Khối Đặc Tại Thận
Rinze Reinhard, Mandy van der Zon-Conijn và Robin Smithuis
Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Onze Lieve Vrouwe Gasthuis tại Amsterdam, Trung tâm Y tế Haaglanden-Bronovo tại The Hague, Trung tâm Y tế Đại học Leiden tại Leiden và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan
Ngày xuất bản
Hầu hết các khối tại thận là những phát hiện tình cờ.
Nhiều trong số các khối này là ung thư biểu mô tế bào thận.
Mục tiêu của chẩn đoán hình ảnh là phân biệt các ung thư biểu mô tế bào thận này với các bệnh lý lành tính, mặc dù trong nhiều trường hợp điều này có thể không thực hiện được.
Tuy nhiên, có một số đặc điểm hình ảnh gợi ý bệnh lý lành tính hoặc ác tính độ thấp.
Các đặc điểm hình ảnh này có thể cung cấp định hướng cho bệnh nhân và bác sĩ lâm sàng trong việc đưa ra quyết định xử trí. Các lựa chọn bao gồm cắt thận bán phần hoặc toàn phần, sinh thiết, đốt khối u hoặc theo dõi định kỳ.
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về các đặc điểm hình ảnh của các khối u thận lành tính, ác tính và các tổn thương giả u tại thận.
Chẩn đoán phân biệt các khối thận
Các bước trong chẩn đoán phân biệt một tổn thương thận bao gồm:
- Đầu tiên, xác định xem tổn thương có phải là nang hay không.
- Nếu không phải nang, tìm kiếm mỡ đại thể, đây là dấu hiệu của u mỡ cơ mạch (AML) lành tính.
- Loại trừ các bệnh lý giả u như nhiễm trùng và nhồi máu, thường biểu hiện trong các bối cảnh lâm sàng khác nhau.
- Loại trừ bệnh di căn và u lympho; các tổn thương khu trú tại thận thường chỉ gặp trong bệnh lý lan rộng.
Sau khi thực hiện các bước trên, sẽ có nhiều trường hợp không thể đưa ra chẩn đoán xác định và ung thư biểu mô tế bào thận vẫn đứng đầu danh sách chẩn đoán phân biệt.
Sử dụng CT và MRI để tìm kiếm các dấu hiệu gợi ý u lành tính hoặc u độ thấp so với ung thư biểu mô tế bào thận độ cao.
CT
Tăng tỷ trọng trên CT không tiêm thuốc cản quang
Tổn thương có tỷ trọng > 70 HU trên CT không tiêm thuốc cản quang là nang xuất huyết.
Nang xuất huyết có thể có tỷ trọng thấp hơn 70 HU, nhưng trong những trường hợp này cũng cần kiểm tra chuỗi hình ảnh sau tiêm thuốc cản quang để đánh giá sự ngấm thuốc.
Không có ngấm thuốc xác nhận bản chất dạng nang của các tổn thương này.
Mỡ đại thể < -20 HU trong một khối thận là dấu hiệu đáng tin cậy của u mỡ cơ mạch.
Các lát cắt mỏng có thể hữu ích trong việc xác định tỷ trọng.
Đáng tiếc là 5% các AML không chứa mỡ đại thể.
Các AML nghèo lipid này không thể phân biệt được với ung thư biểu mô tế bào thận.
Trong một số trường hợp hiếm gặp, ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) cũng có thể chứa mỡ.
Sự hiện diện đồng thời của vôi hóa và mỡ cần làm tăng nghi ngờ về RCC.
Ngấm thuốc không rõ ràng từ 10-20 HU có thể do hiện tượng giả ngấm thuốc trong nang, là hệ quả của xảo ảnh làm cứng chùm tia.
MRI có thể hữu ích trong việc phân biệt các trường hợp này, vì MRI thể hiện sự ngấm thuốc tốt hơn.
Ngấm thuốc không rõ ràng cũng có thể gặp trong các tổn thương ngấm thuốc yếu như ung thư biểu mô tế bào thận dạng nhú, thường là phân nhóm ít xâm lấn hơn so với ung thư biểu mô tế bào sáng phổ biến hơn.
Ngấm thuốc đồng nhất và giá trị tỷ trọng cao trên CT không tiêm thuốc cản quang (> 40 HU) gợi ý chẩn đoán AML nghèo lipid, mặc dù không thể loại trừ hoàn toàn RCC.
