, điều này chứng minh bản chất dạng nang của tổn thương.
    • Thành dày – thường do nhiễm trùng. Đôi khi thành nang có thể trở nên không đều và khi đó có thể khó phân biệt các nang này với ung thư, đặc biệt khi nội dung đã trở nên giảm âm.

    Nang phức tạp với nội dung giảm âm thường chứa các tín hiệu âm mức độ thấp, di chuyển khi bệnh nhân thay đổi tư thế.
    Khi vẫn còn nghi ngờ liệu tổn thương là nang hay khối u đặc, thì chọc hút dịch có thể giải quyết vấn đề này.

    Hình ảnh cho thấy một tổn thương trống âm, có thể hơi giảm âm với thành hơi không đều và dày.
    Tuy nhiên, vẫn có tăng âm phía sau, khiến chúng tôi nghĩ rằng đây có thể là một nang.
    Chọc hút đã được thực hiện và nang được hút hoàn toàn, đây là bằng chứng cuối cùng xác nhận chẩn đoán.


    Ung thư vú trong nang

    Khối u trong nang

    Đôi khi một phần của nang không có hình ảnh trống âm mà lại giảm âm hoặc tăng âm.

    Điều này có thể là kết quả của mủ hoặc các mảnh vụn, nhưng cũng có thể là một khối u trong nang như trong các hình ảnh này.
    Khối u trong nang là hiếm gặp.

    Khi thấy có mạch máu trên siêu âm Doppler màu thì đó là khối u trong nang, có thể lành tính hoặc ác tính.
    Đây là một khối u có thành phần dạng nang chứ không phải là một nang đơn thuần.

    Trong trường hợp không có dòng chảy trên siêu âm Doppler màu và không có tín hiệu âm mức độ thấp di chuyển khi thay đổi tư thế bệnh nhân, cần thực hiện chọc hút để phân biệt giữa nang phức tạp và khối đặc.

    Mủ và các mảnh vụn có thể được hút ra, khác với khối u.

    Trong trường hợp này, sinh thiết xác nhận là ung thư biểu mô trong nang.


    Ung thư vú trong nang

    Ung thư vú trong nang

    Đây là một trường hợp ung thư vú khác có thành phần dạng nang.

    Lưu ý thành phần đặc lớn với dòng chảy trên hình ảnh Doppler.

    U xơ tuyến vú (Fibroadenoma)


    U xơ tuyến vú là các khối u lành tính, thường gặp ở phụ nữ trẻ, đặc biệt trong độ tuổi 15-25 và hiếm gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi.

    Các đặc điểm siêu âm điển hình bao gồm:

    • Giảm âm
    • Hình bầu dục – đôi khi tròn hoặc có 2-3 múi.
    • Bờ rõ nét (còn gọi là bờ viền rõ)
    • Định hướng song song với da (chiều rộng lớn hơn chiều cao)
    • Đôi khi có thể phát hiện dòng chảy máu trong các mạch nhỏ bằng Doppler màu
    • Tăng âm phía sau ở mức độ thay đổi


    Đây là một trường hợp u xơ tuyến vú điển hình khác.

    Lưu ý rằng bờ tổn thương có dạng múi nhẹ.

    Người phụ nữ này có túi độn ngực, được thấy dưới dạng các cấu trúc chứa dịch.

    Các túi độn được đặt phía sau cơ ngực lớn.
    Cuộn hình ảnh để xem chú thích.

    Dưới đây là một số ví dụ về u xơ tuyến vú.

    Các tổn thương số 1-4 thuộc cùng một bệnh nhân.
    Đây là một phát hiện thường gặp.
    Khi phát hiện một u xơ tuyến vú, thường có thể tìm thấy thêm nhiều tổn thương khác.

    Tổn thương số 6 được sinh thiết do tuổi của bệnh nhân và kết quả cho thấy là u xơ tuyến vú.

    Tổn thương số 7 được sinh thiết vì có hình dạng không đều và hình ảnh gợi ý ung thư biểu mô.
    Kết quả cũng cho thấy đây là u xơ tuyến vú.

    U xơ tuyến vú đôi khi có vôi hóa, nhưng các vôi hóa này có kích thước lớn hơn so với các vôi hóa nhỏ thường gặp trong ung thư biểu mô.

    Vi vôi hóa như thấy trong ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS) – vốn có thể là tổn thương tiền ung thư – thường không quan sát được trên siêu âm.
    Trong việc phát hiện DCIS, chụp nhũ ảnh (mammography) có nhiều ưu thế hơn.

    Ung thư vú

    Ung thư vú là khối u ác tính phổ biến nhất ở phụ nữ.
    Nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ tăng dần theo độ tuổi.

    Hầu hết phụ nữ được chẩn đoán ung thư vú đều trên 50 tuổi, tuy nhiên phụ nữ trẻ tuổi hơn cũng có thể mắc bệnh này.

    Các triệu chứng lâm sàng đầu tiên có thể nhận thấy bao gồm:

    • Khối u hoặc vùng mô vú dày lên
    • Co rút núm vú
    • Lõm da vùng vú do khối u bên dưới co kéo

    Dưới đây là một số ví dụ về ung thư vú.

    Các đặc điểm chính bao gồm:

    • Khối giảm âm
    • Hình dạng thường không đều – đôi khi tròn hoặc bầu dục với hướng không song song với da
    • Bờ không rõ, đôi khi có quầng sáng (halo)
    • Có thể có bóng cản phía sau và các vôi hóa nhỏ

    Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn về các dấu hiệu siêu âm trong ung thư vú.


    Đây là hình ảnh của một phụ nữ 50 tuổi tự sờ thấy khối u ở vú.

    Hãy mô tả các dấu hiệu siêu âm, sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu siêu âm bao gồm:

    • Khối giảm âm với hình dạng không đều
    • Bờ không rõ ràng, vừa có góc cạnh vừa mờ nhạt
    • Các chấm tăng âm nhỏ, tương ứng với các vôi hóa
    • Không có bóng cản phía sau hoặc tăng âm phía sau

    Các vôi hóa này cũng được quan sát thấy trên hình ảnh nhũ ảnh.
    Vùng trắng trên nhũ ảnh chính là khối u.

    Tiếp tục xem video.

    Nhấp vào hình ảnh để bắt đầu video.

    Nhấp lại vào hình ảnh để dừng video.


    Quầng tăng âm (Hyperechoic halo)

    Một dấu hiệu thường gặp trong ung thư vú là quầng tăng âm bao quanh khối giảm âm.

    Quầng này là một phần của khối u và cần được tính vào kích thước đo của khối u.


    TRÁI: không dùng chế độ hài âm   PHẢI: có dùng chế độ hài âm

    Chế độ hài âm (Harmonics)

    Tạo ảnh hài âm là một kỹ thuật siêu âm khai thác đặc tính cộng hưởng của mô.
    Kỹ thuật này còn được gọi là tạo ảnh hài âm mô (tissue harmonic imaging – THI).

    Nếu máy siêu âm của bạn có tính năng này, bạn sẽ nhận thấy rằng hình ảnh thu được với chế độ hài âm có độ phân giải cao hơn và ít xảo ảnh hơn so với siêu âm thông thường.
    Bóng cản phía sau có thể được tăng cường rõ hơn.

    Lưu ý rằng khối ung thư vú nhỏ này được quan sát rõ hơn khi sử dụng chế độ hài âm.
    Có một khối giảm âm với quầng tăng âm xung quanh và bóng cản nhẹ phía sau. Hướng của khối u là thẳng đứng.
    Bờ khối không rõ và hình dạng khối u không đều.

    Đây là một trường hợp khó và không điển hình.

    Khi nhìn vào hình ảnh bên trái, gần như không thể nhận ra khối u.
    Hình ảnh trông gần giống như mô tuyến bình thường.

    Tuy nhiên, trên lâm sàng sờ thấy một khối u, và khi quan sát hình ảnh với chế độ hài âm được bật, chúng ta có thể thấy bóng cản phía sau.

    Trường hợp này được xác định là ung thư vú.

    Nếu máy siêu âm của bạn có chế độ hài âm, tốt nhất nên quan sát cả hai chế độ có và không có hài âm trong những trường hợp không rõ ràng ngay từ đầu.


    Các ví dụ về ung thư vú

    Cuộn qua mười một ví dụ về ung thư vú đã được xác nhận bằng sinh thiết.

    Video minh họa các trường hợp ung thư vú

    Nhấp vào hình ảnh để bắt đầu video.
    Nhấp lại vào hình ảnh để dừng video.

    Video bao gồm 3 ví dụ về ung thư vú.

    Lưu ý rằng video cuối cùng là của một phụ nữ 21 tuổi mắc ung thư vú.
    Đây là trường hợp không phổ biến, nhưng đáng tiếc là ung thư vú đôi khi vẫn gặp ở phụ nữ trẻ tuổi.

    Ung thư vú so với U xơ tuyến vú

    Đôi khi ung thư vú có thể có hình ảnh tương tự u xơ tuyến vú và ngược lại, u xơ tuyến vú cũng có thể có hình ảnh siêu âm giống ung thư.

    Bảng dưới đây liệt kê các điểm khác biệt về hình ảnh siêu âm giữa hai loại tổn thương này.

    Tuổi của bệnh nhân cũng là một yếu tố quan trọng cần xem xét, vì u xơ tuyến vú thường gặp ở phụ nữ trẻ, đặc biệt trong độ tuổi 15-25 và hiếm gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi, trong khi ung thư vú được chẩn đoán phổ biến nhất ở phụ nữ trên 50 tuổi và ít gặp hơn ở phụ nữ trẻ.

    Trong một số trường hợp, không thể phân biệt được hai loại tổn thương này chỉ dựa vào hình ảnh siêu âm đơn thuần và cần phải sinh thiết để có chẩn đoán xác định.


    Hãy cuộn qua các hình ảnh này.

    Các điểm khác biệt giữa u xơ tuyến vú và ung thư biểu mô được tóm tắt trong đây.


    Ung thư biểu mô vú so với u xơ tuyến vú

    Đây là hai tổn thương hình bầu dục giảm âm.

    Thoạt nhìn, chúng trông không khác nhau nhiều.
    Hãy quan sát kỹ các hình ảnh và xác định những điểm khác biệt.

    Tổn thương bên trái là ung thư biểu mô.

    • Hình dạng bất thường
    • Bờ góc cạnh và không rõ nét
    • Quầng tăng âm xung quanh
    • Hướng của tổn thương nghiêng về chiều dọc, không song song với da, tức là chiều cao lớn hơn chiều rộng
    • Bóng cản âm phía sau

    Tổn thương bên phải là u xơ tuyến vú.

    • Hình bầu dục với múi nhẹ
    • Bờ rõ nét
    • Hướng nằm ngang, song song với da
    • Tăng âm phía sau

    Breast cancer: at first glance looks like a fibroadenoma

    Ung thư vú: thoạt nhìn có hình ảnh giống u xơ tuyến vú

    Tuổi tác

    Tuổi của bệnh nhân nữ giúp ích như thế nào trong việc phân biệt u xơ tuyến vú và ung thư vú?

    Trong hầu hết các trường hợp, yếu tố tuổi tác giúp củng cố chẩn đoán hình ảnh của chúng ta.
    Mặt khác, khi phát hiện một khối ở vú của phụ nữ trẻ không đáp ứng đầy đủ tất cả các tiêu chí của u xơ tuyến vú điển hình, chúng ta nên tiến hành sinh thiết để loại trừ ung thư biểu mô.
    Ví dụ, khi tổn thương có bờ không rõ nét hoặc chiều cao lớn hơn chiều rộng.

    Điều tương tự cũng áp dụng cho một khối mới xuất hiện có hình ảnh giống u xơ tuyến vú ở phụ nữ lớn tuổi.

    Hình ảnh cho thấy một tổn thương mà thoạt nhìn có vẻ giống u xơ tuyến vú.
    Tuy nhiên, có hai điểm không phù hợp.
    Thứ nhất, tuổi của bệnh nhân là 49 tuổi và thứ hai, bờ phía sau của tổn thương có một số chỗ không đều.
    Sinh thiết đã được thực hiện và khối này được xác định là ung thư.

    Mô tuyến sờ thấy được


    Mô xơ tuyến không phân bố đều trong vú và thường tập trung nhiều hơn ở góc phần tư trên ngoài.

    Đôi khi sự phì đại khu trú của mô tuyến có thể rất rõ rệt, tạo thành một khối u mà khi sờ nắn không thể phân biệt được với khối u thực sự.

    Hình ảnh siêu âm cho thấy một vùng tập trung mô tuyến nằm trong nền mô mỡ của vú.
    Do mô tuyến có độ chắc hơn mô mỡ, vùng này sẽ có cảm giác như một khối khi sờ nắn.

    Chụp nhũ ảnh được thực hiện với đánh dấu vị trí khối sờ thấy và cũng cho thấy hình ảnh tập trung khu trú của mô tuyến bình thường.

    Video ghi lại trường hợp một phụ nữ tự phát hiện khối u ở vú.

    Trên siêu âm, phát hiện mô tuyến phát triển rõ rệt.

    Do mô tuyến có độ chắc hơn mô mỡ xung quanh, có thể hình dung rằng khi trượt ngón tay trên bề mặt da, vùng này sẽ có cảm giác như một chỗ gồ lên.

    Mô xơ tuyến đôi khi phát triển rất dày đặc đến mức chùm tia siêu âm khó có thể xuyên qua được.

    Điều này có thể tạo ra hình ảnh giả của một khối giảm âm bờ không đều kèm bóng cản phía sau, dễ nhầm lẫn với ung thư biểu mô (xem video).

    Tuy nhiên, khi thực hiện động tác ép nhẹ lên vùng mô này, có thể thấy đây chỉ là mô xơ tuyến tăng âm phát triển rõ rệt.

    Thông thường, đây là những bệnh nhân trẻ tuổi đến khám vì khối lớn, đau ở vú.

    Áp-xe


    Áp-xe vú là tình trạng tích tụ mủ gây đau trong tuyến vú do nhiễm khuẩn.
    Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến phụ nữ đang cho con bú như một biến chứng của viêm vú và ít gặp hơn ở phụ nữ không cho con bú.

    Bệnh nhân thường đến khám với triệu chứng khối đau, da vùng tổn thương có thể đỏ và dày lên.

    Hình ảnh siêu âm của một phụ nữ đến khám với triệu chứng sốt và khối đau ở vú phía sau núm vú bị thụt vào.
    Trong quá trình ép và thả nhẹ bằng đầu dò, có thể quan sát thấy dịch trong ổ áp-xe di chuyển.
    Cũng cần lưu ý hiện tượng tăng âm phía sau (posterior enhancement) — đây là dấu hiệu cho thấy cấu trúc này chứa dịch.

    Tiếp tục xem hình ảnh tiếp theo…

    Sau đó, ổ áp-xe được tiến hành chọc hút.

    Chọc hút là phương pháp điều trị ưu tiên hàng đầu đối với áp-xe.

    Trong trường hợp này không cần phẫu thuật hay kháng sinh, mặc dù đôi khi kháng sinh cũng được chỉ định kết hợp.

    Đây là một ổ áp-xe khác nằm phía sau núm vú, đã được chọc hút.

    Đây có thể là một thủ thuật gây đau cho bệnh nhân.
    Tốt nhất nên tiêm thuốc gây tê tại chỗ vào da và tổ chức dưới da, sau đó cố gắng dẫn lưu mủ qua chính kim đó.

    Nếu mủ quá đặc, cần sử dụng kim có kích thước lớn hơn.
    Cần dành đủ thời gian để thuốc tê phát huy tác dụng.

    Da và mô dưới da

    Các bất thường xuất phát từ da hoặc mô dưới da có thể biểu hiện như một khối u ở vú, nhưng chúng không phải là bất thường của tuyến vú.

    Khi xác định được tổn thương có nguồn gốc từ da hoặc mô dưới da, có thể khẳng định đây không phải là khối u vú.

    Các hình ảnh siêu âm cho thấy tổn thương nằm trong lớp da chứ không nằm trong nhu mô vú.

    Hầu hết các tổn thương này là nang bì (dermoid cyst).
    Cần cố gắng tìm đường thông với da, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng quan sát được.

    Bệnh nhân nữ này đến khám với triệu chứng đau và có khối u ở vú, kèm theo da vùng tương ứng bị đỏ.

