Category: Cơ xương khớp

  • Mất vững khớp vai – MRI

    Mất vững khớp vai – MRI

    Robin Smithuis và Henk Jan van der Woude

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp và Bệnh viện Onze Lieve Vrouwe Gasthuis, Amsterdam, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Tổn thương Bankart là tổn thương sụn viền ổ chảo phía trước do trật khớp vai ra trước.
    Các rách sụn viền này làm cho khớp vai mất vững và dễ bị trật khớp tái phát.
    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung vào:

    • Trật khớp vai
    • Rách Bankart và các biến thể

    Giới thiệu


    Tiếp cận theo chiều kim đồng hồ. Nhấp vào ảnh để phóng to

    Tiếp cận theo chiều kim đồng hồ. Nhấp vào ảnh để phóng to

    Tiếp cận tổn thương sụn viền theo chiều kim đồng hồ

    Tiếp cận sụn viền theo chiều kim đồng hồ là phương pháp đơn giản nhất để chẩn đoán rách sụn viền và phân biệt với các biến thể giải phẫu bình thường của sụn viền.
    Có hai loại rách sụn viền: rách SLAP và tổn thương Bankart.
    SLAP là từ viết tắt của ‘Superior Labral tear from Anterior to Posterior’ (Rách sụn viền trên từ trước ra sau).
    Rách SLAP bắt đầu tại vị trí 12 giờ, nơi neo gân cơ nhị đầu bám vào, gây bong tách sụn viền khỏi ổ chảo.
    Rách SLAP thường kéo dài từ vị trí 10 giờ đến 2 giờ, nhưng có thể lan rộng hơn về phía sau hoặc phía trước, thậm chí lan vào gân cơ nhị đầu.
    Tổn thương Bankart thường khu trú tại vị trí 3-6 giờ, do đây là vị trí đầu xương cánh tay trật ra.

    Có nhiều biến thể giải phẫu của sụn viền có thể bắt chước hình ảnh rách sụn viền.
    Các biến thể này cũng có vị trí điển hình riêng.
    Chúng không nằm ở vị trí 3-6 giờ, điều này giúp dễ dàng phân biệt với rách Bankart.
    Rách Bankart có thể lan đến vị trí 1-3 giờ, nhưng khi đó cũng phải có tổn thương rách tại vị trí 3-6 giờ.
    Tuy nhiên, các biến thể sụn viền có thể bắt chước hình ảnh rách SLAP.

    Các biến thể sụn viền

    Trật khớp

    Khớp vai có biên độ vận động rất lớn và do đó vốn không ổn định.
    Đây là khớp bị trật nhiều nhất trong cơ thể.
    Chỏm xương cánh tay hầu như luôn bị di lệch ra trước và vào trong, xuống dưới mỏm quạ.

    Trật khớp ra trước

    Khớp vai hầu như luôn trật ra trước và xuống dưới, do chuyển động lên trên bị giới hạn bởi mỏm cùng vai, mỏm quạ và chóp xoay (hình minh họa).
    Chuyển động ra sau bị giới hạn bởi bờ sau của ổ chảo, vốn nằm ở tư thế nghiêng ra trước (anteversion).

    Một nguyên nhân ít gặp gây trật khớp ra trước là loạn sản ổ chảo ở bệnh nhân nội trú.


    Sự di lệch của chỏm xương cánh tay ra trước-dưới gây tổn thương bờ trước-dưới của ổ chảo tại vị trí 3 – 6 giờ (đánh dấu màu đỏ).
    Đặc biệt ở bệnh nhân trẻ tuổi, điều này dẫn đến gãy xương Bankart hoặc tổn thương Bankart, là rách sụn viền trước-dưới.
    Hậu quả là gây mất vững khớp và trật khớp tái phát.
    Do các lần trật khớp tái phát này, có thể xảy ra mất xương đáng kể và mòn bờ trước ổ chảo, duy trì tình trạng mất vững khớp.

    Cuộn qua các hình ảnh.


    Trật khớp ra trước kèm gãy xương Bankart

    Các hình ảnh cho thấy một gãy xương Bankart kín đáo (mũi tên).

    Cuộn qua các hình ảnh.


    Gãy xương Bankart

    Đây là hình ảnh sau nắn chỉnh.
    Lưu ý đường gãy rất lớn của bờ ổ chảo kèm di lệch mảnh gãy.

    Cuộn qua các hình ảnh.

    Trên tái tạo mặt phẳng chếch vành tai và mặt phẳng đứng dọc, mảnh gãy di lệch của bờ ổ chảo được thấy ở vị trí 3-6 giờ.
    Trên hình ảnh mặt phẳng vành tai, quan sát thấy một khuyết xương Hill-Sachs lớn.
    Đây là khuyết xương do hậu quả của sự va đập bờ ổ chảo vào chỏm xương cánh tay.

    Tái tạo 3D của tổn thương Bankart xương lớn tại vị trí 2 – 6 giờ.


    TRÁI: Hill-Sachs ở mức mỏm quạ. PHẢI: Rãnh bình thường thấy ở mức dưới mỏm quạ.

    TRÁI: Hill-Sachs ở mức mỏm quạ. PHẢI: Rãnh bình thường thấy ở mức dưới mỏm quạ.

    Hill-Sachs

    Trên MRI, khuyết xương Hill-Sachs được thấy ở ngang mức hoặc trên mức mỏm quạ.

    Hill-Sachs là một chỗ lõm ở mặt sau-ngoài của chỏm xương cánh tay.
    Vị trí này nằm ở ngang mức hoặc trên mức mỏm quạ, trong phạm vi 18 mm đầu tiên của chỏm xương cánh tay tính từ trên xuống.
    Tổn thương này được ghi nhận trong 75-100% bệnh nhân có mất vững khớp vai ra trước.

    Rãnh sinh lý của xương cánh tay hoặc các nang và vùng bào mòn tại điểm bám của gân cơ dưới gai có thể mô phỏng hình ảnh Hill-Sachs, nhưng thông thường đây không phải là vấn đề chẩn đoán khó khăn (hình minh họa).


    Trật khớp ra sau

    Trật khớp ra sau ít gặp và dễ bị bỏ sót, do mức độ di lệch ít hơn so với trật khớp ra trước.
    Trên phim thẳng (AP), chỏm xương trông bất thường do xoay trong.
    Trên phim chếch qua xương bả vai (transscapular-Y), chỏm xương cánh tay bị di lệch ra sau.
    Đôi khi mức độ di lệch khó đánh giá, đặc biệt khi phim chếch qua xương bả vai bị xoay nhẹ.
    Đôi khi phim chụp tư thế nách có thể hữu ích, nhưng khi còn nghi ngờ nên chỉ định chụp CT.

    Cuộn qua các hình ảnh.


    Trật khớp ra sau

    Trật khớp ra sau

    Hình ảnh của một bệnh nhân khác bị trật khớp ra sau.
    Trên phim chếch qua xương bả vai (transscapular-Y), chỏm xương cánh tay bị di lệch ra sau.
    Lưu ý khoảng cách giữa chỏm xương cánh tay và ổ chảo trên phim thẳng (AP) rộng bất thường.
    Trật khớp vai ra sau ít gặp và không rõ ràng trên phim X-quang như trật khớp ra trước.
    Khoảng một nửa số trường hợp trật khớp vai ra sau không được chẩn đoán ngay lần khám đầu tiên, do mức độ nghi ngờ lâm sàng thấp và hình ảnh học chưa đầy đủ.


    Trật khớp-gãy xương ra sau

    Trật khớp-gãy xương ra sau

    Trật khớp ra sau chiếm 2-4% tổng số các trường hợp trật khớp vai.
    Trật khớp ra sau có liên quan đến cơn động kinh, chấn thương năng lượng cao, điện giật và liệu pháp sốc điện.

    Trên các hình ảnh, quan sát thấy trật khớp ra sau kèm gãy xương.

    Bankart và các biến thể


    Axial images of Bankart lesions and variants

    Hình ảnh cắt ngang các tổn thương Bankart và biến thể

    Tổn thương Bankart và các biến thể như Perthes và ALPSA là các chấn thương ở sụn viền trước-dưới.
    Các tổn thương này luôn nằm ở vị trí 3-6 giờ vì chúng được gây ra bởi trật khớp ra trước-dưới.
    Ngoại lệ duy nhất cho quy tắc này là Bankart ngược, là kết quả của trật khớp ra sau và tổn thương sụn viền sau-dưới.
    Rách Bankart có thể lan lên trên, nhưng điều này không phổ biến.

    • Bankart
      Bong tách sụn viền trước-dưới (vị trí 3-6 giờ) với rách hoàn toàn màng xương bả vai phía trước, có hoặc không kèm mảnh xương ổ chảo.
    • Bankart ngược (Reverse Bankart)
      Bong tách sụn viền sau-dưới (vị trí 6-9 giờ) với rách màng xương bả vai phía sau, có hoặc không kèm mảnh xương ổ chảo.
    • Perthes
      Bong tách sụn viền trước-dưới (vị trí 3-6 giờ) với màng xương bị bóc tách về phía trong nhưng vẫn còn nguyên vẹn.
    • ALPSA = Avulsion bao màng xương sụn viền trước (Anterior Labral Periosteal Sleeve Avulsion).
      Phức hợp sụn viền-dây chằng bị di lệch về phía trong với hình ảnh vắng mặt sụn viền tại bờ ổ chảo.
    • GLAD = Tổn thương sụn viền-khớp ổ chảo (GlenoLabral Articular Disruption).
      Biểu hiện rách một phần sụn viền trước-dưới kèm tổn thương sụn khớp lân cận.

    Bankart lesion

    Tổn thương Bankart

    Tổn thương Bankart

    Tổn thương Bankart là rách sụn viền không kèm mảnh xương.
    Chụp MRI khớp cản từ hoặc nội soi khớp là phương pháp tối ưu để chẩn đoán tổn thương Bankart hoặc các tổn thương tương tự Bankart.
    Có hình ảnh bong tách sụn viền trước-dưới (vị trí 3-6 giờ) với rách hoàn toàn màng xương bả vai phía trước.
    Mũi tên chỉ vào màng xương bị gián đoạn.

    Trên MRI khớp cản từ, sụn viền vắng mặt ở phía trước ổ chảo và mảnh sụn viền bị di lệch ra trước (mũi tên).


    Osseus Bankart

    Bankart xương

    Bankart xương

    Tổn thương Bankart kèm mảnh xương là phát hiện thường gặp ở bệnh nhân trật khớp ra trước và thường được nhìn thấy trên X-quang hoặc CT.


    CT and MR-arthrography in a patient with an osseus Bankart (arrow)

    CT và MRI khớp cản từ ở bệnh nhân có Bankart xương (mũi tên)

    Trên MRI khớp cản từ, việc xác định mảnh xương có thể gặp khó khăn.
    Trên CT, mảnh xương ở phía trước ổ chảo dễ dàng được nhận diện (mũi tên).


    Tổn thương Bankart lan lên trên

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Có tổn thương Bankart xương (mũi tên đỏ cong).
    Đường rách lan lên trên (mũi tên đen).
    Ngoài ra còn có khuyết Hill-Sachs (mũi tên đỏ).


    Bankart lesion with superior extention

    Tổn thương Bankart lan lên trên

    Hình MRI khớp cản từ mặt phẳng đứng dọc cho thấy sự lan rộng lên trên của đường rách Bankart.


    Osseus Bankart on a MR arthrogram ABER-view

    Bankart xương trên MRI khớp cản từ tư thế ABER

    Đây là một bệnh nhân khác có Bankart xương được thấy trên bốn hình ảnh liên tiếp của MRI khớp cản từ ở tư thế ABER.
    Lưu ý đường viền bất thường của ổ chảo phía trước và bờ trước bị avulsion (mũi tên)

    Bankart ngược (Reverse Bankart)

    Hình ảnh CT của một bệnh nhân khác cho thấy Bankart xương ngược ở bệnh nhân trật khớp ra sau.

    MRI khớp cản từ mặt cắt ngang của tổn thương Bankart ngược.


    Reverse Bankart

    Bankart ngược (Reverse Bankart)

    Một ví dụ khác về tổn thương Bankart ngược.
    Lưu ý sụn viền bị bong tách ở vị trí 6-9 giờ trên MRI khớp cản từ mặt phẳng đứng dọc.


    Perthes lesion: the labrum is thorn, but the periosteum is intact and only stripped (arrow)

    Tổn thương Perthes: sụn viền bị rách nhưng màng xương còn nguyên vẹn và chỉ bị bóc tách (mũi tên)

    Tổn thương Perthes

    Tổn thương Perthes là avulsion sụn viền-dây chằng tương tự Bankart, nhưng với màng xương bị bóc tách về phía trong mà vẫn còn nguyên vẹn.
    Trên hình ảnh khớp vai ở tư thế trung gian, sụn viền bị rách có thể được giữ ở vị trí giải phẫu bình thường bởi màng xương bả vai còn nguyên vẹn, từ đó ngăn thuốc tương phản từ thấm vào đường rách.
    Điều này có nghĩa là MRI khớp cản từ ở tư thế trung gian có thể không phát hiện được đường rách sụn viền.
    Tuy nhiên, ở tư thế ABER, dây chằng ổ chảo-cánh tay dưới bó trước bị căng tạo lực kéo lên sụn viền trước-dưới, giúp tăng khả năng phát hiện đường rách.
    Mũi tên chỉ vào màng xương còn nguyên vẹn.


    LEFT: normal ABER-view. RIGHT: Image rotated 90? anti-clockwise.

    TRÁI: Tư thế ABER bình thường. PHẢI: Hình ảnh xoay 90° ngược chiều kim đồng hồ.

    Các hình ảnh ở tư thế ABER cho thấy sụn viền trước bị bong tách.
    Hình bên phải được xoay 90° ngược chiều kim đồng hồ.
    Đôi khi điều này giúp hiểu rõ hơn về giải phẫu.

    Hình ảnh MRI khớp cản từ.
    Hình bên trái cho thấy vắng mặt sụn viền trước-trên, được gọi là phức hợp Buford.
    Hình bên phải cho thấy khuyết sụn khớp ở vị trí 4 giờ.
    Chưa rõ sụn viền có bình thường hay không.
    Tiếp tục xem các hình ảnh ở tư thế ABER.

    Phức hợp Buford


    HAGL


    TRÁI: Túi cùng nách bình thường (mũi tên xanh). PHẢI: Túi cùng nách bất thường do đứt rời dây chằng ổ chảo-cánh tay dưới (IGHL) (mũi tên đỏ)

    TRÁI: Túi cùng nách bình thường (mũi tên xanh). PHẢI: Túi cùng nách bất thường do đứt rời dây chằng ổ chảo-cánh tay dưới (IGHL) (mũi tên đỏ)

    HAGL là tình trạng Đứt rời tại đầu bám Xương cánh tay (Humeral Avulsion) của dây chằng ổ chảo-cánh tay dưới (Glenohumeral Ligament – IGHL).
    Có sự gián đoạn tại điểm bám của IGHL vào xương cánh tay kèm theo thoát thuốc tương phản từ ra ngoài.

    Một bệnh nhân khác với hình ảnh đứt rời dây chằng ổ chảo-cánh tay dưới tại điểm bám vào xương cánh tay.

  • Bệnh lý ngoài sụn chêm

    Bệnh lý Không thuộc Sụn chêm

    David Rubin và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trường Đại học Y Washington, St. Louis, Hoa Kỳ và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Bài viết này được biên soạn dựa trên bài thuyết trình của David Rubin và được Robin Smithuis chuyển thể cho Trợ lý Chẩn đoán Hình ảnh.
    Bài tổng quan này tập trung vào tất cả các bệnh lý không thuộc sụn chêm của khớp gối.
    Xem bài viết có tiêu đề MRI Khớp gối – Bệnh lý Sụn chêm để tìm hiểu về bệnh lý của sụn chêm.

    Các ca lâm sàng tương tác được trình bày trong thanh menu.

    bởi David Rubin và Robin Smithuis

    Dây chằng


    MR-signs of ligament tear

    Dấu hiệu MRI của đứt dây chằng

    Dây chằng chéo trước

    Dây chằng chéo trước (ACL) có cấu trúc giải phẫu đặc biệt. Đây là cấu trúc nằm trong khớp nhưng ngoài màng hoạt dịch.
    Màng hoạt dịch gấp lại bao phủ bên ngoài dây chằng. Do đó, khi nội soi khớp, phẫu thuật viên quan sát qua lớp màng hoạt dịch.
    Đôi khi khi có đứt dây chằng, lớp màng hoạt dịch vẫn còn nguyên vẹn và chỉ thấy ACL xuất huyết.
    ACL được cấu tạo từ 3-5 lớp bó sợi. Giữa các bó sợi có thể có mô mỡ, màng hoạt dịch hoặc đôi khi một ít dịch. Điều này lý giải tại sao ACL không có màu đen hoàn toàn trên ảnh PD.
    Không nên đánh giá ACL trên ảnh PD vì có thể gây ấn tượng sai về bệnh lý.
    Chỉ đánh giá ACL trên chuỗi xung T2W và ngay cả trên các ảnh này, ACL cũng không nhất thiết phải hoàn toàn màu đen.

    Tiêu chuẩn ACL bình thường:

    1. Hướng các bó sợi dốc bằng hoặc dốc hơn so với trần liên lồi cầu.
    2. Các bó sợi liên tục từ mâm chày đến lồi cầu đùi.

    Vì vậy, trên MRI, các dấu hiệu trực tiếp của đứt dây chằng bao gồm: gián đoạn trên T2W, hướng bất thường hoặc không quan sát được dây chằng.
    Nhiều dấu hiệu gián tiếp của đứt dây chằng đã được mô tả, nhưng chúng không thực sự hữu ích vì chúng ta cần dựa vào việc quan sát trực tiếp dây chằng.
    Chỉ có phù xương (bone bruise) mới là dấu hiệu gián tiếp có giá trị.

    Lưu ý rằng trên ảnh mặt phẳng vành và mặt phẳng ngang, các bó sợi ACL nằm sát ngay bên cạnh xương của hõm liên lồi cầu (mũi tên).
    Tuyệt đối không được có dịch giữa các bó sợi ACL và xương lồi cầu ngoài (gọi là ‘dấu hiệu hõm rỗng’).
    Cũng cần lưu ý rằng dây chằng chéo sau (PCL) cũng được cấu tạo từ nhiều bó sợi.


    LEFT: Acute ACL-tear. ACL fibers too flat compared to condylar roof.RIGHT: Discontinuity of fibers.

    TRÁI: Đứt ACL cấp tính. Các bó sợi ACL quá nằm ngang so với trần liên lồi cầu. PHẢI: Gián đoạn các bó sợi.

    Dây chằng chéo trước (2).
    Ca bệnh bên trái cho thấy dây chằng có hướng quá nằm ngang và các bó sợi bị gián đoạn, tức là có hướng bất thường và mất liên tục.
    Dựa trên các hình ảnh này, chúng ta không thể phân biệt giữa đứt hoàn toàn, rách độ cao một phần hay rách một phần.
    MRI không phân biệt chính xác giữa rách ACL một phần hay hoàn toàn.
    Tuy nhiên, chúng ta có thể phân biệt giữa tổn thương độ cao hay độ thấp.
    Tổn thương độ cao được định nghĩa là ‘không quan sát được hơn 50% số bó sợi’.
    Vì vậy, nếu phẫu thuật viên chỉnh hình can thiệp trong trường hợp tổn thương độ cao, họ sẽ tìm thấy ACL đứt hoàn toàn hoặc rách một phần độ cao cần được tái tạo.
    Ngược lại, nếu hầu hết các bó sợi có vẻ còn nguyên vẹn trên MRI, gợi ý rách ACL độ thấp, họ sẽ tìm thấy ACL còn nguyên hoặc rách một phần, vẫn còn vững và không cần điều trị.


    LEFT: ACL-tear with bone bruises on lateral side. RIGHT: Anterior condyle hits the posterior part of the tibia. ACL torn due to stretching.

    TRÁI: Đứt ACL kèm phù xương phía bên ngoài. PHẢI: Lồi cầu trước va chạm vào phần sau mâm chày. ACL đứt do bị kéo căng.

    Dây chằng chéo trước (3).
    Phù xương xuất hiện ở vị trí rất điển hình, phản ánh cơ chế trật khớp là nguyên nhân gây đứt ACL.


    Segond fracture indicating ACL-tear

    Gãy xương Segond gợi ý đứt ACL

    Dây chằng chéo trước (4)
    Trên X-quang, một dấu hiệu gián tiếp quan trọng của đứt ACL là gãy xương Segond.
    Khó nhận thấy trên MRI nhưng dễ phát hiện hơn nhiều trên phim X-quang thường.
    Gãy xương Segond là gãy xương bong điểm bám của dải bên ngoài do cơ chế xoay trong và lực vẹo trong.
    Trong 75-100% trường hợp sẽ kèm theo đứt ACL.

    Tam chứng bất hạnh hay hội chứng O’Donoghue là một tổ hợp tổn thương khác.
    Tổn thương tam chứng bất hạnh thường xảy ra trong các môn thể thao đối kháng như bóng đá khi gối bị va chạm từ phía ngoài.
    Điều này gây tổn thương ba cấu trúc của khớp gối:

    1. Đứt ACL
    2. Đứt dây chằng bên trong (MCL)
    3. Rách sụn chêm trong

    Torn ACL. ACL fibers are too flat (yellow arrow) compared to intercondylar roof (Blumensaat's line).

    Đứt ACL. Các bó sợi ACL quá nằm ngang (mũi tên vàng) so với trần liên lồi cầu (đường Blumensaat).

    Dây chằng chéo trước (5)
    Ca bệnh bên trái cho thấy ACL bị đứt.
    Các bó sợi có hướng bất thường (quá nằm ngang).
    Tuy nhiên, khó xác định liệu các bó sợi này có còn bám vào lồi cầu đùi hay không.
    Góc gấp cấp tính của dây chằng là do ACL và PCL đã dính vào nhau thành sẹo (xem bên dưới).


    LEFT: ACL-fibers have a normal orientation but do not connect to femurcondyle. RIGHT: Empty notch sign: fluid against the interior part of the lateral condyle

    TRÁI: Các bó sợi ACL có hướng bình thường nhưng không bám vào lồi cầu đùi. PHẢI: Dấu hiệu hõm rỗng: dịch áp sát mặt trong lồi cầu ngoài.

    Đôi khi dễ đánh giá hơn liệu các bó sợi có còn bám vào xương hay không khi quan sát trên mặt phẳng vành.
    Tuyệt đối không được có dịch áp sát mặt trong lồi cầu ngoài.
    Nếu có dịch ở vị trí này, được gọi là ‘dấu hiệu hõm rỗng’, cho thấy ACL đã bị bong khỏi điểm bám trên lồi cầu đùi.


    In the axial plane there is an empty notch sign (yellow arrows) where there should be ACL attached to the condyle. At a lower level (going right) the torn ACL is scarred to the PCL (green arrows)

    Trên mặt phẳng ngang có dấu hiệu hõm rỗng (mũi tên vàng) ở vị trí lẽ ra ACL phải bám vào lồi cầu. Ở mức thấp hơn (sang phải), ACL đứt đã dính sẹo vào PCL (mũi tên xanh lá).

    Trên mặt phẳng ngang cũng phải thấy dây chằng nằm sát bên lồi cầu.
    Ở mức thấp hơn, chúng ta thấy ACL đứt bám dính vào dây chằng chéo sau.
    Chúng đã dính vào nhau thành sẹo.
    Đây là hình ảnh rất thường gặp trong đứt ACL mạn tính.
    Sự dính sẹo này tạo ra góc gấp cấp tính của dây chằng.
    Mặc dù ACL đã dính vào PCL, nhưng vẫn không đủ vững và cần phải tái tạo.


    ACL Mucoid degeneration. This patient had an operation for another reason and the surgeons called it normal because it looks normal.

    Thoái hóa nhầy ACL. Bệnh nhân này được phẫu thuật vì lý do khác và các phẫu thuật viên nhận định là bình thường vì trông có vẻ bình thường.

    Dây chằng chéo trước (6)
    Ca bệnh bên trái cho thấy ACL không quan sát được trên ảnh PD. Tuy nhiên, bài học ở đây là ‘không đánh giá dây chằng trên ảnh PD’.
    Nếu muốn đánh giá ACL, hãy xem trên chuỗi xung T2W.
    Ảnh T2W cho thấy các bó sợi liên tục từ mâm chày đến lồi cầu đùi với hướng bình thường. Vậy ACL còn nguyên vẹn.
    Đây là trường hợp thoái hóa nhầy. Bình thường giữa các bó sợi ACL có thể có màng hoạt dịch hoặc mô mỡ.
    Trong quá trình lão hóa bình thường, các thành phần này có thể chuyển thành chất dạng keo.
    Điều này không ảnh hưởng đến độ bền của ACL.


    ACL Mucoid degeneration with cyst-formation (intra-osseus ganglion). Mucoid material is squeezed from between the ACL-fibers into the bone. At arthroscopy ACL and bone looked normal.

    Thoái hóa nhầy ACL kèm hình thành nang (nang hạch trong xương). Chất nhầy bị đẩy từ giữa các bó sợi ACL vào trong xương. Khi nội soi khớp, ACL và xương trông bình thường.

    Dây chằng chéo trước (7)
    Một ca thoái hóa nhầy ACL khác.
    Tình trạng này thường kèm theo hình thành nang trong xương.
    Có thể gọi là nang hạch, nhưng cũng có thể xem là bình thường vì không có ý nghĩa lâm sàng.
    Đây là một phần của quá trình lão hóa bình thường.


    ACL ganglion cyst

    Nang hạch ACL

    Dây chằng chéo trước (8)
    Ca bệnh bên trái cho thấy nang tách biệt khỏi ACL, khác với thoái hóa nhầy.
    Đây là nang hạch, có thể cũng là một dạng thoái hóa.
    Điểm khác biệt so với thoái hóa nhầy là các nang này có thể gây triệu chứng lâm sàng.
    Đôi khi các nang này sẽ được dẫn lưu dưới hướng dẫn siêu âm.
    Cần sử dụng kim có kích thước lớn vì chất bên trong rất đặc.


    Acute PCL-tear: In the coronal and axial plane most of the fibers are gone so it's a high grade tear.

    Đứt PCL cấp tính: Trên mặt phẳng vành và mặt phẳng ngang, hầu hết các bó sợi đã mất, đây là tổn thương độ cao.

    Dây chằng chéo sau

    Chúng ta áp dụng các tiêu chuẩn tương tự cho tất cả các dây chằng khác trong cơ thể.
    Ca bệnh bên trái cho thấy đứt PCL độ cao.


    MCL from medial epicondyle (yellow arrow) to below the inferomedial geniculate vessels (red arrow) about 7 centimetres below the joint space.

    MCL từ lồi cầu trong (mũi tên vàng) đến dưới các mạch máu gối dưới trong (mũi tên đỏ), khoảng 7 cm dưới khe khớp.

    Dây chằng bên trong

    Dây chằng bên trong nông (MCL) chạy từ lồi cầu trong đến điểm bám không chỉ gần khớp mà còn xuống tận 7 cm dưới khe khớp.
    Tại điểm đó có ba mốc giải phẫu: động mạch gối dưới trong và hai tĩnh mạch đi kèm (hình minh họa).
    Phần sâu của MCL, ngay cả khi bình thường, đôi khi cũng không quan sát được.
    Nó nằm sát với sụn chêm trong và MCL nông.


    Grade 1 MCL Sprain

    Bong gân MCL độ I

    Dây chằng bên trong (2)
    Ca bệnh bên trái cho thấy bong gân độ I của dây chằng bên trong.

    Nang, Túi Hoạt Dịch và Ngách Khớp


    LEFT: popliteal cyst originating between semimembranosus tendon (red arrow) and gastrocnemius muscle and tendon (green arrow).RIGHT: ruptured popliteal cyst with fluid tracking down the muscles.

    TRÁI: Nang khoeo xuất phát giữa gân cơ bán màng (mũi tên đỏ) và cơ cùng gân cơ sinh đôi (mũi tên xanh lá). PHẢI: Nang khoeo vỡ với dịch lan dọc theo các cơ.

    Có khoảng 12 túi hoạt dịch và ngách khớp được đặt tên ở vùng gối.
    Một số rất phổ biến, một số khác ít gặp hơn.
    Đây là các cấu trúc được lót bởi màng hoạt dịch.
    Ngách khớp phổ biến nhất là nang khoeo hay còn gọi là nang Baker.
    Vị trí xuất phát nằm giữa gân cơ bán màng và gân cơ sinh đôi.


    Prepatellar bursitis

    Viêm túi hoạt dịch trước xương bánh chè

    Viêm túi hoạt dịch trước xương bánh chè

    Hình bên trái minh họa các đặc điểm hình ảnh điển hình của viêm túi hoạt dịch trước xương bánh chè.


    Deep infrapatellar bursitis

    Viêm túi hoạt dịch dưới xương bánh chè sâu

    Viêm túi hoạt dịch dưới xương bánh chè sâu

    Viêm túi hoạt dịch dưới xương bánh chè sâu là một thể viêm túi hoạt dịch ít gặp.
    Đôi khi có liên quan đến bệnh Osgood-Schlatter.


    Medial collateral ligament bursitis located between the deep MCL (yellow arrow) and the superficial MCL (green arrow).

    Viêm túi hoạt dịch dây chằng bên trong nằm giữa MCL sâu (mũi tên vàng) và MCL nông (mũi tên xanh lá).

    Các túi hoạt dịch này đều được đặt tên theo các cấu trúc lân cận.
    Do đó, viêm túi hoạt dịch nằm giữa MCL sâu và MCL nông được gọi là viêm túi hoạt dịch dây chằng bên trong.


    Iliotibial Band Friction syndrome: no fat between iliotibial band (yellow arrow) and the lateral condyle.

    Hội chứng ma sát dải chậu chày: không có mô mỡ giữa dải chậu chày (mũi tên vàng) và lồi cầu ngoài.

    Nang, Túi Hoạt Dịch và Ngách Khớp (2)

    Túi hoạt dịch thứ phát là các túi hoạt dịch hình thành ở những vị trí bình thường không có túi hoạt dịch.
    Túi hoạt dịch này được hình thành do ma sát bất thường.

    Hội chứng ma sát dải chậu chày
    Vị trí ma sát bất thường thường gặp là giữa dải chậu chày và lồi cầu ngoài, hay xảy ra ở vận động viên đi bộ tốc độ cao, đạp xe và đôi khi ở người chạy bộ.
    Khi túi hoạt dịch hình thành tại vị trí này, tình trạng này được gọi là ‘Hội chứng ma sát dải chậu chày’.
    Hình bên trái là một vận động viên đi bộ tốc độ cao với triệu chứng đau mặt ngoài gối.
    Bình thường phải có mô mỡ giữa dải chậu chày và lồi cầu ngoài, nhưng trong trường hợp này mô mỡ không còn hiện diện.


    Iliotibial Band Friction syndrome : Fluid  within a bursa is seen between the iliotibial tract and the femur (yellow arrows). Joint fluid stops at the red arrows.

    Hội chứng ma sát dải chậu chày: Dịch trong túi hoạt dịch thấy được giữa dải chậu chày và xương đùi (mũi tên vàng). Dịch khớp dừng lại tại các mũi tên đỏ.

    Cùng bệnh nhân trên. Trên các lát cắt axial, có thể thấy dịch trong túi hoạt dịch nằm giữa dải chậu chày và xương đùi bên dưới.
    Đôi khi cần phân biệt dịch tại vị trí này với dịch khớp.
    Cần xem xét toàn bộ các lát cắt hình ảnh.
    Trong trường hợp này, dịch khớp dừng lại tại các mũi tên đỏ.


    Patient with a palpable mass. Marker is placed. Enhancing lesion due to a neurofibroma.

    Bệnh nhân có khối sờ thấy được. Đã đặt marker. Tổn thương ngấm thuốc tương phản từ do u xơ thần kinh.

    Cần lưu ý rằng không phải mọi tổn thương tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W đều là dịch.
    Cần nghi ngờ khi có hình ảnh trông giống như ổ dịch nhưng không nằm ở vị trí thông thường của túi hoạt dịch, nang hoặc ngách khớp.
    Nên tiêm Gadolinium để phân biệt tổn thương dạng nang với tổn thương đặc.

    Gân cơ tứ đầu đùi và Gân bánh chè


    Cơ chế duỗi gối bình thường: Gân cơ tứ đầu đùi gồm ba lớp (mũi tên cam). Gân bánh chè (mũi tên xanh) và gân cơ tứ đầu đùi có ranh giới phía sau rõ nét.

    Cơ chế duỗi gối bình thường: Gân cơ tứ đầu đùi gồm ba lớp (mũi tên cam). Gân bánh chè (mũi tên xanh) và gân cơ tứ đầu đùi có ranh giới phía sau rõ nét.

    Cơ chế duỗi gối bình thường
    Cơ chế duỗi gối bao gồm cơ và gân cơ tứ đầu đùi, xương bánh chè và gân bánh chè.
    Gân cơ tứ đầu đùi được cấu thành từ bốn gân nhưng hiển thị thành ba lớp trên ảnh mặt phẳng đứng dọc (sagittal).
    Gân bám rộng từ mặt trước xương bánh chè gần đến mặt sau.

