Category: Cơ xương khớp

  • Bệnh lý sụn chêm

    Bệnh lý sụn chêm

    David Rubin và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trường Đại học Y Washington, St. Louis, Hoa Kỳ và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Bài viết này được xây dựng dựa trên bài thuyết trình của David Rubin và được Robin Smithuis chuyển thể cho the Radiology Assistant.
    Các ca lâm sàng tương tác được trình bày trong thanh menu để kiểm tra kiến thức của bạn.

    bởi David Rubin và Robin Smithuis

    Giải Phẫu Sụn Chêm Bình Thường


    Sụn chêm trong: Sừng sau luôn lớn hơn sừng trước.

    Sụn chêm trong: Sừng sau luôn lớn hơn sừng trước.

    Sụn chêm trong

    Cả hai sừng đều có hình tam giác với các đỉnh rất nhọn.
    Sừng sau luôn lớn hơn sừng trước (hình minh họa).
    Nếu không phải như vậy, hình dạng được xem là bất thường, có thể là dấu hiệu của rách sụn chêm hoặc cắt sụn chêm một phần.


    TRÁI: chân bám sụn chêm trong bình thường nằm ngay phía trước dây chằng chéo sau. PHẢI: mất chân bám sừng sau do rách chân bám sụn chêm.

    TRÁI: chân bám sụn chêm trong bình thường nằm ngay phía trước dây chằng chéo sau. PHẢI: mất chân bám sừng sau do rách chân bám sụn chêm.

    Chân bám sừng sau nằm ngay phía trước dây chằng chéo sau.
    Nếu không thấy chân bám này trên các lát cắt sagittal, cần nghĩ đến rách chân bám sụn chêm (hình minh họa).
    Sừng trước có điểm bám vào mâm chày và một phần thứ hai chạy từ trong ra ngoài để nối với sừng trước của sụn chêm ngoài (dây chằng liên sụn chêm hay dây chằng ngang).


    Sụn chêm ngoài. Cả hai sừng có kích thước xấp xỉ nhau.

    Sụn chêm ngoài. Cả hai sừng có kích thước xấp xỉ nhau.

    Sụn chêm ngoài

    Trên các lát cắt sagittal, sừng sau nằm ở vị trí cao hơn so với sừng trước.
    Cả hai sừng có kích thước xấp xỉ nhau.


    Sụn chêm ngoài: sừng sau và chân bám sừng sau.

    Sụn chêm ngoài: sừng sau và chân bám sừng sau.

    Phần sau của sụn chêm ngoài vươn cao lên trên gai chày để bám vào vị trí gần dây chằng chéo sau.
    Vị trí cao của sừng sau có thể là nguyên nhân gây tăng tín hiệu tại sừng sau trên tất cả các mặt phẳng do hiệu ứng góc ma thuật (magic angle effect).

    Rách sụn chêm

    Tiêu chuẩn chẩn đoán rách

    Hai tiêu chuẩn quan trọng nhất để chẩn đoán rách sụn chêm là hình dạng bất thường của sụn chêm và tín hiệu cao rõ ràng chạm đến bề mặt sụn chêm trên ảnh PD.


    High signal intensity not unequivocally contacting surface. Small black line on inferior margin of the meniscus. At arthroscopy the meniscus was normal.

    Tăng tín hiệu không chạm rõ ràng đến bề mặt. Đường đen nhỏ ở bờ dưới sụn chêm. Khi nội soi khớp, sụn chêm hoàn toàn bình thường.

    Đây là một quan niệm sai lầm khi cho rằng sụn chêm phải đồng nhất giảm tín hiệu trên ảnh mật độ proton (proton-density).
    Sụn chêm không nhất thiết phải có màu đen.
    Chỉ khi tín hiệu cao chạm rõ ràng đến bề mặt sụn chêm, bạn mới có thể chẩn đoán rách.
    Nếu còn nghi ngờ liệu tín hiệu cao có chạm đến bề mặt hay không, hãy xem xét tất cả các lát cắt lân cận.
    Nếu vẫn còn nghi ngờ, không nên chẩn đoán rách.
    Nếu bạn còn dấu hỏi trong đầu, hãy kết luận “sụn chêm bình thường”. (hình)


    Basic shapes: Longitudinal, Horizontal and Radial.