    Đây là một tổn thương trong da khác.
    Lưu ý da bị dày lên.

    Nhiều khả năng đây là nang bì có viêm.

    Tổn thương đã tự lành mà không cần điều trị.


    Đây là một trường hợp nang bì khác.

    Tổn thương nằm trong mô dưới da và có đường thông với da.

    Đây không phải là khối u vú.


    Cuộn qua để xem thêm các tổn thương lành tính có nguồn gốc từ da hoặc mô dưới da.

    U mỡ (Lipoma)

    U mỡ không phổ biến ở vú, nhưng khi xuất hiện, chúng có hình ảnh tương tự như u mỡ ở bất kỳ vị trí nào khác trên cơ thể.

    Chúng có âm vang đồng hoặc tăng âm so với mô mỡ xung quanh.

    U mỡ luôn luôn là lành tính.

    Đôi khi u mỡ không thể phân biệt được với hoại tử mỡ, vấn đề này sẽ được thảo luận tiếp theo.

    Hoại tử mỡ (Fat necrosis)

    Hoại tử mỡ là một thực thể lành tính, thường biểu hiện là một khối nhỏ có thể sờ thấy, nằm nông trong tuyến vú.

    Người ta cho rằng hoại tử mỡ là hậu quả của chấn thương, mặc dù bệnh nhân thường không nhớ rõ một sự kiện chấn thương cụ thể nào.

    Do chấn thương, mô mỡ trải qua các biến đổi khiến nó trở nên cứng hơn và đôi khi đau khi sờ nắn.

    Trên siêu âm, tổn thương thường biểu hiện là một vùng mô mỡ hơi phù nề và tăng âm so với mô mỡ xung quanh.
    Do đó có sự tương đồng với u mỡ.

    Thành phần bên trong có thể hóa lỏng và tạo thành nang dầu (oil cyst), trên siêu âm có hình ảnh tương tự như các nang thông thường khác.

    U mỡ thường mềm hơn và không đau khi sờ nắn.

    Xương sườn


    Một xương sườn nhô ra có thể tạo thành một khối cứng lồi lên, dễ nhầm lẫn với khối u vú.


    Bệnh nhân này than phiền về một khối cứng đau trong vú.

    Trên siêu âm, ghi nhận hình ảnh khớp sụn-xương sườn nhô ra.
    Đây là vị trí tiếp nối giữa phần xương đã vôi hóa của xương sườn và phần sụn.
    Các vôi hóa thường có thể được quan sát thấy trong phần sụn, như trong trường hợp này.

    Video này minh họa hình ảnh sụn xương sườn bình thường.

    Bằng cách xoay đầu dò, có thể thấy xương sườn là một cấu trúc chạy dọc, nằm phía trước phổi và phía sau cơ ngực.

    Hố Nách

    Các hạch bạch huyết vùng nách bình thường thường có kích thước nhỏ, hình bầu dục, giảm âm với trung tâm tăng âm.

    Trung tâm tăng âm chủ yếu được cấu thành bởi mô mỡ và chứa các mạch máu.

    Vỏ giảm âm bao quanh chính là mô bạch huyết thực sự.


    A normal intramammary lymph node

    Một hạch bạch huyết trong tuyến vú bình thường

    Đôi khi một hạch bạch huyết chỉ biểu hiện là một tổn thương giảm âm hình bầu dục mà không có trung tâm tăng âm rõ ràng.

    Khi quan sát thấy các mạch máu ở rốn hạch như trong trường hợp này, thì chắc chắn đây là một hạch bạch huyết.
    Thực tế, hạch bạch huyết này nằm trong nhu mô vú, tức là hạch bạch huyết trong tuyến vú (intramammary lymph node), đây là một phát hiện lành tính.


    Large axillary lymph node metastases of a small irregular carcinoma

    Di căn hạch bạch huyết vùng nách kích thước lớn từ một ung thư biểu mô nhỏ bờ không đều

    Hạch bạch huyết to

    Hạch bạch huyết to vùng nách có thể là hậu quả của di căn theo đường bạch huyết từ ung thư vú.

    Các hình ảnh này thuộc về một phụ nữ 50 tuổi đến khám vì sờ thấy các khối ở vùng nách, tương ứng với các hạch bạch huyết to, hình tròn, giảm âm.

    Tiếp theo đó, siêu âm tuyến vú được thực hiện và phát hiện một tổn thương ung thư nhỏ, giảm âm, bờ không đều, không sờ thấy được trên lâm sàng.

    Mô tuyến lạc chỗ vùng nách

    Một số phụ nữ có mô tuyến vú xơ-tuyến (fibroglandular) ở vùng nách.

    Mô này hoạt động giống hệt như mô tuyến trong vú và có thể trở nên căng tức hoặc đau vào một thời điểm nhất định trong chu kỳ kinh nguyệt.

    Hình ảnh siêu âm này thuộc về một phụ nữ trẻ đến khám vì cảm thấy sưng đau ở vùng nách.
    Hình ảnh cho thấy mô tuyến bình thường ở một vị trí bất thường.

    Túi độn ngực

    Hầu hết các túi độn ngực là túi giả được bơm đầy silicon.
    Trên siêu âm, chúng có hình ảnh tương tự một nang lớn.
    Túi độn thường được đặt ở phía sau mô tuyến vú hoặc phía sau cơ ngực lớn.

    Túi độn chứa silicon hoặc nước muối sinh lý đều có hình ảnh vô âm (xuyên âm).

    Ở hầu hết bệnh nhân, túi độn ngực có hình dạng đều đặn với bờ viền có múi.

    Đôi khi sự phân múi này có thể tạo cảm giác như có một khối u trong vú (hình minh họa).


    Collections or silicone leakage **

    Tụ dịch hoặc rò rỉ silicon **

    Rò rỉ silicon

    Khi silicon rò rỉ ra ngoài túi độn, nó sẽ tạo ra bóng lưng tăng âm hay còn gọi là bóng lưng bẩn, tương tự như hình ảnh chúng ta thấy ở phổi do không khí trong phổi gây ra.

    Hình ảnh cho thấy sự rò rỉ silicon ở phía trước túi độn.

    Tiêm silicon tự do vào vú là một phương pháp nâng ngực thay thế cho túi độn ngực.
    Phương pháp này có nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng và đã bị cấm ở nhiều quốc gia.

    Toàn bộ hình ảnh trông bị mờ nhòe.
    Đây được gọi là hình ảnh “bão tuyết” (snow storm appearance).

    Hình ảnh tương tự cũng sẽ xuất hiện trong trường hợp rò rỉ silicon ồ ạt.

    Hình ảnh một u xơ tuyến vú (fibroadenoma) nằm ở phía trước túi độn silicon.

    Siêu âm ở Nam giới

    Vú to ở nam giới (Gynecomastia)

    Vú to ở nam giới là rối loạn tuyến vú phổ biến nhất ở nam giới, thường biểu hiện bằng một khối có thể sờ thấy hoặc cảm giác đau tức vùng vú.

    Về lâm sàng, vú to ở nam giới biểu hiện là một khối mềm, di động, đau, nằm dưới quầng vú.
    Bất kỳ khối nào không nằm dưới quầng vú đều không phải là vú to ở nam giới.

    Trên siêu âm, bất thường cần được xác định ngay phía sau núm vú.

    Ung thư vú ở nam giới có hình ảnh tương tự như ung thư vú ở nữ giới.

    Các hình ảnh này là của bệnh nhân nam 70 tuổi đến khám vì sưng đau phía sau núm vú phải.
    Lưu ý rằng có một ít mô tuyến xơ ở bên phải, trong khi bên trái chỉ có mô mỡ dưới da.


    Bilateral gynecomastia in an athlete taking steroids

    Vú to hai bên ở một vận động viên có sử dụng steroid

    Trẻ sơ sinh, trẻ em trai trong giai đoạn dậy thì và nam giới lớn tuổi có thể phát triển vú to do những thay đổi bình thường trong nồng độ hormone.

    Một nguyên nhân phổ biến gây vú to ở nam giới là việc sử dụng steroid đồng hóa — loại thuốc được các vận động viên dùng để tăng cơ bắp và nâng cao thành tích.

    Bệnh nhân này có sử dụng steroid và biểu hiện vú to cả hai bên.
    Đôi khi vú to ở nam giới có thể tạo ra hình ảnh giả ung thư biểu mô, như trong các hình ảnh ở đây, nhưng may mắn thay, tổn thương xuất hiện ở cả hai bên và có tiền sử sử dụng steroid.

    Chẩn đoán vú to ở nam giới thường dễ dàng hơn khi thực hiện trên nhũ ảnh (mammogram).

    Vùng núm vú

    Vùng núm vú có thể khó khảo sát.

    Trong hầu hết các trường hợp, chỉ thấy hình ảnh dày da nhẹ và phía sau núm vú có một số ống tuyến giãn.

    Hình ảnh này của một bệnh nhân đến khám với triệu chứng núm vú bị tụt vào trong.

    Có một khối u bờ không đều phía sau núm vú với hình ảnh xâm lấn vào núm vú (mũi tên).

    Đây là một khối u khác phía sau núm vú (n).

    Các khối u này có thể rất khó phát hiện.

    Ở mọi phụ nữ có triệu chứng núm vú tụt vào trong, vùng này cần được khảo sát cẩn thận.

    Bệnh nhân này có núm vú lớn, khiến việc khảo sát vùng phía sau núm vú trở nên khó khăn.

    Một lượng lớn gel (g) đã được sử dụng để đảm bảo tiếp xúc tốt với da.

    Quan sát thấy một khối u lớn phía sau núm vú.

  • MRI tuyến vú

    MRI Tuyến Vú

    Leonard Glassman và Marieke Hazewinkel

    Ngày đăng

    Bài tổng quan này dựa trên bài trình bày của Leonard Glassman và được Marieke Hazewinkel biên soạn lại cho the Radiology Assistant.
    MRI là một công cụ mạnh mẽ: có khả năng phát hiện ung thư không thể nhìn thấy trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh thông thường, có thể được sử dụng như một công cụ giải quyết vấn đề, và có thể được áp dụng để tầm soát cho các bệnh nhân có nguy cơ cao.
    MRI tuyến vú cũng vượt trội hơn các phương thức chẩn đoán hình ảnh hiện nay trong việc theo dõi đáp ứng với hóa trị liệu.
    Phương pháp này có thể thay đổi kế hoạch điều trị ở 15-30% bệnh nhân ung thư vú.

    Chúng ta sẽ thảo luận về cách đọc MRI tuyến vú thông qua việc xem xét:

    • Hình thái học của tổn thương
    • Đặc điểm chuỗi xung T1W và T2W
    • Kiểu ngấm thuốc và động học ngấm thuốc của khối và vùng ngấm thuốc không tạo khối
    • Các tổn thương tuyến vú đặc hiệu

    Giới thiệu

    Các tổn thương ngấm thuốc được chia thành ba nhóm chính: điểm ngấm thuốc/các điểm ngấm thuốc, khối, và vùng ngấm thuốc không tạo khối (1).


    • Điểm ngấm thuốc (hoặc khi có nhiều điểm, gọi là các điểm ngấm thuốc)
      là vùng ngấm thuốc có đường kính dưới 5 mm, quá nhỏ để có thể mô tả đặc điểm.
    • Khối
    • là tổn thương ba chiều chiếm một khoang trong tuyến vú.
      Tương tự như trong nhũ ảnh và siêu âm, chúng ta xem xét hình dạng, bờ và đặc điểm bên trong của khối: bao gồm đặc điểm chuỗi xung T1W và T2W cũng như kiểu ngấm thuốc.

    • Ngấm thuốc không tạo khối
    • là các vùng ngấm thuốc không có khối ba chiều có thể xác định được.
      Các đặc điểm của ngấm thuốc không tạo khối bao gồm sự phân bố, kiểu ngấm thuốc bên trong, và tính đối xứng hay bất đối xứng của vùng ngấm thuốc.

    Điểm ngấm thuốc và các điểm ngấm thuốc

    Một trong những hình ảnh thường gặp là các ‘điểm sáng nhỏ’.
    Các điểm ngấm thuốc này là những vùng ngấm thuốc có đường kính dưới 5 mm và quá nhỏ để mô tả đặc điểm.
    Chúng có đường cong động học kiểu 1 liên tục (persistent).
    Các tổn thương này thường ổn định khi theo dõi và được xem là một phần của kiểu ngấm thuốc nền bình thường của tuyến vú.

    Khối


    Enhancing mass with an irregular shape, which proved to be an angiosarcoma

    Khối ngấm thuốc với hình dạng bất thường, được xác định là u mạch máu (angiosarcoma)

    Hình thái học

    Hình dạng
    Một khối có thể có hình tròn, bầu dục, thùy múi hoặc bất quy tắc.
    Khối dạng thùy múi có đường viền gợn sóng.
    Khối bất quy tắc có hình dạng không đều, không thể mô tả là tròn, bầu dục hay thùy múi.
    Nếu một khối có hình dạng bất quy tắc, khả năng ác tính là 32%.

    Hình ảnh bên trái cho thấy một khối lớn, bất quy tắc, được xác định là u mạch máu (angiosarcoma).

    Hình ảnh ngoài cùng bên trái là u xơ tuyến vú dạng trẻ em (juvenile fibroadenoma) – có hình bầu dục với bờ nhẵn, tức là đặc điểm điển hình của tổn thương lành tính.
    Các vách ngăn không ngấm thuốc không được thấy trong trường hợp này.
    Hình ảnh bên phải là một ví dụ khác về u xơ tuyến vú: khối dạng thùy múi với các vách ngăn không ngấm thuốc.


    Epidermal inclusion cyst with smooth margins

    Nang vùi biểu bì với bờ nhẵn

    Bờ
    Bờ có thể được mô tả là nhẵn, bất quy tắc hoặc tua gai.
    Bờ tua gai thường là đặc điểm của các tổn thương vú ác tính và sẹo hình tia.
    Nếu một khối có bờ tua gai, khả năng ác tính là 80%.

    Bên trái là hình ảnh cho thấy một khối lớn, hình tròn với bờ nhẵn, được xác định là nang vùi biểu bì.


    Invasive ductal carcinoma with spiculated margins

    Ung thư biểu mô ống xâm nhập với bờ tua gai

    Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy một khối có bờ tua gai, tức là khả năng ác tính 80%.
    Bên cạnh đó là mẫu bệnh phẩm đại thể tương ứng.
    Có thể thấy các tua gai xâm lấn vào mô xung quanh trong cả hai hình.
    Tương tự như trên nhũ ảnh, tổn thương này có khả năng ác tính cao và sẽ được phân loại BIRADS 5.

    Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy một khối có hình dạng bất quy tắc với bờ bất quy tắc, được xác định là ung thư biểu mô ống xâm nhập.
    Hình ảnh bên phải cho thấy một tổn thương tương tự có hình dạng và bờ bất quy tắc, lần này là ung thư biểu mô dạng tuyến nang (adenoid cystic carcinoma).


    LEFT: Fibroadenoma with non-enhancing septations. RIGHT: Invasive carcinoma with enhancing septations

    TRÁI: U xơ tuyến vú với các vách ngăn không ngấm thuốc. PHẢI: Ung thư biểu mô xâm nhập với các vách ngăn ngấm thuốc

    Hình ảnh bên trái là u xơ tuyến vú lành tính điển hình.
    Đây là khối dạng thùy múi với các vách ngăn không ngấm thuốc.
    Trên hình ảnh này, bờ khối có phần bất quy tắc ở một số vị trí, đây có thể là lý do để sinh thiết tổn thương này.
    Hình ảnh bên phải là ung thư biểu mô điển hình.
    Đây là khối có hình dạng bất quy tắc với bờ bất quy tắc và các vách ngăn bên trong ngấm thuốc (sự ngấm thuốc không thể hiện rõ trên hình ảnh này).


    Fat-containing hamartoma with central high signal on T1WI (arrow)

    U hamartoma chứa mỡ với tín hiệu cao trung tâm trên chuỗi xung T1W (mũi tên)

    Đặc điểm tín hiệu T1-T2

    Tăng tín hiệu trên T1
    Chuỗi xung T1 trước tiêm thuốc tương phản từ, không ức chế mỡ có thể phát hiện sự hiện diện của mỡ trong tổn thương.
    Tín hiệu cao trung tâm trên chuỗi xung T1W có thể gặp trong hạch bạch huyết trong tuyến vú hoặc hoại tử mỡ.
    Mỡ cũng được thấy trong u hamartoma.
    Hình ảnh bên trái cho thấy một ví dụ về u hamartoma chứa mỡ trong vú.
    Các tổn thương vú chứa mỡ là lành tính trừ khi chúng phát triển nhanh.
    Các tổn thương phát triển nhanh cần được sinh thiết.