    Các gân cơ tứ đầu đùi cũng như gân bánh chè có tín hiệu đồng nhất nhưng không nhất thiết phải đen trên ảnh chuỗi xung PD.
    Chúng có ranh giới phía sau rõ nét.
    Không nên có hiện tượng dày khu trú.


    Rách một phần gân cơ tứ đầu đùi: Ảnh chuỗi xung T2W. TRÁI: Điểm bám gân bất thường. PHẢI: Phần lớn gân bị co rút (mũi tên đỏ), phần sâu (cơ rộng trung gian) vẫn còn nguyên vẹn.

    Rách một phần gân cơ tứ đầu đùi: Ảnh chuỗi xung T2W. TRÁI: Điểm bám gân bất thường. PHẢI: Phần lớn gân bị co rút (mũi tên đỏ), phần sâu (cơ rộng trung gian) vẫn còn nguyên vẹn.

    Rách gân cơ tứ đầu đùi

    Trường hợp bên trái cho thấy điểm bám gân cơ tứ đầu đùi bất thường.
    Chỉ còn một lớp và điểm bám không trải dài từ mặt trước xương bánh chè đến gần mặt sau.
    Trong trường hợp như vậy, cần chụp thêm các lát cắt ở vị trí cao hơn sau khi điều chỉnh lại cuộn thu tín hiệu để đánh giá tình trạng tại đó.
    Phần gân cơ tứ đầu đùi bị rách đã co rút lên trên.
    Phần sâu vẫn còn nguyên vẹn.


    TRÁI: Gân bị rách với bệnh lý gân có từ trước (mũi tên đỏ). PHẢI: Gân cơ rộng trung gian còn nguyên vẹn.

    TRÁI: Gân bị rách với bệnh lý gân có từ trước (mũi tên đỏ). PHẢI: Gân cơ rộng trung gian còn nguyên vẹn.

    Cùng bệnh nhân, ảnh mặt phẳng ngang (axial).
    Gân cơ tứ đầu đùi bị rách rất dày, gợi ý bệnh lý gân (tendinopathy).
    Gân bình thường không bị rách, vì vậy luôn cần tìm kiếm các dấu hiệu của bệnh lý gân có từ trước.
    Ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, nếu thấy hình ảnh gân bị rách nhưng không có bệnh lý gân từ trước, cần cân nhắc kỹ lưỡng xem chẩn đoán có thực sự chính xác không.
    Lát cắt ở mức thấp hơn cho thấy cơ và gân cơ rộng trung gian bình thường.


    TRÁI: Rách một phần gân cơ tứ đầu đùi. Chỉ có gân cơ thẳng đùi bị rách (mũi tên xanh). PHẢI: Bệnh lý gân có từ trước (vòng tròn vàng) trên ảnh mặt phẳng ngang.

    TRÁI: Rách một phần gân cơ tứ đầu đùi. Chỉ có gân cơ thẳng đùi bị rách (mũi tên xanh). PHẢI: Bệnh lý gân có từ trước (vòng tròn vàng) trên ảnh mặt phẳng ngang.

    Một ví dụ khác về rách một phần gân cơ tứ đầu đùi.


    Rách hoàn toàn gân cơ tứ đầu đùi. Ảnh chuỗi xung T2W mặt phẳng đứng dọc. Mất liên tục hoàn toàn. Khối máu tụ ở giữa.

    Rách hoàn toàn gân cơ tứ đầu đùi. Ảnh chuỗi xung T2W mặt phẳng đứng dọc. Mất liên tục hoàn toàn. Khối máu tụ ở giữa.

    Khi không còn sự liên tục giữa xương bánh chè và gân cơ tứ đầu đùi, đó là rách hoàn toàn.

    Gối của người nhảy (Jumper’s Knee)

    Jumper’s Knee là một phổ bệnh lý từ bệnh lý gân đến rách gân.
    Tương tự như gân cơ tứ đầu đùi hay bất kỳ gân nào khác, MRI cho thấy một phổ hình ảnh từ dày gân lệch tâm, bờ sau không rõ nét, tăng tín hiệu trên ảnh chuỗi xung T2W và cuối cùng là đứt các bó sợi gân.


    Bệnh lý gân bánh chè và Rách một phần gân bánh chè

    Bệnh lý gân bánh chè và Rách một phần gân bánh chè

    Bệnh lý gân bánh chè
    Bệnh nhân bên trái là một vũ công ballet chuyên nghiệp với triệu chứng đau dưới xương bánh chè.
    Đoạn gần của gân bánh chè dày bất thường. Bờ sau không rõ nét. Trong xương bánh chè có một ít phù nề (hoặc dập xương). Nếu không được điều trị có thể tiến triển thành…
    Rách một phần gân bánh chè. Ảnh bên phải của một bệnh nhân khác.


    Rách hoàn toàn gân bánh chè. Ảnh bên phải cho thấy viêm túi hoạt dịch xuất huyết (giảm tín hiệu trong túi hoạt dịch).

    Rách hoàn toàn gân bánh chè. Ảnh bên phải cho thấy viêm túi hoạt dịch xuất huyết (giảm tín hiệu trong túi hoạt dịch).

    Rách hoàn toàn gân bánh chè. Các ảnh bên trái cho thấy mất liên tục hoàn toàn giữa các bó sợi gân và xương bánh chè. Gân bị dày.


    Bong gân bánh chè dạng vỏ bọc (Patellar sleeve avulsion). Đường gãy chỉ nhìn thấy trên ảnh mặt phẳng đứng ngang (coronal).

    Bong gân bánh chè dạng vỏ bọc (Patellar sleeve avulsion). Đường gãy chỉ nhìn thấy trên ảnh mặt phẳng đứng ngang (coronal).

    Bong gân bánh chè dạng vỏ bọc (Patellar sleeve avulsion).
    Ở trẻ em, tình huống có sự khác biệt. Trẻ em không phát triển bệnh lý gân.
    Trường hợp bên trái là hình ảnh của một bé gái bị đau dưới xương bánh chè sau khi tập thể dục dụng cụ.
    Mặc dù X-quang bình thường, thực tế có một đường gãy qua phần sụn của cực dưới xương bánh chè.
    Trên MRI, hình ảnh trông giống như Jumper’s Knee ở trên. Chỉ trên ảnh mặt phẳng đứng ngang mới thấy được đường gãy giảm tín hiệu nằm trong phần sụn tăng tín hiệu.
    Thông thường các gãy xương này được điều trị bằng khâu phục hồi.
    Khi các tổn thương này không được phát hiện, chúng sẽ lành với sự hình thành cốt hóa ngay dưới xương bánh chè.

    Trật khớp xương bánh chè

    Giải phẫu bình thường
    Sụn xương bánh chè là sụn dày nhất trong cơ thể. Bề mặt sụn cần có đường viền nhẵn đều.
    Thành phần quan trọng nhất của mạc giữ phía trong là dây chằng xương bánh chè – lồi cầu đùi phía trong, bám tận ra phía sau ngay trước dây chằng bên trong (MCL).


    LEFT: Bone bruise lateral condyle (yellow circle). Normal MCL (green arrow) but missing patellar femoral ligament anterior to it.RIGHT: Medial patellar femoral ligament thorn from femoral attachment.

    TRÁI: Dập xương lồi cầu ngoài (vòng tròn vàng). MCL bình thường (mũi tên xanh lá) nhưng không thấy dây chằng xương bánh chè – lồi cầu đùi phía trước. PHẢI: Dây chằng xương bánh chè – lồi cầu đùi phía trong bị đứt khỏi điểm bám tại xương đùi.

    Ca bệnh bên trái là một nữ cầu thủ bóng đá bị xoắn vặn khớp gối.
    Bốn hình ảnh MRI từ dưới lên trên thể hiện đầy đủ các đặc điểm hình ảnh của trật khớp xương bánh chè kèm đứt dây chằng xương bánh chè – lồi cầu đùi phía trong.
    Xương bánh chè bị trật và mặt khớp phía trong đã va đập vào lồi cầu ngoài xương đùi.
    Xương bánh chè đã tự trở về vị trí bình thường.


    LEFT: Bone bruise medial patella (green arrow).RIGHT: Cartilage fracture.

    TRÁI: Dập xương mặt trong xương bánh chè (mũi tên xanh lá). PHẢI: Gãy sụn khớp.

    Tổn thương dập xương có thể kèm theo biến chứng gãy sụn khớp.

    Trật khớp xương bánh chè (2)
    Trật khớp xương bánh chè là một tình trạng thường gặp, nhưng thường bị bỏ sót trên lâm sàng do xương bánh chè tự trở về vị trí bình thường sau khi trật.
    Bệnh nhân đến khám với hình ảnh gối sưng đau, có thể gợi ý nhiều chẩn đoán khác nhau từ đứt dây chằng chéo trước (ACL), dây chằng bên trong (MCL), rách sụn chêm cho đến gãy xương.
    Do đó, các đặc điểm hình ảnh trên MRI đóng vai trò quan trọng trong việc nhận diện tình trạng này.
    Những bệnh nhân có dị vật khớp hoặc trật khớp tái diễn có thể được chỉ định phẫu thuật tái tạo mạc giữ.

    Xương và Sụn

    Tủy xương bình thường và bất thường

    Ở người trưởng thành, tủy xương chủ yếu được cấu tạo bởi mô mỡ.
    Các đảo tủy đỏ bình thường có thể tạo ra hình ảnh dễ gây nhầm lẫn.
    Tủy đỏ có thể nổi bật ở phụ nữ trẻ, người hút thuốc lá, người sống ở vùng cao, bệnh nhân mắc bệnh huyết sắc tố, hoặc không rõ nguyên nhân.
    Miễn là đáp ứng đủ các tiêu chí ở bên trái, đây vẫn được coi là bình thường.

    Tủy đỏ bình thường ở hình bên trái.
    Giới hạn trong vùng hành xương, không lan vào vùng đầu xương.
    Xuất hiện dưới dạng các đảo tủy.
    Trên chuỗi xung T1W có tín hiệu sáng hơn cơ.


    Bệnh nhân bạch cầu cấp với tủy xương bất thường

    Bệnh nhân bạch cầu cấp với tủy xương bất thường

    Tủy xương bất thường
    Ca lâm sàng bên trái cho thấy tủy xương bất thường.
    Trên chuỗi xung T1W, cường độ tín hiệu thấp hơn cơ.
    Trên chuỗi xung T2W, tín hiệu rất sáng.
    Tín hiệu bất thường lan vào vùng đầu xương.


    Tủy xương bất thường. Có tín hiệu bất thường dạng vòng tròn ở vùng hành xương và đầu xương.

    Tủy xương bất thường. Có tín hiệu bất thường dạng vòng tròn ở vùng hành xương và đầu xương.

    Một ca lâm sàng khác với tủy xương bất thường.
    Trong trường hợp này, tủy xương giảm tín hiệu quá mức trên cả T1 và T2 do lắng đọng sắt trong tủy sau nhiều lần truyền máu ở bệnh nhân mắc bệnh hemosiderosis (ứ sắt).


    Hoại tử vô mạch: dịch nằm dưới sụn khớp tương tự dấu hiệu liềm trên X-quang. Sụn khớp bình thường.

    Hoại tử vô mạch: dịch nằm dưới sụn khớp tương tự dấu hiệu liềm trên X-quang. Sụn khớp bình thường.

    Hoại tử vô mạch

    Bất thường tủy xương thường gặp nhất là Hoại tử vô mạch (AVN).
    Một số người cho rằng ‘AVN, Viêm xương sụn bóc tách và Gãy xương do stress trông giống nhau’.
    Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ ràng.
    AVN có các đặc điểm sau:
    1. Tổn thương khu trú nằm dưới sụn và có nguồn gốc từ xương.
    2. Sụn khớp bình thường (cho đến khi xẹp).
    3. Phù tủy xương hình chêm do nhồi máu xương.


    Nhồi máu xương hình chêm trong hoại tử vô mạch

    Nhồi máu xương hình chêm trong hoại tử vô mạch

    Hình thái phù tủy xương dạng hình chêm tương tự như bất kỳ nhồi máu nào khác trong cơ thể, ví dụ như nhồi máu gan hoặc nhồi máu thận.

    Gãy xương do suy yếu

    Bên trái là một thực thể bệnh lý khác, nhưng bệnh nhân có cùng triệu chứng.
    Khởi phát đau vùng trong gối cấp tính.
    Có phù tủy xương lan tỏa trên chuỗi xung T2W.
    Trên chuỗi xung T1W, tổn thương khu trú không nằm trực tiếp dưới sụn.
    Bất thường trên T1 nằm sâu hơn bên trong vùng phù.
    Trên chuỗi xung T1W, có thể thấy một đường giảm tín hiệu biểu hiện gãy xương do suy yếu.
    Bệnh nhân này sẽ hồi phục khi không chịu lực.

    Bên trái là một bệnh nhân khác đau gối sau chấn thương.
    Có tràn dịch khớp nhẹ nhưng X-quang không phát hiện bất thường.


    Gãy mâm chày. Đây cũng là gãy xương sụn vì đường gãy kéo dài xuyên qua sụn đến tận bề mặt khớp.

    Gãy mâm chày. Đây cũng là gãy xương sụn vì đường gãy kéo dài xuyên qua sụn đến tận bề mặt khớp.

    Ở cùng bệnh nhân, MRI cho thấy rõ ràng gãy mâm chày.
    Điểm quan trọng là bất kỳ bệnh nhân nào không thể chịu lực ở khớp háng, khớp gối hoặc khớp cổ chân với X-quang bình thường đều cần được thực hiện thêm phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác.


    Viêm xương sụn bóc tách không ổn định

    Viêm xương sụn bóc tách không ổn định

    Viêm xương sụn bóc tách

    Chẩn đoán Viêm xương sụn bóc tách thường được thực hiện trên X-quang.
    Câu hỏi đặt ra khi chụp MRI là tổn thương ổn định hay không ổn định.
    Ca lâm sàng bên trái là không ổn định vì hai lý do:
    – Các nang nhỏ ở nền tổn thương (mũi tên đỏ)
    – Quan trọng hơn là có dịch ở nền tổn thương (mũi tên xanh)
    Lưu ý rằng lớp dịch này khác với AVN, nơi dịch nằm giữa sụn và xương.


    Viêm xương sụn bóc tách không ổn định. Dấu hiệu duy nhất có giá trị để chẩn đoán OD không ổn định là dịch (mũi tên vàng), không phải phù tủy hay gián đoạn bề mặt xương sụn (mũi tên xanh lá).

    Viêm xương sụn bóc tách không ổn định. Dấu hiệu duy nhất có giá trị để chẩn đoán OD không ổn định là dịch (mũi tên vàng), không phải phù tủy hay gián đoạn bề mặt xương sụn (mũi tên xanh lá).

    Các dấu hiệu không có giá trị trong việc phân biệt OD ổn định và không ổn định bao gồm:
    – Phù tủy xương (có thể gặp trong cả hai trường hợp)
    – Gián đoạn bề mặt xương sụn.
    Vì vậy, ca lâm sàng bên trái là không ổn định vì có dịch ở nền tổn thương.

    Ca lâm sàng bên trái cho thấy viêm xương sụn bóc tách với phù tủy xương và gián đoạn bề mặt xương sụn.
    Tuy nhiên, vì không có dịch, chúng ta không thể xác định đây là tổn thương ổn định hay không ổn định.
    Trong phẫu thuật, tổn thương viêm xương sụn bóc tách được xác nhận là ổn định.

    Trong những trường hợp không thể xác định tổn thương ổn định hay không ổn định, chụp MRI khớp có thuốc tương phản từ (MR-arthrogram) rất có giá trị.
    Chúng ta tìm kiếm dấu hiệu Gadolinium thấm vào xung quanh tổn thương xương sụn.

  • Tiêu xương – U xương ranh giới không rõ

    Osteolytic – ill defined bone tumors

    Henk Jan van der Woude and Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Onze Lieve Vrouwe Gasthuis, Amsterdam và Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp, Hà Lan

    Publicationdate

    Trong bài viết U xương – Chẩn đoán phân biệt
    chúng tôi đã thảo luận về cách tiếp cận có hệ thống trong chẩn đoán phân biệt các u xương và tổn thương dạng u.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về chẩn đoán phân biệt các u xương tiêu xương không rõ ranh giới theo thứ tự bảng chữ cái.
    Bạn có thể nhấp vào một mục ở bên trái.

    Introduction

    Bên trái là các khối u xương và tổn thương giả u xương có giới hạn không rõ ràng phổ biến nhất.

    An ill-defined zone of transition is seen in:

    • Khối u xương ác tính:

      • Sarcoma Ewing
      • Sarcoma xương (biểu hiện thường gặp nhất: xơ cứng)
      • Bạch cầu cấp
      • Di căn và Đa u tủy xương.
    • Tổn thương lành tính xâm lấn:

      • Nhiễm trùng
      • U hạt toan tính
      • U tế bào khổng lồ xâm lấn tại chỗ

    Bên trái là bảng các u xương và tổn thương dạng u phổ biến nhất ở các nhóm tuổi khác nhau.
    Ở cột giữa là các tổn thương tiêu xương bờ không rõ ràng thường gặp.

    Notice the following:

    • Infection is seen in all ages.
    • Bờ không rõ ràng trong u tế bào khổng lồ được thấy trong tổn thương xâm lấn tại chỗ.
    • Chondrosarcoma thường có ranh giới rõ ràng, nhưng chondrosarcoma độ cao có thể có ranh giới không rõ ràng.
    • Di căn và u tủy cũng thường có ranh giới rõ ràng, nhưng đôi khi không rõ ràng.

    Chondrosarcoma


    Chondrosarcoma

    Chondrosarcoma

    Key facts

    • Thường gặp nhất là tổn thương bờ rõ, nhưng đôi khi có thể gặp dưới dạng tổn thương tiêu xương bờ không rõ.
    • Vôi hóa có thể được nhìn thấy khi có thành phần myxoid lớn trong khối u, nhưng chúng không cần thiết cho chẩn đoán.

    Bên trái là một tổn thương tiêu xương không rõ ranh giới một phần với hiện tượng xói mòn nội màng xương.
    Có các vôi hóa dạng đám mây gợi ý chất nền sụn.
    Các đặc điểm hình ảnh này cùng với kích thước tổn thương ủng hộ chẩn đoán u sụn ác tính (chondrosarcoma).

    Ở bên trái có hai tổn thương khác được chứng minh là u sụn ác tính (chondrosarcoma).
    Lưu ý rằng vôi hóa không phải là dấu hiệu bắt buộc trong u sụn ác tính (chondrosarcoma).

    More on Chondrosarcoma

    Ở bên trái là tổn thương tiêu xương thùy múi, một phần không rõ ranh giới ở đầu trên xương cánh tay.
    Sự hiện diện của các vôi hóa gợi ý đây là một khối u sụn.
    Các phần tiêu xương có xâm lấn và phá hủy vỏ xương nên làm tăng nghi ngờ về sarcoma sụn độ cao.

    Eosinophilic granuloma


    Eosinophilic granuloma with ill-defined borders.

    Eosinophilic granuloma with ill-defined borders.

    Key facts

    • U hạt toan ái (EG) cũng giống như viêm tủy xương, là bệnh lý có thể bắt chước nhiều u xương lành tính và ác tính.
    • Phải được đưa vào chẩn đoán phân biệt của hầu hết mọi tổn thương tiêu xương không rõ ràng ở bệnh nhân dưới 30 tuổi.
    • May also present as a well-defined lesion.
    • EG can be excluded in patients > 30 years.
    • Thường gặp ở hộp sọ, xương hàm dưới, cột sống và xương dài, nhưng có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào.

    Ở bên trái là một số ví dụ về U hạt bạch cầu ái toan (EG) với bờ không rõ ràng.
    Có phản ứng màng xương đơn lớp hoặc đa lớp.

    Ở bên trái là hình ảnh điển hình của u hạt bạch cầu ái toan trong hộp sọ dưới dạng tổn thương tiêu xương không rõ ranh giới.

    More on Eosinophilic granuloma

    Ewing’s sarcoma


    Ewing's sarcoma in diaphysis of the femur. Notice ill-defined zone of transition (blue arrow) and aggressive type of periosteal reaction (red arrows)

    Ewing’s sarcoma in diaphysis of the femur. Notice ill-defined zone of transition (blue arrow) and aggressive type of periosteal reaction (red arrows)

    Key facts

    • Biểu hiện thường gặp nhất: tổn thương tiêu xương không rõ ranh giới với nhiều lỗ nhỏ ở thân xương dài của trẻ em kèm theo khối mô mềm lớn.
    • Biểu hiện với đau, khối u, sốt, thiếu máu và tăng bạch cầu.
    • Most common location: femur, iliac bone, fibula, rib, tibia.
    • Chẩn đoán phân biệt: U xương ác tính (Osteosarcoma), u lympho, nhiễm trùng và u hạt bạch cầu ái toan (EG).
    • Thường gặp kiểu phản ứng màng xương dạng ác tính, nhưng không bao giờ là dạng lành tính.

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có u xương Ewing ở xương đùi.
    Lưu ý vùng tiêu xương không rõ ranh giới.
    Có phản ứng màng xương xâm lấn.

    Bên trái là một tổn thương tiêu xương không rõ ranh giới ở xương đùi của bệnh nhân trẻ tuổi.
    Có hình thái phá hủy thấm nhiễm với sự phá hủy vỏ xương không đều.
    Có phản ứng màng xương dạng xâm lấn (mũi tên).
    Hình ảnh này còn được gọi là hình ảnh tia mặt trời.

    Bên trái là tổn thương tiêu xương không rõ ranh giới ở xương chậu phải của một bệnh nhân trẻ, có thể dễ dàng bị bỏ sót.
    Chẩn đoán cuối cùng: Sarcoma Ewing.

    More on Ewing’s sarcoma

    Giant cell tumor


    GCT of the radius with ill-defined margins on the left and a GCT in the tibia with well-defined margins

    GCT of the radius with ill-defined margins on the left and a GCT in the tibia with well-defined margins

    Key facts

    • U tế bào khổng lồ là tổn thương lành tính, nhưng có thể xâm lấn tại chỗ.
    • Bờ viền rõ ràng liên quan đến hành vi sinh học tại chỗ ít xâm lấn hơn.
    • In many cases the margin is ill-defined (figure).
    • Những khối u này thường làm mỏng vỏ xương và có thể lan rộng vào các mô mềm xung quanh xương.
    • Thường gặp nhất ở độ tuổi 20-40. Ở nhóm tuổi > 40, di căn và u tương bào cần được đưa vào chẩn đoán phân biệt.

    Bên trái là u tế bào khổng lồ ở đầu xa xương quay với bờ không rõ ràng, phá hủy tấm xương dưới sụn và xâm lấn vào phần mềm.
    Bên phải là u tế bào khổng lồ ở đầu gần xương chày với bờ tương đối rõ hơn và vỏ xương còn liên tục.

    More on Giant cell tumor

    Lymphoma

    Key facts

    • Primary non-Hodgkin’s lymphoma of bone is rare.
    • Presentation: usually pain and palpable mass.
    • Preferential sites: femur and humerus.
    • Hình ảnh X-quang có thể dao động từ gần như bình thường đến thâm nhiễm lan tỏa nặng nề.
    • Chẩn đoán phân biệt:
      • Sarcoma Ewing, tuy nhiên u lympho thường gặp ở nhóm tuổi cao hơn
      • Di căn và u tương bào ở tuổi > 40.

    Phim X-quang thường bên trái cho thấy tổn thương tiêu xương không rõ ranh giới ở thân xương cánh tay.
    Lưu ý hiện tượng xâm lấn dạng đường hầm qua vỏ xương (mũi tên đỏ).
    Trên hình MR, lưu ý các bất thường dạng tuyến tính trong vỏ xương và khối mô mềm bao quanh theo chu vi.
    Chẩn đoán phân biệt (tùy theo độ tuổi): Sarcoma Ewing, viêm tủy xương và u lympho xương.
    Sinh thiết xác nhận u lympho không Hodgkin

    Metastases


    Metastasis in distal femur

    Metastasis in distal femur

    Key facts

    • Most common malignancy in bone.
    • Phải được xem xét trong chẩn đoán phân biệt của bất kỳ tổn thương xương nào ở bệnh nhân > 40 tuổi.
    • Có thể biểu hiện dưới dạng tổn thương xương tiêu xương bờ rõ, tiêu xương bờ không rõ và cũng có thể dưới dạng tổn thương xương xơ cứng.
    • Phần lớn các di căn tiêu xương xuất phát từ ung thư vú, phổi, thận, đại tràng, u hắc tố và tuyến giáp.

    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân 60 tuổi có tiền sử ác tính đã biết.
    Có một tổn thương ở đầu xa xương đùi, mà bạn có thể dễ dàng bỏ qua và nghĩ rằng đó là loãng xương khu trú.
    Tổn thương biểu hiện là một khối tiêu xương lớn, bờ không rõ, lan rộng vào vùng đầu xương và gần như tiếp giáp với bề mặt khớp.
    Ở bệnh nhân trong độ tuổi 20-40, u tế bào khổng lồ (GCT) có thể là một chẩn đoán.
    Kết quả cho thấy đây là tổn thương di căn.

    Multiple Myeloma / Plasmacytoma

    Key facts

    • Đa u tủy xương phải được đưa vào chẩn đoán phân biệt của bất kỳ tổn thương xương tiêu hủy nào, dù bờ rõ hay không rõ, ở bệnh nhân trên 40 tuổi.
    • Biểu hiện phổ biến nhất: nhiều tổn thương tiêu xương dạng “đục lỗ”. Biểu hiện đơn độc được gọi là u tương bào đơn độc (plasmacytoma).
    • Usually no increased uptake on bone scan.
    • Vị trí phổ biến nhất là ở bộ xương trục (cột sống, hộp sọ, xương chậu và xương sườn) và ở thân xương dài (xương đùi và xương cánh tay).

    Osteomyelitis

    Key facts

    • Broad spectrum of radiographic features.
    • May occur at any age, no typical location.
    • Hình ảnh X-quang: chủ yếu là các thay đổi phản ứng, bao gồm phản ứng màng xương, xơ cứng và phù nề.
      Phản ứng màng xương và hình thái thấm nhiễm có thể bắt chước các quá trình ác tính: sarcoma Ewing, sarcoma xương, u lympho, bạch cầu cấp.
    • Ở nhóm tuổi nhi khoa, u hạt bạch cầu ái toan cũng có thể bắt chước viêm tủy xương.
    • Viêm tủy xương ở trẻ em: thường gặp nhất ở vùng hành xương trung tâm, có thể lan sang vùng đầu xương.
    • Viêm tủy xương ở người lớn: thường gặp nhất ở vùng hành xương trung tâm hoặc thân xương.
    • Có thể có tính thấm cao với sự phá vỡ vỏ xương, áp xe và dịch dọc theo cân mạc trên hình ảnh MR.

    Bên trái là hình ảnh viêm tủy xương thể bán cấp.
    Có thể thấy một tổn thương lệch tâm, ranh giới không rõ ở cả hai phía của đĩa sụn tăng trưởng tại đầu trên xương chày.
    Hình ảnh này gợi ý mạnh mẽ cho chẩn đoán viêm tủy xương.
    Nhìn chung, các tổn thương khác không vượt qua đĩa tăng trưởng.
    Bên phải, hình ảnh MRI chuỗi xung T1 mặt phẳng coronal cho thấy một tổn thương vùng hành-đầu xương có ranh giới rõ.
    Có vùng ngoại vi tín hiệu thấp do xơ cứng phản ứng, cùng với phù nề lan rộng biểu hiện tín hiệu thấp ở vùng hành xương.

    Bên trái là tổn thương tiêu xương không rõ ranh giới ở vùng hành xương đầu gần xương chày với xơ cứng phản ứng lan rộng và phản ứng màng xương dạng đặc.

    Osteosarcoma


    Osteosarcoma

    Osteosarcoma

    Key facts of Osteosarcoma

    • Đặc điểm đặc trưng của u xương ác tính (osteosarcoma) là sự sản xuất chất nền xương, được phản ánh qua hình ảnh xơ cứng thấy trên phim X-quang.
    • Thường có các đặc điểm ác tính điển hình bao gồm kiểu phá hủy thấm nhiễm-ăn mòn, phá hủy vỏ xương không đều và phản ứng màng xương xâm lấn (gián đoạn).
    • Đôi khi u xương ác tính (osteosarcoma) có thể biểu hiện dưới dạng tổn thương tiêu xương hoặc tổn thương hỗn hợp vừa tiêu xương vừa xơ cứng.
    • Ung thư xương nguyên bào hoàn toàn tiêu xương có thể đại diện cho phân nhóm giãn mạch, bao gồm nhiều khoang chứa đầy máu (có thể giống nang xương phình mạch!).

    Bên trái là tổn thương hỗn hợp tiêu xương và xơ cứng ở đầu trên xương cánh tay với phá hủy vỏ xương không đều.
    Có phản ứng màng xương xâm lấn và khối phần mềm.

  • Vai – Chấn thương chóp xoay

    Vai – Chấn thương chóp xoay

    Robin Smithuis, Frank Smithuis và Henk-Jan van der Woude

    Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam và Bệnh viện Onze Lieve Vrouwe Gasthuis tại Amsterdam, Hà Lan

    Ngày đăng

    Chóp xoay đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định khớp ổ chảo – cánh tay trong các cử động của cánh tay.
    Rách chóp xoay là nguyên nhân phổ biến nhất gây đau vai, dẫn đến mất sức mạnh và mất vững khớp vai.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về:

    • Vai trò của MRI trong phát hiện rách toàn bộ chiều dày chóp xoay.
    • Chụp MRI khớp có thuốc tương phản từ trong đánh giá rách một phần chiều dày và các bệnh lý nội khớp đi kèm.
    • MRI như một công cụ chẩn đoán hình ảnh tiền phẫu để đánh giá chất lượng các cấu trúc phần mềm liên quan đến bệnh lý chóp xoay.
    • Mô tả các biến thể giải phẫu của ống thoát xương ở bệnh nhân có triệu chứng hội chứng chèn ép.

    Giải phẫu


    Anterior view of the shoulder

    Hình ảnh vai nhìn từ phía trước

    Chóp xoay

    Chóp xoay được cấu thành bởi các gân của cơ dưới vai, cơ trên gai, cơ dưới gai và cơ tròn bé, bám vào đầu trên xương cánh tay.
    Chức năng chính của chóp xoay là ổn định và giữ trung tâm chỏm xương cánh tay trong ổ chảo trong các cử động của cánh tay bằng cách ép chỏm xương cánh tay vào ổ chảo.
    Chóp xoay – như tên gọi của nó – cũng đóng vai trò quan trọng trong động tác xoay trong và xoay ngoài của cánh tay.

    Cơ dưới vai
    Cơ dưới vai nằm ở phía trước xương bả vai, với gân bám vào mấu động nhỏ.
    Cơ dưới vai là cơ xoay trong mạnh, đồng thời hỗ trợ cánh tay trong các động tác dạng và khép. Trật khớp đầu dài gân cơ nhị đầu sẽ dẫn đến rách một phần gân cơ dưới vai.

    Cơ trên gai
    Cơ trên gai nằm trong hố trên gai, với gân bám vào mấu động lớn. Cơ trên gai khởi động động tác dạng cánh tay, sau đó được tiếp tục bởi cơ delta – cơ dạng và duỗi chính của cánh tay.

    Đầu dài gân cơ nhị đầu
    Đầu dài gân cơ nhị đầu có liên quan về mặt giải phẫu và chức năng với chóp xoay. Gân xuất phát từ củ trên ổ chảo và đoạn gần của nó nằm trong khớp. Gân thoát ra khỏi khớp ổ chảo – cánh tay và đi qua khoảng gian cơ xoay giữa gân cơ dưới vai và gân cơ trên gai vào rãnh gian củ của đầu trên xương cánh tay.


    Posterior view of the shoulder

    Hình ảnh vai nhìn từ phía sau

    Cơ dưới gai
    Cơ dưới gai nằm ở phía sau xương bả vai, phía dưới gai xương bả vai. Gân cơ dưới gai bám vào mặt sau của mấu động lớn.
    Cơ dưới gai là cơ xoay ngoài mạnh, đồng thời hỗ trợ cả động tác dạng và khép.

    Cơ tròn bé
    Cơ tròn bé nằm phía dưới cơ dưới gai.
    Gân bám vào mấu động lớn.
    Chức năng của cơ tròn bé chủ yếu là xoay ngoài và khép cánh tay.

    Các cấu trúc khác giúp ổn định khớp ổ chảo – cánh tay bao gồm bao khớp, sụn viền và các dây chằng ổ chảo – cánh tay.

    Các dạng mỏm cùng vai

    Có bốn dạng vòm mỏm cùng vai được mô tả.
    Trong phân loại Bigliani, ban đầu có 3 dạng (type 1-3). Sau đó, một dạng thứ tư hình lồi được bổ sung thêm.

    Dạng 2 với hình dạng cong là dạng phổ biến nhất.

    Dạng 3 với hình dạng móc câu là dạng duy nhất có liên quan đến tăng tỷ lệ hội chứng chèn ép khớp vai.

    Os Acromiale

    Sự thất bại trong quá trình liền xương của một trong các trung tâm cốt hóa mỏm cùng vai sẽ dẫn đến hình thành os acromiale.
    Bất thường này gặp ở 5% dân số.
    Thông thường đây là phát hiện tình cờ và được xem là một biến thể bình thường.