    Các hình thái cơ bản: Dọc, Ngang và Xuyên tâm.

    Danh pháp các loại rách sụn chêm

    Hình thái. Có 3 hình thái cơ bản của rách sụn chêm: rách dọc, rách ngang và rách xuyên tâm.
    Rách phức tạp là sự kết hợp của các hình thái cơ bản này.


    Bucket handle, Horizontal Flap tear and Parrot beak.

    Rách hình quai xô, rách vạt ngang và rách hình mỏ vẹt.

    Rách có di lệch
    Rách hình quai xô (Bucket-handle) = rách dọc có di lệch.
    Rách vạt (Flap tear) = rách ngang có di lệch.
    Rách hình mỏ vẹt (Parrot beak) = rách xuyên tâm có di lệch.

    Rách dọc, rách ngang và rách xuyên tâm

    Rách dọc
    Rách dọc chạy song song với trục dài của sụn chêm, chia sụn chêm thành phần trong và phần ngoài.
    Do đó, khoảng cách từ đường rách đến bờ ngoài sụn chêm luôn không đổi (hình).
    Đường rách không bao giờ chạm đến bờ trong.


    Three sagittal images of a longitudinal tear

    Ba lát cắt đứng dọc của một trường hợp rách dọc sụn chêm.

    Rách dọc đi theo các bó sợi collagen chạy song song với đường viền sụn chêm.
    Nếu rách dọc có thêm các thành phần khác (ngang hoặc xuyên tâm), thì đó là rách phức tạp, phá vỡ các bó sợi collagen.
    Loại rách này đòi hỏi chấn thương với năng lượng cao hơn.


    LEFT: abnormal shape of posterior horn. A piece is missing. RIGHT: displaced fragment in the intercondylar fossa.

    TRÁI: hình dạng bất thường của sừng sau. Một phần bị khuyết. PHẢI: mảnh di lệch trong hố liên lồi cầu.

    Rách dọc (2)

    Rách hình quai xô (Bucket handle tear)
    là rách dọc có di lệch.


    LEFT: meniscus is abnormal in shape and there is a displaced fragment. RIGHT: Three structures in the intercondylar fossa: post cruciate lig (1), ant cruciate lig (2) and displaced fragment (3).

    TRÁI: sụn chêm có hình dạng bất thường và có mảnh di lệch. PHẢI: Ba cấu trúc trong hố liên lồi cầu: dây chằng chéo sau (1), dây chằng chéo trước (2) và mảnh di lệch (3).

    Trên ảnh mặt phẳng coronal, rách hình quai xô dễ nhận biết hơn.
    Bình thường, trong hố liên lồi cầu chỉ có hai cấu trúc: dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau.
    Bất kỳ cấu trúc nào khác trong hố liên lồi cầu đều là bất thường, và mảnh sụn chêm di lệch là khả năng có thể xảy ra nhất.

    Xem thêm về rách hình quai xô


    Flipped meniscus: posterior horn is missing because it is flipped over and located on top of the anterior horn.

    Sụn chêm lật (Flipped meniscus): sừng sau không thấy vì đã bị lật và nằm chồng lên sừng trước.

    Rách dọc (3)

    Sụn chêm lật (Flipped meniscus) là một dạng của rách hình quai xô.
    Có sự bong tách bao khớp hoặc rách ngoại vi của sụn chêm, thường ở sừng sau.
    Sừng sau bị lật chồng lên sừng trước.