    Tăng tín hiệu trên T2 ức chế mỡ
    Trên chuỗi xung T2 ức chế mỡ, chúng ta tìm kiếm sự hiện diện của nước. Các tổn thương sáng trên T2 bao gồm nang, hạch bạch huyết và hoại tử mỡ.
    Tất cả đây đều là các tổn thương lành tính.
    Tuy nhiên, có một tổn thương ác tính có cường độ tín hiệu cao trên chuỗi xung T2 ức chế mỡ, đó là ung thư biểu mô dạng keo (colloid carcinoma).
    Đây là ngoại lệ của quy tắc rằng tất cả các tổn thương có tín hiệu sáng trên chuỗi xung T2 ức chế mỡ đều là lành tính.

    Trên hình ảnh bên trái có nhiều vùng tròn ở cả hai vú.
    Đây là các nang đa ổ.


    Fibroadenoma (left) and a colloid carcinoma (right). Both are bright on T2WI.

    U xơ tuyến vú (trái) và ung thư biểu mô dạng keo (phải). Cả hai đều tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W.

    Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy một tổn thương hình tròn với tín hiệu sáng trên T2.
    Đây là u xơ tuyến vú.
    Bên phải là ví dụ về ung thư biểu mô dạng keo trong vú có mô tuyến dày đặc.
    Đây là ngoại lệ của quy tắc rằng tất cả các tổn thương có tín hiệu sáng trên chuỗi xung T2 ức chế mỡ đều là lành tính.

    Tín hiệu trung bình và thấp trên T2 ức chế mỡ
    Chuỗi xung T2 ức chế mỡ được dùng để phát hiện các tổn thương có tín hiệu cao, không phải tín hiệu trung bình hay thấp.
    Cường độ tín hiệu trung bình và thấp có thể do ung thư gây ra.

    Kiểu ngấm thuốc của khối

    Ngấm thuốc của khối xảy ra theo sáu kiểu chính:

    1. Ngấm thuốc đồng nhất là ngấm thuốc đều và lan tỏa toàn bộ khối.
    2. Ngấm thuốc không đồng nhất là ngấm thuốc không đều, thay đổi trong lòng khối.
    3. Ngấm thuốc viền ngoại vi là ngấm thuốc tập trung chủ yếu ở ngoại vi của khối.
      Kiểu ngấm thuốc này thường là đặc điểm của ung thư ống xâm nhập độ cao, hoại tử mỡ và nang viêm. Tổn thương có ngấm thuốc viền ngoại vi mà không phải nang điển hình có 40% khả năng ác tính.
    4. Vách ngăn tối bên trong đề cập đến các vách ngăn không ngấm thuốc trong một khối ngấm thuốc. Đây là đặc điểm điển hình của u xơ tuyến vú, đặc biệt khi tổn thương có bờ nhẵn hoặc dạng thùy múi.
    5. Vách ngăn bên trong ngấm thuốc thường là đặc điểm của ác tính.
    6. Ngấm thuốc trung tâm là ngấm thuốc rõ rệt của một ổ nhỏ trong lòng khối ngấm thuốc. Ngấm thuốc trung tâm có liên quan đến ung thư ống độ cao.

    Ngấm thuốc đồng nhất
    Hình ảnh bên trái cho thấy một tổn thương ngấm thuốc đồng nhất.
    Tổn thương này được xác định là ung thư biểu mô ống xâm nhập.


    Invasive lobular carcinoma with heterogenous enhancement

    Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập với ngấm thuốc không đồng nhất

    Ngấm thuốc không đồng nhất
    Bên trái, hình ảnh cho thấy một khối có hình dạng bất quy tắc với các tua gai và kiểu ngấm thuốc bên trong không đồng nhất, được xác định là ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập.


    Invasive ductal carcinoma with rim enhancement

    Ung thư biểu mô ống xâm nhập với ngấm thuốc viền ngoại vi

    Ngấm thuốc viền ngoại vi
    Hình ảnh bên trái cho thấy ngấm thuốc viền ngoại vi của một tổn thương xâm lấn mô xung quanh trong trường hợp ung thư biểu mô ống xâm nhập.


    Type 1 curve with slow rise and a continued rise with tim

    Đường cong loại 1 với pha tăng chậm và tiếp tục tăng theo thời gian

    Độ phân giải thời gian – Phân tích động học (Đường cong)

    Đầu tiên, chúng ta quan sát pha tăng ban đầu của đường cong trong một đến hai phút đầu.
    Pha này có thể là chậm, trung bình hoặc nhanh.
    Tiếp theo là pha muộn – từ hai phút trở lên sau khi tiêm thuốc tương phản từ.
    Phần này của đường cong cho thấy sự tăng tiếp tục, bình nguyên hoặc thải trừ.
    Phân tích động học mất khoảng sáu phút quét lặp lại và có thể dẫn đến ba loại đường cong.

    Loại 1
    Hình ảnh bên trái là đường cong loại 1.
    Có pha tăng chậm và tiếp tục tăng theo thời gian.
    Tổn thương có đường cong loại 1 có 6% khả năng ác tính.


    Type 3 curve with rapid initial rise, followed by washout in the delayed phase

    Đường cong loại 3 với pha tăng nhanh ban đầu, tiếp theo là thải trừ trong pha muộn

    Loại 3
    Đường cong loại 3 cho thấy pha tăng nhanh ban đầu, tiếp theo là sự giảm xuống theo thời gian (thải trừ) trong pha muộn.
    Tổn thương có loại đường cong này là ác tính trong 29-77% trường hợp.
    Đây là màu đỏ trên hệ thống CAD (Phát hiện có hỗ trợ máy tính).

    Ngấm thuốc không tạo khối

    Phân bố

    Ngấm thuốc không tạo khối là tình trạng ngấm thuốc không có đặc điểm ba chiều.
    Đây là dấu hiệu quan trọng vì xuất hiện trong một tỷ lệ đáng kể các trường hợp ung thư.
    Cần đánh giá phân bố, kiểu ngấm thuốc và tính đối xứng hoặc bất đối xứng của tổn thương.

    Bảng bên trái tóm tắt các thuật ngữ dùng để mô tả phân bố của ngấm thuốc không tạo khối trong vú.
    Khu trú (Focal) đề cập đến ngấm thuốc không tạo khối chiếm dưới 25% một góc phần tư của vú.
    Ngấm thuốc theo phân bố ống tuyến (Ductal) là ngấm thuốc theo hướng ống dẫn sữa, và là ung thư trong 60% trường hợp.
    Ngấm thuốc dạng tuyến tính (Linear) tương tự ngấm thuốc theo ống tuyến nhưng không có hướng theo ống dẫn sữa.
    Dấu hiệu này tương ứng với ung thư trong 31% trường hợp.
    Ngấm thuốc theo phân thùy (Segmental) liên quan đến nhiều ống tuyến và có 78% khả năng là ung thư.
    Ngấm thuốc vùng (Regional) không theo phân bố ống tuyến hay phân thùy nhưng rộng hơn dạng khu trú, và là ung thư trong 21% trường hợp.
    Ngấm thuốc không tạo khối lan tỏa (Diffuse) thường là lành tính.


    Focal DCIS

    DCIS khu trú

    Hình ảnh bên trái cho thấy ngấm thuốc không tạo khối dạng khu trú.
    Kết quả giải phẫu bệnh xác nhận đây là DCIS khu trú.

    Hình ảnh bên trái cho thấy ngấm thuốc không tạo khối dạng tuyến tính.
    Kết quả giải phẫu bệnh xác nhận đây là xơ hóa mô đệm (stromal fibrosis).

    Hình ảnh bên trái cho thấy một khối kèm theo các vùng ngấm thuốc không tạo khối dạng tuyến tính.
    Kết quả giải phẫu bệnh xác nhận đây là DCIS dạng tuyến tính kết hợp với ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập.


    LEFT: segmental DCIS RIGHT: regional DCIS

    TRÁI: DCIS theo phân thùy PHẢI: DCIS theo vùng

    Bên trái là các ví dụ về ngấm thuốc không tạo khối theo phân thùy và theo vùng trong DCIS.
    Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy một khối kèm theo ngấm thuốc theo ống tuyến xuất phát từ khối,
    tương ứng với sự lan rộng ra trước và ra sau của khối u trong trường hợp DCIS này.
    Hình ảnh kế bên cho thấy ví dụ về ngấm thuốc không tạo khối dạng tuyến tính theo hướng khác với hướng của các ống tuyến trong xơ hóa mô đệm.


    LEFT: Heterogeneous enhancement in invasive ductal carcinomaRIGHT: Punctate enhancement  in a hamartoma with fibrocystic change (arrows)

    TRÁI: Ngấm thuốc không đồng nhất trong ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập PHẢI: Ngấm thuốc dạng chấm trong u hamartoma kèm thay đổi xơ nang (mũi tên)

    Kiểu Ngấm Thuốc Bên Trong – Không Tạo Khối

    Ngấm thuốc không tạo khối có thể được mô tả là đồng nhất hoặc không đồng nhất, tương tự như ngấm thuốc của khối.
    Như đã đề cập, ngấm thuốc dạng chấm thường là lành tính, nhưng có thể xuất hiện khu trú. Trong trường hợp đó, có 25% khả năng là ung thư.
    Ngấm thuốc dạng cụm (Clumped) là kiểu ngấm thuốc không tạo khối quan trọng nhất cần nhận biết. Kiểu này có 60% khả năng là ung thư (thường là DCIS).

    Đối với ngấm thuốc không tạo khối, động học ngấm thuốc (kinetics) không có nhiều giá trị.
    Nếu phát hiện ngấm thuốc dạng cụm trong vú, cần tiến hành sinh thiết, ngay cả khi không có vùng nào có đường cong loại 3.

    Ngoài cùng bên trái là ngấm thuốc không đồng nhất trong ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập.
    Hình ảnh kế bên cho thấy ngấm thuốc dạng chấm trong u hamartoma kèm thay đổi xơ nang (mũi tên).


    Clumped enhancement  in DCIS

    Ngấm thuốc dạng cụm trong DCIS

    Ngấm thuốc dạng cụm
    Ngấm thuốc dạng cụm là kiểu ngấm thuốc không tạo khối quan trọng nhất cần nhận biết.
    Kiểu này có 60% khả năng là ung thư (thường là DCIS).
    Bên trái là hai ví dụ về ngấm thuốc dạng cụm trong DCIS.

    Các dấu hiệu đi kèm


    Carcinoma with extensive thickening of the skin

    Ung thư biểu mô với dày da lan rộng

    Các dấu hiệu đi kèm có thể bao gồm:

    • Xâm lấn da hoặc núm vú
    • Xâm lấn thành ngực
    • Hạch bạch huyết to

    Hình ảnh bên trái cho thấy một ung thư biểu mô tương đối nhỏ ở vú phải, kèm theo dày da lan rộng.


    Inflammatory carcinoma with thickening of the skin

    Ung thư biểu mô dạng viêm với dày da

    Hình ảnh bên trái cho thấy một ung thư biểu mô dạng viêm kích thước lớn với dày da lan tỏa.


    Enhancing large lymph node (arrow) in a patient with breast cancer

    Hạch bạch huyết kích thước lớn có ngấm thuốc (mũi tên) ở bệnh nhân ung thư vú

    Hình ảnh bên trái cho thấy một hạch bạch huyết kích thước lớn có ngấm thuốc ở bên phải.

    Các khối u vú đặc hiệu

    Nang

    Nang có tín hiệu cao trên chuỗi xung T2W có ức chế mỡ.
    Sau khi tiêm gadolinium, nang sẽ xuất hiện dưới dạng khuyết ngấm thuốc, đôi khi có ngấm thuốc viền ngoại vi.


    Classic fibroadenoma

    U xơ tuyến điển hình

    U xơ tuyến

    U xơ tuyến là tổn thương lành tính vú phổ biến nhất sau nang.
    Để xác định chắc chắn một tổn thương là u xơ tuyến, cần đáp ứng các tiêu chí sau:

    • Đặc điểm hình thái lành tính
    • Các vách ngăn không ngấm thuốc
    • Đường cong động học loại 1

    U xơ tuyến phải có đặc điểm không gian lành tính.
    Điều này có nghĩa là tổn thương không được có bờ tua gai hoặc bờ múi nhỏ.

    Bên trái là ví dụ điển hình của u xơ tuyến: một tổn thương hình tròn, bờ nhẵn
    với một số vùng đen hoặc xám ở bên trong, đó là các vách ngăn không ngấm thuốc.
    Tổn thương này có đường cong động học loại 1.


    Fibroadenoma with nonenhancing septations

    U xơ tuyến với các vách ngăn không ngấm thuốc

    Ngoài cùng bên trái là một ví dụ khác về u xơ tuyến với các vách ngăn không ngấm thuốc rõ ràng.
    Các vách ngăn này cũng có thể quan sát thấy trên tiêu bản đại thể bệnh lý.


    Two examples of a hamartoma with dark areas of fat on a fat suppressed T1WI with Gd.

    Hai ví dụ về u hamartoma với các vùng mỡ tối trên chuỗi xung T1W có ức chế mỡ sau tiêm Gd.

    Tổn thương chứa mỡ

    Chuỗi xung T1W trước tiêm thuốc, không ức chế mỡ có thể phát hiện sự hiện diện của mỡ trong tổn thương.
    Tín hiệu cao trên chuỗi xung T1W có thể gặp trong hạch bạch huyết trong tuyến vú, hoại tử mỡ và u hamartoma.
    Các vùng này sẽ tối trên chuỗi xung có ức chế mỡ.
    Bên trái là hai ví dụ điển hình về u hamartoma.
    Các tổn thương này có các vùng chứa mỡ bị ức chế trên các hình ảnh sau khi tiêm gadolinium tĩnh mạch.

    DCIS

    Động học ngấm thuốc thường không có giá trị trong DCIS, đặc biệt trong các trường hợp độ thấp.
    Nhiều trường hợp DCIS không có hiện tượng thải thuốc và thường có ngấm thuốc chậm ở pha sớm.
    Tuy nhiên, phân bố của vùng ngấm thuốc lại có ý nghĩa quan trọng.
    DCIS điển hình biểu hiện ngấm thuốc không tạo khối dạng cụm, theo ống tuyến, tuyến tính hoặc theo phân thùy.

    Bên trái là bệnh nhân có các vùng ngấm thuốc không tạo khối ở cả hai vú (DCIS).
    Có một khối ngấm thuốc nhỏ ở phía trong vú trái, được xác định là ung thư xâm lấn nhỏ.


    DCIS  and IDC

    DCIS và IDC

    Hình ảnh bên trái cho thấy một khối ngấm thuốc ở vú trái.
    Đây được xác định là ung thư xâm lấn.
    Phía ngoài khối là một vùng ngấm thuốc không tạo khối theo ống tuyến, được xác định là DCIS.


    DCIS bilaterally

    DCIS hai bên

    Bên trái là một trường hợp khác với DCIS lan tỏa hai bên.


    DCIS bilaterally

    DCIS hai bên

    Một trường hợp DCIS khác, khu trú ở phía ngoài cả hai vú.

    Các trường hợp bên trái khó chẩn đoán hơn.
    Cả hai bệnh nhân này đều có các vùng ngấm thuốc đồng nhất rộng ở vú phải.
    Ở cả hai bệnh nhân, kết quả được xác định là DCIS.


    Two cases of intraductal carcinomas

    Hai trường hợp ung thư trong ống tuyến

    Ung thư ống tuyến xâm lấn

    Hầu hết ung thư xâm lấn là loại ống tuyến, một số là loại tiểu thùy, và có một nhóm các loại hiếm gặp hơn.
    Bất kể loại ung thư nào, chúng thường biểu hiện trên MRI vú dưới dạng khối hình dạng bất thường,
    bờ tua gai với ngấm thuốc dạng viền hoặc không đồng nhất sau khi tiêm gadolinium tĩnh mạch.