    Os acromiale có thể gây triệu chứng do thoái hóa khớp tại khớp nối mỏm cùng vai – os acromiale, hoặc do hội chứng chèn ép vì nếu os acromiale không ổn định, nó có thể bị kéo xuống dưới trong động tác dạng cánh tay bởi cơ delta bám vào đây.

    Trên MRI, os acromiale được quan sát rõ nhất trên các lát cắt axial phía trên.
    Os acromiale cần được đề cập trong báo cáo, vì ở những bệnh nhân được cân nhắc phẫu thuật giải áp dưới mỏm cùng vai, việc cắt bỏ phần mỏm cùng vai phía xa khớp sụn có thể làm mất ổn định thêm khớp sụn này, cho phép os acromiale di động nhiều hơn sau phẫu thuật và làm nặng thêm hội chứng chèn ép (4).

    Các hình ảnh MRI axial cho thấy os acromiale với các thay đổi thoái hóa, bao gồm nang xương dưới sụn và gai xương (mũi tên).

    Nguyên nhân rách chóp xoay

    Nguyên nhân rách chóp xoay có thể do chấn thương cấp tính, như chấn thương trực tiếp vào cơ và gân dưới vai, hoặc rách mạn tính gân cơ trên gai do chấn thương lặp đi lặp lại trong các hoạt động thể thao đưa tay qua đầu.
    Tình trạng này thường gặp ở người trẻ tuổi.

    Ở người lớn tuổi, nguyên nhân rách chóp xoay thường mang tính thoái hóa, điển hình như trong hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai hoặc do tình trạng giảm tưới máu tại các vùng đặc hiệu của gân.

    Rách bán phần

    Rách bán phần là tổn thương rách chóp xoay không lan toàn bộ chiều dày thành từ mặt khớp đến mặt túi hoạt dịch.

    Rách bán phần được phân loại thành:

    1. Rách mặt khớp
      nằm ở mặt dưới gân và thông với khớp ổ chảo – cánh tay.
    2. Rách mặt túi hoạt dịch
      nằm ở mặt túi hoạt dịch và thông với túi hoạt dịch dưới cơ delta.
    3. Rách trong thực chất gân
      nằm bên trong gân, không thông với khớp hoặc túi hoạt dịch.

    Rách bán phần mặt khớp phổ biến hơn rách mặt túi hoạt dịch, do lực lệch tâm tác động mạnh hơn lên mặt khớp, đồng thời các sợi gân ở mặt khớp yếu hơn và khả năng lành thương kém hơn.

    Rách bán phần được quan sát rõ nhất trên chuỗi xung PD và chuỗi xung T2W mặt phẳng coronal, có và không có xóa mỡ.
    Chụp MRI khớp có thuốc tương phản từ nội khớp rất nhạy trong phát hiện rách bán phần kể cả tổn thương nhỏ, nhưng chỉ ở mặt khớp.
    Tư thế ABER cho phép đánh giá cả thành phần theo chiều dọc và thành phần trong thực chất gân.

    Cần mô tả mức độ tổn thương gân: chiếm hơn hay ít hơn 50% chiều dày gân.

    Rách bán phần có thể tiến triển thành rách toàn phần.


    Rách mặt túi hoạt dịch không quan sát thấy trên MRI khớp có thuốc tương phản từ.

    Rách mặt túi hoạt dịch không quan sát thấy trên MRI khớp có thuốc tương phản từ.

    Rách mặt túi hoạt dịch không thể phát hiện trên MRI khớp có thuốc tương phản từ nội khớp, do thuốc tương phản từ trong khớp không thể lấp đầy vào vị trí khuyết tổn thương (hình minh họa).

    Trên MRI, rách bán phần có cường độ tín hiệu tương đương nước trên chuỗi xung T2W tại vị trí khuyết khu trú.

    Các vị trí hay gặp nhất:

    • Gân cơ trên gai: nửa trước, cách điểm bám < 1 cm.
    • Gân cơ trên gai: rách mặt dưới khớp tại vị trí bám tận vào mấu động lớn, còn gọi là rách bờ viền (rim-rent tear) hoặc bong gân bán phần mặt khớp (tổn thương PASTA).
    • Phần sau-trên của gân cơ trên gai kết hợp với phần trước-dưới của gân cơ dưới gai.

    Hình ảnh
    Trên chuỗi xung T2W có một tổn thương rách mặt túi hoạt dịch kích thước lớn.
    Lưu ý rằng trên MRI khớp có thuốc tương phản từ, tổn thương rách không quan sát thấy do thuốc tương phản từ nội khớp không thể tiếp cận vị trí khuyết trong gân.

    Rách bờ viền (Rim-rent tear)

    Rách bờ viền là một dạng rách bán phần chóp xoay thường gặp.

    Tổn thương này thường bị bỏ sót trên MRI, có thể do chưa nhận thức đầy đủ về tỷ lệ gặp cao của loại rách này và do không kiểm tra kỹ các sợi gân ở phần trước nhất của chóp xoay [tài liệu tham khảo].

    Hình ảnh là MRI khớp có thuốc tương phản từ chuỗi xung T1W xóa mỡ mặt phẳng coronal.

    Hình ảnh cho thấy rách bán phần mặt khớp đoạn xa gân cơ trên gai hay còn gọi là rách bờ viền, cũng được gọi là tổn thương PASTA – bong gân bán phần mặt khớp gân cơ trên gai.

    Đây là tổn thương PASTA ở một bệnh nhân khác.

    Hình ảnh
    Hình minh họa và MRI khớp có thuốc tương phản từ chuỗi xung T1 xóa mỡ mặt phẳng coronal.

    Rách toàn bộ chiều dày

    Rách toàn bộ chiều dày (Full Thickness Tear – FTT) là tổn thương kéo dài từ mặt túi hoạt dịch (bursal surface) xuyên suốt đến mặt khớp (articular surface).

    Rách toàn bộ chiều dày được phân loại thành:

    1. FTT không hoàn toàn (Incomplete FTT)
      Có rách toàn bộ chiều dày nhưng chỉ một phần chiều rộng của gân bị tổn thương.
    2. FTT hoàn toàn (Complete FTT)
      Rách toàn bộ chiều dày được gọi là hoàn toàn khi toàn bộ gân bị đứt.
    3. FTT hoàn toàn + co rút (Complete FTT + retraction)
      FTT có biến chứng co rút cơ.
    4. FTT hoàn toàn + co rút + teo cơ (Complete FTT + retraction + atrophy)
      FTT có biến chứng co rút cơ, teo cơ và thâm nhiễm mỡ, dẫn đến tiên lượng xấu.

    Bảng trình bày danh mục kiểm tra đối với rách toàn bộ chiều dày.

    Rách toàn bộ chiều dày không hoàn toàn

    Dấu hiệu đặc trưng trên MRI của rách toàn bộ chiều dày không hoàn toàn là khe hở chứa đầy dịch trên chuỗi xung T2W.

    Tuy nhiên, đôi khi khe hở trong gân có thể chứa đầy mảnh vụn hoặc mô hạt, và tín hiệu sẽ không tương đương với tín hiệu của nước.

    Hình ảnh
    Có hình ảnh rách toàn bộ chiều dày không hoàn toàn, kích thước nhỏ tại phần xa của gân cơ trên gai, không có co rút.
    Có một số hình thành nang tại đầu xương cánh tay ở vị trí bám tận, kèm theo phản ứng túi hoạt dịch và tăng tín hiệu trong gân do viêm gân (tendinosis).


    Cuộn qua các hình ảnh.

    Các dấu hiệu hình ảnh là gì?

    Có hình ảnh rách toàn bộ chiều dày phần trước của gân cơ trên gai, kéo dài từ mặt khớp đến mặt túi hoạt dịch.

    Do các sợi gân phía sau của gân cơ trên gai còn nguyên vẹn, tổn thương này được gọi là rách toàn bộ chiều dày không hoàn toàn của gân cơ trên gai.
    Không có co rút.


    Rách toàn bộ chiều dày hoàn toàn

    Nhấp vào hình ảnh để phóng to, sau đó cuộn qua các lát cắt.

    Có hình ảnh rách toàn bộ chiều dày gân cơ trên gai kèm co rút và teo cơ.
    Lưu ý các dải mỡ trong cơ tròn bé, cơ trên gai và cơ dưới gai.

    Các vị trí rách toàn bộ chiều dày thường gặp nhất bao gồm:

    • Cơ trên gai (Supraspinatus)
      Rách phần trước xa của gân cơ trên gai là vị trí thường gặp nhất.
      Đôi khi tổn thương lan rộng ra phía sau đến gân cơ dưới gai, hoặc lan ra phía trước đến khoang gian gân chóp, gân cơ nhị đầu và cơ dưới vai.
    • Cơ dưới gai (Infraspinatus)
      Rách cơ dưới gai đơn độc không phổ biến, nhưng đôi khi gặp ở vận động viên.
    • Cơ dưới vai (Subscapularis)
      Rách cơ dưới vai đơn độc không phổ biến, nhưng đôi khi gặp sau chấn thương dạng cấp tính do dạng và xoay ngoài. Thường kết hợp với tổn thương hoặc trật gân cơ nhị đầu.
    • Cơ tròn bé (Teres minor)
      Rách cơ tròn bé hiếm gặp, nhưng có thể thấy sau trật khớp vai ra sau kèm tổn thương bao khớp phía sau.

    Đo kích thước tổn thương rách toàn bộ chiều dày của chóp xoay theo hai chiều.

    Teo cơ – Dấu hiệu tiếp tuyến (Tangent sign)

    Phương pháp đánh giá teo cơ của Warner dựa trên hình ảnh mặt phẳng chéo đứng dọc (oblique sagittal) ở vị trí trong so với mỏm quạ.
    Một đường thẳng được vẽ từ bờ mỏm quạ đến đỉnh dưới của xương bả vai, và từ gai xương bả vai đến mỏm quạ.

    Nếu cơ lồi lên trên đường này, không có teo cơ.
    Nếu cơ nằm ngay dưới đường này, có teo cơ mức độ vừa.
    Nếu hầu như không thấy cơ, có teo cơ mức độ nặng.

    Hình bên trái cho thấy giải phẫu cơ bình thường trên ảnh mặt phẳng đứng dọc.

    Hình bên phải là của bệnh nhân có rách toàn bộ chiều dày cả gân cơ trên gai và gân cơ dưới gai kèm co rút.
    Có hình ảnh teo mỡ của cơ trên gai và cơ dưới gai.


    Rách toàn bộ chiều dày không đều.

    Rách toàn bộ chiều dày không đều.

    Trên các chuỗi xung có ức chế mỡ, việc đánh giá teo cơ và thay thế mỡ có thể gặp khó khăn.

    Hình ảnh
    Trên hình ảnh có ức chế mỡ bên trái, có thể nhận định nhầm rằng cơ trên gai bình thường (mũi tên xanh lam).
    Tuy nhiên, trên hình ảnh không có ức chế mỡ, có thể thấy rõ tình trạng teo cơ nặng và thay thế mỡ với tín hiệu cao (mũi tên xanh lam).
    Mũi tên đỏ chỉ vị trí rách toàn bộ chiều dày của gân cơ trên gai.

    Đôi khi có thể khó phân biệt rách một phần với rách toàn bộ chiều dày.

    Khi nhìn vào hình ảnh đầu tiên, tổn thương trông giống như rách một phần chiều dày phía mặt khớp.

    Tuy nhiên, trên các lát cắt tiếp theo của chụp MRI khớp có thuốc tương phản từ, có thể thấy sự lan rộng không đều của thuốc tương phản từ từ mặt khớp ở bên trái đến mặt túi hoạt dịch ở bên phải, xác nhận đây là rách toàn bộ chiều dày.

    Gân cơ nhị đầu

    Đầu dài của gân cơ nhị đầu bám vào củ trên ổ chảo. Sau đó, gân chạy qua khớp ổ chảo – cánh tay và khoảng gian cơ chóp để thoát ra phía trước khớp trong rãnh gian củ.

    Gân cơ nhị đầu có vai trò ngăn chặn sự di chuyển lên trên của chỏm xương cánh tay.

    Các tổn thương gân cơ nhị đầu bao gồm:

      • Bệnh lý gân
      • Rách bán phần
      • Đứt hoàn toàn
      • Trật khớp ngoài khớp (hình minh họa)

    Dislocation of long head biceps tendon with a partial thickness tear of the subscapularis tendon and a full thickness tear of the supraspinatus tendon

    Trật đầu dài gân cơ nhị đầu kèm rách bán phần gân cơ dưới vai và rách toàn phần gân cơ trên gai

    Trật đầu dài gân cơ nhị đầu

    Tổn thương dây chằng ngang xương cánh tay có thể dẫn đến trật gân cơ nhị đầu về phía trong.
    Gân cơ nhị đầu có thể di chuyển vào trong hoặc bên dưới gân cơ dưới vai khi gân cơ dưới vai bị đứt.

    Hình ảnh
    Chụp MRI khớp với chuỗi xung T1W xóa mỡ mặt phẳng axial và chuỗi xung PD mặt phẳng coronal.
    Ghi nhận hình ảnh trật gân cơ nhị đầu về phía trong, nằm trong gân cơ dưới vai (mũi tên).
    Có hình ảnh rách bán phần gân cơ dưới vai.
    Trên ảnh PDW, ghi nhận khoảng trống chứa dịch tại vị trí bám tận xa của gân cơ trên gai và thuốc tương phản từ lan vào khoang dưới mỏm cùng vai – dưới cơ delta, phù hợp với hình ảnh rách toàn phần gân cơ trên gai.

    Gân dưới vai (Subscapularis)

    Rách gân dưới vai thường gặp sau chấn thương trực tiếp, dạng cánh tay cưỡng bức kết hợp xoay ngoài, hoặc trong bối cảnh trật khớp vai ra trước tái phát.

    Hình ảnh
    Rách gân dưới vai sau chấn thương trực tiếp.
    Có hình ảnh co rút gân dưới vai về phía trước kèm phù nề quanh gân trên các chuỗi xung PD-weighted mặt phẳng axial và chuỗi xung T2W xóa mỡ mặt phẳng coronal (dấu hoa thị).
    Gân cơ nhị đầu không bị trật (đầu mũi tên).


    Bệnh nhân này có tiền sử chấn thương trực tiếp vùng khớp vai phía trước.

    Hình ảnh
    Chuỗi xung T2W xóa mỡ mặt phẳng axial và chuỗi xung PD mặt phẳng sagittal chếch.
    Có hình ảnh rách không hoàn toàn gân dưới vai kết hợp với phù nề do gãy mấu động nhỏ (lesser tubercle).

    Hội chứng chèn ép khớp vai

    Khi bạn nâng cánh tay lên ngang tầm vai, khoang gian acromion và chóp xoay sẽ bị thu hẹp lại.
    Mỏm cùng vai có thể cọ xát hoặc “chèn ép” lên gân và túi hoạt dịch, gây kích thích và đau.
    Hội chứng chèn ép và tổn thương các gân chóp xoay là những vấn đề khớp vai phổ biến nhất xảy ra trong khoang dưới mỏm cùng vai chật hẹp; hai vấn đề này có thể tồn tại riêng lẻ hoặc đồng thời.

    Trong bất kỳ thăm khám khớp vai nào, chúng ta cần tìm kiếm các dấu hiệu chèn ép như khoang dưới mỏm cùng vai bị thu hẹp, hình dạng bất thường của mỏm cùng vai hoặc thoái hóa khớp.

    Các thể chèn ép

    • Chèn ép nguyên phát do yếu tố ngoại sinh
      Chèn ép các gân chóp xoay và túi hoạt dịch dưới mỏm cùng vai do hình dạng mỏm cùng vai, mỏm cùng vai dốc xuống, sự hiện diện của gai xương, thoái hóa khớp cùng đòn, os acromiale hoặc dày dây chằng quạ-cùng vai (bình thường: 2-3 mm).
    • Chèn ép thứ phát do mất vững khớp
      Nguyên nhân chèn ép phổ biến nhất ở vận động viên.
    • Chèn ép nội tại (sau-trên)
      Thường gặp ở vận động viên ném bóng trên đầu trong tư thế dạng tối đa và xoay ngoài. Biểu hiện bao gồm thoái hóa và rách bán phần chóp xoay mặt sau của cơ trên gai và cơ dưới gai, kết hợp với mài mòn sụn viền sau-trên, phù nề mấu động lớn phía sau và tổn thương sụn khớp.


    Hình ảnh

    Chèn ép nguyên phát do yếu tố ngoại sinh gây ra bởi mỏm cùng vai dốc xuống kèm theo viêm gân cơ trên gai.

    Dày hoặc vôi hóa dây chằng quạ-cùng vai cũng có thể gây ra hội chứng chèn ép.

    Ở bệnh nhân này, dây chằng quạ-cùng vai bị dày lên và chèn ép vào gân cơ trên gai.

    Thoái hóa gân

    Thoái hóa gân chóp xoay là tình trạng thoái hóa của gân. Bệnh còn được gọi là viêm gân hoặc bệnh lý gân.

    Các hình ảnh thường gặp trên MRI:

    • Gân dày nhẹ đến vừa
    • Trong các trường hợp nặng hơn, có thể xuất hiện biến đổi dạng nhầy và phù nề kèm sưng tấy
    • Tín hiệu tăng nhưng không đạt mức tín hiệu của nước
    • Thường gặp ở gân trên gai gần điểm bám vào chỏm xương cánh tay
    • Lưu ý: hiệu ứng góc ma thuật (magic angle) trên gân có hình thái bình thường

    Hình ảnh minh họa
    Thoái hóa gân với hình ảnh gân trên gai dày lên.
    Chỉ trên chuỗi xung PDW mới thấy tín hiệu tăng.

    Thoái hóa gân vôi hóa

    Đây là tình trạng đau vai đặc trưng bởi sự lắng đọng canxi trong chóp xoay.

    Trong hầu hết các trường hợp, bệnh tự thoái lui, tuy nhiên ở một số trường hợp, tình trạng đau và rối loạn chức năng vẫn tồn tại.
    Bệnh gặp nhiều hơn ở phụ nữ trong độ tuổi 30–50.

    Siêu âm
    Siêu âm giúp xác định sự hiện diện, vị trí và kích thước của các ổ vôi hóa, đồng thời hỗ trợ hướng dẫn chọc hút và bơm rửa điều trị.
    Trong giai đoạn nghỉ ngơi, các ổ lắng đọng có hình ảnh tăng âm và dạng cung.
    Trong giai đoạn tiêu giải, các ổ lắng đọng không còn dạng cung, trở nên phân mảnh, dạng nang và dạng nốt.
    Trong giai đoạn tái hấp thu, có thể thấy tăng tín hiệu mạch máu trên Doppler.

    MRI
    Thông thường, MRI cho thấy giảm tín hiệu trên tất cả các chuỗi xung, tuy nhiên đôi khi có tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W biểu hiện phù nề trong giai đoạn tái hấp thu.

    Bệnh khớp chóp xoay

    Bệnh khớp chóp xoay là một dạng thoái hóa khớp do mất chức năng ổn định của chóp xoay.
    Chóp xoay tạo ra một lực hướng xuống dưới, được cân bằng bởi lực hướng lên trên của cơ delta.

    Trong bệnh khớp chóp xoay, có thể gặp các dấu hiệu sau:

    • Rách chóp xoay diện rộng
    • Bào mòn ổ chảo, mất sụn khớp, hình thành nang và gai xương, xẹp chỏm xương cánh tay
    • Di chuyển chỏm xương cánh tay lên trên với hiện tượng “đùi hóa” chỏm xương cánh tay và “ổ cối hóa” vòm cùng-quạ

    Các dấu hiệu không thể phục hồi và chỉ định thay khớp vai toàn phần đảo ngược bao gồm:

      • Di chuyển lên trên tĩnh
      • Khoảng cách cùng-cánh tay hẹp hoặc không còn
      • Thâm nhiễm mỡ > 50% các cơ chóp xoay

    Phân loại Hamada trong bệnh khớp chóp xoay:

    1. Khoảng cách cùng-cánh tay > 6 mm
    2. Khoảng cách cùng-cánh tay < 5 mm
    3. Khoảng cách cùng-cánh tay < 5 mm và “ổ cối hóa” vòm cùng-quạ
    4. Hẹp khớp ổ chảo-cánh tay
      – 4a: không có “ổ cối hóa”
      – 4b: có “ổ cối hóa”
    5. Hoại tử chỏm xương cánh tay, đôi khi kèm xẹp chỏm

    Ca lâm sàng 1

    Các hình ảnh cho thấy khoang dưới mỏm cùng vai bị hẹp (đầu mũi tên) thứ phát sau rách chóp xoay với sự co rút của cả gân trên gai (mũi tên vàng) và gân dưới gai (mũi tên xanh).

    Ca lâm sàng 2

    Bệnh nhân này có khoang dưới mỏm cùng vai bị hẹp.

    Lưu ý rằng tình trạng hẹp được thấy rõ trên hình chụp vai ở tư thế xoay ngoài, trong khi không quan sát được trên hình chụp ở tư thế xoay trong.

    Ca lâm sàng 3

    Các hình ảnh này cho thấy nang khớp cùng-đòn, còn được gọi là dấu hiệu Geyser, là biểu hiện thứ phát của bệnh lý chóp xoay.

    Dịch lan lên trên vào trong và ra ngoài khớp cùng-đòn đã thoái hóa, kèm theo phá vỡ bao khớp cùng-đòn phía dưới.

    Hội chứng Parsonage-Turner

    Hội chứng Parsonage–Turner là tình trạng viêm thần kinh liên quan đến đám rối thần kinh cánh tay.
    Bệnh còn được gọi là bệnh lý đám rối thần kinh cánh tay vô căn hoặc teo cơ đau thần kinh.

    Bệnh đặc trưng bởi cơn đau dữ dội, đột ngột ở vùng vai, tiếp theo là tình trạng yếu cơ nặng nề.

    Hội chứng Parsonage–Turner là một rối loạn hiếm gặp, thường chỉ ảnh hưởng đến một chi trên, trong đó chủ yếu là thần kinh nách, thân trên của đám rối thần kinh cánh tay, thần kinh trên vai và thần kinh ngực dài.

    Bệnh có thể biểu hiện với các triệu chứng của tổn thương thần kinh ngoại biên đơn độc, mặc dù tổn thương bệnh lý được cho là nằm ở vị trí gần hơn.


    Hình ảnh
    Hình ảnh chuỗi xung PD mặt phẳng chếch đứng dọc và chuỗi xung T2W xóa mỡ mặt phẳng vành.
    Tín hiệu tăng nhẹ của cơ trên gai và cơ dưới gai so với cơ dưới vai và cơ tròn bé, kèm teo cơ nhẹ, phù hợp với hội chứng Parsonage-Turner.

    Giao thức chụp MRI

  • U Sụn Xương

    U Sụn Xương

    Với chú trọng đặc biệt vào U Sụn Xương Không Điển Hình (ACT)

    Kirsten van Langevelde and Robin Smithuis

    Trung tâm Y tế Đại học Leiden và Bệnh viện Alrijne tại Leiden, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    U sụn xương (Chondroid tumors) là một nhóm u xương không đồng nhất, trong đó tất cả đều có điểm chung là sản xuất nền chất sụn (chondroid matrix).
    Chúng trải dài từ u sụn xương lành tính (enchondroma) đến ung thư sụn xương ác tính cao độ (chondrosarcoma).
    Ung thư sụn xương độ thấp ở xương dài đã được phân loại thành một nhóm trung gian và hiện được gọi là u sụn xương không điển hình (atypical cartilaginous tumor – ACT), vì những khối u này hiếm khi di căn và có tiên lượng lâm sàng tốt hơn so với cùng loại u ở bộ xương trục.

    Phương pháp điều trị được khuyến nghị cho ACT đã thay đổi qua nhiều năm, từ cắt bỏ đến nạo và thậm chí “theo dõi chờ đợi” với theo dõi bằng MRI [1].
    Do những thay đổi trong phương pháp quản lý này, chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò then chốt trong chẩn đoán và theo dõi ACT.

    Trong bài viết này chúng tôi sẽ đề cập đến:

    • Cách chẩn đoán u sụn xương.
    • Cách phân biệt ACT với enchondroma và ung thư sụn xương độ cao.
    • Theo dõi ACT.

    Giới thiệu

    Các khối u sụn có đặc điểm chung là sản xuất chất nền sụn với các vôi hóa chất nền thường gặp.
    Chúng có mức độ nghiêm trọng khác nhau, từ u sụn lành tính (enchondroma) và khối u sụn không điển hình xâm lấn tại chỗ (ACT) đến sarcoma sụn ác tính.
    Khoảng 10% sarcoma sụn có biệt hóa thấp, đây là thể ác tính cao của sarcoma sụn.

    Khối u sụn không điển hình (ACT)
    đã được Tổ chức Y tế Thế giới phân loại là khối u dạng sụn độ trung gian vào năm 2013.
    “Trung gian”
    có nghĩa là những khối u này có thể có hành vi xâm lấn tại chỗ nhưng hiếm khi di căn (< 2%).

    Từ năm 2020, các tổn thương trung gian ở bộ xương chi được gọi là ACT, trong khi các tổn thương tương tự ở bộ xương trục được gọi là sarcoma sụn độ I (CS-I) vì chúng có tiên lượng xấu hơn.
    Thuật ngữ CS-I do đó được dành riêng cho các khối u này ở bộ xương trục, bao gồm cột sống,
    khung chậu, xương sườn, xương ức, xương bả vai và
    nền sọ.

    Nhiệm vụ của bác sĩ CĐHA
    Enchondroma là lành tính và không cần theo dõi.
    Chondrosarcoma độ cao được điều trị bằng cắt bỏ rộng rãi, do chúng không nhạy cảm với hóa trị và xạ trị.
    Đối với ACT, chiến lược “theo dõi chờ đợi” kết hợp với theo dõi MRI đang dần thay thế can thiệp phẫu thuật tại nhiều trung tâm.
    Với những diễn tiến này, nhiệm vụ quan trọng nhất của bác sĩ CĐHA cơ xương khớp là phân biệt ACT với chondrosarcoma độ cao.

    Thuật ngữ trong U Sụn Xương

    Hình này minh họa các ví dụ để giải thích thuật ngữ dùng để mô tả u sụn xương.
    Trong một số ví dụ, có thể có nhiều hơn một dấu hiệu điển hình.

    1. Vôi hóa dạng bỏng ngô (Popcorn)Thường gặp trong các u sụn xương.
    2. Hình gợn sóng vỏ xương (Scalloping) đề cập đến sự tiêu xương lớp trong của vỏ xương do một tổn thương phát triển chậm. Thường gặp nhất trong u nguyên bào sụn không điển hình (ACT), nhưng cũng có thể xuất hiện trong loạn sản xơ, u tế bào khổng lồ của xương hoặc bệnh mô bào Langerhans.
    3. Giãn rộng xương (Expansion)có nghĩa là xương bị giãn rộng. Có thể xảy ra trong ACT nhưng là dấu hiệu đáng lo ngại của ung thư sụn xương độ cao hơn.
    4. Phản ứng màng xương (Periostitis) hay phản ứng màng xương là một dấu hiệu điển hình trong sarcoma sụn độ cao, tuy nhiên nó có thể xuất hiện sau gãy xương trong u sụn nội xương (enchondroma) hoặc khối u sụn không điển hình (ACT). Đôi khi phản ứng màng xương chỉ có thể nhìn thấy trên MRI qua một viền tăng tín hiệu T2 và ngấm thuốc xung quanh vỏ xương.
    5. Phá hủy vỏ xương (Cortical destruction) có nghĩa là khối u phát triển xâm lấn cục bộ qua vỏ xương. Đây là dấu hiệu điển hình trong chondrosarcoma độ cao
    6. Lấp đầy từ vách tới vách (Wall to wall filling) có nghĩa là tổn thương lan rộng từ
      vỏ xương phía trước đến phía sau hoặc từ vỏ xương phía trong đến phía ngoài. Cũng cần lưu ý tình trạng dày vỏ xương.
    7. Ngấm thuốc vòng-vách-nốt (Rings-and-arcs enhancement)là kiểu ngấm thuốc điển hình của u sụn xương, giúp bác sĩ CĐHA đưa ra chẩn đoán đúng.
    8. Tiêu xương (Osteolysis) có nghĩa là trong một khối u sụn có vùng thấu quang không có vôi hóa chất nền. Điều này có thể do thành phần nhầy trong CS độ cao. Vùng này tăng tín hiệu trên các chuỗi xung nhạy cảm với dịch có ức chế mỡ và không ngấm thuốc tương phản.
    9. Mỡ xen kẽ (Interspersed fat)thường
      hiện diện trong các khối u sụn vỏ thượng thận (ACTs) giữa các nốt sụn. Theo thời gian, các nốt sụn
      có thể giảm dần khi lượng mỡ xen kẽ tăng lên.

    Cách chẩn đoán U Sụn Xương

    X-ray

    Trên phim X-quang, u sụn xương thể hiện các ổ vôi hóa nền chất dạng nốt, giống hình bỏng ngô.
    Các vôi hóa này có thể xuất hiện trên toàn phổ của u sụn xương.
    Often the tumor
    size is underestimated on a radiograph, as frequently only the mineralized part of the
    tumor is visible. 

    Ở các xương đốt ngón,
    u sụn nội sinh có thể biểu hiện là các khối u tiêu xương thuần túy, không nhất thiết
    phải chứa các vôi hóa chất nền.

    Hình ảnh
    Có một vùng nhỏ 1,5 cm với vôi hóa dạng bỏng ngô ở đầu xa hành xương đùi, không lan đến vỏ xương.
    Đây là một u sụn nội xương (enchondroma).

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy một tổn thương tiêu xương ở đầu xa xương đùi chứa các vôi hóa dạng bỏng ngô điển hình và có hình ảnh xói mòn vỏ xương phía trước (đầu mũi tên).
    Trên MRI mặt phẳng đứng dọc, chúng ta có thể nhận thấy rằng khối u lớn hơn vùng vôi hóa trên phim X-quang, với kích thước 8 cm.
    Khối u tăng tín hiệu trên T2 STIR và chứa nhiều ổ có tín hiệu thấp, tương ứng với các vôi hóa chất nền sụn trên phim X-quang.

    Kết luận
    Vì không có phản ứng màng xương hay khối phần mềm, các dấu hiệu này phù hợp với chẩn đoán ACT.
    Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi.

    CT

    CT không phải là một phần trong quy trình chẩn đoán hình ảnh thường quy đối với các khối u sụn, tuy nhiên nó có thể hỗ trợ phát hiện sự vôi hóa chất nền tinh tế trong trường hợp còn nghi ngờ về chẩn đoán.
    CT cũng có thể hữu ích trong các tổn thương ở trục cơ thể mà hình ảnh X-quang không đủ rõ – chẳng hạn như nền sọ hoặc khung chậu – để định lượng mức độ phá hủy xương và phạm vi của khối u.
    Nếu còn nghi ngờ về sự phá hủy vỏ xương trong một tổn thương giãn rộng trên MR, CT thường sẽ thể hiện rõ ràng sự hiện diện hay vắng mặt của vỏ xương.
    Cuối cùng, CT hữu ích trong việc đánh giá gãy xương bệnh lý và ví dụ như đánh giá liệu các gãy xương này có lan vào khớp hay không.

    Hình ảnh
    MRI chuỗi xung T1W mặt phẳng coronal cho thấy một tổn thương lệch tâm,
    hơi giãn nở tại chỏm và cổ xương đùi phải.
    Khó đánh giá liệu vỏ xương phía trong
    chỉ bị mỏng hay đã bị phá hủy.
    Do đó, CT không tiêm thuốc cản quang
    đã được thực hiện bổ sung.
    CT không tiêm thuốc cản quang cho thấy
    tổn thương tiêu xương chứa các vôi hóa dạng chất nền sụn.
    Có hình ảnh gặm mòn vỏ xương
    phía trong, nhưng không có phá hủy vỏ xương.

    Nạo vét được thực hiện để loại trừ u sụn dạng tế bào sáng. Đây là
    một phân nhóm hiếm gặp của u sụn ác tính, xảy ra ở vùng đầu xương của xương dài ở
    người trẻ tuổi.

    Pathology diagnosis: ACT. 

    MR

    Trên các chuỗi xung nhạy cảm với dịch – ưu tiên T2W có ức chế mỡ – các nốt sụn tăng tín hiệu và tập hợp thành từng nhóm.
    Sau khi tiêm thuốc tương phản gadolinium, các khối u sụn ngấm thuốc với kiểu ngấm thuốc vách-nốt điển hình.
    Đặc điểm này hữu ích trong việc phân biệt khối u sụn với các khối u xương khác.
    Các vôi hóa có thể quan sát được trên MRI và biểu hiện tín hiệu thấp trên tất cả các chuỗi xung.

    Thật không may, hình ảnh khuếch tán có trọng số đã được chứng minh là không có giá trị trong việc phân biệt khối u sụn độ thấp với độ cao.

    Mỡ xen kẽ
    Các nốt sụn có thể có tủy mỡ xen kẽ giữa chúng, còn gọi là mỡ xen kẽ (interspersed fat) hoặc mỡ bị nhốt (entrapped fat).

    Điều này được đánh giá tốt nhất trên
    hình ảnh T1-weighted và xuất hiện trong các tổn thương ở phía lành tính của
    phổ bệnh, tức là trong các ACT.
    Ví dụ, trong quá trình theo dõi
    các ACT, lượng mỡ xen kẽ và vôi hóa có thể tăng lên,
    điều này có thể được hiểu là sự “trưởng thành” của tổn thương.
    Điều này thậm chí
    có thể gây ra sự giảm kích thước của khối u theo thời gian.
    Cả sự trưởng thành mỡ và
    tăng vôi hóa của khối u sụn theo thời gian đều là dấu hiệu của tính lành tính.