Ngấm thuốc mạnh được gặp trong ung thư biểu mô tế bào sáng, AML nghèo lipid và u tế bào ưa axit (oncocytoma).
Do ung thư biểu mô tế bào sáng phổ biến hơn nhiều so với oncocytoma hoặc AML nghèo lipid, ung thư biểu mô tế bào sáng là chẩn đoán có khả năng nhất, đặc biệt trong trường hợp khối lớn và không đồng nhất.
Cần đề cập khả năng AML nghèo lipid hoặc oncocytoma trong báo cáo, vì theo dõi hoặc sinh thiết có thể là lựa chọn phù hợp cho các bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật cao.
MRI
Tăng tín hiệu trên chuỗi xung T1W thường gặp trong nang xuất huyết hoặc nang chứa protein và trong u mỡ cơ mạch có chứa mỡ ngoại bào đại thể.
Tuy nhiên, mỡ nội bào không tạo ra tăng tín hiệu trên chuỗi xung T1W mà gây ra hiện tượng giảm tín hiệu trên ảnh lệch pha (out of phase).
Điều này có thể gặp trong AML ít mỡ hoặc RCC.
82% RCC tế bào sáng có chứa mỡ nội bào, với độ đặc hiệu 90% cho chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào thận dạng tế bào sáng.
MRI vượt trội hơn CT trong chẩn đoán chính xác tổn thương dạng nang, đồng thời thể hiện sự ngấm thuốc tốt hơn và phân biệt được hiện tượng giả ngấm thuốc trên CT với ngấm thuốc thực sự.
Giảm tín hiệu T2W gợi ý RCC dạng nhú hoặc u mỡ cơ mạch ít mỡ.
Tăng tín hiệu T2W thường gặp trong RCC tế bào sáng nhưng không đặc hiệu, vì cũng có thể gặp trong oncocytoma.
Như vậy, vẫn còn nhiều sự chồng lấp đáng kể giữa u lành tính và u ác tính.
Dạng cầu hay dạng hạt đậu
Một cách tiếp cận khác để đánh giá các khối đặc tại thận là dựa vào hình dạng.
Các tổn thương đặc có thể được phân loại thành tổn thương dạng cầu và tổn thương dạng hạt đậu.
Tổn thương dạng cầu là loại phổ biến nhất, biểu hiện là các khối phát triển bành trướng, làm biến dạng bờ thận.
Ung thư biểu mô tế bào thận và oncocytoma là các tổn thương điển hình dạng cầu.
Tổn thương dạng hạt đậu không làm biến dạng bờ thận và hình dạng hạt đậu của thận vẫn được bảo tồn.
Tổn thương dạng hạt đậu khó phát hiện hơn và thường không nhìn thấy trên CT không tiêm thuốc cản quang.
Cần lưu ý rằng có sự chồng lấp đáng kể trong chẩn đoán phân biệt giữa tổn thương dạng cầu và tổn thương dạng hạt đậu.
Tổn thương dạng hạt đậu
Các đặc điểm hình ảnh của tổn thương dạng hạt đậu thường không đặc hiệu.
Lưu ý sự tương đồng về hình ảnh của các tổn thương trong hình.
Chẩn đoán phân biệt thường có thể được gợi ý bằng cách tích hợp dữ liệu lâm sàng và hình ảnh.
- Tổn thương thâm nhiễm trung tâm lấp đầy bể thận ở bệnh nhân lớn tuổi nhiều khả năng là ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp (TCC), còn gọi là ung thư biểu mô tế bào niệu mạc (UCC).
- Khối thâm nhiễm ở bệnh nhân trẻ có đặc điểm hồng cầu hình liềm nhiều khả năng là ung thư biểu mô tủy thận.
- Tổn thương đa ổ và hai bên hoặc thâm nhiễm thận lan tỏa kết hợp với hạch bạch huyết to và tổn thương các cơ quan khác gợi ý u lympho.
- Tổn thương thận đa ổ và hai bên trong bệnh ác tính đã biết gợi ý di căn, mặc dù trong trường hợp một khối thâm nhiễm đơn độc, cần xem xét ung thư biểu mô tế bào thận thể thâm nhiễm.
- Ở bệnh nhân có đau và dấu hiệu nhiễm trùng, chẩn đoán là viêm thận bể thận.
- Tổn thương hình nêm gợi ý nhồi máu thận.