    Bên trái là hai trường hợp.
    Hình ảnh ngoài cùng bên trái là ung thư ống tuyến xâm lấn biểu hiện dưới dạng khối lớn ngấm thuốc không đồng nhất.
    Kế bên là ví dụ về ung thư ống tuyến xâm lấn biểu hiện dưới dạng khối nhỏ hơn với ngấm thuốc dạng viền.


    Two cases of intraductal carcinomas

    Hai trường hợp ung thư trong ống tuyến

    Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy một khối bất thường có lan rộng theo ống tuyến, và
    bên phải là một khối bất thường lan đến thành ngực nhưng không xâm lấn vào thành ngực.
    Không có ngấm thuốc ở thành ngực.


    Two cases of invasive lobular carcinoma

    Hai trường hợp ung thư tiểu thùy xâm lấn

    Ung thư tiểu thùy xâm lấn

    Ung thư tiểu thùy xâm lấn là một trong những loại ung thư không phải lúc nào cũng
    biểu hiện ngấm thuốc nhiều trên MRI vú, điều này có thể gây khó khăn cho chẩn đoán.
    Tuy nhiên, trong hai trường hợp này, đây không phải là vấn đề.

    Hình ảnh ngoài cùng bên trái là ung thư tiểu thùy xâm lấn lan tỏa.
    Bên phải là ảnh MIP cho thấy một vùng ngấm thuốc bất thường rộng lớn, được xác định là ung thư tiểu thùy xâm lấn lan tỏa.


    Colloid carcinoma

    Ung thư dạng keo

    Ung thư dạng keo

    Hình ảnh bên trái là chuỗi xung T2W có ức chế mỡ.
    Đây là ung thư dạng keo trong một tuyến vú có mô tuyến dày đặc.
    Đây là ngoại lệ của quy tắc rằng tất cả các tổn thương có tín hiệu cao trên chuỗi xung T2W có ức chế mỡ đều là lành tính.


    Terminal duct carcinoma

    Ung thư ống tuyến tận cùng

    Các loại khác

    Ung thư ống tuyến tận cùng
    Bên trái là một khối lớn, bờ bất thường, ngấm thuốc ở bệnh nhân nam.
    Đây là ung thư ống tuyến tận cùng.

    Ung thư ống tuyến tận cùng


    Sarcoma with osseous differentiation

    Sarcoma có biệt hóa xương

    Sarcoma có biệt hóa xương
    Trường hợp bên trái là bệnh nhân có sarcoma với biệt hóa xương, biểu hiện ngấm thuốc ít hơn.

  • Túi ngực

    Túi Độn Ngực

    Hình ảnh bình thường và các biến chứng

    Esteban van Keulen, Saskia Fuchs, Maud Hegeman và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Tergooi MC tại Hilversum, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Phẫu thuật nâng ngực là thủ thuật thẩm mỹ phổ biến nhất trên toàn thế giới.
    Số lượng phụ nữ sử dụng túi độn ngực để nâng ngực thẩm mỹ hoặc tái tạo ngực ngày càng gia tăng.

    Nguy cơ vỡ túi độn tăng theo tuổi thọ của túi và được ghi nhận thường xuyên hơn trong các trường hợp tái tạo ngực sau phẫu thuật cắt tuyến vú do ung thư vú so với các trường hợp đặt túi độn vì mục đích thẩm mỹ.

    Trong bài tổng quan này, chúng tôi tập trung vào vai trò của chẩn đoán hình ảnh trong việc mô tả các đặc điểm bình thường và bất thường của các loại túi độn ngực thông dụng.

    Bài tổng quan này được xây dựng dựa trên bài trình bày của Saskia Fuchs, Esteban van Keulen và Maud Hegeman tại khóa học Sandwich của Hội Chẩn đoán Hình ảnh Hà Lan vào tháng 2 năm 2021.

    Giới thiệu

    Vị trí và loại túi độn

    Khoảng 80% túi độn ngực được đặt vì mục đích thẩm mỹ, trong khi khoảng 20% được đặt để tái tạo vú sau phẫu thuật cắt tuyến vú.
    Túi độn ngực bao gồm một lớp vỏ ngoài bằng silicone và phần nhân bên trong được làm từ silicone hoặc nước muối sinh lý.

    Bao xơ
    Tất cả các túi độn ngực đều sẽ bị bao bọc bởi bao xơ. Quá trình này có thể bắt đầu từ vài tuần đến vài năm sau khi đặt túi.
    Đây là phản ứng sinh lý của cơ thể đối với dị vật, trong đó mô xơ sẽ hình thành bao quanh túi độn.

    Túi độn ngực được đặt theo các vị trí:

    • Dưới cơ ngực (sau cơ ngực) – giữa cơ ngực lớn và cơ ngực bé, hoặc
    • Trước cơ ngực (dưới tuyến hoặc sau tuyến) – phía trước cơ ngực lớn, hoặc
    • Mặt phẳng kép – kết hợp cả hai vị trí trên – phần lớn túi độn nằm dưới cơ ngực, nhưng phần dưới-ngoài không được cơ che phủ.

    Arros indicate the pectoral muscle

    Các mũi tên chỉ vào cơ ngực

    Túi độn đặt dưới cơ ngực
    Trong kỹ thuật này, cơ ngực lớn được tách khỏi thành ngực.
    Nhìn chung, khả năng sờ thấy bờ túi độn sẽ thấp hơn.
    Hình ảnh nhũ ảnh thường ít bị biến dạng hơn so với nhóm đặt trước cơ ngực.

    Túi độn đặt trước cơ ngực
    Trong kỹ thuật đặt trước cơ ngực, túi độn được đặt phía trước cơ ngực và phía sau mô tuyến vú.
    Hiện tượng nhăn nhúm (rippling) là biến chứng thường gặp nhất.
    Hình ảnh nhũ ảnh bị biến dạng nhiều hơn một chút.

    Vị trí của túi độn so với cơ ngực được nhận biết rõ nhất trên các hình chụp tư thế chếch.


    Saline filled implant and a silicone filled implant which is cut to show the form-stable content.

    Túi độn nhân nước muối và túi độn nhân silicone được cắt đôi để thấy phần nhân có hình dạng ổn định bên trong.

    Túi độn nhân silicone
    Loại túi độn ngực được sử dụng phổ biến nhất bao gồm lớp vỏ ngoài bằng elastomer silicone và phần nhân bên trong là gel silicone.
    Phần nhân silicone đã được cải tiến qua nhiều năm để trở thành khối có hình dạng ổn định hơn (xem hình).

    Túi độn nhân nước muối
    Túi độn nhân nước muối cũng có lớp vỏ ngoài bằng silicone. Chúng có thể được sử dụng chủ yếu để nâng ngực thẩm mỹ hoặc dùng làm túi giãn mô vú trong phẫu thuật tái tạo như một thiết bị tạm thời, được bơm dần bằng nước muối sinh lý. Túi độn nhân nước muối dễ bị xẹp ngay lập tức hơn khi gặp chấn thương.

    Túi độn ngực có thể có hình tròn hoặc hình giải phẫu được tạo hình sẵn.
    Bề mặt vỏ túi có thể nhẵn hoặc có cấu trúc nhám, bao gồm cả lớp phủ polyurethane để ngăn túi xoay.
    Một số túi độn có miếng đánh dấu (patch) – là vùng có cấu trúc nhám trên bề mặt – để giữ túi cố định tại chỗ hoặc làm dấu định hướng có thể sờ thấy cho phẫu thuật viên.


    * Must be considered as an uncertain finding if it is only seen as a single sign on a single image (which is uncommon).

    * Phải được xem là dấu hiệu không chắc chắn nếu chỉ thấy đơn độc trên một hình ảnh duy nhất (điều này không thường gặp).

    Đặc điểm hình ảnh

    Bảng này tóm tắt các dấu hiệu bình thường và bất thường trên hình ảnh túi độn ngực.

    Khi dấu hiệu giọt nước (droplet), dấu hiệu thòng lọng (noose) hoặc dấu hiệu lỗ khóa (keyhole) chỉ xuất hiện đơn độc trên một hình ảnh duy nhất – điều không thường gặp – thì phải được xem là dấu hiệu không chắc chắn.

    Dấu hiệu Linguine có độ đặc hiệu cao nhất cho vỡ túi trong bao xơ.

    Dấu hiệu bình thường

    Vôi hóa bao xơ
    Vôi hóa có thể gặp ở khoảng 25% các túi độn ngực. Tỷ lệ vôi hóa bao xơ tăng dần theo tuổi của túi độn. Các vôi hóa này không phải dấu hiệu của vỡ túi, mặc dù có liên quan đến một mức độ thoái hóa nhất định của lớp vỏ túi.

    Tràn dịch
    Một lượng nhỏ dịch quanh túi độn thường gặp và hầu như luôn là bình thường.
    Tuy nhiên, đây vẫn có thể là tụ thanh dịch (seroma), tụ máu (hematoma) hoặc nhiễm trùng và cần được đối chiếu với triệu chứng lâm sàng. Không có ngưỡng đường kính tuyệt đối nào được coi là bất thường. So sánh với túi độn bên đối diện có thể hữu ích.

    Nếp gấp
    Các nếp gấp có thể sờ thấy đặc biệt hay gặp ở túi độn đặt trước cơ ngực với vị trí nông ở những phụ nữ có ít mô xung quanh. Các nếp gấp này có thể bị ấn vào và bật trở lại khi thăm khám lâm sàng. Nếp gấp là dấu hiệu bình thường.


    Capsular calcifications. Possible intracapsular rupture of the breast implant on the right.

    Vôi hóa bao xơ. Nghi ngờ vỡ túi trong bao xơ ở bên phải.

    Trên hình CT cắt ngang này, có hình ảnh dày bao xơ kèm vôi hóa bao xơ nặng nề.

    Ở bên phải, ngoài ra còn thấy hình ảnh nội dung không đồng nhất và một số đường thẳng dạng tuyến, gợi ý vỡ túi trong bao xơ.

    Thay đổi thoái hóa

    Co rút bao xơ

    Tỷ lệ co rút bao xơ lên đến 25% trong 10 năm và gặp nhiều hơn trong tái tạo vú so với nâng ngực thẩm mỹ. Bao xơ sẽ trở nên dày và cứng, hình dạng túi độn thường trở nên tròn hơn và kém đàn hồi hơn.

    Dấu hiệu giọt nước (Droplet sign)
    Dấu hiệu giọt nước và hình ảnh nội dung không đồng nhất là những thay đổi thoái hóa có thể gợi ý vỡ túi trong bao xơ, nhưng không phải bằng chứng xác định của vỡ túi.

    Vỡ túi trong bao xơ (Intracapsular rupture)

    Vỡ túi trong bao xơ xảy ra khi lớp vỏ túi độn bị vỡ nhưng bao xơ do mô vú tạo thành vẫn còn nguyên vẹn.
    Silicone không thoát ra tự do mà bị giữ lại giữa bao xơ và lớp vỏ túi.
    Điều này khiến tổn thương khó phát hiện trên thăm khám lâm sàng hoặc nhũ ảnh. Có nhiều dấu hiệu được mô tả để chỉ điểm vỡ túi trong bao xơ, nhưng tất cả đều quy về hình ảnh silicone nằm giữa bao xơ và lớp vỏ túi.
    Vỡ túi trong bao xơ được phát hiện tốt nhất trên MRI.

    Dấu hiệu giọt nước mắt (Teardrop sign)
    Đây là hình ảnh lõm khu trú của lớp vỏ silicone, nơi hai thành tiếp xúc với nhau. Một lượng nhỏ silicone nằm bên trong hình giọt nước mắt, nghĩa là silicone đã thoát ra ngoài lớp vỏ túi.

    Dấu hiệu lỗ khóa (Keyhole sign)
    Còn được gọi là dấu hiệu mũi (nose-sign). Đây là hình ảnh lõm khu trú của lớp vỏ silicone, nơi hai thành không tiếp xúc với nhau. Một lượng nhỏ silicone nằm bên trong hình lỗ khóa và ở ngoài lớp vỏ túi.

    Dấu hiệu Linguine
    Lớp vỏ túi bị vỡ xuất hiện dưới dạng các đường cong uốn lượn trông giống như sợi mì Linguine.

    Các dấu hiệu vỡ túi trong bao xơ này cần được phân biệt với hình ảnh nếp gấp bình thường, trong đó có thể chứa một ít dịch – đây là dịch quanh túi độn bình thường (xem hình).

    Vỡ túi ngoài bao xơ (Extracapsular rupture)

    Trong vỡ túi ngoài bao xơ, silicone từ túi độn bị vỡ di chuyển tự do ra ngoài lớp vỏ túi và bao xơ, xâm nhập vào mô vú xung quanh.


    Capsular calcifications and extracapsular rupture (arrow)

    Vôi hóa bao xơ và vỡ túi ngoài bao xơ (mũi tên)

    Trên nhũ ảnh năm 2019 cho thấy vôi hóa bao xơ lan rộng và hình dạng rất tròn của túi độn ngực.
    Điều này gợi ý co rút bao xơ của túi độn.

    Tại lần tái khám năm 2020, đường bờ đã thay đổi và hiện có silicone thoát ra ngoài bao xơ, đây là dấu hiệu xác định của vỡ túi ngoài bao xơ (mũi tên).

    Bệnh nhân cao tuổi này không muốn phẫu thuật mà chỉ muốn tầm soát khả năng ác tính.

    Tại lần tái khám năm 2022, hình ảnh không thay đổi nhiều. Gel silicone hiện đại có độ kết dính cao hơn và ít có xu hướng lan rộng hơn.

    Báo cáo kết quả

    Khi thăm khám bệnh nhân bằng siêu âm, cần ghi nhận mức độ đánh giá được của túi độn.
    Tình trạng túi độn có thể bị che khuất bởi vôi hóa bao xơ hoặc bờ sau của túi có thể khó quan sát trong trường hợp túi độn có thể tích lớn.

    Không áp dụng phân loại Bi-Rads trong báo cáo MRI vì giao thức chụp này không có khả năng phát hiện ung thư vú.

    Siêu âm


    Envelope (yellow arrow) and capsule (white arrow) anterior to the envelope

    Vỏ bọc (mũi tên vàng) và bao xơ (mũi tên trắng) nằm phía trước vỏ bọc

    Hình ảnh bình thường

    Dấu hiệu Oreo ngược
    Vỏ bọc của túi độn có thể được nhìn thấy như một chiếc bánh Oreo lật ngược. Đường trắng đầu tiên là mặt tiếp xúc bên ngoài của vỏ bọc và đường trắng thứ hai là mặt tiếp xúc bên trong giữa vỏ bọc và gel Silicone (mũi tên vàng).
    Giữa lớp ngoài của vỏ bọc và bao xơ xung quanh tồn tại một khoang ảo có thể được lấp đầy và giãn rộng.

    Bao xơ được nhìn thấy tách biệt khỏi vỏ bọc như một đường trắng riêng biệt nằm phía trước vỏ bọc (mũi tên trắng).

    Vỏ bọc và bao xơ cùng nhau được gọi là phức hợp vỏ bọc-bao xơ.

    Vị trí của túi độn ngực được đánh giá tốt nhất ở góc phần tư trên ngoài. Cần xác định cơ ngực trong mối tương quan với túi độn.
    Phần dưới của túi độn thường không được cơ ngực che phủ hoàn toàn.

    Hình ảnh
    Đây là túi độn ngực ở vị trí dưới cơ ngực.
    Cơ ngực lớn được nhìn thấy ở phía trước túi độn.
    Về phía đuôi, cơ ngực lớn mỏng dần và sẽ khó quan sát hơn.


    Step off sign in silicone prosthesis

    Dấu hiệu bậc thang (step off sign) trong túi độn silicone

    Dấu hiệu bậc thang (Step off sign)

    Dấu hiệu bậc thang là một xảo ảnh gây ra bởi tốc độ truyền âm thấp hơn của sóng siêu âm qua Silicone (970 m/giây trong gel Silicone so với 1540 m/giây qua nước).
    Hệ quả là thành ngực có vẻ sâu hơn ở vị trí tương ứng với túi độn.

    Xảo ảnh này không xuất hiện trong các túi độn chứa nước muối sinh lý.

    Hình ảnh dưới đây cho thấy sự khác biệt giữa túi độn nước muối sinh lý và túi độn silicone.