    Hình gợn sóng vỏ xương (Scalloping)
    Các khối u sụn có thể gây ra hình gợn sóng vỏ xương, biểu hiện là hình ảnh tiêu xương rõ nét lan rộng từ khoang tủy xương.

    Nhóm nghiên cứu Birmingham đề xuất
    tiêu chí BACTIP để đánh giá MRI các khối u sụn và hướng dẫn chuyển tuyến đến
    trung tâm chuyên khoa cấp cao hoặc kết thúc theo dõi.
    BACTIP định nghĩa hiện tượng xói mòn vỏ xương là
    khu trú khi phần chu vi tổn thương bị ảnh hưởng dưới 10%, được đo
    trên lát cắt trục ngang có đường kính khối u lớn nhất.
    Trong khi đó, hiện tượng xói mòn vỏ xương trên 10%
    chu vi tổn thương được định nghĩa là lan rộng.
    Ý nghĩa của mức độ sâu của hiện tượng xói mòn vỏ xương
    vẫn chưa được làm rõ.

    Hình ảnh
    Ảnh T1 SPIR trục ngang sau tiêm thuốc cản từ cho thấy hình ảnh lõm vỏ xương ở phía trước trên khoảng 43/360 độ.
    Điều này có nghĩa là lõm vỏ xương chiếm 12% chu vi khối u (mức độ rộng).
    Cũng lưu ý hình ảnh lõm vỏ xương phía sau kín đáo hơn (đầu mũi tên).
    Khối u này cho thấy hình ảnh ngấm thuốc dạng vách-nốt, ngoại vi.
    Lưu ý các vùng tín hiệu thấp phù hợp với hình ảnh vôi hóa.


    Figure courtesy of Wouter Stomp

    Figure courtesy of Wouter Stomp

    Tưới máu MR
    Tưới máu hay MRI tương phản động là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chức năng trong đó sự ngấm thuốc sớm của khối u được theo dõi sau khi tiêm bolus gadolinium tĩnh mạch.
    Trong các khối u sụn, tưới máu đã được sử dụng để phân biệt u sụn nội xương với u sụn ác tính.

    Ngưỡng cắt 10 giây được sử dụng để phân biệt tăng ngấm thuốc nhanh và chậm. Tuy nhiên, có thể xảy ra sự chồng lấp trong các kiểu tăng ngấm thuốc sớm của các khối u sụn, ví dụ: u sụn lành tính (enchondroma) có thể tăng ngấm thuốc nhanh, nhưng cũng có các khối u sụn không điển hình (ACT) tăng ngấm thuốc chậm.

    Hình ảnh
    Có một khối u nhỏ hơn 2 cm ở hành xương đầu xa xương đùi.
    Tổn thương tăng tín hiệu trên T2, đồng tín hiệu trên T1 và có ngấm thuốc dạng vách-nốt. Không có liên quan đến vỏ xương. Trên hình ảnh tưới máu (đường cong thời gian – cường độ tín hiệu), khối u cho thấy sự ngấm thuốc chậm, bắt đầu khoảng 20 giây sau khi động mạch ngấm thuốc.
    Đây là u sụn trong xương và không cần theo dõi.

    Read more on MR perfusion here

    PET-CT

    Đối với 18F-FDG-PET-CT, SUVmax đã được chứng minh có tương quan với độ mô học trong các khối u sụn.
    SUVmax < 2 ủng hộ chẩn đoán khối u lành tính, trong khi SUVmax > 4,5 gợi ý u sụn ác tính độ cao hơn.
    Tuy nhiên, do phần lớn các tổn thương ACT/độ I nằm trong nhóm trung gian với các giá trị chồng lấp (SUVmax 2 – 4,5), PET-CT không được khuyến cáo để phân biệt các khối u sụn.

    PET CT toàn thân có thể hữu ích trong việc phát hiện di căn trong ung thư sụn kém biệt hóa.

    Hình ảnh
    Sarcoma sụn kém biệt hóa ở xương đùi phải (đầu mũi tên) với nhiều di căn.

    Enchondroma (U Sụn Nội Xương)

    U sụn lành tính (Enchondroma) được coi là “mô sụn lạc chỗ”.
    Do đó có mối liên hệ chặt chẽ với sụn tăng trưởng đầu xương, thường trong phạm vi 2 cm.
    U sụn lành tính thường được tìm thấy ở hành xương đầu trên xương cánh tay, đầu dưới xương đùi hoặc đầu trên xương chày.
    Các tổn thương lành tính này xuất hiện như những phát hiện tình cờ trong 3% tổng số MRI khớp gối và không cần theo dõi thêm.
    U sụn lành tính có thể phát triển chậm theo thời gian hoặc thậm chí tự thoái triển.
    Bản thân sự tăng trưởng không phải là dấu hiệu cho thấy tổn thương đã trở thành ác tính.

    Enchondroma thường nhỏ hơn 5 cm và 80% enchondroma ở xương dài nhỏ hơn 2 cm.
    Các ngưỡng kích thước khác nhau được đề xuất để phân biệt enchondroma với ACT và sarcoma sụn.
    Trong tiêu chí BACTIP, ngưỡng 4 cm được sử dụng để quyết định liệu một tổn thương có cần được theo dõi hay không.

    Tại cơ sở chúng tôi, chúng tôi sử dụng 5
    cm làm ngưỡng giới hạn, tuy nhiên cần lưu ý rằng không có giá trị ngưỡng kích thước tuyệt đối
    và bạn luôn phải loại trừ các đặc điểm xâm lấn, vì có thể có
    các u sụn ác tính độ cao nhỏ hơn 5 cm phát triển xuyên qua vỏ xương và
    kèm theo khối mô mềm.


    Images courtesy of Wouter Stomp

    Images courtesy of Wouter Stomp

    U sụn trong điển hình
    Các hình ảnh cho thấy hai tổn thương nhỏ liền kề với đĩa tăng trưởng ở vùng hành xương đầu xa xương đùi, đại diện cho các phần sụn nhỏ không liên quan đến vỏ xương hoặc phù tủy xương quanh tổn thương.
    Không cần theo dõi thêm.

    Enchondroma versus ACT

    Over time, treatment of ACT has
    shifted towards the conservative side, i.e. watchful waiting or “wait and scan” by
    MRI instead of curettage.
    Điều này cũng ảnh hưởng đến bác sĩ CĐHA, vì nhiệm vụ chính hiện nay là quyết định tổn thương nào cần được theo dõi.
    Tại trung tâm chuyên khoa của chúng tôi, chúng tôi theo dõi các tổn thương lan đến vỏ xương.
    Điều này có nghĩa là bất kể kích thước, chúng tôi coi khả năng phát triển xuyên vỏ xương trong tương lai là chỉ định để theo dõi.
    See the table with our follow op schedule for ACT below.

    Ca bệnh
    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Những phát hiện là gì?
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    X-quang: Có vùng vôi hóa dạng sụn ở thân xương đùi xa mà không có hiện tượng xói mòn vỏ xương.
    MRI: Hình ảnh T1W mặt phẳng đứng dọc cho thấy khối u sụn đa nốt không tiếp xúc với vỏ xương phía trước hoặc phía sau. Tổn thương có kích thước 38 mm.
    Hình ảnh T1 mặt cắt ngang không cho thấy hiện tượng xói mòn vỏ xương.

    Kết luận
    Enchondroma.

    Lưu ý
    Đối với các tổn thương < 5 cm, miễn là tổn thương sụn không lan đến vỏ xương,
    và không có phù tủy xương xung quanh hoặc viêm màng xương, chúng tôi xem đó
    là u sụn nội xương. Không cần theo dõi thêm.

    Ca bệnh
    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Những phát hiện là gì?
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Hình ảnh X-quang cho thấy một vùng nhỏ vôi hóa dạng bỏng ngô ở thân xương đầu xa.
    Hình ảnh MR cho thấy tổn thương 4,6 cm ở thân xương đùi đầu xa với sự lan rộng đến vỏ xương (lấp đầy từ thành này đến thành kia).
    Lưu ý rằng tổn thương có vẻ nhỏ hơn trên phim X-quang do vôi hóa hạn chế.
    Các vôi hóa và ngấm thuốc dạng vách-nốt xác nhận bản chất sụn của khối u.
    Không có hình ảnh xói mòn vỏ xương trên hình ảnh T1W trục ngang.

    Kết luận
    Tổn thương khá lớn để chẩn đoán u sụn nội xương.
    Như đã đề cập trước đó, chúng tôi sử dụng ngưỡng giới hạn là 5 cm. Có sự lấp đầy toàn bộ, nhưng không có dấu hiệu xói mòn vỏ xương. Không có các đặc điểm xâm lấn (như phản ứng màng xương, phù tủy xương).

    Được chẩn đoán là ACT và theo dõi
    bằng phương pháp chờ và quan sát.
    Sau 5 năm theo dõi, đường kính theo chiều đầu-đuôi tăng 6 mm.
    Không có các đặc điểm đáng lo ngại khác và bệnh nhân tiếp tục được theo dõi.

    Ca bệnh
    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Những phát hiện là gì?
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    X-quang: có một vùng với các vôi hóa chất nền sụn và một số tiêu xương dưới 2 cm liền kề với sụn tăng trưởng đã đóng ở đầu xa xương đùi.
    Không thấy liên quan với vỏ xương.
    MRI được thực hiện để đánh giá kích thước thực sự và quyết định xem tổn thương có cần theo dõi hay không.

    MRI: trên hình ảnh T1W mặt phẳng đứng dọc, tổn thương đo được tối đa 2,8 cm và có liên quan mật thiết với vỏ xương phía sau tại hõm liên lồi cầu.

    Kết luận
    Do tổn thương lan rộng đến vỏ não phía sau,
    tổn thương được gọi là ACT và tiếp tục được theo dõi.

    U Sụn Xương Không Điển Hình (ACT)

    ACT là các khối u sụn độ ác tính trung gian.
    Chúng thường lớn hơn
    5 cm, lan rộng đến vỏ xương và gây ra hiện tượng xói mòn vỏ xương.
    Chúng có thể có
    tủy mỡ xen kẽ.
    Trên cộng hưởng từ tưới máu, có thể xuất hiện hiện tượng ngấm thuốc nhanh (trong vòng 10
    giây).

    Cần lưu ý rằng sự tăng trưởng không nhất thiết đồng nghĩa với sự chuyển dạng ác tính,
    và một số tổn thương này có thể giảm kích thước theo thời gian.
    ACT không có hình ảnh phản ứng màng xương trừ khi có gãy xương.
    Không được phép có hình ảnh phá hủy vỏ xương hoặc khối phần mềm để chẩn đoán ACT.
    Trong trường hợp đó, chúng ta nên gọi là sarcoma sụn độ cao hơn.

    Trường hợp này đã được trình bày trước đây.
    Nhìn lại hình ảnh MRI trước đó được thực hiện 5 năm trước, tổn thương đã tăng trưởng 6 mm theo chiều sọ-đuôi.
    Cũng lưu ý sự mở rộng của tổn thương về phía trước (mũi tên vàng).
    Không có hiện tượng mỏng vỏ xương, phù tủy xương hay viêm màng xương.

    This lesion is an
    ACT and remains in follow-up.     

    ACT versus high grade CS

    Phân biệt giữa u sụn không điển hình (ACT) và u sụn sụn độ cao (CS độ cao) là nhiệm vụ quan trọng nhất của bác sĩ X quang, vì các khối u độ cao cần được cắt bỏ rộng rãi. Kể từ khi quan điểm điều trị thay đổi, ngày càng nhiều trung tâm điều trị ACT bằng phương pháp theo dõi thận trọng mà không phẫu thuật.
    Cần tích cực tìm kiếm các đặc điểm như phù tủy xương quanh tổn thương, phản ứng màng xương, phá hủy vỏ xương và khối phần mềm để xác định khối u là CS độ cao. Giãn nở xương có thể gặp trong ACT nhưng phổ biến hơn trong CS độ cao.
    Thành phần nhầy là dấu hiệu của độ ác tính cao hơn và cũng hiện diện trong các trường hợp như CS biệt hóa kém.
    Ngấm thuốc tương phản động nhanh, xói mòn vỏ xương và vôi hóa chất nền có thể xuất hiện trong cả ACT lẫn CS độ cao, do đó các đặc điểm này không giúp phân biệt hai loại.
    Kích thước có vai trò nhất định nhưng không phải là đặc điểm chính để phân biệt ACT với CS độ cao.
    Trong trường hợp gãy xương bệnh lý trên nền ACT, có thể xuất hiện phù nề xung quanh và viêm màng xương. Luôn đối chiếu hình ảnh với tiền sử chấn thương lâm sàng và khuyến nghị chụp MRI theo dõi sau 3-6 tháng để đảm bảo các dấu hiệu này được giải quyết.

    Chúng tôi sẽ trình bày một số trường hợp, trong đó bạn cần phân biệt giữa u sụn không điển hình (ACT) và sarcôm sụn.

    Trường hợp lâm sàng
    Hãy quan sát các hình ảnh và xác định xem bạn đang đối mặt với một ACT hay CS.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương đo được hơn 20 cm ở thân xương đùi.
    Lưu ý các vôi hóa dạng bỏng ngô trong nền tổn thương.
    Có một nốt khu trú (trong vòng tròn màu vàng) gây xói mòn vỏ xương và có sự mở rộng nhẹ của ống tủy xương.

    Continue with the MR…

    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Hình ảnh MR cho thấy mô mỡ xen kẽ giữa các nốt sụn.
    Có tín hiệu cao trên ảnh T1W mặt phẳng đứng dọc và tín hiệu thấp trên ảnh xóa mỡ (các mũi tên).
    Có một nốt khu trú gây lõm vỏ xương (<10%) và có sự mở rộng nhẹ của ống tủy xương.

    Kết luận
    Tổn thương được chẩn đoán là ACT và vẫn ổn định trong quá trình theo dõi.

    Ca bệnh
    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh và quyết định xem bạn đang xử lý với ACT hay CS.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương tiêu xương được xác định rõ >10 cm ở thân xương đùi đoạn gần với vôi hóa chất nền sụn dạng bỏng ngô.
    Có sự giãn nở của xương, tuy nhiên không có dấu hiệu xói mòn vỏ xương rõ ràng hay phản ứng màng xương.

    Kết luận
    Dựa trên hình ảnh X-quang đơn thuần, khối u này có thể là một ACT hoặc sarcoma sụn độ cao hơn. Bước tiếp theo là thực hiện MRI để đánh giá đặc điểm chi tiết hơn.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    MRI xác nhận bản chất sụn của khối u với các nốt sụn tăng tín hiệu trên T2 DIXON cho thấy ngấm thuốc kiểu vách-nốt sau tiêm thuốc tương phản.
    Tuy nhiên, cũng có phù tủy xương đáng kể ở phía gần (mũi tên đen) và phản ứng màng xương kèm ngấm thuốc (mũi tên trắng).

    Kết luận
    Các đặc điểm này rất đáng ngờ cho chẩn đoán u sụn ác tính độ cao.

    Hình ảnh
    Hình ảnh T1 axial xác nhận tình trạng lõm vỏ xương phía trước sâu chiếm khoảng 1/3 vỏ xương, tức là lõm vỏ xương mức độ rộng (> 10% chu vi khối u).

    Cắt bỏ đầu trên xương đùi đã được thực hiện.
    Chẩn đoán cuối cùng: sarcoma sụn độ II

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy các vùng nhỏ có vôi hóa chất nền sụn.
    Hình ảnh T2W FS mặt phẳng vành tai minh họa kích thước tổn thương bị đánh giá thấp hơn so với phim thường.
    Lưu ý các nốt sụn tăng tín hiệu kết hợp với các vùng tín hiệu thấp tương ứng với hình ảnh vôi hóa trên X-quang.
    Sau tiêm thuốc tương phản, thấy kiểu ngấm thuốc điển hình dạng vòng và cung.

    Kết luận
    Do kích thước 5,7 cm và mức độ lan đến vỏ não, tổn thương này được gọi là ACT và sẽ được theo dõi bằng MRI.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy tổn thương tiêu xương dạng đa ổ, có tính chất giãn rộng tại vùng hành xương đầu gần xương quay.
    Có thể thấy một số chấm vôi hóa nhỏ bên trong tổn thương.
    Khối u tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2 DIXON và có các vùng phá hủy vỏ xương.
    Sau tiêm thuốc cản quang, xuất hiện hình ảnh ngấm thuốc điển hình dạng vách-nốt và các vùng chất nhầy không ngấm thuốc, cũng hiện diện trong thành phần phần mềm.
    Xung quanh khối u có hình ảnh phù nề phần mềm.
    Những đặc điểm này giúp chúng ta đưa ra chẩn đoán u sụn ác tính độ cao (chondrosarcoma độ cao).

    Kết quả giải phẫu bệnh sau cắt rộng cho thấy sarcoma sụn độ II.

    MRI follow-up guidance for ACT

    Tại trung tâm của chúng tôi, các ACT được theo dõi bằng MRI như được trình bày trong bảng [1].
    Điều này có thể cung cấp một số hướng dẫn lâm sàng, tuy nhiên cần có dữ liệu theo dõi dài hạn vững chắc (>10 năm theo dõi) để xác định rõ hơn khoảng thời gian theo dõi phù hợp và thời gian theo dõi cuối cùng, vì chụp MRI đi kèm với gánh nặng chi phí và có thể gây lo lắng cho bệnh nhân.

    Nếu trong quá trình theo dõi xuất hiện các đặc điểm xâm lấn đáng lo ngại cho u sụn ác tính, bệnh nhân sẽ được thảo luận trong hội đồng u bướu đa chuyên khoa và có thể cân nhắc điều trị phẫu thuật.

    Ung Thư Sụn Xương (Chondrosarcoma)

    U sụn ác tính trung bình có kích thước hơn 10 cm
    khi phát hiện, cho thấy sự phá hủy vỏ xương và thường kèm theo khối mô mềm.
    Tuy nhiên, u sụn ác tính độ cao kích thước nhỏ hơn cũng có thể xảy ra, do đó kích thước không phải là tiêu chí tốt nhất.

    Viêm màng xương trên MRI được thể hiện dưới dạng viền tăng tín hiệu T2 bao quanh vỏ xương, ngấm thuốc sau tiêm tương phản.
    Thành phần nhầy có thể hiện diện trong khoang tủy xương hoặc trong khối mô mềm.
    Các tổn thương này thuộc độ ác tính cao, có nghĩa là chúng có nguy cơ di căn (chủ yếu đến phổi).

    Điều trị là cắt bỏ rộng rãi và ngoài MRI, có thể thực hiện thêm CT để lập kế hoạch trước phẫu thuật, vì cắt bỏ triệt để là lựa chọn điều trị tốt duy nhất.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương tiêu xương, dạng giãn rộng ở thân xương đùi phải đoạn gần.
    Có hiện tượng dày vỏ xương nhẹ lân cận mà không có phản ứng màng xương.
    Không thấy chất nền sụn rõ ràng trên phim X-quang này.

    Kết luận
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm sarcoma sụn, loạn sản xơ, u lympho, di căn và u tương bào.

    Chụp CT không tiêm thuốc cản quang có thể giúp phát hiện các vôi hóa chất nền sụn nhỏ trong trường hợp này. Tuy nhiên, chúng tôi đã tiến hành thẳng vào MRI.
    Tiếp tục với MRI…

    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Hình ảnh T1W cho thấy sự thay thế tủy xương.
    Hình ảnh T2W cho thấy phản ứng màng xương
    và phù tủy xương quanh tổn thương.
    Bản thân khối u tăng tín hiệu và
    có dạng nốt.
    Hình ảnh T1W FS sau tiêm Gd cho thấy
    hình thái ngấm thuốc dạng vòng và cung.

    Kết luận
    Tất cả những phát hiện này phù hợp với một khối u sụn, và rất nghi ngờ là u sụn ác tính độ II hoặc cao hơn.

    Tại trung tâm chuyên khoa tuyến ba về sarcoma xương của chúng tôi, chúng tôi không thực hiện sinh thiết đối với các khối u sụn này, vì điều này có thể gây ra sai số lấy mẫu do tính không đồng nhất bên trong khối u.
    Bạn có thể vô tình sinh thiết vào phần lành tính hơn của khối u và đánh giá thấp độ mô học.

    Các khối u sụn được biết đến với khả năng gieo rắc theo đường sinh thiết.

    Continue with the postoperative
    X-rays…..

    Điều trị bao gồm cắt bỏ khối xương đùi gần và tái tạo bằng nội khớp giả.

    Pathology confirmed a chondrosarcoma grade II.  

    Chondrosarcoma độ II và độ III không thể phân biệt dựa trên hình ảnh học.
    Đây là chẩn đoán được thực hiện dựa trên mô bệnh học.
    Do đó, chúng tôi gọi các tổn thương như vậy là “độ II hoặc cao hơn” trong báo cáo chẩn đoán hình ảnh của chúng tôi.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy một tổn thương tiêu xương dạng giãn rộng xâm lấn ở thân xương đùi đoạn gần của bệnh nhân 30 tuổi.
    Có hiện tượng xói mòn vỏ xương lan rộng và phản ứng màng xương dạng gai, kiểu tóc dựng đứng.
    Lưu ý gãy xương bệnh lý ở mấu chuyển nhỏ.
    Có hiện tượng vôi hóa mờ nhạt trong phần mềm ở phía trong (mũi tên).

    Kết luận
    Tất cả những phát hiện này đều hướng tới một khối u xương ác tính.
    Trong chẩn đoán phân biệt (có tính đến độ tuổi và vị trí thân xương) chúng tôi sẽ bao gồm sarcoma Ewing, nhưng cũng cần xem xét sarcoma sụn độ ác tính cao.
    Mặc dù bệnh mô bào tế bào Langerhans cũng có thể xuất hiện ở thân xương dài trong nhóm tuổi này, khối u này rất lớn và phản ứng màng xương quá hung hãn.

    Continue with the MRI…

    Đầu tiên hãy xem các hình ảnh.
    Đây có phải là khối u sụn hay là bệnh lý gì khác?
    Phương pháp điều trị tốt nhất là gì, theo dõi hay phẫu thuật cắt bỏ?

    Hình ảnh
    MRI xác nhận hình ảnh đa nốt tăng tín hiệu T2 của khối u sụn.
    Có một khối mô mềm lớn ở phía trước trong. Có phản ứng màng xương rõ rệt trên MRI, phù tủy xương ở phần gần và phù nề mô mềm xung quanh.
    Lưu ý hình thái ngấm thuốc dạng vách-nốt.
    Không có ngấm thuốc ở phần trên của khối u và trong khối mô mềm. Đây được coi là thành phần nhầy.

    Kết luận
    Dựa trên các kết quả MRI, chúng ta nên đưa ra chẩn đoán u sụn ác tính độ II hoặc cao hơn.
    Điều trị là cắt bỏ rộng rãi.

    Pathology diagnosis: Chondrosarcoma grade III 

    Thành phần nhầy là một đặc điểm của sarcoma sụn độ cao, có thể nhận thấy bởi cả bác sĩ chẩn đoán hình ảnh lẫn bác sĩ giải phẫu bệnh.
    Bác sĩ giải phẫu bệnh cũng đánh giá mật độ tế bào, mức độ không điển hình nhân và số lượng nhân phân chia trong khối u, những yếu tố này cao hơn so với u sụn không điển hình (ACT) hoặc sarcoma sụn độ I.

    Ca lâm sàng
    Hãy tiếp tục với một khối u sụn ở bộ xương trục. Chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận vì có sự khác biệt so với các tổn thương ở bộ xương ngoại vi.
    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    CT axial cho thấy một khối u tiêu xương dạng膨胀 tại thân xương ức.
    Có nhiều ổ phá hủy vỏ xương.
    Vôi hóa dạng bỏng ngô hiện diện ở trung tâm.
    MRI xác nhận bản chất sụn của khối u này với tín hiệu tăng sáng trên ảnh STIR và ngấm thuốc tương phản dạng vách-nốt.

    Kết luận
    Mặc dù không có thành phần mô mềm, do sự giãn rộng và nhiều ổ phá hủy vỏ xương, khối u này nên được gọi là sarcoma sụn độ II hoặc cao hơn và cắt bỏ khối là phương pháp điều trị đúng đắn.

    Pathology showed a grade II
    chondrosarcoma.  

    Trong bộ xương trục, các khối u sụn có tiên lượng xấu hơn.
    Điều này có nghĩa là chúng sẽ được phẫu thuật cắt bỏ ngay cả khi ở độ I, khác với khối u cùng loại ở bộ xương ngoại vi, được gọi là ACT và sẽ được theo dõi.
    Không được gọi các khối u ở bộ xương trục là u sụn nội xương nếu chúng có dấu hiệu xói mòn vỏ xương hoặc phá hủy vỏ xương, vì điều này có thể dẫn đến điều trị không đầy đủ.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Trên phim X-quang, có tổn thương tiêu xương thấm nhiễm với phản ứng màng xương xâm lấn, xói mòn vỏ xương và giãn rộng.
    Ảnh T2 DIXON trục ngang cho thấy nhiều khối mô mềm dọc theo xương cánh tay.
    Chuỗi xung sau tiêm thuốc cản từ thể hiện ngấm thuốc dạng vách-nốt, viêm màng xương xâm lấn và các vùng nhầy trong khối u không ngấm thuốc cả ở phần gần tủy xương lẫn trong khối mô mềm phía trong.

    Kết luận
    High grade CS.

    Dedifferentiated chondrosarcoma

    Đầu tiên hãy xem các hình ảnh của bệnh nhân 79 tuổi bị u xương.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy một khối u lớn ở thân xương đùi với hình ảnh vôi hóa dạng bỏng ngô điển hình ở phần xa và thành phần tiêu xương nhiều hơn ở phần gần.
    Hình ảnh phóng đại chi tiết ở tư thế nghiêng cho thấy khối u xâm lấn vỏ xương và nguy cơ cao gãy xương bệnh lý.
    Phần đuôi của khối u có hình ảnh giống u sụn không điển hình (ACT) với hiện tượng lõm vỏ xương khu trú, trong khi phần đầu có hình ảnh giống u sụn ác tính độ cao (CS độ cao).

    Kết luận
    Đây là hình ảnh điển hình của sarcoma sụn phản biệt hóa, với một phần có biểu hiện như khối u sụn độ thấp đến trung bình với sự chuyển tiếp đột ngột sang thành phần sarcoma độ cao (đôi khi không có nguồn gốc sụn).

    Phân nhóm này
    thường gặp ở người lớn tuổi.
    Tỷ lệ sống còn toàn bộ của sarcoma sụn phân hóa kém rất thấp so với sarcoma sụn độ II và độ III, do bệnh nhân thường đã có di căn phổi và xương tại thời điểm chẩn đoán.

    Continue with the next images…

    Hình ảnh
    Lưu ý khuyết tật vỏ xương trên ảnh T2 DIXON axial và khối mô mềm xung quanh.
    Một phần khối u không ngấm thuốc và vùng chất nhầy này cho thấy đây là u sụn ác tính độ cao.

    Như trên phim X-quang, trường hợp này là một chondrosarcoma phân hóa kém điển hình, trong đó phần dưới có biểu hiện như một ACT và phần gần như một sarcoma độ cao.
    Thường gặp dưới dạng khối u lớn ở bệnh nhân cao tuổi.

    Hình ảnh tưới máu cho thấy
    sự tăng cường tín hiệu không đồng nhất trong khối u sụn biệt hóa kém này.
    Phần nhầy (đường màu xanh lam)
    không có sự tăng cường tín hiệu.

    Continue with the PET-CT…

    Chúng tôi đã thảo luận trước đây rằng 18F-FDG PET-CT không được khuyến cáo cho u sụn ác tính để phân biệt giữa khối u sụn không điển hình và các khối u độ cao.

    Tuy nhiên, trong ung thư sụn dạng biệt hóa,
    PET CT kết hợp với CT chẩn đoán lồng ngực có thể được thực hiện để tìm kiếm bệnh di căn.
    Ung thư sụn dạng biệt hóa ở xương đùi phải cho thấy độ bắt giữ FDG cao và hình ảnh toàn thân cho thấy nhiều di căn xương ở xương đùi trái, xương đòn trái, các xương sườn trên bên phải và xương ức.
    Di căn hạch bạch huyết cạnh chậu hiện diện ở cả hai bên.

    Do chondrosarcoma không nhạy cảm với xạ trị và hóa trị, bệnh nhân được điều trị giảm nhẹ, bao gồm đóng đinh xương đùi phải để phòng ngừa gãy xương.

    Thật không may, bệnh nhân đã phát triển gãy xương bệnh lý ở xương đùi trái và sau đó đã được điều trị.

    Hình ảnh CT ngực theo mặt phẳng coronal cho thấy khối mô mềm xung quanh
    ổ di căn tại xương đòn trái.
    Không phát hiện di căn phổi.

    Tiên lượng của u sụn dạng biệt hóa kém rất xấu với tỷ lệ sống còn toàn bộ 5 năm khoảng 18%.

    Osteochondromas

    U xương sụn ngoại vi
    là các khối u sụn ngoại vi, có nghĩa là chúng không nằm trong ống tủy xương.
    Có hai phân nhóm hình thái học: tổn thương dạng không cuống (đáy rộng) hoặc dạng có cuống
    (có cuống) được bao phủ bởi một mũ sụn.

    Cuống của u xương sụn liên tục với khoang tủy xương, xuất phát từ vùng hành xương và hướng ra xa khớp.
    Độ dày của mũ sụn phải nhỏ hơn 2 cm ở những bệnh nhân đã đóng sụn tăng trưởng theo tiêu chí của WHO được định nghĩa vào năm 2020.
    Nếu mũ sụn đo được hơn 2 cm, đây là dấu hiệu đáng lo ngại cho u sụn vỏ xương không điển hình (ACT) hoặc thậm chí là ung thư sụn, và những tổn thương này cần được phẫu thuật cắt bỏ.


    trẻ em, chỏm sụn của u xương sụn có thể dày hơn 2 cm do
    bộ xương của chúng vẫn đang trong quá trình phát triển.

    Hình ảnh X-quang này của bệnh nhân 17 tuổi
    có biểu hiện đau vai trong 2
    tháng.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương có cuống xuất phát từ hành xương đầu trên xương cánh tay.
    Cuống xương cho thấy sự liên tục của tủy xương và một mũ sụn bên trên chứa các vôi hóa dạng sụn.
    Những đặc điểm này điển hình cho u xương sụn (osteochondroma).

    Trên phim X-quang, phần sụn mũ đã vôi hóa và do đó có thể nhìn thấy được khá lớn, đó là lý do tại sao MRI được thực hiện để đo chính xác độ dày của mũ sụn.

    Continue with the MR-images…     

    Độ dày của mũ sụn được đo vuông góc với vỏ xương trên chuỗi xung T2.

    Hình ảnh
    Hình ảnh T2W trục ngang có kỹ thuật ức chế mỡ cho thấy u xương sụn ở mặt sau đầu trên xương cánh tay trái với độ dày mũ sụn 22 mm.

    Trong các tổn thương
    có mũ sụn > 2 cm, phẫu thuật cắt bỏ được thực hiện để loại trừ
    u sụn ác tính.

    Khối u đã được cắt bỏ và
    kết quả giải phẫu bệnh phù hợp với u vỏ thượng thận ngoại vi.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy một tổn thương dạng膨胀 với sự khoáng hóa chất nền sụn xuất phát từ xương đùi phải ở mức mấu chuyển nhỏ.
    Mũ sụn có vẻ được phân định rõ ràng và trưởng thành.

    MRI được thực hiện để đánh giá độ dày sụn của chỏm.

    Continue with the MRI…

    Hình ảnh T2W có bão hòa mỡ cho thấy một mũ sụn mỏng phủ bên trên chỉ 3 milimet.
    Phần còn lại của tổn thương đã trưởng thành, có nghĩa là nó chứa tủy xương với tín hiệu bị ức chế trên chuỗi xung bão hòa mỡ

    Continue with the CT…. 

    Ngoài ra, hãy xem sự trưởng thành xương hoàn toàn
    của mũ sụn trên CT không tiêm thuốc cản quang.
    Bờ viền của tổn thương được xác định rõ ràng.

    Tổn thương này được gọi là u xương sụn vì không có dấu hiệu ác tính, không nghi ngờ ACT hoặc u sụn ác tính.

    Đôi khi các u xương sụn này được
    cắt bỏ do các triệu chứng cơ học hoặc sau gãy xương, và chúng có thể
    gây ra một túi hoạt dịch ở phía trên.

    Differential diagnosis of Chondroid tumors

    Chẩn đoán phân biệt các khối u sụn phụ thuộc vào độ tuổi, vị trí và việc có tổn thương đơn độc hay đa ổ.
    Một số ví dụ về chẩn đoán phân biệt được trình bày trong bảng.

    Nhồi máu xương và loạn sản xơ đa xương là những tổn thương “không cần can thiệp”.
    Điều này có nghĩa là những tổn thương này có hình ảnh đặc trưng đến mức có thể được chẩn đoán xác định chỉ dựa trên phim X-quang mà không cần sinh thiết.
    Tuy nhiên, nếu chỉ có một tổn thương đơn độc và chẩn đoán loạn sản xơ chưa chắc chắn, có thể thực hiện sinh thiết dưới hướng dẫn của CT.