Kích thước khối u
Kích thước khối u được coi là yếu tố dự báo quan trọng nhất về tính ác tính và độ mô học xâm lấn (1).
Nguy cơ bệnh di căn phụ thuộc vào kích thước khối u.
Nếu kích thước khối u nhỏ hơn 3 cm, nguy cơ bệnh di căn là không đáng kể.
Hầu hết các khối thận được phát hiện tình cờ đều nhỏ, được định nghĩa là < 4 cm.
Nhiều trong số các khối này sẽ là RCC độ thấp, bệnh ác tính tiến triển chậm hoặc tổn thương lành tính.
Trong các khối thận từ 1-2 cm được phẫu thuật cắt bỏ, 56% có mô học lành tính. Chỉ 13% các khối từ 6-7 cm có mô học lành tính.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của khối thận nhỏ trên hình ảnh theo dõi nối tiếp chưa được chứng minh là cung cấp dự báo đáng tin cậy về tính ác tính hay lành tính.
Ung thư biểu mô tế bào thận
Ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) là tổn thương điển hình dạng hình cầu.
50% các trường hợp RCC được phát hiện tình cờ trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh thực hiện vì các triệu chứng không liên quan đến đường tiết niệu.
Đỉnh tần suất mắc RCC là trong độ tuổi từ 60 đến 70.
RCC có liên quan đến các hội chứng di truyền như von Hippel-Lindau, xơ cứng củ (tuberous sclerosis) và Birt-Hogg-Dubé.
Phân nhóm mô học phổ biến nhất của RCC là ung thư biểu mô tế bào sáng (clear cell carcinoma), tiếp theo là RCC dạng nhú (papillary) và RCC tế bào ưa sắc (chromophobe).
RCC dạng nang đa thùy (multilocular cystic RCC) ít gặp và được thảo luận tại đây.
Ung thư biểu mô tủy thận (renal medullary carcinoma) cũng rất hiếm gặp và hầu như chỉ xảy ra ở bệnh nhân mang đặc điểm hồng cầu hình liềm (sickle cell trait).
RCC tế bào sáng (Clearcell RCC)
Đây là phân nhóm mô học phổ biến nhất của RCC, chiếm 70% tổng số các trường hợp RCC.
Các khối u này xuất phát từ vỏ thận và thường có xu hướng phát triển bành trướng.
Đây là tổn thương tăng sinh mạch máu (hypervascular), thường không đồng nhất do hoại tử, xuất huyết, thành phần nang hoặc vôi hóa.
Trong một số ít trường hợp, RCC cũng có thể chứa mỡ ngoại bào.
Khi gặp một khối có cả vôi hóa lẫn mỡ, cần cân nhắc khả năng là RCC.
Đặc điểm điển hình của ung thư biểu mô tế bào sáng là ngấm thuốc mạnh trong thì vỏ-tủy (corticomedullary phase).
Điều này có thể khó đánh giá khi tổn thương nhỏ và nằm ở vỏ thận, vốn cũng ngấm thuốc mạnh.
Do đó, thì thận (nephrogenic phase) là thì nhạy cảm nhất để phát hiện các tổn thương này, vì nhu mô thận ngấm thuốc đồng nhất và đậm hơn so với khối u (hình minh họa).
Trên MRI, RCC tế bào sáng thường đồng tín hiệu đến giảm tín hiệu trên chuỗi xung T1W và tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W.
Điển hình là ung thư biểu mô tế bào thận không chứa mỡ ngoại bào, đặc điểm này giúp phân biệt với u mỡ cơ mạch (angiomyolipoma).
Tuy nhiên, 80% RCC tế bào sáng có chứa mỡ nội bào, dẫn đến hiện tượng giảm tín hiệu trên ảnh T1W pha đối (opposed-phase) so với ảnh pha đồng (in-phase).
Không được nhầm lẫn dấu hiệu này với mỡ ngoại bào và không được kết luận sai rằng đây là u mỡ cơ mạch.
Bệnh von Hippel-Lindau có liên quan đến sự phát triển của RCC tế bào sáng, thường hai bên hoặc đa ổ.
Bệnh nhân mắc RCC tế bào sáng có tỷ lệ sống sót 5 năm là 50-60%, tiên lượng kém hơn so với RCC dạng nhú hoặc RCC tế bào ưa sắc.