    Capsular calcifications

    Vôi hóa bao xơ

    Vôi hóa bao xơ
    Vôi hóa bao xơ có thể xuất hiện đơn độc hoặc đa ổ.
    Đôi khi chúng có dạng tuyến tính hoặc lan tỏa và dày.


    Reverberation artefacts

    Xảo ảnh dội âm (Reverberation artefacts)

    Xảo ảnh dội âm (Reverberation artefacts)

    Ở vùng phía trước của túi độn, thường có thể quan sát thấy các đường ngang song song tăng âm do xảo ảnh dội âm gây ra.

    Các xảo ảnh này có thể được giảm thiểu bằng cách giảm lực ép của đầu dò hoặc sử dụng kỹ thuật tạo ảnh hài (harmonic imaging).


    Normal inhomogeneous aspect postoperative

    Hình ảnh không đồng nhất bình thường sau phẫu thuật

    Hình ảnh nội tại lan tỏa, hơi không đồng nhất của túi độn ngực (BI) có thể gặp, kể cả ngay sau phẫu thuật. Do đó, hình ảnh này khi không kèm theo các dấu hiệu biến chứng khác không đủ để chẩn đoán xác định vỡ túi trong bao xơ.


    Capsular calcifications versus extracapsular leakage of Silicone.

    Vôi hóa bao xơ so với rò rỉ Silicone ngoài bao xơ.

    Đôi khi khi có một lớp vôi hóa dày, hình ảnh có thể bắt chước xảo ảnh bão tuyết (snowstorm artefact), vốn được gây ra bởi gel silicone thoát ra ngoài.

    Hình ảnh
    Bên trái: vôi hóa dày đặc.
    Bên phải: xảo ảnh bão tuyết do rò rỉ silicone gel ngoài bao xơ.


    Different types of valves

    Các loại van khác nhau

    Hình ảnh

    A. Túi độn nước muối sinh lý có van bơm.

    B. Màng ngăn (diaphragm) đối xứng, bờ rõ nét, nằm ở trung tâm, có thể bắt chước hình ảnh bất thường của vỏ bọc.

    C. Loại bình chứa khác.


    Band-like marking on a breast implant

    Dấu hiệu đánh dấu dạng dải trên túi độn ngực

    Dấu hiệu đánh dấu (Markings)

    Hình chụp nhũ ảnh cho thấy túi độn ngực có một dải vòng nhỏ.

    Trên siêu âm, cấu trúc này được nhận diện là một cấu trúc tuyến tính khi quan sát trên hai mặt phẳng (hình tròn trên mặt cắt ngang và các mũi tên trên mặt cắt đứng dọc).

    Không nên nhầm lẫn hình ảnh này với tổn thương vỏ bọc.

    Một lượng nhỏ dịch quanh túi độn không có âm vang (anechoic) là bình thường (hình bên trái).

    Lượng dịch tràn ngày càng tăng hoặc dịch có âm vang hơn có thể được chọc hút để xét nghiệm, tùy thuộc vào biểu hiện lâm sàng.

    Nếp gấp

    Nếp gấp xuất hiện dưới nhiều hình thái khác nhau và có tính chất động.
    Khi gấp ra ngoài, chúng đôi khi có thể sờ thấy được, đặc biệt ở các rìa của túi độn ngực và ở những vị trí có ít mô giữa túi độn và da.

    Các nếp gấp này là hình ảnh bình thường.

    Nếp gấp hướng tâm (Radial folds)

    Các đường thẳng hoặc đường cong sâu bên trong túi độn có thể khó đánh giá.

    Liệu chúng là các nếp gấp hướng tâm bên trong hay là một phần của vỏ bọc bị xẹp do vỡ túi trong bao xơ? Cần tìm kiếm thêm các dấu hiệu khác và theo dõi đường đi của chúng để xem có liên tục với vỏ bọc hay không.

    Trong một số trường hợp, cần chụp MRI để giải quyết vấn đề này.

    Vỡ túi trong bao xơ (Intracapsular rupture)

    Khi vỏ bọc bị vỡ nhưng bao xơ vẫn còn nguyên vẹn, tình trạng này được gọi là vỡ túi trong bao xơ.
    Silicone di chuyển vào khoang giữa vỏ bọc và bao xơ, nhưng không di chuyển vào mô vú hoặc ra ngoài.

    Các dấu hiệu cần tìm kiếm:

    • Dấu hiệu dưới bao xơ (Subcapsular sign): Các đường song song nằm bên trong lòng túi độn ngực, không đi theo phức hợp vỏ bọc-bao xơ bên ngoài.
    • Dấu hiệu thang (Stepladder sign): Nhiều lớp đường song song nằm bên trong lòng túi độn.
      Dấu hiệu này tương tự dấu hiệu Linguine quan sát được trên MRI.
    • Xảo ảnh bão tuyết (Snowstorm artefacts) nằm ngoài vỏ bọc

    Dấu hiệu thang (Stepladder sign)

    Siêu âm có thể phát hiện vỡ túi trong bao xơ bằng cách xác định một chuỗi các đường thẳng hoặc đường cong tăng âm nằm ngang, tương đối song song với nhau, đi ngang qua bên trong lòng túi độn, thường được gọi là “dấu hiệu thang” (stepladder sign).

    Điều quan trọng là không được nhầm lẫn dấu hiệu thang với các nếp gấp hướng tâm nổi bật bình thường.

    Hình ảnh
    Thêm các ví dụ về “dấu hiệu thang”.


    Stepladder sign in a patient with extreme capsular calcifications.

    Dấu hiệu thang ở bệnh nhân có vôi hóa bao xơ nặng nề.

    Ở bệnh nhân này, vôi hóa bao xơ nặng nề đã che khuất tình trạng của túi độn.
    Tuy nhiên, khi quan sát từ một góc độ khác, dấu hiệu thang cho thấy rõ ràng có vỡ túi.

    Do vôi hóa lan rộng, không thể xác định chắc chắn liệu đây chỉ là vỡ túi trong bao xơ hay còn kèm theo rò rỉ Silicone ngoài bao xơ.


    Intracapsular rupture

    Vỡ túi trong bao xơ

    A. Không còn nhìn thấy vỏ bọc xung quanh bề mặt túi độn. Nội dung bên trong hoàn toàn không đồng nhất và thoái hóa.

    B. Vỏ bọc bị xẹp (mũi tên vàng) và không đi theo phức hợp vỏ bọc-bao xơ bên ngoài (mũi tên trắng).
    Có một khối tập hợp không đồng nhất chứa Silicone nằm giữa vỏ bọc và bao xơ.

    Vỡ túi ngoài bao xơ (Extracapsular rupture)

    MRI

    Giao thức chụp

    MRI là tiêu chuẩn vàng để đánh giá tính toàn vẹn của túi độn ngực, với độ nhạy 80-90% và độ đặc hiệu 90-97% trong phát hiện vỡ túi.

    MRI có độ phân giải không gian cao và khả năng ức chế hoặc tăng cường tín hiệu của Silicone, nước và mỡ.
    Có thể kết hợp nhiều chuỗi xung để phát hiện các biến chứng.
    Không cần tiêm Gadolinium tĩnh mạch.

    Chuỗi xung T2W
    Đây là chuỗi xung tốt nhất để khảo sát giải phẫu, cung cấp độ phân giải cao. Chuỗi xung này cũng cung cấp thông tin về tình trạng hạch bạch huyết.

    Hình ảnh chỉ hiển thị Silicone
    Đây là chuỗi xung STIR, trong đó mỡ bị ức chế, kết hợp với ức chế tín hiệu nước. Kết quả là chỉ còn tín hiệu của vật liệu silicone. Chuỗi xung này lý tưởng để khảo sát tình trạng vỡ vỏ túi và phát hiện silicone nằm ngoài vỏ túi hoặc ngoài bao xơ.

    Hình ảnh chỉ hiển thị nước
    Sự kết hợp giữa bão hòa mỡ và ức chế silicone cung cấp thông tin về các ổ dịch tụ bên trong hoặc xung quanh túi độn.

    Hình ảnh bình thường

    Tràn dịch lượng nhỏ thường gặp trên hình ảnh.
    Chúng có cường độ tín hiệu khác với Silicone và không nên nhầm lẫn với dấu hiệu lỗ khóa (keyhole sign).

    Chuỗi xung T2W cho thấy dịch tràn lấp đầy khoang ảo giữa vỏ túi và bao xơ. Đây là hình ảnh bình thường.

    Chuỗi xung T1W cho thấy bao xơ dày giảm tín hiệu. Bao xơ sẽ giảm tín hiệu trên mọi chuỗi xung.
    Bờ viền của túi độn tròn đều hơn, gợi ý tình trạng co rút bao xơ.

    Mặc dù các dấu hiệu co rút có thể quan sát rõ trên hình ảnh, mức độ co rút được đánh giá bằng khám lâm sàng.


    Normal radial folds

    Nếp gấp hướng tâm bình thường

    Các nếp gấp hướng tâm là những chỗ gấp vào trong của vỏ túi, kéo dài từ bề mặt vào trong khối gel.
    Đây cũng là hình ảnh bình thường.
    Phần nội dung bên trong các đường nếp gấp không được chứa Silicone.


    Normal radial folds

    Nếp gấp hướng tâm bình thường

    Thêm các ví dụ về nếp gấp hướng tâm bình thường.


    Normal radial folds

    Nếp gấp hướng tâm bình thường

    Đây là thêm các ví dụ về tình trạng gấp vào trong bình thường của vỏ túi.
    Không có thành phần silicone bên trong các nếp gấp này.


    Normal radial folds

    Nếp gấp hướng tâm bình thường

    Một ví dụ khác về đường đi sâu và rộng của các nếp gấp hướng tâm bình thường.

    Dấu hiệu giọt nước (Water droplet sign)

    Nhiều giọt tròn nhỏ có tín hiệu dịch nằm bên trong khối gel silicone có thể là dấu hiệu thoái hóa.
    Tuy nhiên, cần có thêm các dấu hiệu khác để xem xét khả năng vỡ túi.

    Vỡ túi trong bao xơ

    Khi có silicone bên trong một nếp gấp, đó là dấu hiệu của vỡ túi trong bao xơ.

    Các hình ảnh cho thấy:

    • Dấu hiệu giọt nước mắt (Teardrop sign): hai thành vỏ túi chạm vào nhau (1).
    • Dấu hiệu lỗ khóa hoặc dấu hiệu thòng lọng (Keyhole/Noose sign): các hình dạng khác nhau, hai thành vỏ túi không chạm vào nhau (2-3).

    Đây là một ví dụ khác về các biểu hiện khác nhau của vỡ túi trong bao xơ, với silicone nằm ngoài vỏ túi nhưng còn trong bao xơ.

    • Đường dưới bao xơ (subcapsular line) (mũi tên vàng)
    • Dấu hiệu mũi (nose sign) (mũi tên xanh dương)
    • Dấu hiệu giọt nước mắt (teardrop sign) (mũi tên đỏ)

    Dấu hiệu Linguine

    Đây là dấu hiệu đáng tin cậy nhất của vỡ túi trong bao xơ.
    Các đường cong uốn lượn được tạo thành bởi vỏ túi bị vỡ trông giống như sợi mì Linguine.


    Trước tiên hãy quan sát hình ảnh và trả lời các câu hỏi sau:

    1. Bạn nhận thấy những dấu hiệu nào.
    2. Mức độ nghi ngờ vỡ túi của mỗi dấu hiệu là bao nhiêu?

    Sau đó cuộn hình ảnh.

    • Màu xanh lá: thoái hóa nhưng không phải dấu hiệu vỡ túi.
    • Màu cam: nghi ngờ vỡ túi trong bao xơ nhưng chưa phải dấu hiệu xác định. Cần các chuỗi xung khác để xác định đây có phải là Silicone hay không.
    • Màu đỏ: Dấu hiệu Linguine – bằng chứng của vỡ túi trong bao xơ.

    Vỡ túi ngoài bao xơ

    Bệnh nhân nữ này có vỡ túi ngoài bao xơ bên phải với silicone nằm ngoài bao xơ dày (mũi tên trắng).

    Ở vú trái có vỡ túi trong bao xơ được biểu hiện bằng đường dưới bao xơ với silicone ở cả hai phía của đường này (mũi tên vàng).

    Một ví dụ khác về vỡ túi ngoài bao xơ với silicone nằm ngoài ranh giới bao xơ.


    Residual Silicone after explantation

    Silicone tồn dư sau khi tháo túi độn

    Bệnh nhân này đã được phẫu thuật tháo túi độn ngực hai bên.
    Bên phải có tín hiệu cao của vật liệu silicone trong các hạch bạch huyết (mũi tên trắng).

    Bên trái có silicone tồn dư ở phía trước và phía sau cơ ngực lớn (mũi tên vàng) và cả bên trong cơ.

    Khi một túi độn silicone mới được đặt vào, lượng silicone tồn dư này không nên bị nhầm lẫn với tình trạng rò rỉ ngoài bao xơ của túi độn mới.

    BIA-ALCL

    U Lympho Tế Bào Lớn Dạng Nguyên Bào

    BIA-ALCL (u lympho tế bào lớn dạng nguyên bào liên quan đến túi ngực) là một biến chứng quan trọng cần lưu ý đối với các túi ngực độn silicon và nước muối sinh lý.

    BIA-ALCL phát triển chủ yếu, nếu không muốn nói là hoàn toàn, ở những bệnh nhân có túi ngực bề mặt nhám.
    Tỷ lệ lưu hành ước tính ở nhóm túi ngực này là 1:30.000.
    Phần lớn các trường hợp BIA-ALCL được ghi nhận trên túi ngực bề mặt nhám Allergan Biocell và loại túi này sau đó đã bị thu hồi khỏi thị trường.

    Hai phần ba bệnh nhân BIA-ALCL biểu hiện bằng triệu chứng khó chịu và sưng nề do sự hình thành tràn dịch quanh túi ngực (85%), trong đó phát hiện các tế bào lympho không điển hình. Đôi khi có kèm theo khối u trong 15% trường hợp.

    Bất kỳ trường hợp tràn dịch hoặc khối u một bên xuất hiện muộn nào cũng cần được chọc hút và phân tích tế bào học.

    Phân giai đoạn bệnh được thực hiện bằng PET-CT, tương tự như các loại u lympho khác.

    Phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán ở Giai đoạn 1.
    Phương pháp điều trị là phẫu thuật cắt bỏ túi ngực, bao xơ và khối u (nếu có).

    Tiên lượng thuận lợi khi được điều trị sớm.

    X-Quang và CT

    X-Quang ngực và CT không đóng vai trò trong việc khảo sát túi ngực nhân tạo.

    Đôi khi chúng có thể được phát hiện trên X-Quang, chẳng hạn khi có vôi hóa bao xơ hoặc khi nhìn thấy van bơm của túi giãn nở (mũi tên).

    Trên CT đôi khi cũng có thể thấy các biến chứng, nhưng thông thường CT không cung cấp đủ thông tin về tình trạng toàn vẹn của túi ngực.


    Intracapsular rupture

    Vỡ túi trong bao xơ

    Phim ngực thẳng cho thấy vôi hóa bao xơ trong một túi ngực nhân tạo bị di lệch vào trong, không song song với đường viền tuyến vú.

    CT của cùng bệnh nhân này cũng cho thấy vôi hóa ở mặt sau không đi theo đường viền của túi ngực, gợi ý vỡ túi trong bao xơ (mũi tên).


    Saline filled prosthesis

    Túi ngực bơm nước muối sinh lý

    Một túi ngực còn nguyên vẹn có tỷ trọng bên trong đồng nhất màu xám trên CT, với lớp vỏ bao và bao xơ mỏng bao quanh có tỷ trọng cao hơn một chút.

    Các bất thường về vị trí và các loại van bơm khác nhau đôi khi có thể được nhận thấy.

    Bệnh nhân này có túi ngực bơm nước muối sinh lý với tỷ trọng bên trong thấp.
    Quan sát thấy lớp vỏ bao mỏng, đều đặn, tỷ trọng cao hơn một chút.


    Metallic valve

    Van kim loại

    Trên CT có thể thấy các loại van bơm khác nhau của túi ngực nhân tạo.

    Vôi hóa bao xơ thường gặp và đôi khi có thể thấy dấu hiệu Linguine (mũi tên).

    Trong hầu hết các trường hợp, các phát hiện trên CT sẽ không có tính kết luận.

    Túi ngực bên trái của bệnh nhân này cho thấy vôi hóa bao xơ không nằm ở ngoại vi và có tính chất gián đoạn.