    Trong trường hợp các khối u có tính xâm lấn cao, các khối u xương nguyên phát khác như sarcoma Ewing và sarcoma xương có thể được đưa vào chẩn đoán phân biệt.
    Đặc biệt, phân nhóm hiếm gặp là sarcoma xương tiêu xương hoặc sarcoma xương dạng sụn có thể khó phân biệt với các khối u dạng sụn.
    Trong trường hợp nghi ngờ, cần tiến hành sinh thiết để chẩn đoán giải phẫu bệnh, vì điều này có ảnh hưởng quan trọng đến phương pháp điều trị (chẳng hạn như hóa trị liệu ở bệnh nhân sarcoma xương).
    Ở bệnh nhân trên 50 tuổi, chẩn đoán phân biệt bao gồm di căn và u tương bào.


    Bone infarctions

    Bone infarctions

    Nhồi máu xương
    Chẩn đoán phân biệt phổ biến nhất cho tình trạng khoáng hóa chất nền ở hành xương của xương dài là nhồi máu xương.

    Các vôi hóa này có hình dạng vuông hơn là tròn như trong các khối u sụn.
    Ngoài ra, nhồi máu xương thường đa ổ và có thể xảy ra ở cả hai bên.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy nhiều tổn thương xơ cứng dạng rắn bò ở đầu xa xương đùi và đầu gần xương chày, tập trung ở vùng hành xương.
    Hình ảnh này điển hình cho nhồi máu xương và xảy ra do sử dụng corticosteroid kéo dài ở bệnh nhân mắc lupus ban đỏ hệ thống (SLE).
    Lưu ý sự vắng mặt của các vôi hóa dạng chấm sụn.


    Polyostotic fibrous dysplasia

    Polyostotic fibrous dysplasia

    Loạn sản xơ
    Trong chẩn đoán phân biệt, chúng ta có thể xem xét loạn sản xơ, thường chứa thành phần sụn.
    Trong hầu hết các trường hợp, hình ảnh kính mờ trên phim X-quang giúp phân biệt.

    Đầu tiên hãy xem các hình ảnh của một nam giới 23 tuổi có tiền sử dậy thì sớm (pubertas praecox). Sau đó tiếp tục đọc.

    Hông
    Có sự giãn nở của đầu trên xương đùi với sự mở rộng của hành xương và tổn thương tiêu xương dạng kính mờ với bờ xơ cứng trong ống tủy. Lưu ý tình trạng thoái hóa khớp háng thứ phát.
    Cổ tay
    Đầu dưới xương quay có hình ảnh tương tự với cấu trúc xương bị thay đổi do các tổn thương tiêu xương dạng kính mờ kèm giãn nở. Xương đốt bàn tay thứ nhất và thứ hai cũng bị ảnh hưởng.

    Kết luận
    Tổn thương đa xương kết hợp với tuổi tác, tiền sử dậy thì sớm và hình ảnh X-quang làm cho trường hợp này mang tính chất đặc trưng bệnh lý của loạn sản xơ xương (FD).
    Không nên thực hiện sinh thiết.

    Bệnh nhân này được biết đến với chứng loạn sản xơ đa xương như một phần của hội chứng McCune Albright.


    Fibrous dysplasia

    Fibrous dysplasia

    Hình ảnh
    Hình ảnh X-quang xương cánh tay phải của bệnh nhân 26 tuổi cho thấy một tổn thương lớn lấp đầy ống tủy của vùng hành xương và thân xương cánh tay gần, với hình ảnh tiêu xương và kính mờ cùng các thành phần đặc xương hơn ở phía xa.
    Không có phản ứng màng xương hoặc các đặc điểm xâm lấn khác.
    Dựa vào độ tuổi và hình ảnh này, Loạn sản xơ (FD) có thể là chẩn đoán phù hợp.
    MRI đã được thực hiện để đánh giá chi tiết hơn trong trường hợp này.

    Hình ảnh T1 và STIR mặt phẳng coronal cho thấy các thành phần dạng nang trong tổn thương, biểu hiện giảm tín hiệu trên T1W và tăng tín hiệu trên STIR (mũi tên). Đây là những đặc điểm điển hình của loạn sản xơ (FD).
    Giữa các vùng nang là mô mỡ, biểu hiện tăng tín hiệu trên T1W và bị xóa tín hiệu trên STIR (dấu hoa thị).
    Lưu ý phần xa của tổn thương có tín hiệu rất thấp tương ứng với vùng xơ cứng trên X-quang.

    FD có thể xuất hiện không đồng nhất và chứa các thành phần sụn liền kề với các vùng nang hoặc xơ cứng.
    Không cần sinh thiết vì những phát hiện này phù hợp với FD đơn xương.


    Langerhans cell histiocytosis

    Langerhans cell histiocytosis

    U mô bào tế bào Langerhans
    Ở xương sườn, u mô bào tế bào Langerhans có thể bắt chước một khối u sụn.

    Hình ảnh

    1. Phát hiện tình cờ trên CT ngực với tổn thương tiêu xương dạng giãn rộng tại khớp sụn sườn bên trái. Tổn thương có hình ảnh lõm vỏ sò và phá hủy khu trú vỏ xương, không tìm thấy chất nền sụn.
    2. Hình ảnh T2W có fatsat cho thấy tổn thương tăng tín hiệu với viền xơ cứng.
    3. Sau tiêm thuốc cản quang, tổn thương ngấm thuốc đồng nhất, không có hình ảnh ngấm thuốc dạng vách ngăn hay nốt.

    Kết luận
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm u sụn (CS-I vì xương sườn là một phần của bộ xương trục), u mô bào tế bào Langerhans (vị trí điển hình, bệnh nhân trẻ tuổi), và ở bệnh nhân trên 50 tuổi cần nghĩ đến đa u tủy xương (vị trí điển hình).
    Sinh thiết được thực hiện dưới hướng dẫn của CT và LCH là chẩn đoán cuối cùng.
    Tổn thương được theo dõi và tự thoái lui mà không cần điều trị.

    Trong trường hợp các khối u có tính xâm lấn cao (CS độ cao), các khối u xương nguyên phát khác như sarcoma Ewing và sarcoma xương có thể được đưa vào chẩn đoán phân biệt.
    Đặc biệt trong các trường hợp sarcoma xương tiêu xương hiếm gặp hơn, việc phân biệt với các khối u dạng sụn có thể rất khó khăn.
    Ở bệnh nhân trên 50 tuổi, di căn có thể là yếu tố gây nhầm lẫn với khối u dạng sụn.

    WHO classification of chondroid tumors

    Trong phân loại WHO năm 2013,
    thuật ngữ u sụn không điển hình (ACT) được đưa ra như một từ đồng nghĩa với
    u sụn ác tính độ 1 (CS1) và được phân loại là trung gian (xâm lấn tại chỗ)
    nhằm phản ánh đặc điểm lâm sàng của các tổn thương biệt hóa tốt độ thấp này.
    Lý luận đưa ra là các tổn thương như vậy,
    đặc biệt ở các xương dài, có hành vi xâm lấn tại chỗ và không
    di căn. Do đó, chúng không nên được phân loại là có tiềm năng ác tính hoàn toàn
    (1).

    Trong phiên bản WHO 2020, thuật ngữ ACT
    chỉ được dùng cho các u sụn ác tính độ thấp nằm trong các xương dài của
    bộ xương chi.
    Thuật ngữ “CS1” nên được dùng cho các khối u của
    bộ xương trục, bao gồm xương chậu, xương sườn, xương bả vai và nền sọ (xương
    dẹt), phản ánh
    tiên lượng lâm sàng kém hơn của các khối u tại những vị trí này.

    ACT trung tâm nguyên phát phát sinh ở tủy xương dài mà không có tổn thương tiền thân lành tính.
    ACT trung tâm thứ phát phát sinh ở trung tâm xương có liên quan đến một u sụn nội xương có sẵn từ trước.
    ACT ngoại vi ở xương dài phát sinh thứ phát trong mũ sụn của một u xương sụn có sẵn từ trước.
    WHO 2020 xác định ngưỡng cắt 2 cm cho độ dày mũ sụn.

    Other changes in the 2020 WHO classification
    are: 

    • U nguyên bào sụn và u sợi sụn nhầy (trước đây được phân loại
      là khối u trung gian xâm lấn tại chỗ) hiện nay được phân loại
      là lành tính.
    • Chondromatosis hoạt dịch (trước đây được phân loại là u lành tính) hiện nay đã được phân loại vào nhóm u trung gian xâm lấn tại chỗ do hành vi xâm lấn tại chỗ của nó, được đặc trưng bởi tỷ lệ tái phát tại chỗ cao.

    MR perfusion


    ACT along the posterior cortex in the distal femur showing septonodular enhancement after contrast.  Two ROIs were placed, one in the tumor (orange) and one in the popliteal artery (blue).

    ACT along the posterior cortex in the distal femur showing septonodular enhancement after contrast. Two ROIs were placed, one in the tumor (orange) and one in the popliteal artery (blue).

    MRI tưới máu là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chức năng trong đó quá trình ngấm thuốc sớm của khối u được theo dõi sau khi tiêm bolus gadolinium tĩnh mạch.
    Kỹ thuật này cung cấp thông tin về sự mạch hóa và tưới máu, tính thấm mao mạch và thể tích khoang kẽ.
    Kỹ thuật này được sử dụng cho các khối u mô mềm và xương (chủ yếu tại các trung tâm ung thư chuyên biệt) trên toàn thế giới, và có thể hỗ trợ ví dụ như trong việc lựa chọn vùng không hoại tử để sinh thiết, hoặc để phân biệt tái phát tại chỗ với mô hạt. Tưới máu có thể giúp đặc trưng hóa các tổn thương và phân biệt tổn thương lành tính với ác tính.

    MRI tưới máu thực chất có nghĩa là bạn đánh giá sự xuất hiện và thải trừ của thuốc tương phản gadolinium trong khối u theo thời gian.
    Để thực hiện điều này, cần thu nhận các hình ảnh rất nhanh với độ phân giải thời gian cao (mỗi 2 hoặc 3 giây), trong khi thuốc tương phản đi vào và rời khỏi khối u trong tổng thời gian từ 3 đến 5 phút.
    Sau khi thu nhận các hình ảnh động, giao thức thường được hoàn thành bằng các chuỗi xung tĩnh sau tiêm thuốc tương phản trên 2 mặt phẳng khác nhau.

    Sử dụng phần mềm xử lý hậu kỳ, một vùng quan tâm (ROI) được vẽ trong một động mạch gần khối u. Tiếp theo, một hoặc nhiều ROI được vẽ trong khối u và trong một cơ lành để tham chiếu.
    Các ROI khác nhau này sau đó được vẽ trên đường cong cường độ theo thời gian (TIC).

    Trong các khối u sụn, tưới máu được sử dụng để phân biệt u sụn lành tính (enchondroma) với ung thư sụn (chondrosarcoma).
    Ngưỡng cắt 10 giây được dùng để phân biệt ngấm thuốc nhanh và ngấm thuốc chậm. Tuy nhiên, có thể xảy ra sự chồng lấp trong các kiểu ngấm thuốc sớm giữa ung thư sụn (CS) và u sụn lành tính, ví dụ: một số u sụn lành tính có thể ngấm thuốc nhanh, nhưng cũng có những khối u sụn ác tính độ thấp (ACT) ngấm thuốc chậm.

    Hình ảnh
    Ví dụ về một ACT tăng cường chậm (đường màu cam), hơn 10 giây sau động mạch (đường màu xanh lam).

    Hình ảnh
    Khối u sụn ở xương ức với phù nề quanh tổn thương và ngấm thuốc dạng vách-nốt.
    Các hình ảnh tưới máu cho thấy khối u ngấm thuốc nhanh (vùng ROI và đường cong màu cam), trong vòng 8 giây sau động mạch chủ (vùng ROI và đường cong màu xanh dương).
    Vùng ROI và đường cong màu hồng đại diện cho thành phần nhầy không ngấm thuốc.

    Tổn thương này đã được cắt bỏ.
    Chẩn đoán cuối cùng: Sarcoma sụn độ I (CS-I) ở xương ức

    Có nhiều kiểu ngấm thuốc khác nhau, và chúng được định nghĩa để giúp các bác sĩ X-quang đặc trưng hóa các loại khối u khác nhau.
    Ví dụ, ngấm thuốc nhanh (trong vòng 10 giây sau động mạch) tiếp theo là thải thuốc là đặc trưng của ổ viêm trong u xương dạng xương hoặc u tế bào khổng lồ của xương, và được gọi là đường cong loại IV.

    Charity

    Toàn bộ lợi nhuận của Radiology Assistant được chuyển đến Medical Action Myanmar, tổ chức được điều hành bởi Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis sr, người là giáo sư tại Đại học Oxford và cũng là anh trai của Robin Smithuis.

    Nhấp vào đây hoặc vào hình ảnh bên dưới để xem video của Medical Action Myanmar và nếu bạn thích Radiology Assistant, hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Khám MRI cổ chân

    Chụp cộng hưởng từ (MRI) khớp cổ chân

    Frank Smithuis và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam tại Amsterdam và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Bài viết này trình bày một phương pháp tiếp cận có hệ thống để mô tả hình ảnh MRI chuẩn của khớp cổ chân.

    Các chủ đề sau sẽ được thảo luận:

    • Giải phẫu khớp cổ chân
    • Các bệnh lý thường gặp
    • Các biến thể, cơ phụ và xương phụ
    • Quy trình chụp MRI

    Phương pháp tiếp cận có hệ thống

    Chúng tôi sử dụng danh sách kiểm tra sau khi đánh giá MRI khớp cổ chân:

    • Xương: rà soát phù tủy xương trên các chuỗi xung ức chế mỡ (fatsat).
    • Khớp: rà soát tràn dịch khớp và đánh giá bao khớp xem có dày không.
    • Dây chằng: kiểm tra khớp chày mác (syndesmosis), các dây chằng bên ngoài và bên trong.
    • Gân: kiểm tra các gân theo phương pháp tiếp cận bốn góc phần tư;
      • Các gân gấp ở phía trong (mặt trong).
      • Gân Achilles ở phía sau.
      • Các gân mác ở phía ngoài (mặt ngoài).
      • Các gân duỗi ở phía trước.

    Sau khi đã đánh giá tất cả các cấu trúc này, hãy tổng hợp các phát hiện và cố gắng đưa ra chẩn đoán cụ thể.

    Xương

    Phù tủy xương

    Hãy bắt đầu khảo sát bằng các chuỗi xung fatsat của xương để tầm soát phù nề.
    Phù tủy xương chỉ là dấu hiệu cho thấy có bất thường trong xương hoặc các cấu trúc liên quan.

    Bệnh nhân này có phù tủy xương ở mặt sau của đầu xa xương chày.

    Trên ảnh cắt ngang (axial), vùng phù khu trú quanh vị trí bám của dây chằng khớp chày mác sau (posterior syndesmosis).
    Đây là phù nề do tổn thương bong điểm bám dây chằng (ligamentous avulsion injury).

    Đây là hai bệnh nhân có phù tủy xương.

    Bệnh nhân bên trái có phù tủy xương ở mắt cá trong (malleolus medialis).

    Bệnh nhân bên phải có phù nề ở mặt trong xương sên (talus).
    Cả hai bệnh nhân đều có chấn thương lật ngoài (eversion injury), gây căng dây chằng delta.

    Phù tủy xương ở những bệnh nhân này là do tổn thương bong điểm bám tại các vị trí bám của dây chằng delta.

    Bệnh nhân này có phù tủy xương ở cả mắt cá trong lẫn mặt trong xương sên.

    Các dây chằng bên ngoài cũng cho thấy hình ảnh phù nề và dày lên.

    Phù tủy xương trong trường hợp này nhiều khả năng là do sự va chạm (impaction) giữa xương sên và mắt cá trong thứ phát sau chấn thương lật trong (inversion injury).

    Gãy xương do stress

    Gãy xương do stress ở xương gót (calcaneus) là một nguyên nhân gây đau gót chân thường bị bỏ sót.

    Bệnh nhân này có phù nề ở xương gót do gãy xương stress.
    Tổn thương này thường là hậu quả của việc sử dụng quá mức, đặc biệt ở những người chạy bộ.
    Khi không thấy rõ đường gãy trên chuỗi xung T2W fatsat, hãy xem xét các chuỗi xung T2W không fatsat hoặc chuỗi xung T1W để tìm đường gãy giảm tín hiệu.

    Đôi khi đường gãy không được nhìn thấy trên MRI.

    Trong những trường hợp đó, có thể cân nhắc chụp CT vì phương pháp này có thể nhạy hơn.

    Bệnh nhân này có nhiều đường gãy do stress ở xương gót.

    Ở bệnh nhân này, có phù nề rất kín đáo ở đầu xa xương mác.
    Không thấy đường gãy.
    Có dày vỏ xương kín đáo và một số thâm nhiễm dưới màng xương.

    Khi có phù nề như trong trường hợp này mà không thấy đường gãy, có thể cân nhắc chụp CT.

    Không nên đề cập đến phù nề mà không loại trừ đường gãy trên MRI hoặc CT.
    Gãy xương do stress dễ bị bỏ sót khi chỉ dựa vào MRI và điều này có thể dẫn đến chẩn đoán sai, chẳng hạn như viêm tủy xương (osteomyelitis).

    Trong trường hợp này, có phù nề nhiều ở xương thuyền (navicular).

    Ảnh cắt ngang (axial) thể hiện rõ đường gãy do stress.

    OCD

    OCD là chữ viết tắt có thể dùng cho cả Osteochondritis Dissecans (Viêm xương sụn bóc tách) hoặc Osteochondral Defect (Khuyết hổng xương sụn).

    Viêm xương sụn bóc tách (Osteochondritis dissecans) được dùng khi bệnh nhân còn trẻ và nguyên nhân chưa được xác định rõ ràng, nhưng nhiều khả năng là do chấn thương vi thể lặp đi lặp lại.

    Khuyết hổng xương sụn (Osteochondral defect) chủ yếu được dùng khi bệnh nhân lớn tuổi hơn hoặc khi một chấn thương cụ thể được cho là nguyên nhân gây ra khuyết hổng.

    Cả hai đều mô tả một khuyết hổng khớp liên quan đến sụn khớp và xương dưới sụn bên dưới.

    Khi có một khuyết hổng nhỏ ở tấm sụn, dịch khớp sẽ ăn mòn xương dưới sụn, dẫn đến phù tủy xương.
    Quá trình này có thể tiến triển thành hình thành nang.
    Cuối cùng, khi dịch chảy vào bên dưới khuyết hổng, tổn thương OCD có thể trở nên không ổn định và có thể dẫn đến hình thành dị vật khớp (corpus liberum).

    Đây là ba bệnh nhân với các giai đoạn OCD khác nhau.

    Os Trigonum

    Ở bàn chân và cổ chân, có thể thấy nhiều xương phụ (accessory ossicles) khác nhau.
    Xương phụ phổ biến nhất là os trigonum, là một mấu xương (apophysis) nổi bật chưa hợp nhất của củ bên (lateral tubercle) xương sên.
    Os trigonum hiện diện trong dân số bình thường với tỷ lệ khoảng 5-15%.

    Sự chèn ép os trigonum và các mô mềm xung quanh giữa xương chày và xương gót trong động tác gấp lòng bàn chân (plantar flexion) có thể là nguyên nhân gây hội chứng chèn ép phía sau (posterior impingement).
    Điều này đặc biệt hay gặp ở các vũ công ballet.

    Thuật ngữ “mỏm Stieda” (Stieda process) được dùng khi củ bên xương sên rất nổi bật.
    Điều này cũng có thể dẫn đến hội chứng chèn ép phía sau.

    Đây là một bệnh nhân khác có os trigonum.
    Trên các chuỗi xung fatsat, có phù nề ở os trigonum và các mô mềm xung quanh.

    Đây là một ví dụ về hội chứng chèn ép phía sau do os trigonum có triệu chứng.

    Đây là một ví dụ về os trigonum với phù nề khá kín đáo.

    Trường hợp này được trình bày để minh họa sự đa dạng phong phú của các xương phụ và củ xương ở mặt sau xương sên.

    Bệnh nhân này có củ bên nổi bật chưa hợp nhất với kết nối dạng sợi (fibrous connection) với xương sên, do đó đây là os trigonum hợp nhất một phần.
    Trên ảnh cắt ngang (axial), có thể thấy thêm các củ xương nổi bật chưa hợp nhất ở cả mặt trong và mặt ngoài của củ bên.

    Khớp

    Tràn dịch khớp

    Sau khi đánh giá hệ thống xương, hãy khảo sát các khớp để tìm dấu hiệu tràn dịch.

    Hình ảnh bên trái cho thấy lượng dịch sinh lý bình thường trong khớp chày-sên, khớp sên-gót và túi hoạt dịch sau gót.

    Hình ảnh bên phải cho thấy tràn dịch khớp lượng nhiều, là phản ứng đối với các tổn thương sụn-xương dưới sụn thoái hóa tại khớp chày-sên.
    Dịch tràn có thể lan dọc theo bao gân cơ gấp dài ngón cái (FHL), do bao gân này thông thương với khoang khớp.

    Hai ví dụ về tràn dịch lan tỏa trong khớp chày-sên.
    Ngoài ra còn ghi nhận tràn dịch một lượng nhỏ tại khớp sên-gót.

    Dày bao khớp

    Khớp cổ chân được bao phủ bởi bao khớp.
    Khi bao khớp bị dày lên, có thể gây ra hội chứng chèn ép (impingement) hoặc viêm màng hoạt dịch, như được thể hiện trên hình ảnh ở giữa.

    Dày bao khớp có thể là hậu quả của chấn thương hoặc phẫu thuật trước đó.

    Hình bên phải là một bệnh nhân xuất hiện xơ hóa sau phẫu thuật cắt bỏ gai xương Haglund.
    Ghi nhận xơ hóa dọc theo mặt sau xương gót và bao khớp phía sau.

    Ở bệnh nhân này chỉ ghi nhận tràn dịch lượng ít trong khớp cổ chân.
    Trên các chuỗi xung không ức mỡ (non fatsat), có thể thấy hình ảnh dày nhẹ của bao khớp kèm theo các thay đổi phản ứng trong mô mềm xung quanh.
    Bệnh nhân này có biểu hiện đau cổ chân phía trước do hội chứng chèn ép bởi bao khớp dày.

    Đây là một ví dụ khác về dày bao khớp.

    Trên các chuỗi xung ức mỡ (fatsat), có thể chỉ thấy hình ảnh phù nề trong lớp mỡ dưới da.
    Tuy nhiên, trên các chuỗi xung không ức mỡ (non fatsat), có thể thấy rõ ràng mô xơ dày ở phía trước.

    Dày bao khớp và các bất thường mô mềm thường được nhận diện rõ hơn trên các chuỗi xung không ức mỡ.

    Trong trường hợp này, ghi nhận dày xơ hóa bao khớp (mũi tên).

    Bệnh nhân có các thay đổi thoái hóa thứ phát trong khớp với phù nề xương dưới sụn và hình thành nang xương dưới sụn.
    Đây là hậu quả của tình trạng va chạm lặp đi lặp lại của mô xơ vào xương trong quá trình gấp mu bàn chân.

    Dây chằng


    Giải phẫu trên mặt phẳng cắt ngang

    Cuộn qua bộ ảnh để xem giải phẫu hệ thống dây chằng trên mặt phẳng cắt ngang.
    Bạn có thể nhấp vào ảnh để phóng to.

    Các khớp chày mác (syndesmosis) được quan sát rõ nhất trên ảnh cắt ngang:

    • Dây chằng chày mác trước (anterior tibiofibular ligament) hay còn gọi là khớp chày mác trước (anterior syndesmosis)
    • Dây chằng chày mác sau (posterior tibiofibular ligament) hay còn gọi là khớp chày mác sau (posterior syndesmosis)
    • Màng gian cốt (membrana interossei), chạy suốt lên đến chỏm xương mác.

    Các khớp chày mác thường bị tổn thương trong các chấn thương xoay ngoài, như:

    • Gãy xương Weber B (chấn thương ngửa – xoay ngoài theo phân loại Lauge-Hansen)
    • Gãy xương Weber C (chấn thương sấp – xoay ngoài theo phân loại Lauge-Hansen)

    Khớp chày mác trước (Anterior syndesmosis)

    Trong hình A – khớp chày mác trước bình thường được thấy như một dải mỏng có tín hiệu thấp.

    Trong hình B – khớp chày mác trước dày lên kèm phù nề, gợi ý rách một phần hay tổn thương độ 2.

    Trong hình C – khớp chày mác trước dày lên và có thể có gián đoạn khu trú (mũi tên), đó là lý do tại sao trường hợp này được xếp loại tổn thương độ 3 (rách toàn bộ chiều dày).

    Tổn thương đơn độc khớp chày mác trước có thể gặp trong các chấn thương xoay ngoài mức độ thấp.

    Ở bệnh nhân này có rách toàn bộ chiều dày của khớp chày mác trước (mũi tên vàng).
    Ngoài ra còn có gãy xương mắt cá thứ ba (malleolus tertius) (mũi tên xanh).
    Ở vị trí cao hơn, có thể thấy phù nề xung quanh màng gian cốt.

    Bệnh nhân này có gãy xương Weber C, tương ứng với tổn thương sấp – xoay ngoài độ 4 theo phân loại Lauge-Hansen.

    Khớp chày mác sau (Posterior syndesmosis)

    Tổn thương cấp tính biểu hiện bằng phù nề và dày lên, trong khi tổn thương cũ biểu hiện bằng dày lên và giảm tín hiệu do hình thành mô sẹo.

    Trong hình A có phù nề và dày lên xung quanh khớp chày mác trước và sau (mũi tên), gợi ý tổn thương cấp tính độ 2 ở cả hai vị trí.

    Trong hình B có phù nề và dày lên của khớp chày mác sau, đây là tổn thương cấp tính độ 2.
    Khớp chày mác trước cũng dày lên nhưng có tín hiệu thấp.
    Đây là hình ảnh hình thành mô sẹo do tổn thương trước đó.

    Trong hình C có mô sẹo là hậu quả của tổn thương cũ, có thể là nguyên nhân gây hội chứng chèn ép phía sau.

    ATFL

    Có ba dây chằng ở phía ngoài:

    1. Dây chằng sên mác trước (anterior talofibular ligament – ATFL)
    2. Dây chằng gót mác (calcaneofibular ligament – CFL)
    3. Dây chằng sên mác sau (posterior talofibular ligament – PTFL).

    Dây chằng ATFL chạy từ mắt cá ngoài ra phía trước đến bờ ngoài của xương sên.
    Dây chằng này có hướng nằm ngang và được quan sát rõ nhất trên ảnh cắt ngang.

    Đây là dây chằng bị tổn thương thường gặp nhất ở cổ chân và cũng là dây chằng đầu tiên bị tổn thương ở phía ngoài.
    Điều này có nghĩa là khi dây chằng CFL hoặc PTFL bị tổn thương, rất có khả năng dây chằng ATFL cũng đã bị tổn thương.


    Cuộn qua các ảnh cắt vành.
    Bạn có thể phóng to ảnh bằng cách nhấp vào.

    Đây là hình ảnh của ba bệnh nhân có tổn thương dây chằng ATFL.

    Bệnh nhân bên trái có phù nề nhẹ xung quanh dây chằng ATFL, trong khi bản thân dây chằng trông bình thường.
    Đây có thể là căng dây chằng mức độ nhẹ (độ 1).
    Thường được nhận thấy rõ nhất trên ảnh có kỹ thuật ức chế mỡ (fatsat).

    Bệnh nhân ở giữa có dày lên và rối loạn cấu trúc, biểu hiện của rách một phần (độ 2).

    Bệnh nhân bên phải có rách toàn bộ chiều dày (độ 3).


    Gân



    Giải phẫu trên mặt phẳng cắt ngang

    Các gân có thể được chia thành bốn khoang:

    • Khoang trong (từ trong ra ngoài: Tom-Dick-Harry)
      • Gân cơ chày sau (Tibialis Posterior – PTT)
      • Gân cơ gấp các ngón chân dài (Flexor Digitorum)
      • Gân cơ gấp ngón cái dài (Flexor Hallucis Longus)
    • Khoang sau
      • Gân Achilles
      • Gân cơ gan chân (Plantaris)
    • Khoang ngoài
      • Gân cơ mác dài (Peroneus Longus)
      • Gân cơ mác ngắn (Peroneus Brevis)
    • Khoang trước (từ trong ra ngoài: Tom-Hates-Dick)
      • Gân cơ chày trước (Tibialis Anterior)
      • Gân cơ duỗi ngón cái dài (Extensor Hallucis Longus)
      • Gân cơ duỗi các ngón chân dài (Extensor Digitorum)

    Bệnh lý gân (Tendinopathy) là thuật ngữ chung để mô tả các rối loạn gân khác nhau như thoái hóa gân (tendinosis), viêm gân (tendinitis) và thoái hóa nhầy (mucoid degeneration).

    Cơ chế bệnh sinh của các rối loạn này khác nhau, nhưng biểu hiện lâm sàng và đặc điểm hình ảnh không phải lúc nào cũng có thể phân biệt rõ ràng.
    Do đó, tốt nhất nên mô tả bất thường gân là bệnh lý gân mà không cần cố gắng xác định thêm đặc điểm cụ thể của tổn thương.

    Các dấu hiệu MRI trong bệnh lý gân bao gồm:

    • Dày gân
    • Tín hiệu bất thường
    • Dịch trong bao hoạt dịch gân

    Hầu hết các gân ở khớp cổ chân đều có lớp bao hoạt dịch gân.
    Do đó, một lượng nhỏ dịch quanh gân có thể là bình thường.
    Lượng dịch không được vượt quá thể tích của chính gân đó.

    Gân Achilles không có bao hoạt dịch mà có lớp cận gân (paratenon).
    Dịch quanh gân Achilles luôn là dấu hiệu bất thường.

    Gân cơ chày sau

    Gân cơ chày sau là gân bị tổn thương thường gặp nhất.
    Bệnh lý gân biểu hiện bằng tình trạng sưng to bất thường của gân, tuy nhiên cần lưu ý rằng gân chày sau bình thường có thể có kích thước gấp đôi gân cơ gấp các ngón chân dài.

    Rối loạn chức năng gân chày sau thường gặp hơn ở phụ nữ và những người trên 40 tuổi.
    Tình trạng này gây ra đau và sưng ở mặt trong cổ chân, cùng với biến dạng bàn chân bẹt mắc phải.

    Tổn thương gân chày sau ở bệnh nhân trẻ tuổi chủ yếu do chấn thương hoặc sử dụng quá mức.

    Khi gân chày sau bị tổn thương, cần kiểm tra kỹ dây chằng lò xo (spring ligament), vì cả hai cùng nhau duy trì vòm bàn chân ở phía trong.
    Trong biến dạng bàn chân bẹt, cả gân và dây chằng lò xo đều có thể bị tổn thương.

    Các hình ảnh cho thấy bệnh lý gân chày sau (PTT), đồng thời có tổn thương dây chằng lò xo kèm theo.

    Gân Achilles

    Gân Achilles là gân lớn nhất và khỏe nhất trong cơ thể người.
    Hai tổn thương thường gặp nhất là bệnh lý gân và đứt gân.

    Bệnh lý gân Achilles rất có thể do một loạt các vi rách gân làm suy yếu gân và gây sưng gân (hình bên phải).

    Trên các hình ảnh mặt phẳng đứng dọc, gân Achilles phải có hình ảnh đường thẳng, không có dịch xung quanh và không có vùng dày khu trú.

    Đường kính ngang 8 mm là ngưỡng giới hạn.

    Ba hình ảnh cắt ngang có ức chế mỡ (fat sat) của gân Achilles.

    • Trái
      Gân Achilles bình thường. Bờ gân có dạng lõm, kích thước trong giới hạn 7mm, không thấy dịch quanh cận gân.
    • Giữa
      Gân Achilles bình thường. Lưu ý rằng các gân khác đều có dịch, nhưng lớp cận gân của gân Achilles hoàn toàn không có dịch.
    • Phải
      Có dịch dọc theo lớp cận gân, tức là viêm cận gân (paratenonitis) và bệnh lý gân Achilles.

    Bình thường, có thể thấy một lượng nhỏ dịch trong túi hoạt dịch sau gót (retrocalcaneal bursa).
    Lượng dịch quá nhiều là dấu hiệu của viêm túi hoạt dịch (bursitis).
    Dày gân Achilles được ghi nhận trong viêm cận gân (paratenonitis).

    Hội chứng Haglund bao gồm bộ ba triệu chứng:

    1. Gai xương Haglund (Haglund’s exostosis)
    2. Viêm túi hoạt dịch sau gót (Retrocalcaneal bursitis)
    3. Bệnh lý gân Achilles tại điểm bám (Achilles insertional tendinopathy)

    Cơ phụ

    Cơ phụ thường được ghi nhận xung quanh khớp cổ chân.
    Do có cường độ tín hiệu bình thường, các cơ này dễ bị bỏ sót.

    Tuy nhiên, khi so sánh với hình ảnh của bệnh nhân bình thường ở bên trái, bạn sẽ phát hiện ra cơ soleus phụ có kích thước lớn.

    Một số ví dụ về cơ phụ.