Tổn thương thâm nhiễm ở cực trên thận phải, hầu như không thấy trên ảnh không tiêm thuốc (bên trái), thấy rõ ràng ở thì thận (bên phải). Giải phẫu bệnh xác nhận RCC tế bào sáng
Trong số tất cả các RCC tế bào sáng, khoảng 5% có kiểu tăng trưởng thâm nhiễm.
Mặc dù đây chỉ là một tỷ lệ nhỏ trong số các RCC, nhưng tần suất chung của RCC khiến đây trở thành một chẩn đoán phân biệt quan trọng đối với tổn thương thâm nhiễm dạng hình đậu (bean-type).
RCC thâm nhiễm có tính chất xâm lấn cao và tăng sinh mạch máu.
Tổn thương làm thay đổi cấu trúc nội tại của thận nhưng vẫn bảo tồn đường bờ thận. Các bất thường hệ thống đài bể thận có thể tương tự như những gì thấy trong ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp (transitional cell carcinoma).
RCC dạng nhú (Papillary RCC)
RCC dạng nhú chiếm 10-15% tổng số các trường hợp RCC.
Các tổn thương này thường đồng nhất và ít mạch máu (hypovascular), do đó có thể bắt chước hình ảnh nang thận.
Trái ngược với ung thư biểu mô tế bào sáng, mức độ ngấm thuốc của RCC dạng nhú có thể rất kín đáo, chỉ chênh lệch 10-20 HU giữa ảnh không tiêm và có tiêm thuốc cản quang.
RCC dạng nhú kích thước lớn có thể không đồng nhất hơn do hoại tử, xuất huyết hoặc vôi hóa.
Trên MRI, các tổn thương này thường đồng tín hiệu đến giảm tín hiệu trên chuỗi xung T1W và giảm tín hiệu trên chuỗi xung T2W.
Trong những trường hợp rất hiếm gặp, có thể thấy mỡ đại thể trong tổn thương, thường kèm theo vôi hóa.
Khối u hai bên và đa ổ gặp nhiều hơn trong RCC dạng nhú so với các loại RCC khác.
Tỷ lệ sống sót 5 năm là 80-90%.
RCC tế bào ưa sắc (Chromophobe RCC)
5% các trường hợp RCC thuộc loại tế bào ưa sắc.
Đây là tổn thương đặc, bờ rõ và đôi khi hơi có múi.
Tổn thương có thể có sẹo trung tâm hoặc kiểu ngấm thuốc dạng nan hoa (spoke-wheel pattern), tương tự như u tế bào ưa axit (oncocytoma).
Không thể phân biệt RCC tế bào ưa sắc với u tế bào ưa axit trên hình ảnh học.
Ngay cả mô học của hai loại u này cũng có những đặc điểm tương đồng.
Mức độ ngấm thuốc của RCC tế bào ưa sắc thường đồng nhất và kém đậm hơn so với RCC tế bào sáng.
Tiên lượng của RCC tế bào ưa sắc tương tự như RCC dạng nhú với tỷ lệ sống sót 5 năm là 80-90%.
RCC tế bào ưa sắc có thể gặp ở bệnh nhân mắc hội chứng Birt-Hogg-Dubé.
Hội chứng Birt-Hogg-Dubé là một rối loạn hiếm gặp.
Những bệnh nhân này có các tổn thương da dạng sẩn nhỏ gọi là u nang nang lông (fibrofolliculomas), nang phổi kèm tràn khí màng phổi tự phát và tần suất cao mắc các loại ung thư biểu mô tế bào thận khác nhau: thường gặp nhất là RCC tế bào ưa sắc, ít gặp hơn là u tế bào ưa axit (oncocytoma), và hiếm gặp là ung thư biểu mô tế bào sáng.
Phân giai đoạn RCC
RCC có thể xâm lấn mỡ quanh thận vượt qua cân thận và có thể lan vào tĩnh mạch thận, tĩnh mạch chủ dưới (IVC) hoặc tuyến thượng thận cùng bên.
Đối với phẫu thuật viên, điều quan trọng là cần biết có huyết khối u trong IVC hay không và liệu huyết khối có lan vào lồng ngực trên cơ hoành hay không (cần có phẫu thuật viên lồng ngực trong ca mổ).
Khoảng 25% bệnh nhân đã có di căn tại thời điểm chẩn đoán.











