    Chưa rõ đây là vỡ túi ngoài bao xơ hay có tràn dịch lượng nhiều.

    Chụp nhũ ảnh (Mammography)

    Cùng một bệnh nhân trước và sau khi đặt túi ngực trước cơ ngực (prepectoral).
    Đặc biệt, túi ngực đặt trước cơ ngực có thể làm giảm khả năng đánh giá trên nhũ ảnh.

    Tuy nhiên, chụp nhũ ảnh thông thường và chụp cắt lớp tổng hợp 3D (3D tomosynthesis) vẫn có thể thực hiện tốt và thực tế có giá trị tiên đoán dương tính (PPV) cao nhất trong việc phát hiện silicon ngoài bao xơ.
    Phương pháp này cũng giúp phát hiện khách quan các thay đổi theo thời gian, hiển thị các vôi hóa, có thể thấy bóng mờ dịch xung quanh và tất nhiên bổ sung các phát hiện quan trọng trong mô tuyến vú.

    Kỹ thuật Eklund

    Có thể thực hiện các tư thế chụp đặc biệt như tư thế Eklund.
    Bằng cách đẩy túi ngực ra phía sau và kéo mô vú ra phía trước, có thể quan sát mô tuyến vú tốt hơn.

    Chụp cắt lớp tổng hợp (Tomosynthesis)

    Chụp cắt lớp tổng hợp có thể rất hữu ích như trong trường hợp này.
    Có một khối ở phía bên ngoài, được thấy rõ nhất trên hình ảnh cắt lớp 3D.
    Sinh thiết dưới hướng dẫn siêu âm đã được thực hiện và khối này được xác định là u xơ tuyến vú (fibroadenoma).

    Trên nhũ ảnh này, có cả vôi hóa trong bao xơ lẫn vôi hóa ngoài bao xơ không điển hình.

    Hình ảnh chi tiết của bệnh phẩm cho thấy khối và các vôi hóa tập trung thành nhóm.

    Giải phẫu bệnh: ung thư vú độ 2, không có loại đặc biệt (NST – No Special Type).

    Người phụ nữ này có túi ngực chứa nước muối sinh lý và cho thấy hình ảnh van bơm dạng đĩa dẹt.
    Có một khối, rõ hơn trên hình ảnh chụp cắt lớp tổng hợp (lát cắt 56 trong tổng số 73).

    Đây là một khối có bờ tua gai.
    Giải phẫu bệnh: ung thư tiểu thùy xâm nhập độ 2 và ung thư tiểu thùy tại chỗ (LCIS).

    Một ví dụ khác về giá trị của chụp cắt lớp tổng hợp.

    Khối u được thấy rõ nhất trên hình ảnh cắt lớp.

    Biến chứng của túi ngực

    Tư thế chụp chếch của vú phải cho thấy túi ngực chứa nước muối sinh lý bị vỡ và xẹp.

    Bên trái là hình ảnh túi ngực chứa nước muối sinh lý bình thường với van bơm.

    Trong hình A, có các vôi hóa bao xơ trước cơ ngực của túi ngực cũ và một túi ngực đặt dưới cơ ngực.

    Trong hình B là tình trạng sau phẫu thuật cắt bao xơ và thay thế túi ngực đặt dưới cơ ngực.


    Silicone leakage

    Rò rỉ silicon

    Hình ảnh điển hình của silicon ngoài bao xơ biểu hiện dưới dạng các khối đậm đặc, bờ rõ nằm ngoài bờ viền của túi ngực.


    Silicone granulomas

    U hạt silicon

    U hạt silicon

    Các u hạt silicon còn tồn lại sau khi tháo bỏ túi ngực do vỡ ngoài bao xơ trước đó vào năm 2013.

    U hạt silicon có thể biểu hiện dưới dạng các khối có hình thái đáng ngờ và động học ngấm thuốc tương phản từ trên MRI vú, hoặc tăng hấp thu FDG trên PET-CT.
    Chúng có thể xuất hiện ở ngoại vi của túi ngực hoặc trong mô vú sau khi vỡ.

    Sự hiện diện của túi ngực silicon và nhận thức về khả năng vỡ túi cũng như hình thành u hạt silicon có thể giúp đưa ra chẩn đoán chính xác (tài liệu tham khảo).


    Free silicone breast injections

    Tiêm silicon tự do vào vú

    Tiêm silicon tự do vào vú

    Đây là một hình thức nâng ngực thay thế, mặc dù có nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng và bị cấm ở nhiều quốc gia.

    Bệnh nhân này đến từ Philippines với biểu hiện các cục đau hai bên vú.

    Các vùng đậm đặc lan rộng ở cả hai vú là kết quả của việc tiêm silicon trực tiếp vào tuyến vú.

    Tiếp tục xem hình ảnh MRI…

    Hình ảnh MRI của cùng bệnh nhân cho thấy silicon tự do biểu hiện dưới dạng các vùng tăng tín hiệu trên chuỗi xung chỉ hiển thị silicon (silicone-only sequence).

    Phẫu thuật

    Cắt bỏ bao xơ dày

    Trong video này, đầu tiên một đường rạch được thực hiện vào bao xơ đã dày lên.
    Túi độn sau đó được lấy ra qua đường rạch này.

    Cuối cùng, bao xơ dày được cắt bỏ.

  • Phân giai đoạn và điều trị ung thư vú

    Phân giai đoạn và Điều trị Ung thư Vú

    Robin Smithuis, Janneke de Bes và Anneke Zeillemaker

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh và Khoa Ngoại của Bệnh viện Alrijne, Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện, phân giai đoạn ung thư vú và theo dõi đáp ứng điều trị.

    Trong bối cảnh phác đồ điều trị ung thư vú đang thay đổi nhanh chóng, việc nắm vững hệ thống phân loại giai đoạn bệnh cũng như các lựa chọn điều trị hiện có — bao gồm phẫu thuật, xạ trị và điều trị nội khoa ung thư — là điều thiết yếu nhằm cung cấp thông tin phù hợp và tối ưu hóa chăm sóc bệnh nhân.

    Bài viết này trình bày tổng quan về phân giai đoạn và điều trị ung thư vú.
    Cần lưu ý rằng chiến lược điều trị có thể khác nhau tùy theo từng cơ sở y tế, và các liệu pháp nhắm trúng đích mới hiện đang được nghiên cứu phát triển.

    Tổng quan


    Click to enlarge

    Nhấp để phóng to

    Tổng quan về phân giai đoạn và điều trị 1

    Đây là hình minh họa sơ đồ về phân giai đoạn và điều trị ở bệnh nhân ung thư vú.

    1. Bệnh nhân ung thư vú trước tiên được phân giai đoạn lâm sàng, cho ra kết quả giai đoạn cTNM. Kế hoạch điều trị sau đó được thảo luận trong nhóm đa chuyên khoa.
    2. Ở nhiều bệnh nhân, phẫu thuật sẽ là bước tiếp theo. Ngày càng có nhiều trường hợp được chỉ định hóa trị tân bổ trợ nhằm giảm gánh nặng khối u trước phẫu thuật.
    3. Sau phẫu thuật, các bệnh phẩm phẫu thuật (khối u, hạch gác hay hạch nách sau nạo vét) được nhà giải phẫu bệnh phân tích.
      Kết quả này cho ra giai đoạn pTNM. Sau liệu pháp tân bổ trợ, chữ y được thêm vào và được gọi là giai đoạn ypTNM.
    4. Dựa trên giai đoạn pTNM hoặc ypTNM, các phương án điều trị bổ sung bao gồm hóa trị bổ trợ, xạ trị và liệu pháp nội tiết hoặc nhắm đích HER-2 sẽ được thảo luận trong nhóm đa chuyên khoa.
    • c – lâm sàng (clinical)
    • p – giải phẫu bệnh (pathology)
    • y – sau liệu pháp tân bổ trợ (post neoadjuvant therapy)

    Mỗi hình ảnh đều có thể nhấp để phóng to.

    Tổng quan về phân giai đoạn và điều trị 2

    Bảng này trình bày phân giai đoạn và điều trị ung thư vú theo cách sơ đồ hóa hơn.

    cTNM

    Ung thư vú trước tiên được phân giai đoạn lâm sàng.

    cTNM mô tả mức độ xâm lấn tại chỗ của vú (T), hạch bạch huyết vùng (N) và bệnh toàn thân, tức là di căn xa (M). Bệnh toàn thân (hay bệnh giai đoạn 4) không được đưa vào bảng này.

    Kết quả này cho ra các chẩn đoán có thể gặp bao gồm: DCIS (ung thư biểu mô tại chỗ), ung thư khu trú, ung thư tiến triển tại chỗ-vùng và ung thư có di căn xa.

    Thuật ngữ ‘lâm sàng’ trong giai đoạn TNM lâm sàng đôi khi có thể gây nhầm lẫn.

    Người ta có thể nghĩ rằng việc phân giai đoạn này chủ yếu dựa trên kết quả thăm khám lâm sàng, nhưng thực tế nó phần lớn dựa trên kết quả chẩn đoán hình ảnh và sinh thiết dưới hướng dẫn hình ảnh.

    Hóa trị tân bổ trợ

    Hóa trị tân bổ trợ (từ neo: trước và adjuvare: hỗ trợ) được chỉ định cho bệnh nhân ung thư tiến triển tại chỗ-vùng nhằm giảm gánh nặng khối u trước phẫu thuật.

    Ở những bệnh nhân ung thư khu trú có chỉ định điều trị bổ trợ (xem bảng phần điều trị bổ trợ), liệu pháp này có thể được thực hiện trước phẫu thuật (tân bổ trợ) hoặc sau phẫu thuật (bổ trợ).

    Hạch gác (Sentinel Node)

    Ở những bệnh nhân không phát hiện được di căn hạch bạch huyết nách qua chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) dưới hướng dẫn siêu âm, thủ thuật sinh thiết hạch gác được thực hiện nhằm thu thập thông tin về tình trạng hạch bạch huyết vùng nách.

    Phẫu thuật bảo tồn vú hoặc cắt bỏ tuyến vú

    Phẫu thuật bảo tồn vú (BCT) được thực hiện khi có thể cắt bỏ khối u với kết quả thẩm mỹ tốt. Phẫu thuật luôn được tiếp nối bằng xạ trị.

    Kết quả thẩm mỹ tốt phụ thuộc vào kích thước khối u và kích thước tuyến vú.

    Ngày nay, có thể điều trị các khối u lớn hơn bằng BCT thông qua áp dụng phẫu thuật tạo hình và tái tạo với kỹ thuật ghép mỡ và vạt da.

    Nếu BCT không khả thi – hoặc theo nguyện vọng của bệnh nhân – thì phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú sẽ được thực hiện.

    Xạ trị

    Kế hoạch điều trị được xây dựng dựa trên giai đoạn cuối cùng và các đặc điểm của khối u.

    Hóa trị toàn thân bổ trợ và liệu pháp nội tiết là các lựa chọn điều trị bổ sung sau điều trị tại chỗ-vùng ban đầu. Các phương pháp này nhằm mục đích tiêu diệt bất kỳ ổ di căn xa tiềm ẩn nào có thể hiện diện nhưng chưa thể phát hiện được.

    Điều trị bổ trợ có thể bao gồm hóa trị và/hoặc herceptin và/hoặc liệu pháp nội tiết.

    Lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào:

    • Tuổi của bệnh nhân
    • Kích thước khối u
    • Tình trạng hạch bạch huyết
    • Độ mô học của khối u
    • Thụ thể estrogen, progesterone và HER 2-neu

    DCIS


    Có nhiều vôi hóa nhỏ, dạng tuyến tính phân bố trên một vùng rộng lớn của vú. Đây là các vôi hóa nghi ngờ và thường gặp trong DCIS. Nhấp để phóng to

    Có nhiều vôi hóa nhỏ, dạng tuyến tính phân bố trên một vùng rộng lớn của vú. Đây là các vôi hóa nghi ngờ và thường gặp trong DCIS. Nhấp để phóng to

    Ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS) là loại ung thư vú không xâm lấn phổ biến nhất.

    Tại chỗ có nghĩa là ‘nguyên vị‘ và đề cập đến việc tế bào ung thư chưa thoát ra khỏi ống tuyến và chưa xâm lấn vào mô xung quanh.
    DCIS có thể tiến triển thành ung thư xâm lấn, tuy nhiên các ước tính về khả năng này còn nhiều khác biệt.

    80% trường hợp DCIS được chẩn đoán chỉ dựa trên nhũ ảnh thông qua hình ảnh vi vôi hóa (hình minh họa), tiếp theo là sinh thiết hút chân không. Rất ít trường hợp DCIS biểu hiện dưới dạng khối sờ thấy được.

    Vấn đề đặt ra với DCIS là:

    • Kích thước của DCIS được xác định dựa trên diện tích vùng có vi vôi hóa, nhưng điều này thường bị đánh giá thấp hơn thực tế. Hệ quả là tỷ lệ phải cắt lại trong DCIS cao hơn so với ung thư xâm lấn không kèm DCIS.
    • Ở 15-20% bệnh nhân ban đầu được chẩn đoán DCIS, nhà giải phẫu bệnh phát hiện ung thư xâm lấn trong bệnh phẩm cắt bỏ. Điều này xảy ra thường xuyên hơn trong DCIS độ II và III. Những bệnh nhân này sẽ phải được điều trị như trường hợp ung thư xâm lấn.

    Do những vấn đề này, tại một số cơ sở y tế, MRI tiền phẫu được thực hiện trong các trường hợp DCIS độ cao để xác định rõ hơn mức độ lan rộng của khối u và đánh giá các dấu hiệu xâm lấn.

    Liệu điều này có mang lại lợi ích cho bệnh nhân hay không vẫn còn chưa được làm rõ.

    Điều trị DCIS
    bao gồm liệu pháp bảo tồn vú (BCT) hoặc cắt bỏ tuyến vú tùy thuộc vào khả năng cắt bỏ u với kết quả thẩm mỹ tốt, và tất nhiên, phụ thuộc vào nguyện vọng của bệnh nhân.

    BCT
    bao gồm cắt bỏ u hoàn toàn về mặt vi thể và xạ trị. Có thể cân nhắc xạ trị tăng cường (boost), đặc biệt ở bệnh nhân trẻ tuổi.

    Thủ thuật hạch cửa
    nên được cân nhắc ở những bệnh nhân có khả năng có thêm ung thư xâm lấn (xem bảng).

    Bệnh phẩm
    Nếu DCIS được cắt bỏ hoàn toàn, đây được gọi là cắt bỏ R0.
    Sau phẫu thuật bảo tồn vú, những bệnh nhân này được điều trị bằng xạ trị.
    Nếu có xâm lấn khu trú vào diện cắt, một liều xạ trị tăng cường bổ sung sẽ được thực hiện.
    Nếu xâm lấn nhiều hơn mức khu trú (> 4mm) thì sẽ tiến hành cắt lại hoặc cắt bỏ tuyến vú.


    Nhấp để phóng to

    Nhấp để phóng to

    Hãy quan sát các hình ảnh rồi tiếp tục đọc.
    Nhấp vào hình để phóng to.

    Các phát hiện bao gồm:

    • Nhiều vôi hóa nghi ngờ phân bố trên một vùng phân thùy rộng lớn của vú.
    • Nhiều cụm vôi hóa – phần lớn có dạng phân nhánh tuyến tính – điển hình cho DCIS.

    Do diện tích vùng vôi hóa rộng, phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú đã được lên kế hoạch.

    Thủ thuật hạch cửa cũng được thực hiện do kích thước ước tính của DCIS.

    Khi có kế hoạch cắt bỏ tuyến vú, thủ thuật hạch cửa (SN) được thực hiện thường quy đồng thời, vì không thể tiến hành sau đó.

    Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy các ổ nhỏ ung thư xâm lấn.


    Nhấp để phóng to

    Nhấp để phóng to

    Ở bệnh nhân này, có hai nhóm vôi hóa nghi ngờ cách nhau khoảng 5 cm.

    Đầu tiên, nhóm vôi hóa lớn hơn được tiến hành sinh thiết.

    Lý do là nếu các vôi hóa này là lành tính, thì cụm nhỏ hơn cũng có khả năng lành tính.

    Tuy nhiên, nhóm vôi hóa lớn hơn được xác định là DCIS độ 2.