    Các cơ này thường không có triệu chứng, nhưng có thể là nguyên nhân gây chèn ép ở một số nhóm bệnh nhân đặc thù (vũ công, vận động viên).
    Cơ gấp ngón cái dài (FHL) hoặc cơ gấp các ngón chân dài (FDL) phụ có liên quan đến hội chứng ống cổ chân (tarsal tunnel syndrome).

    Bệnh nhân bên phải có cơ gan chân (plantaris) phì đại.
    Đây có thể là nguyên nhân gây bệnh lý gân Achilles.

    Giao thức chụp MRI

    Các mặt phẳng cắt chuẩn gồm axial (ngang), coronal (trán) và sagittal (đứng dọc) được sử dụng để khảo sát khớp cổ chân trên cả máy 1,5T lẫn 3T.

    Ngoài các mặt phẳng chuẩn, đôi khi bổ sung thêm mặt phẳng cắt chếch, định hướng vuông góc với các gân cơ mác và gân cơ chày sau.
    Các vết rách nhỏ hoặc bệnh lý gân kín đáo sẽ được hiển thị rõ hơn trên các mặt cắt này.

    Hướng đi của các gân dọc theo mắt cá trong và mắt cá ngoài có thể gây ra hiện tượng ‘xảo ảnh góc ma thuật’.
    Các gân sẽ biểu hiện tín hiệu tăng tương đối khi tạo góc 55° so với B0, dễ nhầm lẫn với bệnh lý như viêm gân hoặc rách gân một phần.

    Xảo ảnh này xuất hiện trên các chuỗi xung có thời gian TE ngắn (ví dụ: PD).
    Trên các chuỗi xung có TE dài (như T2), xảo ảnh này cũng xuất hiện nhưng ít rõ rệt hơn.

  • Sụn chêm – Các trường hợp đặc biệt

    Các trường hợp đặc biệt của sụn chêm

    Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một số ví dụ về bệnh lý sụn chêm đặc biệt một cách chi tiết hơn.
    Để nắm vững kiến thức cơ bản về bệnh lý sụn chêm, chúng tôi khuyến nghị bạn đọc trước bài viết ‘Sụn chêm khớp gối – Phần 1’.

    Trên hầu hết các hình ảnh, bạn có thể nhấp vào để xem phóng to, tuy nhiên tính năng này không hoạt động trên ứng dụng iPhone.

    Sụn chêm lật (Flipped meniscus)

    Hãy quan sát hình ảnh bên trái và cố gắng xác định vấn đề của sụn chêm này là gì.

    Sau đó tiếp tục xem các hình ảnh liên tiếp tiếp theo của cùng bệnh nhân này.

    Truy cập ‘Sụn chêm gối – Phần 1’ để xem kiến thức cơ bản


    Cuộn qua các hình ảnh.
    Sau đó tiếp tục đọc…

    Như bạn đã đoán được qua tiêu đề của đoạn này, đây là một trường hợp sụn chêm lật (flipped meniscus).
    Sụn chêm lật là một dạng đặc biệt của rách dạng quai xô (bucket-handle tear).
    Sụn chêm lật xảy ra khi mảnh vỡ của sừng sau bị lật ra phía trước, khiến sừng trước của sụn chêm có vẻ to hơn bình thường.

    1. Thân sụn chêm ngoài.
    2. Sừng sau quá nhỏ và sừng trước có vẻ to hơn với đường viền không đều.
    3. Thoạt nhìn có vẻ như có một đường rách dọc ở sừng trước, nhưng thực chất phần sau của cấu trúc này chính là phần lật của sừng sau bị rách.
      Cấu trúc phía trước là sừng trước.
      Cũng cần lưu ý tình trạng phù tủy xương khu trú và dấu ấn lõm sụn khớp.
    4. Cấu trúc phía trước là sừng trước.
    5. Một số bất thường ở phần sau.
    6. Phần sau di chuyển về phía đuôi (caudal).
    7. Trong hố gian lồi cầu là điểm nối giữa mảnh di lệch và phần còn lại của sừng sau.


    Bên trái là một trường hợp sụn chêm lật khác.
    Lần này ở phía trong (medial).
    Một phần sừng trước bị lật ra phía sau.
    Chỉ một phần nhỏ của sừng trước được nhìn thấy ở phía trước.

    Hầu hết các trường hợp sụn chêm lật xảy ra ở phía ngoài (lateral).
    Dây chằng chéo trước (ACL) ngăn mảnh sụn chêm di chuyển hoàn toàn vào hố gian lồi cầu.

    Hình minh họa cơ chế hình thành sụn chêm lật.

    Trên hình ảnh mặt phẳng coronal, trước tiên sẽ thấy sừng trước to và phồng lên.
    Ở phía sau sẽ thấy sừng sau rất nhỏ.
    Xem ca tiếp theo.


    Bên trái là một trường hợp khác của sụn chêm ngoài bị lật.
    Cuộn qua các hình ảnh.

    1. Lưu ý sừng trước rất lớn.
      Phần trong là sừng sau đã bị di lệch.
    2. Phần trong chạy vào hố gian lồi cầu.
    3. Phần bị di lệch được nhìn thấy rõ ràng như là ‘cấu trúc thứ ba’
      trong hố gian lồi cầu.
    4. Điểm nối với phần còn lại của sừng sau.
    5. Điểm nối với phần còn lại của sừng sau.
    6. Phần còn lại rất nhỏ của sừng sau.


    Cùng ca bệnh trên với hình ảnh mặt phẳng sagittal.

    Lưu ý phần bị rách của sụn chêm chạy ra phía trước qua hố gian lồi cầu (các mũi tên)

    1. Thông thường chỉ có hai cấu trúc chạy trong hố gian lồi cầu. Ở đây chúng ta thấy dây chằng chéo sau bình thường.
    2. Dây chằng chéo trước bình thường.
    3. Phần bị rách của sừng sau như là ‘cấu trúc thứ ba’
      trong hố gian lồi cầu.
    4. Phần bị rách chạy ra phía trước.
    5. Phần bị rách nhập vào sừng trước và giả tạo hình ảnh rách dọc ở sừng trước.
      Lưu ý phần còn lại nhỏ của sừng sau.


    Bên trái là các hình ảnh PD sagittal của một trường hợp sụn chêm lật.
    Toàn bộ sừng sau bị lật ra phía trước, tạo ra dấu hiệu sụn chêm rỗng (empty meniscus sign) (mũi tên).

    Rách kiểu quai xách (Bucket handle tear)


    Rách kiểu quai xách (Bucket handle tear)

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    1. Chúng ta bắt đầu với lát cắt ở giữa của khảo sát.
      Lưu ý thân sụn chêm bên có kích thước nhỏ với hình dạng bất thường (mũi tên xanh).
      Phần bờ trong bị khuyết được nhìn thấy ngay phía ngoài dây chằng chéo trước (mũi tên đỏ).
    2. Phần sụn chêm bị rách di lệch vào trong, tức là phần quai xách, có thể được theo dõi theo hướng ra sau trong hố gian lồi cầu.
    3. Tiếp tục.
    4. Đây là điểm nối giữa phần quai xách và sừng sau.
    5. Đây là lát cắt phía trước cho thấy một nang sụn chêm.
    6. Lưu ý tín hiệu cao theo chiều ngang.
    7. Tại đây chúng ta có thể nhận thấy sự phức tạp của tổn thương rách sụn chêm với thành phần theo chiều dọc và chiều ngang (các mũi tên).

    Rách kiểu quai xách là loại rách dọc theo chiều đứng có kèm di lệch.
    Mảnh bờ trong bị di lệch có hình dạng giống như quai của một chiếc xô.
    Phần ngoại vi còn lại của sụn chêm, phần lớn hơn, có hình dạng giống như thân chiếc xô.
    Loại rách này chiếm khoảng 10% trong tổng số các trường hợp rách sụn chêm.

    Dấu hiệu PCL đôi

    Dấu hiệu dây chằng chéo sau (PCL) đôi là một dải giảm tín hiệu nằm song song và ở phía trước-dưới so với PCL trên ảnh MRI mặt phẳng đứng dọc.
    Đây là dấu hiệu có độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán rách sụn chêm kiểu quai xô (3).

    Rách chân sụn chêm

    Trước tiên hãy quan sát hình ảnh bên trái và cố gắng nhận diện vị trí rách sụn chêm.
    Những tổn thương rách này thường dễ bị bỏ sót.
    Sau đó tiếp tục xem các hình ảnh tiếp theo.


    Ghi nhận một đường rách hướng tâm tại vị trí chân sụn chêm phía sau của sụn chêm trong, đường rách xuyên suốt toàn bộ chiều dày sụn chêm với hình ảnh khe dịch lan dọc theo khuyết tổn thương (mũi tên đỏ).


    Rách chân sụn chêm thường đi kèm với hiện tượng thoát vị sụn chêm ra ngoài bờ mâm chày.
    Thoát vị sụn chêm trên 3 mm thường liên quan đến các tổn thương rách tại vùng chân sụn chêm (6).

    Trong trường hợp bên trái, ghi nhận một đường rách hướng tâm hoàn toàn tách rời sừng sau khỏi chân bám của nó (mũi tên đỏ).
    Ngoài ra còn có hình ảnh thoát vị sụn chêm mức độ tối thiểu (hình 1/6).


    Đây là một trường hợp rách chân sụn chêm trong khác.
    Lưu ý rằng sừng sau không còn bám vào xương chày.
    Thay vào đó, có thể thấy một khoảng hở (mũi tên cong).

    Những tổn thương rách này rất dễ bị bỏ sót khi người đọc nhầm tưởng sừng sau vẫn bình thường.


    Đây là một trường hợp điển hình khác của rách chân sụn chêm trong.
    Lưu ý rằng trường hợp này còn kèm theo hình ảnh sụn chêm ngoài dạng đĩa.

    Dấu hiệu sụn chêm rỗng


    Khi có rách xuyên tâm hoàn toàn, hai mảnh sụn chêm có thể bị tách rời hoàn toàn.
    Điều này có thể dẫn đến hình ảnh khoang sụn chêm rỗng hay còn gọi là dấu hiệu sụn chêm rỗng (mũi tên).


    TRÁI: Hình ảnh sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng trên mặt phẳng đứng dọc. PHẢI: Hình ảnh mặt cắt ngang cho thấy rách xuyên tâm hoàn toàn dẫn đến khuyết hổng sụn chêm.

    TRÁI: Hình ảnh sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng trên mặt phẳng đứng dọc. PHẢI: Hình ảnh mặt cắt ngang cho thấy rách xuyên tâm hoàn toàn dẫn đến khuyết hổng sụn chêm.

    Nếu khảo sát một đường rách xuyên tâm hoàn toàn trực tiếp dọc theo chiều dài của đường rách, bạn sẽ thấy hình ảnh sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng.
    Các đường rách xuyên tâm hoàn toàn này mở ra và tạo ấn tượng rằng có một phần sụn chêm bị thiếu.
    Tuy nhiên, bạn sẽ không tìm thấy mảnh sụn chêm bị di lệch.
    Đây đơn thuần chỉ là sự tách rời của các phần sụn chêm.

    Hình bên trái minh họa một đường rách xuyên tâm hoàn toàn, có thể dẫn đến dấu hiệu sụn chêm rỗng.


    Hình bên trái là các ảnh PD mặt phẳng đứng ngang của một bệnh nhân có rách xuyên tâm hoàn toàn dẫn đến dấu hiệu sụn chêm rỗng.

    • 1/7: Dấu hiệu sụn chêm rỗng (mũi tên đỏ nằm ngang).
    • 2/7: Quan sát thấy một mảnh nhỏ còn lại của thân sụn chêm.
    • 3/7: Điểm bám gốc sụn chêm bình thường (mũi tên xanh).
    • 4/7: Sừng sau bình thường.
    • 5/7: Phía trước có hiện tượng thoát vị sụn chêm.
    • 6/7: Thoát vị sụn chêm.
    • 7/7: Thoát vị sụn chêm đáng kể hơn 3 mm (mũi tên đỏ thẳng đứng).

    Hình bên trái là các ảnh PD mặt phẳng đứng ngang liên tiếp của sừng sau sụn chêm, thoạt nhìn có thể tạo ấn tượng là bình thường.
    Tiếp tục xem các ảnh mặt phẳng đứng dọc.

    Khi quan sát kỹ các ảnh mặt phẳng đứng dọc, bạn sẽ nhận thấy dấu hiệu sụn chêm rỗng tại vị trí mà bình thường gốc sụn chêm bám vào (mũi tên đỏ).
    Điều này có nghĩa là chúng ta đang đối mặt với một trường hợp rách gốc sụn chêm.
    Phần sụn chêm phía sau cần đi vòng lên trên gai chày để bám vào gần dây chằng chéo sau.

    Hiện tượng chân không


    Trước tiên, hãy cuộn qua các hình ảnh ở bên trái.
    Hãy thử xác định xem có bất thường gì với sụn chêm này.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Ở ấn tượng ban đầu, hình ảnh này trông giống như một vết rách trong sụn chêm hình đĩa.
    Quan sát kỹ hơn, bạn sẽ nhận thấy rằng cấu trúc nằm ngang có tín hiệu thấp hơn so với sụn chêm và trông khá bất thường.
    Đây là một biến thể bình thường do hiện tượng chân không gây ra.
    Hiện tượng chân không xảy ra do áp suất âm trong khớp liên quan đến tư thế của bệnh nhân, dẫn đến sự tích tụ khí nitơ.
    Tiếp tục xem phim X-quang của cùng bệnh nhân này.

    Hiện tượng chân không ở phía bên ngoài (lateral).

    Sụn Chêm Hình Đĩa


    Trước tiên, hãy cuộn qua các hình ảnh ở bên trái.
    Hãy thử xác định xem có bất thường gì với sụn chêm này.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Cấu trúc giảm tín hiệu ở phía bên ngoài (lateral) là sụn chêm hình đĩa (mũi tên xanh).
    Cấu trúc ở phía trong (medial) là hiện tượng chân không (vacuum phenomenon).
    Trên lát cắt liền kề, hiện tượng chân không này không còn được quan sát thấy nữa.

    Rách sụn chêm vùng đỏ


    Trước tiên, hãy cuộn qua các hình ảnh ở bên trái.
    Hãy thử xác định tổn thương đang xảy ra với sụn chêm này.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Có một đường rách dọc ở ngoại vi của sụn chêm (mũi tên đỏ).
    Một phần ba phía ngoài của sụn chêm được gọi là vùng ‘đỏ’, do có nguồn cung cấp máu phong phú.
    Vị trí của đường rách sụn chêm có ý nghĩa quan trọng, vì các đường rách ở phần có mạch máu này có khả năng tự lành cao hơn so với các đường rách ở phần vô mạch hay vùng trắng của sụn chêm.

    Dấu hiệu sụn chêm trong sụn chêm

    Đôi khi có thể gặp vùng tăng tín hiệu hình tam giác hoặc hình nêm lan rộng nhưng không chạm đến bề mặt sụn chêm.
    Hình ảnh này đôi khi được gọi là dấu hiệu sụn chêm trong sụn chêm.
    Do bất thường sụn chêm này không chạm đến bề mặt sụn chêm, nên không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán rách sụn chêm.
    Nghiên cứu cho thấy một nửa số bệnh nhân có triệu chứng cần nội soi khớp theo dõi đã được xác nhận có rách sụn chêm (4).

    Hình bên trái là một sụn chêm khác với tăng tín hiệu lan tỏa tại thân sụn chêm.
    Trên các lát cắt khác (không hiển thị) không có bằng chứng của rách sụn chêm.
    Lưu ý tình trạng thoát vị sụn chêm nặng vượt ra ngoài bờ mâm chày.


    1. Dấu hiệu sụn chêm trong sụn chêm và thoát vị phần giữa sụn chêm (mũi tên đỏ).
    2. Rách xuyên tâm hoàn toàn tại sừng sau.
      Lưu ý thêm hình ảnh hoại tử vô mạch.
    3. Lưu ý thêm hình ảnh hoại tử vô mạch.
    4. Thoát vị sụn chêm kèm hoại tử vô mạch.

    Thoát vị sụn chêm


    Các rách liên quan đến chân sụn chêm (điểm bám trung tâm) cũng có mối tương quan đáng kể với mức độ thoát vị sụn chêm, gặp trong 3% trường hợp thoát vị nhẹ và 42% trường hợp thoát vị nặng.
    Khi sụn chêm bị thoát vị, sụn chêm mất khả năng chịu đựng lực căng vòng và không còn có thể bảo vệ sụn khớp lân cận khỏi tải trọng trục quá mức.
    Theo thời gian, tình trạng này có thể dẫn đến viêm khớp gối có triệu chứng.
    Rách chân sụn chêm sau có thể dễ bị bỏ sót do các triệu chứng lâm sàng không điển hình và có thể bị bỏ qua nếu không thực hiện nội soi khớp kỹ lưỡng.
    Việc phát hiện thoát vị sụn chêm có tầm quan trọng không chỉ vì nó liên quan đến tổn thương rách tiềm ẩn, mà còn vì bản thân thoát vị sụn chêm được cho là có liên quan đến sự phát triển của viêm khớp thoái hóa.

    Gãy xương Segond và rách sụn chêm

    Gãy xương Segond là tổn thương bong gân (avulsion) của dây chằng bao khớp bên ngoài.
    Cơ chế chấn thương là xoay trong kết hợp với lực varus.
    Trên phim X-quang, tổn thương biểu hiện dưới dạng một mảnh xương hình bầu dục tách rời khỏi mặt ngoài đầu gần xương chày (hình).
    Gãy xương Segond có mối liên quan chặt chẽ với rách dây chằng chéo trước (75-100%) và tổn thương sụn chêm trong và ngoài (66-70%).

    Trên phim X-quang, gãy xương Segond có thể dễ bị bỏ sót (mũi tên đỏ).
    Lưu ý rằng còn có thêm tổn thương bong gân của dây chằng bên trong.
    Tiếp tục xem các hình ảnh MRI.


    Bên trái là ba lát cắt coronal PD liên tiếp:

    1. Rách bó dây chằng bên trong sâu (mũi tên vàng).
      Bong mảnh xương ở mặt ngoài đầu gần xương chày, tức là gãy xương Segond (mũi tên đỏ).
    2. Lưu ý mảnh sụn chêm phía trong bị di lệch.
      Điều này cho thấy còn có thêm rách dạng quai xô (bucket handle tear).
    3. Ngoài rách dạng quai xô (mũi tên xanh phía trong), còn có một đường rách ngang khó nhận thấy ở phần ngoại vi của sụn chêm (mũi tên xanh phía ngoài).
      Đường rách ngang này được thể hiện rõ hơn trên các hình ảnh khác (không trình bày ở đây).

    Tiếp tục xem các hình ảnh sagittal.

    Gãy xương Segond gần như là dấu hiệu đặc trưng (pathognomonic) của rách dây chằng chéo trước, điều này cũng được ghi nhận ở bệnh nhân này.

    Bên trái là hình chụp tư thế AP của một bệnh nhân khác.
    Kết hợp với gãy xương Segond (mũi tên đỏ), còn có thêm gãy bong điểm bám của dây chằng chéo trước (mũi tên xanh).

    Nang sụn chêm

    Nang sụn chêm hình thành do dịch hoạt dịch thoát ra qua một vết rách sụn chêm theo hướng ngang lan ra ngoại vi.
    Nang sụn chêm trong thường khu trú liền kề sừng sau, trong khi nang sụn chêm ngoài thường khu trú liền kề sừng trước hoặc thân sụn chêm.

    Hình bên trái là ảnh chuỗi xung PD và chuỗi xung T2W cho thấy nang sụn chêm ngoài nằm liền kề sừng trước, là hệ quả của một vết rách phức tạp.

    Hình bên trái gồm ba lát cắt liên tiếp cho thấy một nang sụn chêm nhỏ (mũi tên xanh) là hệ quả của một vết rách theo hướng ngang (mũi tên đỏ).

    Hình bên trái là ảnh chuỗi xung PD mặt phẳng coronal không có và có kỹ thuật ức chế mỡ (fatsat).
    Quan sát thấy một nang sụn chêm kích thước lớn liên quan đến vết rách theo hướng ngang (mũi tên đỏ).

  • Thay đổi không do chấn thương

    Các thay đổi không do chấn thương

    Mini Pathria và Jennifer Bradshaw

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trường Y khoa Đại học California, San Diego, Hoa Kỳ và Trung tâm Y tế Alkmaar, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Bài viết này được xây dựng dựa trên bài thuyết trình của Mini Pathria và được Jennifer Bradshaw chuyển thể cho the Radiology Assistant.

    Trong phần I, chúng tôi đã thảo luận về các đặc điểm MRI của các tổn thương cơ do chấn thương.
    Trong phần II, chúng tôi sẽ thảo luận về các thay đổi cơ không do chấn thương.

    Giới thiệu

    Khi đánh giá bệnh lý cơ, hãy cố gắng xác định xem tổn thương thuộc một trong bốn dạng bất thường cơ bản nào sau đây:

    1. Phù nề cơ, tức là tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W trong cơ với cấu trúc giải phẫu bình thường:

      • Chấn thương
      • Viêm cơ: viêm cơ do nhiễm trùng, viêm cân mạc hoại tử, viêm cơ tự miễn (viêm đa cơ, viêm da cơ)
      • Bệnh cơ viêm: bệnh Graves
      • Xạ trị
    2. Teo cơ, tức là tình trạng tích tụ mỡ quá mức:

      • Do không vận động
      • Mất thần kinh chi phối mạn tính do chèn ép thần kinh, bại liệt
      • Loạn dưỡng cơ: Duchenne
    3. Khối trong cơ:

      • U mô mềm
      • Tụ máu
      • Áp xe
    4. Cơ phụ, tức là bất thường về giải phẫu với tín hiệu bình thường

    Một số bệnh lý trong số này, chẳng hạn như viêm đa cơ, cần phải sinh thiết để có thể bắt đầu điều trị phù hợp.
    Trong một số bệnh lý khác, chẳng hạn như viêm cơ hóa xương, cần tránh sinh thiết vì có thể dẫn đến chẩn đoán nhầm với u tân sinh và do đó dẫn đến điều trị không phù hợp.
    Các dấu hiệu gợi ý chẩn đoán chính xác và việc có cần sinh thiết hay không thường hiện diện trên hình ảnh MRI, đặc biệt khi được đối chiếu với các đặc điểm lâm sàng và kết quả từ các phương thức chẩn đoán hình ảnh khác (1).

    Bệnh nhân bên trái đã bị trượt ngã trên băng tại bãi đỗ xe của bệnh viện và rách cơ gân kheo.
    Rách cơ gân kheo có liên quan đến viêm thần kinh tọa, khi dây thần kinh tọa bị kích thích bởi khối tụ máu.

    Phù Cơ

    Phù cơ là hình thái MRI phổ biến nhất.
    Rất khó để đưa ra chẩn đoán đặc hiệu chỉ dựa trên các hình ảnh MRI đơn thuần.
    Cần khai thác kỹ tiền sử bệnh vì đây thường là chìa khóa để chẩn đoán.
    Nguyên nhân phổ biến nhất gây phù cơ là chấn thương, đã được thảo luận trong phần Chụp MRI cơ – Phần I.

    Chụp MRI cơ – Phần I: Các thay đổi cơ do chấn thương

    Bệnh cơ viêm

    Bệnh cơ viêm là thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm bệnh lý cơ có đặc điểm viêm cơ vân và thường kèm theo viêm mạc cơ lân cận, với nồng độ CPK tăng cao.
    Các bệnh này được cho là các rối loạn tự miễn.
    Khi sử dụng thuật ngữ bệnh cơ viêm, thực chất người ta đang đề cập đến ba thực thể bệnh riêng biệt, bao gồm viêm da cơ (DM), viêm đa cơ (PM) và viêm cơ thể vùi (IBM).

    Hình bên trái là một ví dụ về bệnh cơ viêm.
    Lưu ý tín hiệu tăng của tất cả các cơ ở tất cả các khoang.
    Đây là hình ảnh phù nề.
    Ngoài ra còn có phù nề ở tổ chức dưới da.
    Rất hiếm khi chấn thương, chẳng hạn, lại biểu hiện phù nề ở tất cả các khoang.
    Không có ổ tụ dịch bên trong cơ, nhưng cần lưu ý các ổ tụ dịch quanh mạc cơ.

    Hình bên trái là một bệnh nhân viêm cơ.
    Một lần nữa chúng ta thấy nhiều khoang bị tổn thương, phù nề lan rộng, tổn thương da và tụ dịch quanh mạc cơ.
    Hình ảnh không đặc hiệu nhưng có thể gợi ý viêm cơ. Viêm cơ viêm thường có tính chất đối xứng hai bên.
    Các đặc điểm MRI của viêm cơ bao gồm: cấu trúc bình thường trên chuỗi xung T1W, phù nề dạng lông vũ kèm ngấm thuốc, lưới hóa da và các bất thường KHÔNG giới hạn theo giải phẫu khoang hoặc thần kinh cụ thể.

    Viêm đa cơ

    Hình bên trái là một bệnh nhân viêm đa cơ (PM), một trong các thể bệnh cơ viêm.
    Các cơ lớn ở gốc chi bị tổn thương, thường theo hình thái đối xứng.
    Nhìn chung, không phải tất cả các cơ đều bị tổn thương, do đó MRI có thể giúp xác định vị trí tốt nhất để sinh thiết.
    Đôi khi MRI toàn thân được sử dụng để chẩn đoán và theo dõi viêm đa cơ sau khi đã bắt đầu điều trị bằng corticosteroid.

    Viêm cơ thể vùi

    Viêm cơ thể vùi, một trong các thể bệnh cơ viêm, là một dạng viêm cơ chưa rõ nguyên nhân được ghi nhận gần đây.
    Đây là bệnh cơ mắc phải phổ biến nhất ở bệnh nhân > 50 tuổi và chiếm khoảng một phần tư (16-28%) tổng số các bệnh cơ viêm, mặc dù viêm không phải là đặc điểm nổi bật của bệnh này.
    Đây là bệnh tiến triển âm thầm và không có thay đổi trên da.
    Các cơ thường bị tổn thương bao gồm cơ delta, cơ tứ đầu đùi (xem ví dụ tiếp theo), cơ gấp ngón tay và cơ gấp lưng cổ chân.
    Bệnh nhân biểu hiện yếu cơ; bệnh có tên gọi xuất phát từ đặc điểm mô học là sự hiện diện của các không bào và các thể vùi dạng sợi.
    Mặc dù các hình ảnh không đặc hiệu, cần cân nhắc chẩn đoán này ở bệnh nhân cao tuổi có bất thường ở các cơ kể trên.


    Inclusion body myositis

    Viêm cơ thể vùi

    Hình bên trái là một bệnh nhân viêm cơ thể vùi.
    Lưu ý tổn thương đối xứng của cơ tứ đầu đùi và sự vắng mặt của phù nề ở các tổ chức xung quanh.

    Viêm cơ trong bệnh mạch máu collagen

    Bệnh nhân có bệnh lý mạch máu collagen nền có thể phát triển viêm cơ,
    chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống (SLE), bệnh mô liên kết hỗn hợp và hội chứng Sjogren.
    Ví dụ, như ở bệnh nhân SLE này, tổn thương có thể rất khu trú (ảnh mặt phẳng coronal, chân phải, khoang cơ khép) hoặc dạng nốt.
    Một dạng viêm cơ nốt là viêm cơ tăng sinh khu trú, đây là thể ít gặp nhất.
    Dạng này có thể gặp không chỉ trong bệnh mạch máu collagen mà còn trong u lympho.
    Tổn thương do viêm cơ đôi khi không thể phân biệt được với bản thân u lympho, và cần sinh thiết để xác định chẩn đoán.

    Hình bên trái là một bệnh nhân khác với viêm cơ nốt khu trú, trông giống như bất kỳ khối nào khác trên chuỗi xung T1W, T2W và sau tiêm thuốc tương phản từ.
    Với tiền sử u lympho, có thể gợi ý viêm cơ nốt khu trú, nhưng không có gì mang tính quyết định từ các hình ảnh này.

    Mối liên hệ giữa viêm cơ và bệnh ác tính tiềm ẩn vẫn còn gây tranh cãi, và tần suất của mối liên hệ này chưa được xác định rõ ràng.
    2 loại ung thư có mối liên hệ với viêm cơ: ung thư buồng trứng và u lympho không Hodgkin
    (hình bên trái là bệnh nhân với, thật kỳ lạ, ung thư tuyến giáp di căn).
    Viêm cơ có thể xuất hiện trước bệnh ác tính (như trong hội chứng cận u), điều này không có nghĩa là cần tầm soát ác tính thường quy
    ở bệnh nhân biểu hiện viêm cơ.

    Viêm cơ do xạ trị

    Viêm cơ do xạ trị có thể xuất hiện nhiều năm sau khi điều trị.
    Đây dường như là một vấn đề mạch máu không biến mất sau khi ngừng điều trị.
    Tiền sử bệnh thường là chìa khóa chẩn đoán, nhưng ngoài ra có thể thấy hình ảnh dạng dải nơi các thay đổi do xạ trị trong cơ dừng lại, tương ứng với trường chiếu xạ.


    Graves disease

    Bệnh Graves

    Bệnh Graves

    Hình bên trái là một ví dụ điển hình về bệnh cơ viêm có căn nguyên nội tiết: bệnh Graves, còn được gọi là bệnh mắt tuyến giáp.
    Tình trạng viêm các cơ vận nhãn và mỡ hốc mắt kèm theo tăng thể tích dẫn đến lồi mắt.


    Graves disease

    Bệnh Graves

    Cùng bệnh nhân, ảnh chuỗi xung T2W mặt phẳng coronal.


    Atorvastatin (Lipitor) myositis

    Viêm cơ do Atorvastatin (Lipitor)

    Viêm cơ do thuốc

    Một số thuốc có thể gây viêm cơ và trong thực hành của tác giả, thủ phạm thường gặp nhất dường như là nhóm statin hạ lipid máu.
    Ở một số lượng đáng kể bệnh nhân, statin gây đau cơ và viêm cơ, khi đó cần giảm liều hoặc ngừng thuốc.
    Hình bên trái là một ví dụ, lưu ý các thay đổi viêm ở các cơ lớn vùng mông.
    Sau khi ngừng thuốc, đau cơ sẽ biến mất trong khoảng 2 tuần, tuy nhiên MRI vẫn còn cho thấy bất thường cho đến khoảng một tháng sau đó.
    Thời điểm tốt nhất để chụp MRI theo dõi là khoảng 6 tuần sau khi ngừng thuốc.


    Lipitor myositis Coronal T1-weighted and T2-weighted with fatsat

    Viêm cơ do Lipitor – Ảnh coronal chuỗi xung T1W và T2W có ức chế mỡ

    Đây là bệnh nhân cao tuổi có tăng cholesterol máu được chỉ định dùng Lipitor.
    Bệnh nhân xuất hiện đau nhức cơ, CPK tăng nhẹ.
    Các thay đổi khá tinh tế, chúng ta thấy các ổ tụ dịch quanh mạc cơ, ở rìa ngoài của cơ (ngoại mạc cơ).
    Ngoài ra còn có thay đổi da tối thiểu.


    HIV myositis

    Viêm cơ do HIV

    Viêm cơ do HIV

    Các thuốc kháng retrovirus (dùng cho bệnh nhân HIV dương tính) cũng có thể gây viêm cơ do chúng can thiệp vào cơ chế sửa chữa ty thể.
    Các bất thường rất giống với viêm cơ do statin hạ lipid máu.
    Tương tự, bệnh nhân biểu hiện yếu và đau cơ, các thay đổi nằm ở trung tâm các cơ lớn.
    Chẩn đoán phân biệt ở bệnh nhân HIV dương tính tương đối rộng (tự miễn, hội chứng suy mòn do HIV với teo sợi cơ loại II,
    mất chi phối thần kinh và nhiễm trùng).
    Rõ ràng việc loại trừ nhiễm trùng ở những bệnh nhân này là rất quan trọng.
    Một cách để phân biệt giữa hai tình trạng này là tìm kiếm tính đối xứng. Bệnh cơ do Zidovudine (AZT), hay viêm cơ do HIV, có tính đối xứng.
    Nhiễm trùng thường một bên hoặc ít nhất là không đối xứng.


    T1-weighted image with fatsat post contrast Fluid collections within the enhancing muscle in a patient with pyomyositis

    Chuỗi xung T1W có ức chế mỡ sau tiêm thuốc tương phản từ – Các ổ tụ dịch bên trong cơ ngấm thuốc ở bệnh nhân viêm mủ cơ

    Viêm cơ do nhiễm trùng

    Nhiễm trùng cơ hoặc viêm cơ không có áp xe hay hoại tử có thể chỉ biểu hiện phù nề là bất thường duy nhất trên hình ảnh MRI.
    Hình ảnh MRI và tiền sử lâm sàng có thể gợi ý sự hiện diện của nhiễm trùng như vậy.
    Viêm cơ do vi khuẩn thường tiến triển thành hình thành áp xe và do đó thường có hình ảnh giống khối trên MRI.
    Nhiễm trùng do virus không tiến triển thành hình thành áp xe.