    Do đó, cần tiến hành sinh thiết lần hai đối với nhóm vôi hóa nhỏ hơn, và kết quả cũng là DCIS độ 2.

    Phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú kết hợp thủ thuật hạch cửa đã được lên kế hoạch.

    Tổng diện tích DCIS được đánh giá là quá rộng để có thể áp dụng điều trị bảo tồn vú.

    Ung thư vú khu trú

    Ung thư vú khu trú hay giai đoạn sớm bao gồm:

    • T1-2: khối u < 5 cm
    • N0-1: không có hạch hoặc có <4 hạch nách bị xâm lấn

    Hố nách

    Hố nách được khảo sát ban đầu bằng siêu âm. Khi phát hiện các hạch bạch huyết bệnh lý, bước tiếp theo là chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA).
    Nếu kết quả dương tính (N+), thông thường sẽ thực hiện PET-CT để loại trừ bệnh ở giai đoạn tiến xa hơn.
    Khi siêu âm không phát hiện hạch bạch huyết nghi ngờ (N-), bước tiếp theo là thủ thuật sinh thiết hạch cửa.

    Phẫu thuật bảo tồn vú (BCT) trong ung thư vú khu trú

    Khi thực hiện phẫu thuật bảo tồn vú, luôn tồn tại nguy cơ để lại các vùng nhỏ mô u – ngay cả khi diện cắt không còn tế bào ung thư.
    Đây là lý do chính tại sao trong BCT, phẫu thuật luôn được kết hợp với xạ trị.

    Nguy cơ tái phát tại chỗ cao hơn đối với các khối u có thành phần DCIS lan rộng kèm theo.

    Tùy thuộc vào tình trạng thụ thể của khối u, hầu hết bệnh nhân ung thư vú khu trú cũng sẽ được điều trị bổ trợ hoặc tân bổ trợ.
    Chỉ những bệnh nhân lớn tuổi (>70 tuổi) hoặc bệnh nhân dưới 70 tuổi có khối u nhỏ, độ mô học thấp mới không cần hóa trị (xem bảng).

    Không cần thực hiện thêm các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh trong ung thư vú khu trú, vì khả năng phát hiện bệnh di căn là rất thấp.

    Ung thư giai đoạn tiến xa tại chỗ và tại vùng

    Ung thư vú tiến xa tại chỗ bao gồm:

    • T3: khối u > 5cm
    • T4: khối u xâm lấn da hoặc thành ngực
    • N2-3: ⩾ 4 hạch bạch huyết nách hoặc có tổn thương hạch thượng đòn, hạ đòn hoặc hạch vú trong cùng bên

    Điều trị

    Trước đây, các khối u này đồng nghĩa với ung thư vú không thể phẫu thuật, tuy nhiên quan điểm này đã thay đổi sau khi liệu pháp tân bổ trợ được đưa vào áp dụng.

    Những bệnh nhân này được điều trị ban đầu bằng hóa trị và/hoặc liệu pháp nội tiết tân bổ trợ. Nếu đáp ứng tốt với liệu pháp tân bổ trợ, bước tiếp theo là phẫu thuật, và đôi khi phẫu thuật bảo tồn vú vẫn có thể thực hiện được.

    Trước khi tiến hành liệu pháp tân bổ trợ, một clip đánh dấu được đặt vào trong khối u. Đôi khi đáp ứng điều trị tốt đến mức không còn tìm thấy khối u tồn dư.

    Hiện vẫn còn tranh luận về việc liệu những bệnh nhân này có cần phẫu thuật hay không, nhưng hiện tại, hầu hết các bệnh nhân này được điều trị bằng phẫu thuật bảo tồn vú (cắt u tuyến vú lấy trung tâm là vị trí clip, sau đó xạ trị).

    Phẫu thuật và các thủ thuật khác

    Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) hạch bạch huyết nách

    Các tiêu chí để thực hiện FNA hoặc sinh thiết hạch bạch huyết nách dưới hướng dẫn siêu âm bao gồm:

    • Vỏ hạch > 2,3 mm, không đo tại các cực của hạch.
    • Mất rốn hạch mỡ.
    • Vỏ hạch phồng lên không đối xứng.

    Định vị bằng dây kim loại

    DCIS và nhiều khối u nhỏ không thể sờ thấy được. Trong những trường hợp này, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đặt một dây kim loại có móc vào vùng cần được cắt bỏ.

    Dây kim loại được đặt vào trong khối u hoặc vùng DCIS, dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc định vị lập thể.

    Với siêu âm, vị trí của khối u được đánh dấu trên da trong khi bệnh nhân giữ tay ở cùng tư thế như trong lúc phẫu thuật. Độ sâu chính xác của khối u dưới da cũng được ghi nhận.

    Hình ảnh cho thấy đường đi của dây kim loại (mũi tên vàng) hướng tới khối u (mũi tên đỏ). Lưu ý chấm đen trên da để đánh dấu vị trí chính xác của khối u.

    Mũi tên cong chỉ điểm dây kim loại đi vào vú.

    Hạch gác cửa

    Thủ thuật hạch gác cửa (SLN) đã trở thành phương pháp tiêu chuẩn để đánh giá giai đoạn hạch nách ở bệnh nhân ung thư vú có siêu âm nách âm tính (cN-).

    Sinh thiết SLN cung cấp thông tin phân giai đoạn chính xác trong khi tránh được các biến chứng của phẫu thuật nạo vét hạch nách toàn bộ.

    Một dược chất phóng xạ kết hợp với thuốc nhuộm được tiêm vào trong hoặc gần khối u (hình). Các chất đánh dấu này di chuyển qua các ống bạch huyết đến các hạch bạch huyết.

    Hạch bạch huyết đầu tiên nhận được các chất đánh dấu sẽ được lấy ra.

    Thông thường khoảng ba hạch được lấy ra. Việc lấy nhiều hơn ba SLN không làm tăng độ chính xác trong việc phát hiện hạch dương tính.

    BCT

    Điều trị bảo tồn vú (BCT) còn được gọi là phẫu thuật cắt u tuyến vú (lumpectomy) hoặc cắt rộng. Phẫu thuật cắt bỏ khối u tại chỗ – vùng được kết hợp với thủ thuật hạch gác cửa để đánh giá giai đoạn hạch nách, tiếp theo là xạ trị vú có hoặc không có xạ trị tăng cường liều (boost).

    Các clip tương thích MRI cần được đặt vào nền khối u để đảm bảo độ chính xác trong xạ trị.

    Chỉ định cắt lại khi diện cắt có khối u dương tính nhiều hơn mức khu trú (xem phần giải phẫu bệnh).

    Diện cắt phẫu thuật trong BCT

    • Cắt R0
      Không có tế bào u tại diện cắt.
    • Không triệt căn khu trú
      Dưới 4mm của diện cắt có chứa tế bào u.
    • Nhiều hơn mức khu trú
      Hơn 4mm của diện cắt bị xâm lấn.

    Ung thư xâm lấn
    Chỉ định cắt lại khi diện cắt có khối u dương tính nhiều hơn mức khu trú, vì đây là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây tái phát tại chỗ.
    Khi diện cắt chỉ bị xâm lấn khu trú, điều chỉnh liều xạ trị có vẻ là một lựa chọn thay thế tốt cho phẫu thuật cắt lại.

    DCIS
    Điều trị tích cực hơn đối với DCIS, vì phẫu thuật cắt lại hoặc cắt bỏ tuyến vú được khuyến cáo trong mọi trường hợp có xâm lấn diện cắt.

    Cắt bỏ tuyến vú (Mastectomy)

    Cắt bỏ tuyến vú đơn giản
    Cắt bỏ toàn bộ tuyến vú. Một số hạch bạch huyết nách (mức I) cũng có thể được lấy bỏ.

    Cắt bỏ tuyến vú triệt căn cải biên
    Cắt bỏ tuyến vú, hầu hết hoặc toàn bộ hạch bạch huyết nách và cân cơ thành ngực.
    Cơ ngực lớn không được cắt bỏ.

    Cắt bỏ tuyến vú bảo tồn núm vú
    Trong hầu hết các trường hợp, núm vú được cắt bỏ trong phẫu thuật cắt tuyến vú.
    Núm vú có thể được bảo tồn nếu:

    • Khối u cách núm vú > 2 cm
    • Kích thước khối u < 5 cm
    • Không có đa ổ
    • Không có hạch bạch huyết nách dương tính

    DIEP flap

    Vạt DIEP

    Phẫu thuật tạo hình ung thư học

    Tái tạo tức thì
    Tái tạo vú tức thì bằng túi độn.

    Vạt DIEP
    Vạt xuyên động mạch thượng vị dưới sâu (DIEP) là một kỹ thuật phổ biến trong đó da và mỡ dưới da được lấy từ vùng bụng để tái tạo tuyến vú.

    Vạt SGAP
    Vạt xuyên động mạch mông trên (SGAP) sử dụng mô từ phần trên của mông để tạo mô vú. Phương pháp này thường được thực hiện khi bệnh nhân không có đủ da và mô ở vùng bụng hoặc đã từng phẫu thuật vùng bụng trước đó.

    Vạt TRAM
    Trong vạt TRAM có cuống mạch, mô vẫn được giữ nguyên kết nối với vị trí ban đầu, duy trì nguồn cung cấp máu.
    Vạt gồm da, mỡ và cơ cùng nguồn cung cấp máu được luồn dưới da đến vùng ngực.

    Nạo vét hạch bạch huyết nách

    Trong phẫu thuật nạo vét hạch bạch huyết nách (ALND), các hạch bạch huyết nách được lấy bỏ.

    Có ba mức hạch bạch huyết nách:

    Mức I nằm dưới bờ dưới của cơ ngực bé.
    Mức II nằm ngang mức cơ ngực bé.
    Mức III nằm trên cơ ngực bé.

    Trong ALND, mức I và II được lấy bỏ.

    Ngày nay, các phẫu thuật viên cố gắng tránh ALND bằng cách thực hiện sinh thiết hạch gác cửa hoặc hạ giai đoạn hạch nách bằng điều trị tân bổ trợ.
    ALND được thực hiện khi có nhiều hạch dương tính hoặc khi không thể thực hiện điều trị tân bổ trợ.

    Thủ thuật MARI

    Thủ thuật MARI là một phương pháp xâm lấn tối thiểu mới để đánh giá đáp ứng mô bệnh học của di căn hạch bạch huyết nách sau điều trị toàn thân tân bổ trợ.
    Hạch bạch huyết nách dương tính với khối u được đánh dấu bằng hạt iốt phóng xạ (I).
    Hạch được đánh dấu này được gọi là hạch MARI.
    Sau điều trị tân bổ trợ, hạch MARI được lấy bỏ có chọn lọc bằng đầu dò phát hiện tia gamma (γ).

    Nếu hạch đã trở thành âm tính với khối u và hạch gác cửa cũng âm tính, không cần điều trị thêm vùng nách.
    Phương pháp này cho phép phẫu thuật bảo tồn nách ở những bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị tân bổ trợ.

    Giải phẫu bệnh

    Giai đoạn pTNM

    Sau phẫu thuật, các bệnh phẩm phẫu thuật bao gồm khối u, hạch gác cửa hoặc các hạch nách sau khi phẫu tích sẽ được nhà giải phẫu bệnh phân tích. Kết quả phân tích này cho ra giai đoạn pTNM (xem bảng).

    Giai đoạn pTNM có thể khác với giai đoạn cTNM, và đôi khi kế hoạch điều trị ban đầu cần phải được điều chỉnh.

    Ví dụ, nếu diện cắt của bệnh phẩm phẫu thuật không sạch tế bào u, có thể cần phải cắt rộng thêm hoặc điều chỉnh phác đồ xạ trị.

    Để phân loại pT chính xác về mặt giải phẫu bệnh, không được có khối u đại thể tại diện cắt phẫu thuật.

    Việc phân loại vẫn có thể thực hiện được khi có tế bào u vi thể tại diện cắt.

    Kích thước khối u chỉ bao gồm thành phần xâm nhập.

    Nếu có thành phần tại chỗ (in situ) lớn (ví dụ: 4 cm) và thành phần xâm nhập nhỏ (ví dụ: 0,5 cm), khối u được đo là 0,5 cm và được mã hóa là pT1a.

    Kết quả phân tích bệnh phẩm phẫu thuật của khối u, hạch gác cửa hoặc các hạch nách sau khi phẫu tích bởi nhà giải phẫu bệnh sẽ cho ra giai đoạn pTNM hoặc ypTNM.

    Các đặc điểm khối u khác như độ mô học, thụ thể nội tiết, xâm nhập mạch bạch huyết và biểu hiện gen cũng được khảo sát, vì các đặc điểm này cũng quyết định nguy cơ tái phát tại chỗ và bệnh toàn thân.

    Giai đoạn pN

    Bảy mươi lăm phần trăm dẫn lưu bạch huyết của vú đổ về các hạch nách.

    Các hạch mức độ 1 nằm bên dưới bờ dưới của cơ ngực bé.

    Các hạch mức độ 2 nằm ngang mức cơ ngực bé.

    Các hạch mức độ 3 nằm phía trên cơ ngực bé và dẫn lưu đến các hạch dưới đòn và trên đòn.

    Một phần nhỏ bạch huyết dẫn lưu đến các hạch vú trong, hoặc ít gặp hơn, theo đường xuyên qua cơ ngực.

    Giai đoạn ypN

    Ở những bệnh nhân đã được hóa trị liệu tân bổ trợ, tình trạng hạch bạch huyết sẽ bị ảnh hưởng.

    Vì lý do này, ký hiệu y được thêm vào trước giai đoạn pN. Ví dụ, nếu thủ thuật sinh thiết hạch gác cửa được thực hiện sau điều trị tân bổ trợ và tìm thấy 3 hạch dương tính trên giải phẫu bệnh, kết quả sẽ là ypN1a.

    Phân độ mô học khối u

    Độ mô học của khối u là một yếu tố tiên lượng quan trọng khác trong phân giai đoạn khối u.

    Khối u độ cao có khả năng di căn cao hơn, đòi hỏi liệu pháp bổ trợ tích cực hơn.

    Phân độ mô học khối u được thực hiện theo hướng dẫn Bloom và Richardson cải tiến, dựa trên tổng điểm của ba tiêu chí: sự hình thành ống tuyến, đa hình thái nhân và hoạt động phân bào.

    Biểu hiện gen

    Tiên lượng và điều trị cho bệnh nhân ung thư vú phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

    • Giai đoạn TNM.
    • Độ mô học của khối u
    • Xâm nhập bạch mạch – mạch máu
    • Thụ thể nội tiết tố
    • Biểu hiện gen của khối u

    Phân tích DNA của khối u và biểu hiện gen đã giúp xác định các phân nhóm ung thư vú với diễn tiến lâm sàng đặc trưng và đáp ứng khác nhau với hóa trị liệu.
    Điều này có thể hỗ trợ lựa chọn những bệnh nhân cần được điều trị tích cực và những bệnh nhân không cần thiết.

    Biểu hiện gen là quá trình một gen được kích hoạt trong tế bào để tổng hợp RNA và protein.

    Một số protein trong số này, chẳng hạn như HER2/neu, có tác dụng kích thích sự tăng trưởng của tế bào khối u.

    HER2/neu

    Protein này được sản xuất với lượng bất thường cao trong khoảng 20% các khối u vú. Ung thư vú có biểu hiện quá mức HER2 thường có xu hướng xâm lấn mạnh hơn và có khả năng tái phát cao hơn.

    Trastuzumab (Herceptin) nhắm mục tiêu đặc hiệu vào protein HER2, và khi kết hợp với hóa trị liệu bổ trợ, có thể làm giảm nguy cơ tái phát khoảng 50% so với hóa trị liệu đơn thuần.

    Mỗi khi ung thư vú tái phát hoặc di căn, các tế bào ung thư cần được xét nghiệm lại tình trạng HER2 cũng như tình trạng thụ thể nội tiết tố, vì các chỉ số này có thể khác biệt so với khối u ban đầu trong tới 20 đến 30 phần trăm các trường hợp (8).

    Mammaprint
    Dựa trên các mô hình biểu hiện gen, ung thư vú có thể được phân chia thành các phân nhóm phân tử hoặc hồ sơ phân tử khác nhau.
    Một trong những hồ sơ này là MammaPrint®, xét nghiệm 70 gen khối u khác nhau và phân loại bệnh nhân vào nhóm nguy cơ cao hoặc nguy cơ thấp, đồng thời xác định liệu bệnh nhân có được hưởng lợi từ hóa trị liệu hay không.