    Nhiễm trùng cơ có thể do:

    • Đường máu: viêm mủ cơ, ký sinh trùng
    • Lan rộng tại chỗ: viêm mô tế bào, viêm tủy xương
    • Đáp ứng tự miễn: bệnh Lyme, cúm

    Các nhóm có nguy cơ cao bị nhiễm trùng cơ bao gồm bệnh nhân đái tháo đường, bệnh nhân suy giảm miễn dịch, bệnh nhân có vết thương xuyên thấu (bao gồm loét gây nhiễm trùng lan sâu hoặc nhiễm trùng da).
    Dấu hiệu đặc trưng của nhiễm trùng cơ là các ổ tụ dịch bên trong cơ (hình minh họa).


    Pyomyositis

    Teo Cơ


    Vận động viên thể dục dụng cụ và người lười vận động

    Vận động viên thể dục dụng cụ và người lười vận động

    Mỡ hiện diện trong cơ có thể là mỡ trong cơ (intramuscular) hoặc mỡ giữa các cơ (intermuscular).
    Rõ ràng có một phổ rộng về lượng mỡ hiện diện.
    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh của một vận động viên thể dục dụng cụ Olympic với 6% mỡ cơ thể.
    Bên cạnh đó là hình ảnh của phần lớn chúng ta – những người thường ngày, còn gọi là “người lười vận động”, với lượng mỡ trong cơ và giữa các cơ nhiều hơn đáng kể.

    Các dạng teo cơ

    Hình ảnh ngoài cùng bên trái minh họa tình trạng thâm nhiễm mỡ cơ trong bệnh Charcot-Marie-Tooth.
    Bệnh Charcot-Marie-Tooth còn được gọi là bệnh thần kinh vận động và cảm giác di truyền hoặc teo cơ mác.
    Bệnh ảnh hưởng đến cả thần kinh ngoại biên vận động và cảm giác.
    Hình ảnh bên cạnh minh họa tình trạng teo cơ trên gai (supraspinatus).
    Cơ trên gai nhỏ và có teo cơ quanh gân (peritendinous atrophy).
    Đây là dạng tổn thương sẽ gặp khi gân bị đứt và cơ không được sử dụng.

    Mất thần kinh chi phối và Chèn ép thần kinh ngoại biên

    Trong giai đoạn cấp tính của mất thần kinh chi phối, hình ảnh MRI bình thường.
    Trong giai đoạn bán cấp sớm sau một tuần, sẽ xuất hiện phù nề cơ đồng đều và phì đại nghịch lý (cơ trông có vẻ sưng phồng).
    Trong giai đoạn bán cấp muộn sau 3 tuần, sẽ có hình ảnh hỗn hợp giữa phù nề và teo cơ.
    Giai đoạn mạn tính được đặc trưng bởi tình trạng teo cơ đơn thuần.


    Mất thần kinh chi phối do đứt rễ thần kinh cổ

    Mất thần kinh chi phối do đứt rễ thần kinh cổ

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân bị đứt rễ thần kinh cổ.
    Các cơ cạnh sống (para-spinal musculature) cho thấy hình ảnh hỗn hợp giữa phù nề và teo cơ, 3 tuần sau chấn thương.

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân bị chèn ép thần kinh mác (peroneal nerve) do một nang hạch (ganglion), dẫn đến teo cơ mác dài (peroneus longus), cơ mác ngắn (peroneus brevis) và khoang cơ trước.
    Lưu ý tín hiệu tăng của các cơ khoang trước do phù nề, biểu hiện của teo cơ giai đoạn sớm.

    Bên trái là ví dụ về teo cơ ở bệnh nhân được phẫu thuật tạo hình khớp cắt bỏ (resection arthroplasty) khớp háng phải (thủ thuật Girdlestone).
    Có tình trạng teo cơ đùi và cơ mông do không sử dụng.
    Kích thước cơ giảm và có sự thay thế bằng mỡ theo dạng quanh gân (peritendinous pattern).

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có nang hạch (mũi tên xanh) ở vai.
    Hãy dừng lại và suy nghĩ một chút về nguyên nhân gây ra nang hạch ở vai.
    Có sự tăng tín hiệu nhẹ ở cơ dưới gai (infraspinatus) (mũi tên vàng), do phù nề.
    Cần nhớ rằng giai đoạn bán cấp sớm của mất thần kinh chi phối biểu hiện bằng phù nề.
    Thần kinh đang bị chèn ép bởi nang hạch.
    Bệnh nhân này có rách sụn viền (labral tear) (không hiển thị trong hình), có thể dẫn đến hình thành nang hạch.
    Điều quan trọng là phải chẩn đoán được tình trạng này khi cơ chưa bị teo.
    Nếu nang hạch được hút hoặc phẫu thuật loại bỏ kịp thời, chức năng thần kinh sẽ được phục hồi trước khi cơ bị teo.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân khác có nang hạch cạnh sụn viền (paralabral ganglion) (không hiển thị trong hình).
    Có tình trạng teo cả cơ trên gai (supraspinatus) và cơ dưới gai (infraspinatus).
    Có giảm thể tích cơ và phù nề, không có ổ tụ dịch khu trú.


    Thần kinh bịt bị kẹp trong phẫu thuật

    Thần kinh bịt bị kẹp trong phẫu thuật

    Bên trái là trường hợp thần kinh bịt (obturator nerve) bị kẹp trong phẫu thuật.
    Đây là giai đoạn mạn tính với tình trạng giảm thể tích cơ và thay thế bằng mỡ.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân khác bị rách sụn viền sau (posterior labrum) và nang cạnh sụn viền (paralabral cyst).
    Hãy quan sát các hình ảnh và cố gắng xác định xem có tình trạng teo cơ nào không.
    Sau đó tiếp tục xem hình ảnh chuỗi xung T1W.

    Trường hợp này minh họa tầm quan trọng của việc bổ sung chuỗi xung T1W vào quy trình chụp!
    Nếu chỉ có hình ảnh chuỗi xung T2W với xóa mỡ (fat sat), bạn sẽ bỏ sót tình trạng teo cơ trên gai (supraspinatus), vốn đã bị thay thế hoàn toàn bằng mỡ.

    Giai đoạn mạn tính của mất thần kinh chi phối được đặc trưng bởi tình trạng teo cơ đơn thuần.
    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân bị liệt Erb (Erb’s palsy).

    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân bị mất thần kinh chi phối mạn tính do bại liệt (polio).

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có phù nề cả cơ delta (deltoid) và cơ trên gai (supraspinatus).
    Đây là một phát hiện quan trọng vì các cơ này được chi phối bởi các thần kinh khác nhau.
    Cơ delta được chi phối bởi thần kinh nách (axillary nerve) và cơ trên gai được chi phối bởi thần kinh trên vai (suprascapular nerve).
    Điều này có nghĩa là tổn thương nằm ở vị trí gần hơn (proximal).
    Bệnh nhân này mắc Hội chứng Parsonage-Turner, còn được gọi là viêm thần kinh đám rối cánh tay (brachial neuritis).
    Đây là một rối loạn viêm được đặc trưng bởi đau dữ dội, tiếp theo là yếu cơ do mất thần kinh chi phối.
    Lưu ý cũng có phù nề cơ dưới gai (infraspinatus).

    Loạn dưỡng cơ

    Loạn dưỡng cơ là một nguyên nhân ít gặp hơn gây teo cơ.
    Bệnh thường được chẩn đoán lâm sàng ở trẻ em, với biểu hiện yếu cơ đối xứng, giả phì đại bắp chân (pseudohypertrophy of the calves) và khó đứng dậy.
    Cơ ban đầu bị phù nề và sau đó nhanh chóng bị teo.
    Có nhiều thể loạn dưỡng cơ khác nhau.
    Thể phổ biến nhất là Duchenne.

    Bên trái là ví dụ về loạn dưỡng cơ khởi phát ở người lớn.
    Có tăng tín hiệu nhẹ của cơ tứ đầu đùi (quadriceps) hai bên do phù nề, với hình ảnh dạng lông vũ (feathery appearance).
    Phần lớn cơ khép (adductor muscle) bình thường.
    Lưu ý không có phù nề da.
    Đây là một phát hiện quan trọng giúp phân biệt với viêm cơ do viêm (inflammatory myositis), trong đó da cũng bị phù nề.
    Các hình ảnh tương ứng với giai đoạn cấp tính của loạn dưỡng cơ.
    Trong bối cảnh mạn tính, cơ sẽ bị teo với sự thay thế bằng mỡ.

    Bên trái là hình ảnh chuỗi xung T1W và T2W của các cơ đùi.
    Lưu ý sự khác biệt rõ ràng giữa tín hiệu của cơ tứ đầu đùi và các cơ phía sau.
    Trên chuỗi xung T1W, chỉ các cơ phía sau chứa mỡ bình thường.
    Trên chuỗi xung T2W, có phù nề cơ tứ đầu đùi, là dấu hiệu của loạn dưỡng cơ giai đoạn sớm.
    Mặc dù MRI không thể xác định chẩn đoán chính xác, nhưng có thể hữu ích trong việc gợi ý vị trí sinh thiết để xác định loại bệnh thoái hóa cơ.

    Bên trái là ví dụ về loạn dưỡng cơ mạn tính.
    Cơ đã bị thay thế hoàn toàn bằng mỡ.
    Khi cơ mất nguồn cung cấp thần kinh, cơ sẽ bị teo.
    Rối loạn chức năng ở bất kỳ cấp độ nào của đơn vị vận động đều có thể dẫn đến mất thần kinh chi phối và hậu quả là teo cơ.

    Cơ phụ (Accessory muscles)


    Accessory soleus muscle

    Cơ dép phụ (Accessory soleus muscle)

    Cơ phụ có thể biểu hiện như một khối không triệu chứng, không đau, hoặc kèm theo các triệu chứng chèn ép thần kinh hay chèn ép mạch máu.
    Hình bên trái minh họa một trường hợp cơ dép phụ ở mặt trong cổ chân, gây chèn ép thần kinh chày (tức hội chứng ống cổ chân).
    Để chẩn đoán được thực thể này, người đọc cần phải thực sự thành thạo về giải phẫu của vùng đang khảo sát.

    Bệnh nhân có cơ phụ thường đến khám với một khối không đau, thường được kỹ thuật viên đánh dấu vị trí.
    Ban đầu, hình ảnh MRI có thể trông bình thường.
    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng có 3 câu hỏi cần cân nhắc trong các trường hợp này:

    1. Có lipoma dưới da không (rất dễ bỏ sót trên hình ảnh)
    2. Có mô xơ hoặc xơ u (fibromatosis) trên mạc cơ không (cũng rất dễ bỏ sót vì đây là mô tối trên nền mạc cơ)
    3. Có cơ phụ không

    Accessory peroneocalcaneus internus muscle

    Cơ mác gót trong phụ (Accessory peroneocalcaneus internus muscle)

    Hình bên trái là hình ảnh khảo sát cổ tay cho thấy một cơ gấp cẳng tay phụ.


    Accessory extensor digitorum manus brevis

    Cơ duỗi ngón tay ngắn phụ (Accessory extensor digitorum manus brevis)

    Hình bên trái minh họa một cơ phụ ở mặt lưng cổ tay (trên chuỗi xung T1W và T2W).
    Dưới vị trí đánh dấu là một khối bờ rõ, đồng tín hiệu với cơ bình thường.
    Đây là một cơ ở mức giữa các xương cổ tay, có tín hiệu bình thường.
    Thông thường, ở mức này, không có cơ nào ở phía duỗi của cổ tay, chỉ có gân.
    Đây là cơ duỗi ngón tay ngắn phụ (accessory extensor digitorum manus brevis).
    Một bài báo gần đây trên tạp chí Radiographics đã liệt kê các cơ phụ trong cơ thể người
    (Sookur PA et al. Accessory Muscles: Anatomy, Symptoms, and Radiologic Evaluation. Radiographics 2008;28:481-499).


    Accessory soleus muscle

    Cơ dép phụ (Accessory soleus muscle)

    Hình bên trái minh họa một loại cơ phụ thường gặp: cơ dép phụ.
    Thông thường, cơ dép bám gần như hoàn toàn vào gân Achilles, với một gân dép nhỏ đi phía trước gân Achilles.
    Tuy nhiên, ở khoảng 1-2% dân số, cơ dép đi xuống và bám trực tiếp vào xương gót.
    Tình trạng này biểu hiện như một khối có thể sờ thấy và thường, nhưng không phải lúc nào cũng, xuất hiện hai bên.


    Accessory soleus muscle

    Cơ dép phụ (Accessory soleus muscle)

    Hình bên trái cho thấy một cơ dép ở vị trí thấp, nhưng không có điểm bám gân riêng biệt vào xương gót.


    Accessory muscle posterior to the neurovascular  bundle

    Cơ phụ nằm phía sau bó mạch thần kinh

    Hình bên trái là một ví dụ khác về cơ phụ nằm ở phía trong so với cơ gấp ngón cái dài (ở giữa) và cơ mác ngắn (ở ngoài).
    Đây là vị trí thường gặp của các cơ phụ, và có nhiều loại cơ khác nhau có thể xuất hiện tại đây (để phân biệt cần xác định vị trí bám của gân).
    Lý do bệnh nhân được chỉ định chẩn đoán hình ảnh là vì cơ phụ này chèn ép bó mạch thần kinh lân cận, dẫn đến teo cơ bàn chân hoặc hội chứng ống cổ chân với cảm giác tê bì lòng bàn chân hay yếu cơ.


    Accessory anconeus epitrochlearis muscle (red arrow)Ulnar nerve with high signal indicating ulnar neuritis (blue arrow)

    Cơ khuỷu trên ròng rọc phụ (mũi tên đỏ) – Thần kinh trụ tăng tín hiệu gợi ý viêm thần kinh trụ (mũi tên xanh)

    Hình bên trái là hình ảnh khớp khuỷu, mặt trong nằm ở bên trái.
    Lưu ý có một cơ nằm ngay phía sau thần kinh trụ, trong điều kiện bình thường cơ này không hiện diện tại vị trí này.
    Đây là cơ khuỷu trên ròng rọc phụ (accessory anconeus epitrochlearis), gặp ở khoảng 10% dân số.
    Đây là nguyên nhân thường gặp gây viêm thần kinh trụ do chèn ép, biểu hiện bằng đau và tê bì mặt trụ của bàn tay, đôi khi kèm teo cơ mô út và mô cái.
    Cần quan sát kỹ thần kinh trụ khi phát hiện cơ phụ này.

  • Gãy khuỷu tay ở trẻ em

    Elbow fractures in Children

    Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Rijnland Leiderdorp, Hà Lan.

    Publicationdate

    Gãy xương khuỷu tay là loại gãy xương phổ biến nhất ở trẻ em.
    Việc đánh giá khuỷu tay có thể gặp nhiều khó khăn do sự thay đổi giải phẫu của bộ xương đang phát triển và tính chất tinh tế của một số loại gãy xương này.
    Trong bài tổng quan này, các dấu hiệu quan trọng của gãy xương và trật khớp khuỷu tay sẽ được thảo luận.

    Trước khi đọc bài viết này, bạn có thể thử một trong các ca lâm sàng trên thanh menu.
    Bạn có thể kiểm tra kiến thức của mình về gãy xương khuỷu tay ở trẻ em thông qua các ca lâm sàng tương tác này.

    Trên một số hình ảnh, bạn có thể nhấp vào để xem phóng to. Tính năng này không hoạt động trên ứng dụng iPhone.
    Nếu bạn muốn sử dụng hình ảnh trong bài thuyết trình, vui lòng ghi rõ nguồn the Radiology Assistant.

    Fracture mechanism


    Hyperextension

    Chấn thương khớp khuỷu tay thường là kết quả của tình trạng duỗi quá mức hoặc vẹo ngoài quá mức do ngã chống tay ra phía trước.
    Cuộn qua các hình ảnh ở bên trái để xem cách duỗi quá mức dẫn đến gãy xương trên lồi cầu.
    Tình trạng tràn máu khớp sẽ dẫn đến sự dịch chuyển của đệm mỡ phía trước lên trên và đệm mỡ phía sau ra phía sau.


    Scroll through the images.

    Extreme valgus

    Cơ chế gãy xương quan trọng khác là tình trạng valgus cùi chỏ quá mức.
    Khuỷu tay bình thường đã có tư thế valgus sẵn.
    Khi trẻ ngã chống tay với cánh tay duỗi thẳng, điều này có thể dẫn đến valgus quá mức.
    Ở phía ngoài, điều này có thể dẫn đến trật khớp hoặc gãy xương quay có hoặc không kèm theo tổn thương mỏm khuỷu.
    Khi lực tác động nhiều hơn lên xương cánh tay, tình trạng valgus quá mức sẽ dẫn đến gãy lồi cầu ngoài.
    Ở phía trong, lực valgus có thể dẫn đến bong lồi cầu trong.
    Đôi khi lồi cầu trong bị kẹt trong khớp.
    Do tư thế valgus của khuỷu tay bình thường, bong lồi cầu ngoài sẽ ít gặp hơn.

    Radiological Interpretation

    Methodical review

    Khi xem xét hình ảnh X-quang khuỷu tay sau chấn thương, cần có một phương pháp đánh giá có hệ thống.
    Bạn nên tự đặt ra những câu hỏi quan trọng sau đây.

    Có dấu hiệu tràn dịch khớp không?
    Sau chấn thương, điều này hầu như luôn cho thấy sự hiện diện của tràn máu khớp do gãy xương (có thể nhìn thấy hoặc ẩn).

    Có sự thẳng hàng bình thường giữa các xương không?
    Ở trẻ em, trật khớp thường gặp và có thể rất khó nhận biết.

    Các trung tâm cốt hóa có bình thường không?
    Mảnh xương mà bạn đang quan sát có phải là trung tâm cốt hóa bình thường không và trung tâm cốt hóa này có ở vị trí bình thường không.
    Đặc biệt chú ý đến vị trí của đầu xương quay và mỏm trên lồi cầu trong (hình).

    Có phải là gãy xương kín đáo không?
    Một số gãy xương ở trẻ em rất kín đáo.
    Vì vậy bạn cần phải quen thuộc với hình ảnh điển hình của những gãy xương này. .


    Normal anterior fat pad.

    Normal anterior fat pad.

    Fat Pad Sign and Joint effusion

    Thông thường trên phim chụp nghiêng của khớp khuỷu gấp 90°, có thể thấy một đệm mỡ ở phía trước của khớp.
    Đây là lớp mỡ bình thường nằm trong bao khớp.
    Ở phía sau không thấy đệm mỡ vì lớp mỡ phía sau nằm sâu trong hố gian lồi cầu.


    Positive fat pad sign both anteriorly as well as posteriorly.

    Positive fat pad sign both anteriorly as well as posteriorly.

    Dấu hiệu đệm mỡ dương tính
    Sự căng phồng của khớp sẽ khiến đệm mỡ phía trước bị nâng lên và đệm mỡ phía sau trở nên hiện rõ.
    Vùng thấu quang phía trước bị nâng cao hoặc vùng thấu quang phía sau hiện rõ trên phim X-quang thẳng nghiêm thực sự của khuỷu tay gấp 90° được mô tả là dấu hiệu đệm mỡ dương tính (hình).

    Tràn máu khớp gây ra sự dịch chuyển lên trên của đệm mỡ trước và sự dịch chuyển ra sau của đệm mỡ sau.


    Positive Anterior Fat Pad sign. On digital radiographs you may need to adjust the window width and level to appreciate this. No fracture was visible on the X-rays.

    Positive Anterior Fat Pad sign. On digital radiographs you may need to adjust the window width and level to appreciate this. No fracture was visible on the X-rays.

    Dấu hiệu đệm mỡ dương tính (2)
    Bất kỳ sự giãn khớp khuỷu nào do xuất huyết, viêm hoặc chấn thương đều tạo ra dấu hiệu đệm mỡ dương tính.
    Nếu không có dấu hiệu đệm mỡ dương tính ở trẻ em, tổn thương trong khớp đáng kể là khó xảy ra.
    Dấu hiệu đệm mỡ có thể nhìn thấy mà không phát hiện được gãy xương nên được coi là gãy xương ẩn.
    Những bệnh nhân này được điều trị như gãy xương không di lệch với nẹp bột trong 2 tuần.
    Skaggs và cộng sự đã chụp X-quang lại sau ba tuần ở những bệnh nhân có dấu hiệu đệm mỡ sau dương tính nhưng không thấy gãy xương.
    Họ tìm thấy bằng chứng gãy xương trong 75% trường hợp.
    Họ kết luận rằng trong chấn thương, sự di lệch của đệm mỡ sau gần như là dấu hiệu đặc trưng bệnh lý của sự hiện diện gãy xương.
    Tuy nhiên, sự di lệch của đệm mỡ trước đơn thuần có thể xảy ra do tràn dịch khớp tối thiểu và ít đặc hiệu hơn cho gãy xương.

    Lưu ý rằng khuỷu tay không được định vị tốt.
    Hãy tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra sai trong chương về định vị.

    Alignment

    Có hai đường quan trọng giúp chẩn đoán trật khớp và gãy xương.
    Đó là đường Quay-Chỏm (Radiocapitellar) và đường Cánh tay trước (Anterior humeral).

    Đường quay-chỏm
    Một đường kẻ qua trung tâm cổ xương quay phải đi qua trung tâm của chỏm con, bất kể tư thế của bệnh nhân như thế nào, vì xương quay khớp với chỏm con (hình minh họa).
    Trong trường hợp trật xương quay, đường này sẽ không đi qua trung tâm của chỏm con.
    Ở bên trái, chúng ta thấy rằng đường quay-chỏm đi qua trung tâm của chỏm con trên mọi phim X-quang, mặc dù C và D không ở tư thế chuẩn.
    Lưu ý gãy xương trên lồi cầu ở hình B.

    Bên trái là các ví dụ khác về đường thẳng quay-chỏm.
    Hình ảnh phía dưới bên phải cho thấy sự trật khớp rõ ràng của xương quay.


    Radiographs of elbows at different ages. The Anterior Humeral line goes through the middle third of the capitellum .

    Radiographs of elbows at different ages. The Anterior Humeral line goes through the middle third of the capitellum .

    Đường Humeral trước.
    Một đường kẻ trên phim chụp nghiêng dọc theo bề mặt trước của xương cánh tay phải đi qua một phần ba giữa của chỏm con.
    Đường này được gọi là đường Humeral trước.
    Trong các trường hợp gãy xương trên lồi cầu, đường Humeral trước thường đi qua một phần ba trước của chỏm con hoặc ở phía trước chỏm con do sự uốn cong ra sau của đoạn xương cánh tay xa.

    Ở bên trái, đường thẳng cánh tay trước đi qua một phần ba trước của chỏm con.
    Điều này cho thấy các lồi cầu bị di lệch về phía sau (tức là gãy trên lồi cầu).

    Đầu tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Đường thẳng quay-chỏm kết thúc phía trên chỏm con.
    Điều này có nghĩa là xương quay bị trật khớp.
    Bạn có nhận thấy gãy mỏm khuỷu không?
    Bất cứ khi nào xương quay bị gãy hoặc trật khớp, hãy luôn quan sát kỹ xương trụ.


    The order of appearance of the ossification centres is specified in the mnemonic C-R-I-T-O-E.

    The order of appearance of the ossification centres is specified in the mnemonic C-R-I-T-O-E.

    Ossification centres

    Có 6 trung tâm cốt hóa xung quanh khớp khuỷu tay.
    Chúng xuất hiện và hợp nhất với các xương lân cận ở các độ tuổi khác nhau.
    Điều quan trọng là phải biết trình tự xuất hiện vì các trung tâm cốt hóa luôn xuất hiện theo một thứ tự nhất định.
    Thứ tự xuất hiện này được xác định trong thuật nhớ C-R-I-T-O-E
    (Chỏm con – Đầu trên xương quay – Mỏm trên lồi cầu trong – Ròng rọc – Mỏm khuỷu – Mỏm trên lồi cầu ngoài).
    Độ tuổi mà các trung tâm cốt hóa này xuất hiện rất khác nhau và khác biệt giữa các cá nhân.
    Không cần thiết phải nhớ chính xác các độ tuổi này, nhưng như một hướng dẫn chung bạn có thể ghi nhớ 1-3-5-7-9-11 tuổi.


    Fragmented appearance of the Trochlea in 2 different children.

    Fragmented appearance of the Trochlea in 2 different children.

    The Ròng rọc (Trochlea) có hai hoặc nhiều trung tâm cốt hóa, có thể tạo ra hình ảnh ròng rọc bị phân mảnh.


    Trochlea ossification-fragments simulate loose bodies in the joint

    Trochlea ossification-fragments simulate loose bodies in the joint

    Trên hình chiếu bên, các điểm cốt hóa ròng rọc có thể chiếu vào trong khớp.
    Không nên nhầm lẫn chúng với các dị vật tự do trong khớp (mũi tên).

    Radiography


    Shoulder higher than elbow. Radius and Capitellum project on to the ulna.

    Shoulder higher than elbow. Radius and Capitellum project on to the ulna.

    Common errors in positioning

    Lỗi 1: Vai cao hơn khuỷu tay
    Để có được tư thế thẳng bên thực sự, vai phải ngang bằng với khuỷu tay.
    Nếu vai cao hơn khuỷu tay, xương quay và chỏm con sẽ chiếu lên xương trụ.

    Giải pháp là nâng bàn khám lên để nâng khuỷu tay lên hoặc hạ thấp vai bằng cách đặt bệnh nhân ngồi trên ghế thấp hơn.


    LEFT: Slight endorotation of the humerus due to a low position of the wrist. RIGHT: More endorotation due to malpositioning.

    LEFT: Slight endorotation of the humerus due to a low position of the wrist. RIGHT: More endorotation due to malpositioning.

    Lỗi 2: Cổ tay thấp hơn khuỷu tay
    Hai ví dụ bên trái minh họa tư thế ‘cổ tay đặt thấp’ dẫn đến xoay xương cánh tay.
    Vị trí thấp của cổ tay dẫn đến xoay trong của xương cánh tay.
    Các cấu trúc bên ngoài như chỏm con và xương quay sẽ di chuyển ra phía trước, trong khi cấu trúc bên trong như mỏm trên lồi cầu trong sẽ di chuyển ra phía sau.

    Cổ tay phải cao hơn khuỷu tay để bù trừ cho tư thế valgus bình thường của khuỷu tay.
    Bàn tay nên ở tư thế ‘ngón cái hướng lên’.

    Elbow fractures

    Supracondylar fractures

    Những gãy xương này chiếm hơn 60% tổng số gãy xương khuỷu tay ở trẻ em (xem Bảng).
    Hơn 95% gãy xương trên lồi cầu là loại ưỡn quá mức do ngã chống tay duỗi thẳng.
    Khuỷu tay bị khóa ở tư thế ưỡn quá mức.
    Mỏm khuỷu bị đẩy vào hố mỏm khuỷu khiến vỏ xương cánh tay trước bị uốn cong và cuối cùng gãy.
    Nếu lực tiếp tục tác động, cả vỏ xương trước và sau đều sẽ gãy.


    Supracondylar fractures. In A the anterior humeral line passes through the anterior third of the capitellum and in B even more anteriorly. Notice positive posterior fat pad sign in both cases

    Supracondylar fractures. In A the anterior humeral line passes through the anterior third of the capitellum and in B even more anteriorly. Notice positive posterior fat pad sign in both cases

    Gãy xương trên lồi cầu (2)
    Nếu chỉ có di lệch tối thiểu hoặc không có di lệch, các gãy xương này có thể ẩn trên phim X-quang.
    Dấu hiệu duy nhất sẽ là dấu hiệu đệm mỡ dương tính.
    Thường có một số di lệch và đường cánh tay trước sẽ không đi qua trung tâm của chỏm con mà đi qua một phần ba trước hoặc thậm chí phía trước chỏm con (hình).

    Gãy xương trên lồi cầu (3)
    Gãy xương trên lồi cầu được phân loại theo Gartland.
    Gãy xương loại I theo Gartland thường khó nhìn thấy trên X-quang do chỉ có di lệch tối thiểu.
    Hầu hết các gãy xương này bao gồm gãy xương kiểu cành xanh hoặc gãy xương kiểu vỏ cây.
    Dấu hiệu duy nhất gợi ý chẩn đoán có thể là dấu hiệu đệm mỡ dương tính.
    Những bệnh nhân này được điều trị bằng bó bột.

    Trong gãy xương loại II theo Gartland, có sự di lệch nhưng vỏ xương phía sau vẫn còn nguyên vẹn.
    Có thể có một số xoay. Những gãy xương này cần nắn chỉnh kín và một số trường hợp cần cố định xuyên da nếu bột dài cánh tay không giữ được kết quả nắn chỉnh một cách thỏa đáng.


    Gartland type III fracture

    Gartland type III fracture

    Gãy xương loại III theo Gartland là gãy xương di lệch hoàn toàn và có nguy cơ liền xương lệch và biến chứng thần kinh mạch máu (hình).
    Những trường hợp này cần được nắn chỉnh bằng phương pháp kín hoặc nếu cần thiết bằng phương pháp mổ hở. Cố định được duy trì bằng hai đinh bên ngoài hoặc kỹ thuật đinh chéo trong-ngoài.


    Gartland III fracture with medial-lateral cross pin technique. After reduction there is inadequate correction of medial collaps. After two months there is malunion with cubitus varus deformity.

    Gartland III fracture with medial-lateral cross pin technique. After reduction there is inadequate correction of medial collaps. After two months there is malunion with cubitus varus deformity.

    Gãy xương trên lồi cầu (4)
    Liền xương lệch sẽ dẫn đến biến dạng ‘báng súng’ điển hình do xoay hoặc không chỉnh đủ tình trạng sụp đổ phía trong.
    Di lệch ra sau ngoài của mảnh gãy xa có thể liên quan đến tổn thương bó mạch thần kinh bị di lệch qua mỏm gai hành xương phía trong.
    Tổn thương thần kinh hầu như luôn dẫn đến chấn thương thần kinh tạm thời (neuropraxis) tự hồi phục trong 3-4 tháng.
    Tổn thương mạch máu thường dẫn đến bàn tay mất mạch nhưng vẫn hồng hào.
    Điều trị bảo tồn và can thiệp mạch máu có kết quả tương đương nhau.
    Bàn tay mất mạch và trắng bệch sau khi nắn chỉnh cần được thăm dò phẫu thuật.


    Flexion-type supracondylar fracture caused by direkt impact

    Flexion-type supracondylar fracture caused by direkt impact

    Gãy xương trên lồi cầu (5)
    Gãy kiểu gấp ít gặp hơn (chiếm 5% tổng số gãy xương trên lồi cầu).
    Nguyên nhân do va chạm trực tiếp vào khuỷu tay ở tư thế gấp.
    Tổn thương thần kinh trụ gặp thường xuyên hơn.
    So với kiểu duỗi, gãy kiểu gấp có xu hướng mất vững hơn, do đó khả năng cần phải cố định cũng cao hơn.

    Lateral Condyle fractures

    Gãy xương này là loại gãy xương đầu dưới xương cánh tay phổ biến thứ hai ở trẻ em.
    Chúng xảy ra ở độ tuổi từ 4 đến 10 tuổi.
    Những gãy xương này xảy ra khi một lực varus tác động lên khuỷu tay ở tư thế duỗi.
    Chúng có xu hướng không ổn định và bị di lệch do lực kéo của các cơ duỗi cẳng tay.
    Do những gãy xương này nằm trong khớp, chúng dễ bị không liền xương vì ổ gãy ngập trong dịch khớp.
    Gãy lồi cầu ngoài được phân loại theo Milch. Chúng là các gãy tách sụn tiếp hợp Salter-Harris độ IV.
    Hầu hết là gãy Milch loại II, đường gãy đi từ hành xương cánh tay ngoài phía trên đầu xương và thoát ra qua mào ngoài của ròng rọc, dẫn đến mất vững khớp cánh tay – trụ.

    Gãy lồi cầu ngoài (2)
    Vấn đề với phân loại Milch là các mảnh gãy chủ yếu là sụn. Đường gãy qua sụn không hiển thị trên phim X-quang, do đó việc đọc phim X-quang để phân loại gặp nhiều khó khăn.
    Chiến lược điều trị vì vậy dựa trên mức độ di lệch (xem Bảng).

    Gãy không di lệch được điều trị bằng bột dài qua khuỷu.
    Các gãy xương này cần được theo dõi chặt chẽ vì có xu hướng di lệch. Khi tái khám, cần chụp cả tư thế thẳng (AP) và tư thế chếch sau khi tháo bột.
    Khi các gãy xương di lệch liền xương trong tư thế lệch, việc điều trị rất khó khăn và tiềm ẩn nhiều biến chứng.
    Vì lý do này, nên phẫu thuật nắn chỉnh trong vòng 48 giờ đầu.

    Nắn chỉnh hở được chỉ định cho tất cả các gãy xương có di lệch và những trường hợp có mất vững khớp.

    Gãy lồi cầu ngoài (3).
    Chẩn đoán gãy lồi cầu ngoài có thể là một thách thức.
    Đường gãy đôi khi hầu như không nhìn thấy được (hình).
    Ghi nhớ rằng gãy lồi cầu ngoài là loại gãy xương khuỷu tay phổ biến thứ hai ở trẻ em và biết được vị trí cần tìm kiếm sẽ giúp ích cho bạn


    Lateral condyle fracture. On the x-ray only a small metaphyseal fragment is visible. The detatched fragment however is larger than it appears on the radiograph. The fracture extents into the lateral ridge of the trochlea. Elbow is probably unstable.

    Lateral condyle fracture. On the x-ray only a small metaphyseal fragment is visible. The detatched fragment however is larger than it appears on the radiograph. The fracture extents into the lateral ridge of the trochlea. Elbow is probably unstable.

    Gãy lồi cầu ngoài (4).
    Vì hầu hết các cấu trúc liên quan đều là sụn, nên rất khó xác định chính xác mức độ của gãy xương.


    CT reconstruction of displaced lateral condyle fracture. Humeroulnar joint is stable.

    CT reconstruction of displaced lateral condyle fracture. Humeroulnar joint is stable.

    Đôi khi đường gãy chạy qua phần đã cốt hóa của chỏm con. Trong những trường hợp đó, việc chẩn đoán khá dễ dàng.
    Trường hợp bên trái cho thấy gãy lồi cầu ngoài kéo dài qua phần đã cốt hóa của chỏm con.
    Đây là gãy loại Milch I. Khớp khuỷu vẫn còn vững.
    Vì di lệch quá nhiều nên cần phải tiến hành kết hợp xương.


    MR of  lateral condyle fracture. Milch II and unstable elbow. T2  image with fat saturation on the right shows cartilaginous fracture.  Fracture-fragment surrounded by synovial fluid. (Courtesy of  Lynne Steinbach, M.D. Univ. of California, San Francisco)

    MR of lateral condyle fracture. Milch II and unstable elbow. T2 image with fat saturation on the right shows cartilaginous fracture. Fracture-fragment surrounded by synovial fluid. (Courtesy of Lynne Steinbach, M.D. Univ. of California, San Francisco)

    MRI có thể hữu ích trong việc mô tả toàn bộ phạm vi của thành phần sụn trong gãy xương.
    Trường hợp bên trái cho thấy đường gãy xương kéo dài vào gờ ròng rọc chưa cốt hóa.
    Đường gãy qua sụn ròng rọc nằm xa về phía trong đến mức xương trụ chỉ được đỡ ở phía trong.
    Điều này có nghĩa là khớp khuỷu tay không ổn định.


    LEFT a subtle lateral condyle fracture. Less than 2 mm displacement and probably stable. RIGHT a different case. Oblique view gives nice impression of fracture. Blue arrow indicates a cleft epiphysis of the radius (normal variant)

    LEFT a subtle lateral condyle fracture. Less than 2 mm displacement and probably stable. RIGHT a different case. Oblique view gives nice impression of fracture. Blue arrow indicates a cleft epiphysis of the radius (normal variant)

    Gãy lồi cầu ngoài (5)
    Trong gãy lồi cầu ngoài, đường gãy thực sự có thể rất khó nhận thấy vì mảnh xương vùng hành xương có thể rất nhỏ.
    Mảnh gãy thường bị xoay.
    Tư thế chụp chếch có thể hữu ích, nhưng thường không được thực hiện thường quy (hình).


    Two cases of overprojection of the capitellum on humeral epiphysis simulating a fracture. Notice olecranon fracture on the right

    Two cases of overprojection of the capitellum on humeral epiphysis simulating a fracture. Notice olecranon fracture on the right

    Gãy lồi cầu ngoài (6).
    Hình ảnh lồi cầu xương cánh tay nhô ra quá mức trên phần hành xương cánh tay có thể giả dạng gãy lồi cầu ngoài (hình).

    Gãy lồi cầu ngoài (7).
    Bên trái là một vài ví dụ về gãy lồi cầu ngoài.

    Gãy chỏm con
    Trong khi gãy lồi cầu ngoài xảy ra ở trẻ em trong độ tuổi từ 4 – 10 tuổi, gãy chỏm con đơn độc được gặp ở trẻ em trên 12 tuổi.

    Gãy xương chỏm con là không phổ biến.
    Sự xoay của mảnh gãy tạo ra hình ảnh điển hình trên phim X-quang (mũi tên).


    Normal medial epicondyle projecting posteriorly. Notice radial head dislocation and olecranon fracture

    Normal medial epicondyle projecting posteriorly. Notice radial head dislocation and olecranon fracture

    Medial Epicondyle avulsion

    Mỏm trên lồi cầu trong là một mấu xương vì nó không đóng góp vào sự tăng trưởng theo chiều dọc của xương cánh tay.
    Nó nằm ở phía sau của khuỷu tay.
    Trên hình chiếu thẳng bên, đặc biệt nếu cánh tay ở tư thế xoay trong, nó có thể chiếu ra phía sau đến mức có thể gợi ý một tổn thương bong điểm bám (hình ảnh).
    Tuy nhiên, các tổn thương bong điểm bám thường nằm ở vị trí xa hơn và phía trước hơn.
    Do mỏm trên lồi cầu trong là cấu trúc ngoài khớp, gãy xương hoặc bong điểm bám sẽ không tự động tạo ra dấu hiệu đệm mỡ dương tính.


    Avulsion of medial epicondyle.

    Avulsion of medial epicondyle.

    Avulsion mỏm trên lồi cầu trong (2).
    80% gãy xương avulsion xảy ra ở trẻ em trai với độ tuổi đỉnh điểm vào đầu tuổi thiếu niên.
    Cơ chế là stress valgus cấp tính do ngã chống tay duỗi thẳng hoặc đôi khi do bẻ tay.
    Chấn thương mạn tính xảy ra ở các vận động viên trẻ (khuỷu tay little league).
    Cơ chế gây ra các gãy xương do stress ở phía trong cũng chính là cơ chế gây ra viêm xương sụn của chỏm con do va chạm ở phía ngoài.


    Dislocation of the elbow with interposed medial epicondyle.

    Dislocation of the elbow with interposed medial epicondyle.

    Gãy bong điểm bám mỏm trên lồng cầu trong (3).
    Có 50% tỷ lệ kèm theo trật khớp khuỷu.
    Khi khớp khuỷu bị trật và mỏm trên lồng cầu trong bị bong ra,
    mảnh xương có thể bị kẹt vào giữa bề mặt khớp của xương cánh tay và mỏm khuỷu (hình).

    Trong mọi trường hợp trật khớp, câu hỏi đầu tiên cần đặt ra là ‘mỏm trên lồng cầu trong đang ở đâu’.


    Same case as above. After reduction the epicondyle returned to its normal position (not good visible due to cast) and was fixated with K-wires.

    Same case as above. After reduction the epicondyle returned to its normal position (not good visible due to cast) and was fixated with K-wires.

    Khi nắn chỉnh khuỷu tay, mảnh vỡ có thể trở về vị trí ban đầu hoặc vẫn bị kẹt trong khớp.
    Điều này có thể gây tổn thương nghiêm trọng đến bề mặt khớp.

    Vì vậy, cần nghiên cứu kỹ các phim chụp sau nắn chỉnh.

    Avulsion mỏm trên lồi cầu trong (4).
    Do lực valgus cực độ, khớp có thể tạm thời bị hở ra.
    Mảnh xương avulsion có thể bị kẹt trong khớp ngay cả khi không có trật khớp khuỷu.


    On AP-view the avulsed medial epicondyle projects over the trochlea. Lateral view shows the fragment to be trapped within the joint.

    On AP-view the avulsed medial epicondyle projects over the trochlea. Lateral view shows the fragment to be trapped within the joint.

    Avulsion mỏm trên lồi cầu trong (5).
    Một mảnh xương bị avulsion nằm trong khớp có thể gây khó khăn trong chẩn đoán.
    Trên phim thẳng AP, mảnh xương này có thể bị bỏ sót (hình).
    Khi ròng rọc chưa được cốt hóa, mảnh avulsion có thể giả dạng trung tâm cốt hóa của ròng rọc.


    Another example of a dislocated elbow with avulsion of the medial epicondyle. In this case the epicondyle is not retracted into the joint.

    Another example of a dislocated elbow with avulsion of the medial epicondyle. In this case the epicondyle is not retracted into the joint.

    Medial Epicondyle avulsion (6).

    Điều trị
    Gãy xương không di lệch được điều trị bằng bó bột hoặc nẹp trong 1-2 tuần.
    Có sự bất đồng về mức độ di lệch của mỏm trên lồi cầu trong cần phải phẫu thuật cố định.
    Có bằng chứng ủng hộ cả điều trị phẫu thuật lẫn bảo tồn đối với gãy mỏm trên lồi cầu trong có di lệch 5-15mm.


    Avulsion of the medial epicondyle. The amount of soft tissue swelling on the medial side suggests that the elbow was dislocated.

    Avulsion of the medial epicondyle. The amount of soft tissue swelling on the medial side suggests that the elbow was dislocated.

    Avulsion mỏm trên lồi cầu trong (7).
    Nếu bệnh sử hoặc hình ảnh X-quang gợi ý rằng khuỷu tay đã hoặc đang bị trật khớp, tổn thương phần mềm nghiêm trọng hơn có thể hiện diện, đòi hỏi cần vận động sớm.


    Click on the image to enlarge

    Click on the image to enlarge

    Avulsion mỏm trên lồi cầu trong (8).
    Hãy nghiên cứu các hình ảnh.
    Bạn có thể nhấp vào hình ảnh để phóng to.
    Có ba dấu hiệu mà bạn cần nhận xét.


    Click on the image to enlarge

    Click on the image to enlarge

    1. Có sự sưng nề mô mềm rất lớn, cho thấy khuỷu tay đã bị trật khớp (mũi tên xanh). Vậy câu hỏi tiếp theo là mỏm trên lồi cầu trong ở đâu?
    2. Mỏm trên lồi cầu trong được thấy bị kẹt trong khớp (mũi tên đỏ).
    3. Lưu ý rằng chỉ có tràn dịch khớp mức độ nhẹ (dấu hoa thị). Mỏm trên lồi cầu trong là cấu trúc ngoài khớp và sự bong gân sẽ không gây ra tràn dịch khớp. Lượng nhỏ tràn dịch khớp có thể là kết quả của tình trạng trật khớp trước đó.

    Continue with the MRI.


    Click on the image to enlarge

    Click on the image to enlarge

    MRI cho thấy mỏm trên lồi cầu trong nhỏ cùng với điểm bám gân bị kẹt trong khớp.

    Mỏm trên lồi cầu trong bị bật ra được tìm thấy trong khớp và được định vị lại, cố định bằng dây Kirschner.


    Subtle radial neck fracture seen only on AP-view.

    Subtle radial neck fracture seen only on AP-view.

    Proximal fractures of the Radius

    Ở người lớn, gãy xương thường liên quan đến bề mặt khớp của chỏm xương quay.
    Tuy nhiên ở trẻ em, cổ xương quay mới là vị trí gãy vì xương vùng hành xương yếu do quá trình tái tạo xương liên tục diễn ra.
    Thường gặp là gãy xương kiểu Salter Harris II.
    Nếu không có di lệch, việc chẩn đoán có thể gặp khó khăn (hình).


    Radial neck fracture with tilt. Notice trochlear ossifications projecting in between humerus and ulna simulating intra-articular fragments.

    Radial neck fracture with tilt. Notice trochlear ossifications projecting in between humerus and ulna simulating intra-articular fragments.

    Nếu độ nghiêng của chỏm quay nhỏ hơn 30° thì bệnh nhân được điều trị bằng đai treo.
    Điều quan trọng cần nhận biết là bình thường chỏm quay có một góc nghiêng nhất định (lên đến 15°).
    Nếu độ nghiêng lớn hơn 30° thì tiến hành nắn chỉnh kín.


    After closed reduction radiograph in cast shows unsuccesfull reduction. K-wire insertion is performed

    After closed reduction radiograph in cast shows unsuccesfull reduction. K-wire insertion is performed

    Khi nắn chỉnh kín không thành công trong việc phục hồi độ nghiêng hoặc khi không thể sấp và ngửa đến 60°, một dây Kirschner được đưa vào để duy trì sự nắn chỉnh.


    The radial epiphysis is slipped (arrows). The radiocapitellar line does not pass through the capitellum indicating dislocation and there is a fracture of the olecranon

    The radial epiphysis is slipped (arrows). The radiocapitellar line does not pass through the capitellum indicating dislocation and there is a fracture of the olecranon

    Gãy cổ xương quay cũng như trật đầu xương quay trong 50% trường hợp có liên quan đến các tổn thương khuỷu tay khác.
    Thường gặp nhất là gãy mỏm khuỷu.

    Khi đầu xương quay còn rất nhỏ, trượt đầu xương quay có thể bị bỏ sót (hình).


    Same patient as above 4 weeks later

    Same patient as above 4 weeks later

    Nếu những gãy xương này không được nhận biết hoặc nắn chỉnh không thành công, hậu quả có thể là đầu xương quay phát triển quá mức.
    Xương quay ngắn cũng có thể là hậu quả do đầu sụn tiếp hợp của xương quay đóng góp vào sự tăng trưởng chiều dài của xương quay.


    LEFT: an obvious radial dislocation. No fracture of the ulna (Monteggia) was foundRIGHT:  a subtle radial head dislocation. Associated olecranonfracture is seen on carefull inspection

    LEFT: an obvious radial dislocation. No fracture of the ulna (Monteggia) was foundRIGHT: a subtle radial head dislocation. Associated olecranonfracture is seen on carefull inspection

    Dislocations of the Radial head

    Trật khớp đầu xương quay có thể rất rõ ràng.
    Tuy nhiên, không hiếm trường hợp những trật khớp này khó nhận thấy và dễ bị bỏ sót.
    Trong mọi trường hợp, cần tìm kiếm các tổn thương kèm theo.
    Trong mô tả ban đầu của Monteggia, có sự trật khớp đầu xương quay kết hợp với gãy thân xương trụ đoạn gần.
    Tuy nhiên, gãy xương ở bất kỳ vị trí nào dọc theo xương trụ cũng đã được ghi nhận.
    Đặc biệt, gãy xương mỏm khuỷu kèm theo rất phổ biến (hình).

    Trật khớp khuỷu do kéo xương quay (Khuỷu tay người giữ trẻ)
    Ở trẻ em, khi cẳng tay bị kéo, chỏm xương quay di chuyển xuống dưới và dây chằng trượt qua chỏm xương quay rồi bị kẹt trong khớp. Hình ảnh X-quang bình thường.
    Tình trạng này được chữa khỏi bằng cách ngửa cẳng tay. Đôi khi điều này xảy ra trong quá trình định vị để chụp tư thế thẳng thực sự (tức là với cẳng tay ở tư thế ngửa).


    Olecranon fracture indicated by discontinuity of the dorsal cortex. No associated fracture.

    Olecranon fracture indicated by discontinuity of the dorsal cortex. No associated fracture.

    Olecranon fractures

    Gãy mỏm khuỷu ở trẻ em ít phổ biến hơn so với người lớn. Như đã đề cập ở trên, chúng thường liên quan đến gãy cổ xương quay và trật khớp xương quay.


    Normal olecranon ossification centres in a patient with a tilted radial neck fracture.

    Normal olecranon ossification centres in a patient with a tilted radial neck fracture.

    Gãy mỏm khuỷu (2)
    Không nhầm lẫn điểm bám gân hoặc các trung tâm cốt hóa riêng biệt của nó với gãy xương.
    Điểm bám gân có bờ gợn sóng, xơ cứng nhẹ.
    Sụn tăng trưởng thường có hướng chếch khác so với đường gãy.

    Gãy mỏm khuỷu (3)
    Bên trái là một số ví dụ về gãy mỏm khuỷu.
    Lưu ý một số trường hợp gãy xương này rất khó nhận thấy.

    Conclusion

    Khi đọc phim X-quang khuỷu tay của trẻ em, luôn luôn tìm kiếm:

    • Supracondylar fracture with minimal displacement
    • Lateral condyle fracture
    • Slipped radial epiphysis
    • Radial dislocation
    • Position of the medial epicondyle.
  • Gãy xương stress

    Gãy xương do stress

    Ferco Berger, Milko de Jonge, Robin Smithuis và Mario Maas

    Từ Khoa Chẩn đoán Hình ảnh của Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam và Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Gãy xương do stress là một trong những chấn thương thể thao phổ biến nhất.

    Trong bài tổng quan này, chúng tôi sẽ thảo luận về:

    • Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của gãy xương do stress
    • Các vị trí thường gặp của gãy xương do stress.

    Gãy xương do stress


    Most common sites of stress fractures

    Các vị trí gãy xương do stress thường gặp nhất

    Vị trí

    Gãy xương do stress là một chấn thương do sử dụng quá mức.
    Xương liên tục cố gắng tái cấu trúc và tự phục hồi, đặc biệt khi chịu tác động của các lực bất thường.
    Khi xương phải chịu đựng đủ lực tác động, sẽ gây ra sự mất cân bằng giữa hoạt động của tế bào hủy xương và tế bào tạo xương, dẫn đến gãy xương do stress.
    Mệt mỏi cơ bắp cũng có thể đóng vai trò trong sự xuất hiện của gãy xương do stress.
    Với mỗi dặm chạy, đôi chân phải hấp thụ hơn 110 tấn lực.
    Xương không được tạo ra để chịu đựng một mình lượng năng lượng lớn như vậy, và các cơ bắp đóng vai trò như bộ giảm xóc.
    Khi cơ bắp mệt mỏi và ngừng hấp thụ lực, toàn bộ lực tác động sẽ được truyền lên xương.

    Gãy xương do stress thường xảy ra sau khi có sự thay đổi gần đây trong chế độ luyện tập.
    Đặc biệt, các vận động viên chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư và tân binh quân sự thường phải đối mặt với sự thay đổi về cường độ luyện tập (tăng lên), loại hình luyện tập hoặc điều kiện luyện tập (giày mới, bề mặt luyện tập khác, v.v.), do đó có nguy cơ cao hơn bị gãy xương do stress.
    Tuy nhiên, những người ít vận động cũng có thể bị gãy xương do stress nếu đột ngột chuyển sang lối sống năng động.

    Khởi phát đau và sưng âm ỉ tại vùng bị ảnh hưởng là triệu chứng quan trọng nhất, ban đầu chỉ xuất hiện trong khi hoạt động.
    Khi tiếp tục vận động, cơn đau sẽ kéo dài sau khi tập luyện, cuối cùng khiến vận động viên phải ngừng tập.
    Cuối cùng, cơn đau xuất hiện ngay cả khi nghỉ ngơi.

    Gãy xương do stress thường gặp nhất ở các xương chịu lực của chi dưới, đặc biệt là cẳng chân và bàn chân (Hình).


    Typical stress fracture of the distal shaft of the second metatarsal not seen on initial radiograph (left). Callus formation is seen at 4 weeks follow up.

    Gãy xương do stress điển hình tại thân xương đốt bàn chân thứ hai đoạn xa không thấy trên phim X-quang ban đầu (trái). Hình thành can xương được thấy rõ tại lần chụp kiểm tra sau 4 tuần.

    X-quang

    X-quang có độ nhạy 15-35% trong việc phát hiện gãy xương do stress ở lần chụp ban đầu, tăng lên 30-70% khi chụp kiểm tra do phản ứng xương trở nên rõ ràng hơn.
    Do đó, các bác sĩ X-quang không nên yên tâm khi kết quả X-quang âm tính và cần chỉ định thêm các phương pháp chẩn đoán hình ảnh tiên tiến hơn.
    Tuy nhiên, X-quang vẫn bắt buộc phải thực hiện để phát hiện các đường gãy rõ ràng và loại trừ các bệnh lý khác như nhiễm trùng hoặc u bướu.

    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân nữ 42 tuổi, thường xuyên đi bộ đường dài và bị đau vùng mu bàn chân trong một tháng.

    Trên phim X-quang ban đầu không thấy đường gãy.
    Sau 4 tuần, phim X-quang kiểm tra cho thấy rõ ràng sự hình thành can xương tại vị trí gãy xương do stress.


    Stress fracture: Normal radiograph, while STIR image already shows a high signal intensity of the bone marrow

    Gãy xương do stress: X-quang bình thường, trong khi ảnh STIR đã cho thấy tăng tín hiệu tủy xương

    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân nữ 28 tuổi với khởi phát đau gần đây tại vùng xương đốt bàn chân thứ hai.
    Tại thời điểm thăm khám, phim X-quang âm tính với gãy xương đốt bàn chân thứ hai.
    Chuỗi xung MRI STIR (Short TI Inversion Recovery) cho thấy tăng tín hiệu tủy xương và phần mềm xung quanh, gợi ý phù tủy xương là hậu quả của gãy xương do stress.

    Gãy xương do stress trên X-quang biểu hiện các dấu hiệu sau:

    • Xương vỏ

      • hình thành can xương nội màng hoặc màng xương mà không có đường gãy
      • phản ứng màng xương toàn chu vi kèm đường gãy qua một vỏ xương
      • đường gãy hoàn toàn
    • Xương xốp

      • các mảng tạo xương mới dạng vảy (2-3 tuần)
      • vùng khoáng hóa xương dạng đám mây
      • vùng xơ cứng khu trú dạng tuyến tính, vuông góc với các bè xương

    MRI

    MRI đã vượt qua xạ hình xương (bone scintigraphy) để trở thành công cụ chẩn đoán hình ảnh hàng đầu cho gãy xương do stress, với độ nhạy tương đương (100%) nhưng độ đặc hiệu cao hơn (85%), có thể do cung cấp chi tiết giải phẫu tốt hơn và mô tả chính xác hơn các mô liên quan.


    Radiograph, STIR and T1WI of grade 3 stress fracture of 3rd metatarsal.

    X-quang, STIR và chuỗi xung T1W của gãy xương do stress độ 3 tại xương đốt bàn chân thứ ba.

    Chuỗi xung STIR (short tau inversion recovery), chuỗi xung T1W (T1WI) và chuỗi xung T2W (T2WI) được sử dụng để đặc trưng hóa và phân độ tổn thương.

    Phân độ dựa trên các dấu hiệu thấy trên MRI:

    1. Phù màng xương mức độ nhẹ – vừa trên STIR, không có thay đổi tủy xương
    2. Phù màng xương mức độ vừa – nặng trên STIR + thay đổi tủy xương trên chuỗi xung T2W
    3. Độ 2 + thay đổi tủy xương trên chuỗi xung T1W
    4. Đường gãy có thể nhìn thấy

    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân nữ 22 tuổi, vận động viên chuyên nghiệp với khởi phát đau vùng mu bàn chân gần đây, kéo dài sau khi tập luyện.
    Tại thời điểm thăm khám, MRI cho thấy tăng tín hiệu trên chuỗi xung STIR và giảm tín hiệu trên chuỗi xung T1W (tức là gãy xương do stress độ 3).


    Grade 4 stress fracture of the navicular bone. T1WI and CT (axial image and coronal reconstruction)

    Gãy xương do stress độ 4 tại xương thuyền. Chuỗi xung T1W và CT (ảnh cắt ngang và tái tạo mặt phẳng coronal)

    Bên trái là hình ảnh của bệnh nhân nam 27 tuổi, cầu thủ bóng đá thi đấu ở giải nghiệp dư hạng cao nhất.

    Bệnh nhân bị đau vùng giữa bàn chân với các triệu chứng gần đây có xu hướng tăng nặng.

    Chuỗi xung T1W cho thấy đường gãy rõ ràng trong xương thuyền, gợi ý gãy xương do stress độ 4.
    CT tương ứng cho thấy đường gãy và xơ cứng trên các ảnh cắt ngang và tái tạo mặt phẳng coronal.

    Gãy xương cổ xương đùi


    Gãy xương do stress ở cổ xương đùi nằm ở phía chịu lực nén.

    Gãy xương do stress ở cổ xương đùi nằm ở phía chịu lực nén.

    Có hai loại gãy xương do stress ở cổ xương đùi:

    1. Gãy xương do lực nén. Loại này nằm ở mặt trong của cổ xương đùi.
      Nguy cơ liền xương phức tạp thấp khi điều trị bảo tồn, do các mảnh gãy được ép chặt vào nhau.
    2. Gãy xương do lực căng. Loại này nằm ở mặt ngoài của cổ xương đùi.
      Nguy cơ liền xương phức tạp cao
      do lực căng tác động lên các mảnh gãy.
      Loại gãy này có nguy cơ tiến triển thành gãy xương hoàn toàn và hoại tử vô mạch.
      Nếu điều trị bảo tồn thất bại, nên chỉ định nắn chỉnh hở và cố định bên trong.

    Hình bên trái cho thấy gãy xương do lực nén ở cổ xương đùi.
    Hình X-quang bình thường, nhưng MRI phát hiện đường gãy và phù tủy xương (tức là độ 4).


    Hình X-quang theo dõi tại các thời điểm 1, 3 và 13 tháng

    Hình X-quang theo dõi tại các thời điểm 1, 3 và 13 tháng

    Hình X-quang chụp một tháng sau cho thấy tổn thương tiến triển thành gãy xương hoàn toàn.

    Mặc dù đây là loại gãy xương nguy cơ thấp, các hình X-quang theo dõi tại thời điểm 3 và 13 tháng vẫn cho thấy xu hướng liền xương kém.

    Gãy Xương Chày và Xương Mác


    Stress fracture on the medial side of the proximal tibia in a 42-year old runner. Courtesy Dr Wuisman (3)

    Gãy xương do stress ở mặt trong của đầu gần xương chày ở một vận động viên chạy bộ 42 tuổi. Hình ảnh do Bác sĩ Wuisman cung cấp (3)

    Xương Chày

    Xương chày là vị trí gãy xương do stress phổ biến nhất (chiếm hơn 50%).

    Hình bên trái là một nam giới 42 tuổi với triệu chứng đau ở đầu gối trái.
    Cơn đau khởi phát từ từ trong một cuộc thi chạy 10 dặm.
    X-quang ban đầu được đọc là bình thường, nhưng chuỗi xung T2W gradient echo của khớp gối cho thấy phù tủy xương ở đầu gần xương chày, gợi ý sự hiện diện của gãy xương do stress.
    Nhìn lại, đường xơ cứng trên phim X-quang cũng là dấu hiệu của gãy xương do stress.


    X-ray and CT-scan showing a fissure at the insertion of the flexor digitorum longus muscle. Courtesy Dr Wuisman (3)

    X-quang và CT cho thấy đường nứt tại điểm bám của cơ gấp các ngón dài. Hình ảnh do Bác sĩ Wuisman cung cấp (3)

    Hình bên trái là một vận động viên chạy bộ 24 tuổi với triệu chứng đau cẳng chân kéo dài bốn tháng.
    Ban đầu cơn đau chỉ xuất hiện khi chạy, nhưng cuối cùng đau cả khi nghỉ ngơi.

    X-quang ban đầu được đọc là bình thường.
    Xạ hình xương (không trình bày) cho thấy vùng tăng hoạt tính khu trú.
    CT được thực hiện để phân tích thêm và phát hiện đường nứt theo chiều dọc tại điểm bám của cơ gấp các ngón dài.

    Bệnh nhân được điều trị bằng sáu tuần nghỉ ngơi,
    sau đó tăng dần cường độ tập luyện.


    Stress fracture of the lower tibia.

    Gãy xương do stress ở đầu dưới xương chày.

    Hình bên trái là một nam giới 50 tuổi, vốn có lối sống ít vận động.
    Ông tham gia một cuộc thi đi bộ 10 dặm mà không có bất kỳ sự chuẩn bị tập luyện nào trước đó.
    Cơn đau ở cẳng chân xuất hiện từ từ và cuối cùng ông không thể tiếp tục đi bộ.

    X-quang cho thấy gãy xương do stress ở đầu dưới xương chày.

    Vận động quá mức trong thời gian ngắn là nguyên nhân thường gặp của gãy xương do stress.


    Medial malleolar stress fracture: Initial coronal STIR image and CT at 11 months follow-up.

    Gãy xương do stress mắt cá trong: Hình ảnh STIR mặt phẳng coronal ban đầu và CT tại thời điểm theo dõi 11 tháng.

    Hình bên trái là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp 25 tuổi với triệu chứng đau vùng cổ chân.
    MRI chuỗi xung STIR mặt phẳng coronal cho thấy bất thường tủy xương rõ rệt, tuy nhiên còn nghi ngờ về sự hiện diện của đường gãy.

    Tại thời điểm theo dõi 11 tháng, CT hiển thị rõ ràng đường gãy.


    Post operative radiograph

    X-quang sau phẫu thuật

    Hình bên trái là X-quang sau phẫu thuật với vít cố định và bột bó cẳng chân tại thời điểm 12 tháng.
    Hình ảnh cho thấy đường gãy vừa đủ nhìn thấy tại vị trí điển hình: chỗ nối giữa trần khớp chày (tibial plafond) và đường thẳng đứng phía trong của mắt cá trong.


    Bilateral stress fracture of the distal fibula: Initial radiographs and Bone scintigraphy at 2 weeks follow up.

    Gãy xương do stress hai bên đầu dưới xương mác: X-quang ban đầu và xạ hình xương tại thời điểm theo dõi 2 tuần.

    Xương Mác

    Gãy xương mác chiếm 10% các trường hợp gãy xương do stress.
    Gãy xương do stress của xương mác thường xảy ra ở một phần ba đoạn dưới.

    Hình bên trái là một vận động viên với triệu chứng đau ngay phía trên cả hai mắt cá chân, đau bên trái nhiều hơn bên phải.

    X-quang chụp tại thời điểm khám không phát hiện bất thường.
    Xạ hình xương 2 tuần sau cho thấy gãy xương do stress ở đầu dưới xương mác cả hai bên.
    X-quang tại thời điểm theo dõi 6 tuần (không trình bày) xác nhận gãy xương do stress hai bên với xu hướng lành xương.

    Gãy Xương Bàn Chân


    Gãy xương do stress độ 3 của xương thuyền cổ chân.

    Gãy xương do stress độ 3 của xương thuyền cổ chân.

    Các xương cổ chân

    Xương thuyền là vị trí gãy xương do stress thường gặp nhất trong nhóm xương cổ chân.

    Hình bên trái: nam vận động viên 16 tuổi với cường độ tập luyện hàng tuần cao.
    Bệnh nhân than phiền về cơn đau vùng giữa bàn chân khởi phát gần đây trong quá trình tập luyện,
    kéo dài trong vài giờ sau đó.

    Trên ảnh STIR mặt phẳng đứng dọc ghi nhận tăng tín hiệu tại xương thuyền.
    Trên ảnh T1W mặt phẳng ngang ghi nhận giảm tín hiệu, tuy nhiên không xác định rõ đường gãy.


    Gãy xương do stress xương bàn chân thứ 4: X-quang tại thời điểm khám và theo dõi sau 3 tuần.

    Gãy xương do stress xương bàn chân thứ 4: X-quang tại thời điểm khám và theo dõi sau 3 tuần.

    Các xương bàn chân

    Các xương bàn chân là vị trí thường gặp của gãy xương do stress (chiếm 25% các trường hợp).

    Hình bên trái: nữ bệnh nhân 15 tuổi, không có tiền sử chấn thương.
    Đau vùng mu bàn chân phía ngoài khởi phát gần đây khi đi bộ.
    X-quang tại thời điểm khám không ghi nhận bất thường.
    Theo dõi sau 3 tuần cho thấy gãy hoàn toàn thân xương đoạn xa của xương bàn chân thứ 4 với phản ứng màng xương rõ ràng.


    Gãy xương do stress xương bàn chân thứ 2: X-quang tại thời điểm khám và theo dõi sau 1 và 3 tháng.

    Gãy xương do stress xương bàn chân thứ 2: X-quang tại thời điểm khám và theo dõi sau 1 và 3 tháng.

    Hình bên trái: nữ bệnh nhân 39 tuổi với triệu chứng đau vùng mu bàn chân khởi phát trong kỳ nghỉ đạp xe.
    X-quang tại thời điểm khám bình thường.
    Tại các lần theo dõi sau 1 và 3 tháng, có thể quan sát thấy xu hướng lành xương rõ ràng, xác nhận sự hiện diện của gãy xương do stress.


    Gãy xương do stress xương vừng ngón cái: STIR mặt phẳng đứng dọc và CT mặt phẳng ngang.

    Gãy xương do stress xương vừng ngón cái: STIR mặt phẳng đứng dọc và CT mặt phẳng ngang.

    Các xương vừng

    Các xương vừng là vị trí ít gặp của gãy xương do stress.

    Hình bên trái: nam bệnh nhân 14 tuổi, cầu thủ bóng đá, với triệu chứng đau lòng bàn chân vùng mu dai dẳng.
    Gãy xương do stress của xương vừng trong ngón cái được xác định bởi tăng tín hiệu
    trên chuỗi xung STIR mặt phẳng đứng dọc
    tại thời điểm khám.

    CT thực hiện tại thời điểm khám cho thấy xơ cứng xương vừng trong và xác nhận chẩn đoán gãy xương do stress.

    Gãy xương do stress nguy cơ cao và nguy cơ thấp

    Gãy xương do stress có thể được phân loại thành nguy cơ cao và nguy cơ thấp dựa trên khả năng lành xương không biến chứng khi điều trị bảo tồn.

    Các vị trí gãy xương nguy cơ cao:

    • Gãy xương cổ xương đùi phía căng (tension fracture)
    • Gãy xương bánh chè theo hướng ngang
    • Gãy thân xương chày mặt trước đoạn giữa
    • Mắt cá trong
    • Xương sên
    • Xương thuyền cổ chân
    • Xương bàn chân thứ 5
    • Xương vừng ngón cái

    Các vị trí gãy xương nguy cơ thấp:

    • Gãy xương cổ xương đùi phía nén (compression fracture)
    • Gãy xương bánh chè theo hướng dọc
    • Gãy mặt sau-trong xương chày
    • Xương mác
    • Xương gót
    • Xương bàn chân thứ 2 và thứ 3