    Liệu pháp Toàn thân


    * Một số chuyên gia ủng hộ hóa trị cho tất cả bệnh nhân HER2+ dưới 35 tuổi

    * Một số chuyên gia ủng hộ hóa trị cho tất cả bệnh nhân HER2+ dưới 35 tuổi

    Liệu pháp toàn thân bổ trợ

    Hóa trị bổ trợ toàn thân và liệu pháp nội tiết được chỉ định như một phần bổ sung cho điều trị tại chỗ-vùng ban đầu, với mục tiêu tiêu diệt các di căn xa tiềm ẩn (có thể đã hiện diện nhưng chưa phát hiện được).

    Liệu pháp bổ trợ có thể bao gồm hóa trị, herceptin và/hoặc liệu pháp nội tiết.

    Herceptin được bổ sung vào phác đồ hóa trị ở những bệnh nhân dương tính với HER2/neu, trong khi liệu pháp nội tiết được chỉ định cho những bệnh nhân có thụ thể estrogen hoặc progesteron (ER+ hoặc PR+).

    Ở phụ nữ lớn tuổi có ER+ hoặc PR+, đôi khi chỉ áp dụng liệu pháp nội tiết đơn thuần nhằm mục tiêu ổn định bệnh.

    Liệu pháp tân bổ trợ

    Hóa trị tân bổ trợ hay điều trị toàn thân ban đầu trước đây chỉ được chỉ định cho các bệnh nhân có bệnh tiến triển tại chỗ, tức là giai đoạn III và bệnh nhân giai đoạn II có khối u lớn (T3N0).

    Chính sách hiện tại là ngày càng có nhiều bệnh nhân ung thư giai đoạn sớm có chỉ định hóa trị cũng được điều trị bằng hóa trị tân bổ trợ thay vì liệu pháp bổ trợ sau phẫu thuật.

    Ưu điểm của phương pháp này là liệu pháp tân bổ trợ cho phép theo dõi đáp ứng điều trị, từ đó có thể điều chỉnh phác đồ hóa trị khi không có đáp ứng thỏa đáng.
    Một ưu điểm khác là có thể thu nhỏ phạm vi phẫu thuật cắt u, và điều trị bảo tồn vú có thể thực hiện được ở những bệnh nhân mà trước đó cần phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú.

    Ngay cả khi đạt lui bệnh hoàn toàn trên lâm sàng, sự kết hợp giữa phẫu thuật và xạ trị vẫn được xác định là cần thiết để tránh tái phát tại chỗ.

    Điều kiện tiên quyết để bắt đầu liệu pháp tân bổ trợ

    Chẩn đoán tuyến vú

    • Sinh thiết mô học: xác định độ mô học của khối u, thụ thể nội tiết và khuếch đại HER-2.
    • Ghi nhận chính xác kích thước khối u ban đầu và các tổn thương di căn bằng MRI, trừ khi có thể xác định đáng tin cậy qua nhũ ảnh và siêu âm.
    • Chụp ảnh các khối u cT4 để ghi lại tình trạng di căn da.
    • Đặt marker cản quang hoặc hạt iod-125 phóng xạ vào khối u, bất kể lựa chọn cắt bỏ toàn bộ tuyến vú hay điều trị bảo tồn vú (BCT).

    Chẩn đoán vùng

    • Đánh giá tình trạng hạch bạch huyết nách trên lâm sàng và bằng siêu âm.
    • Nếu cN1-3: xác nhận bằng tế bào học. Đánh dấu hạch bạch huyết dương tính bằng marker hoặc đặt hạt iod phóng xạ để phân giai đoạn nách sau điều trị toàn thân tân bổ trợ (quy trình MARI).
    • Nếu cN0: quy trình sinh thiết hạch cửa (SWK). Một số chuyên gia ưu tiên thực hiện trước điều trị tân bổ trợ, số khác thực hiện sau điều trị.

    Tầm soát di căn xa

    • Được chỉ định trong ung thư vú giai đoạn III
    • Cân nhắc đối với ung thư vú giai đoạn II có N+ trên lâm sàng

    Hóa trị tân bổ trợ

    Tỷ lệ đáp ứng với hóa trị tân bổ trợ là 80-90%.

    Nguy cơ tiến triển bệnh dưới 5-10%. Hiện chưa có phác đồ điều trị rõ ràng trong trường hợp tiến triển bệnh, được định nghĩa là tăng đường kính > 20% theo tiêu chí RECIST trong quá trình hóa trị.

    Liệu pháp nội tiết tân bổ trợ

    Hiện chưa có các nghiên cứu ngẫu nhiên so sánh liệu pháp nội tiết tân bổ trợ với cùng phác đồ điều trị sau phẫu thuật. Tương tự như hóa trị, liệu pháp nội tiết tân bổ trợ có vẻ giúp giảm giai đoạn bệnh đối với các khối u dương tính với thụ thể nội tiết, cải thiện khả năng phẫu thuật triệt căn trong giai đoạn III hoặc điều trị bảo tồn vú (BCT) ở những bệnh nhân ban đầu cần phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú.

    Trastuzumab tân bổ trợ

    Việc bổ sung trastuzumab vào phác đồ hóa trị tân bổ trợ làm tăng tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về mặt bệnh học.

    Xạ trị

    Xạ trị tuyến vú

    Xạ trị là một phần không thể thiếu trong điều trị bảo tồn vú đối với ung thư vú. Hầu hết các trường hợp tái phát sau điều trị bảo tồn vú (BCT) đều do sự phát triển của khối u còn sót lại.

    Toàn bộ tuyến vú được chiếu xạ, kết hợp tùy chọn liều tăng cường vào vùng nền khối u.

    Bệnh nhân mắc DCIS thể nhỏ và độ mô học thấp có nguy cơ tái phát thấp, do đó xạ trị bổ sung có thể không được chỉ định (15).

    Xạ trị thành ngực

    Các chỉ định xạ trị thành ngực sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú bao gồm:

    1. Diện cắt phẫu thuật của khối u nguyên phát còn tế bào ung thư dương tính.
    2. Khối u T4
    3. pT3, tùy thuộc vào một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ sau: xâm lấn mạch máu/bạch huyết, khối u độ 3, và/hoặc tuổi ≤ 40

    Xạ trị vùng nách

    Xạ trị vùng nách là một phương pháp thay thế an toàn cho phẫu thuật nạo vét hạch nách và có nguy cơ gây phù bạch huyết thấp hơn.

    Hiện có nhiều tranh luận liên quan đến các chỉ định xạ trị vùng nách.
    Nhiều hướng dẫn điều trị chưa được xây dựng dựa trên bằng chứng.
    Cách tiếp cận khác nhau giữa các quốc gia và giữa các cơ sở y tế.

    Theo Hướng dẫn Ung thư Vú của Hà Lan năm 2012, các chỉ định như sau (1):

    1. Tế bào ung thư đơn lẻ (Isolated tumor cells) trong hạch gác (sentinel node):
      Xạ trị không được khuyến cáo.
    2. Vi di căn (Micrometastases) trong hạch gác (SN): Xạ trị chỉ được khuyến cáo khi có thêm các yếu tố nguy cơ bổ sung.
    3. Đại di căn (Macrometastases):
      Xạ trị được chỉ định.
      Trong các trường hợp có khối u nách lớn, nên thực hiện nạo vét hạch nách.

    Tuy nhiên, các hướng dẫn này không áp dụng cho các quốc gia khác và cũng không dựa trên bằng chứng, mà chỉ là ý kiến của các chuyên gia.

    Cần đạt được sự đồng thuận về các chỉ định xạ trị tại cơ sở y tế của bạn.

    Các thể đặc biệt của ung thư vú

    Ung thư vú thể ba âm tính

    Khoảng 15-20% các trường hợp ung thư vú được gọi là ba âm tính, đặc trưng bởi sự vắng mặt của thụ thể estrogen (ER), thụ thể progesterone (PR) và không có sự bộc lộ quá mức HER2.

    Các khối u này thường gặp ở độ tuổi trẻ hơn, có độ mô học cao, và tại thời điểm phát hiện thường có kích thước đáng kể kèm theo di căn hạch bạch huyết vùng nách.

    Khối u ba âm tính có tiên lượng xấu hơn với tái phát nhanh và di căn não thường gặp.

    Các nghiên cứu cho thấy những khối u này đáp ứng tốt hơn với hóa trị tân bổ trợ chuẩn bằng anthracycline và taxane so với các loại khối u khác.

    Ung thư vú thể viêm

    Ung thư vú thể viêm (hay còn gọi là mastitis carcinomatosa) là một thể riêng biệt của ung thư vú, chiếm 1-5% tổng số các trường hợp ung thư vú.

    Bệnh đặc trưng bởi tình trạng đỏ lan tỏa, da vỏ cam (peau d’orange) và phù nề toàn bộ tuyến vú, do đó chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng.

    Đây là một bệnh hiếm gặp và rất hung hãn, trong đó các thuyên tắc khối u làm tắc nghẽn hệ bạch mạch trong da.

    Phân loại TNM là T4D (giai đoạn III).

    Dấu hiệu lúm đồng tiền của da và co rút núm vú không đồng nghĩa với ung thư vú thể viêm và có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn T nào mà không ảnh hưởng đến phân loại.

    Bệnh Paget của núm vú

    Chẩn đoán bệnh Paget của núm vú chỉ được xác lập khi không có tổn thương trong nhu mô vú bên dưới.

    Các ung thư biểu mô trong nhu mô vú có liên quan đến bệnh Paget được phân loại dựa trên kích thước và đặc điểm của tổn thương nhu mô, mặc dù sự hiện diện của bệnh Paget vẫn cần được ghi nhận.

    Ung thư biểu mô tiểu thùy

    Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập là loại ung thư vú phổ biến thứ hai sau ung thư biểu mô ống tuyến xâm nhập (17).

    Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập thường khó phát hiện hơn trên chụp nhũ ảnh, do thay vì tạo thành một khối, các tế bào ung thư thường lan rộng vào mô liên kết xung quanh theo dạng hàng đơn.

    Chẩn Đoán Hình Ảnh Bổ Sung

    PET-CT

    Khi nào nên chỉ định PET-CT

    PET-CT được khuyến cáo ở những bệnh nhân có bệnh lý tại chỗ-vùng nhằm tìm kiếm các di căn xa. PET-CT có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với chẩn đoán hình ảnh thông thường trong việc phát hiện di căn xa và tái phát tại chỗ-vùng.

    Tuy nhiên, độ nhạy của PET-CT còn quá thấp để phát hiện ung thư vú nguyên phát, và PET-CT cũng không có vai trò trong phân giai đoạn hạch nách trên lâm sàng âm tính, cũng như không thể thay thế thủ thuật sinh thiết hạch cửa (SN).
    Tuy nhiên, khi di căn hạch bạch huyết nách được phát hiện qua chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) hoặc thủ thuật hạch cửa, và PET-CT cho thấy tăng hấp thu tại các hạch bạch huyết, thì tất cả các hạch này đều được xem là dương tính, do giá trị tiên đoán dương tính cao.

    Dưới đây là ví dụ về một bệnh nhân ung thư vú giai đoạn tiến xa.
    Siêu âm tuyến vú phát hiện tổn thương giảm âm kích thước 18mm với bờ không đều và vôi hóa vi thể.
    Siêu âm nách phát hiện một hạch bạch huyết không còn rốn hạch mỡ.
    Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) được thực hiện, và cả khối u lẫn hạch bạch huyết đều dương tính với adenocarcinoma.
    Tổn thương được phân giai đoạn lâm sàng là cT1N+. PET-CT được thực hiện tiếp theo.

    Trên hình PET-CT phía trên, một hạch bạch huyết mức độ II dương tính nằm ngay bên dưới cơ ngực bé (mũi tên vàng).
    Nhiều hạch nách được phát hiện nhưng không có di căn toàn thân.
    Mô mỡ nâu bình thường được nhìn thấy dọc theo cơ cổ và cơ vai ở cả hai bên (vòng tròn).

    Bệnh nhân này được lên kế hoạch điều trị tân bổ trợ và sinh thiết được thực hiện để xác định độ mô học, thụ thể nội tiết và khuếch đại HER-2-neu.

    Đây là một ví dụ PET-CT khác.

    Trên hình chụp nhũ ảnh, có một khối u kèm co rút da thứ phát.

    Lưu ý nhiều vôi hóa dạng tuyến tính trong lòng khối u – nhấp vào hình để phóng to. Điều này cho thấy khối u xâm nhập phát triển trong vùng ung thư biểu mô ống tuyến tại chỗ (DCIS).

    Siêu âm cho thấy các ổ khối u trong da, tức là T4b (mũi tên đỏ).

    Tiếp theo…

    Trên hình siêu âm này, có thêm một nốt vệ tinh trong da (mũi tên vàng).

    Nhiều hạch nách phì đại được ghi nhận (mũi tên đỏ).

    Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ xác nhận di căn trong các hạch này.

    Khối u này được phân giai đoạn là T4bN+. Điều này có nghĩa là chúng ta đang đối mặt với bệnh lý tiến xa tại chỗ-vùng.

    Những bệnh nhân này có nguy cơ mắc bệnh toàn thân và cần được thực hiện thêm các phương pháp chẩn đoán hình ảnh bổ sung.

    Tiếp theo…

    Đây là hình PET-CT của bệnh nhân này. Cả ung thư biểu mô vú lẫn sự lan rộng đến da đều được hiển thị rõ ràng (mũi tên đỏ). Có nhiều tổn thương di căn ở cả hai phổi – một tổn thương di căn ở phổi phải được chỉ ra bằng mũi tên vàng; lưu ý tổn thương di căn lớn hơn ở phổi trái.

    Ngoài ra, còn có di căn xương, di căn gan và nhiều hạch bạch huyết nách được ghi nhận (không hiển thị trên hình này).

    Giai đoạn cTNM của khối u là T4bN3M1.

    MRI

    MRI được nhận thấy có ưu thế hơn trong việc đánh giá kích thước của DCIS và ung thư xâm nhập, đồng thời tốt hơn trong việc phát hiện bệnh đa ổ hoặc bệnh lý vú đối bên. Vẫn còn nhiều tranh luận về vai trò của MRI tiền phẫu ở bệnh nhân ung thư vú, do hiện tượng đánh giá quá mức kích thước tổn thương xảy ra vì sự hiện diện của các rối loạn tăng sinh lành tính có ngấm thuốc tương phản từ.

    Nhiều chuyên gia không khuyến cáo thực hiện MRI tiền phẫu, vì phương pháp này chưa cho thấy cải thiện kết quả điều trị hay giảm đáng kể tỷ lệ phẫu thuật lại.

    MRI chỉ được khuyến cáo trong trường hợp DCIS độ cao với kích thước khối u chưa xác định rõ ở những bệnh nhân mong muốn được bảo tồn vú (BCT).

    Tuy nhiên, MRI đóng vai trò quan trọng trong giải quyết các vấn đề chẩn đoán khó và trong tầm soát các bệnh nhân có nguy cơ cao.


    Một khối u lớn ở vú phải được phát hiện dễ dàng bằng BSGI, trong khi hầu như không nhìn thấy trên nhũ ảnh.

    Một khối u lớn ở vú phải được phát hiện dễ dàng bằng BSGI, trong khi hầu như không nhìn thấy trên nhũ ảnh.

    BSGI

    Chụp xạ hình vú đặc hiệu (BSGI – Breast-specific gamma imaging) là một phương thức hỗ trợ trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, tương tự như MRI, sử dụng phương pháp tiếp cận sinh lý học để xác định các tổn thương trong vú.
    Độ nhạy và độ đặc hiệu của BSGI tương đương với MRI, và cao hơn nhiều so với nhũ ảnh – đặc biệt trong trường hợp mô vú dày đặc.

    Liều bức xạ cao hơn so với nhũ ảnh khiến BSGI không phù hợp cho mục đích tầm soát, nhưng đây là công cụ xuất sắc để giải quyết các vấn đề chẩn đoán khó.

    Tương tự như MRI, BSGI có hiệu quả tốt trong việc phát hiện bệnh đa ổ hoặc bệnh lý vú đối bên.