    Xem thêm về sụn chêm lật


    Horizontal tear with a meniscal cyst

    Rách ngang kèm nang sụn chêm.

    Rách ngang
    Rách ngang chia sụn chêm thành phần trên và phần dưới (giống bánh pita).
    Nếu rách ngang kéo dài từ đỉnh đến bờ ngoài sụn chêm, có thể dẫn đến hình thành nang sụn chêm.
    Dịch khớp chảy ra ngoại vi qua đường rách ngang, tích tụ bên trong sụn chêm và cuối cùng tạo thành nang.
    Sự thông thương với khoang khớp thường bị mất, do đó nang sẽ không ngấm thuốc tương phản từ trên MRI khớp.
    Dịch khớp được hấp thu và được thay thế bằng chất dạng keo.

    Có 3 tiêu chuẩn để chẩn đoán nang sụn chêm:

    1. Rách ngang.
    2. Tích tụ dịch với tín hiệu sáng trên T2W.
    3. Áp sát vào ngoại vi sụn chêm.

    Chẩn đoán nang sụn chêm rất quan trọng đối với phẫu thuật viên vì cần một lần phẫu thuật ở mặt ngoài khớp gối để lấy nang và một lần phẫu thuật ở mặt trong để xử lý sụn chêm.

    Rách xuyên tâm
    Rách xuyên tâm vuông góc với trục dài của sụn chêm.
    Loại rách này phá vỡ các bó sợi collagen chạy song song với trục dài của sụn chêm.
    Đây là loại rách do chấn thương năng lượng cao. Rách bắt đầu từ bờ trong và lan ra một phần hoặc toàn bộ chiều dày sụn chêm, chia sụn chêm thành phần trước và phần sau.
    Rách xuyên tâm khó nhận biết. Cần kết hợp các dấu hiệu trên cả ảnh đứng dọc (sagittal) và ảnh trán (coronal) để chẩn đoán.


    LEFT: triangle missing the tip.RIGHT: disrupted bow tie.

    TRÁI: hình tam giác mất đỉnh. PHẢI: hình nơ bị gián đoạn.

    Sự kết hợp các dấu hiệu sau có giá trị chẩn đoán:
    Trên một mặt phẳng: hình tam giác mất đỉnh; và trên mặt phẳng kia: hình nơ bị gián đoạn.


    Disrupted bow tie indicating a small radial tear.

    Hình nơ bị gián đoạn gợi ý rách xuyên tâm nhỏ.

    Rách xuyên tâm nhỏ khó chẩn đoán.
    Đôi khi dấu hiệu duy nhất là hình nơ bị gián đoạn.


    LEFT: Absent or empty meniscus on sagittal image.RIGHT: Axial image shows complete radial tear leading to a defect in the meniscus.

    TRÁI: Dấu hiệu sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng trên ảnh đứng dọc. PHẢI: Ảnh axial cho thấy rách xuyên tâm hoàn toàn tạo ra khuyết hổng trong sụn chêm.

    Nếu chụp ảnh rách xuyên tâm hoàn toàn dọc theo chiều dài đường rách, bạn sẽ thấy hình ảnh sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng.
    Các rách xuyên tâm hoàn toàn này mở ra và tạo ấn tượng như có một phần sụn chêm bị mất.
    Tuy nhiên, bạn sẽ không tìm thấy mảnh sụn chêm di lệch. Đây đơn giản là sự tách rời của các phần sụn chêm.

    Xem thêm về dấu hiệu sụn chêm rỗng


    Meniscal root tear: on sagittal images there is an absent or empty meniscus-sign adjacent to the posterior cruciate ligament where the meniscal root should be. On coronal images a meniscal root tear is confirmed.

    Rách chân bám sụn chêm: trên ảnh đứng dọc có dấu hiệu sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng kề cạnh dây chằng chéo sau tại vị trí lẽ ra phải thấy chân bám sụn chêm. Trên ảnh coronal, rách chân bám sụn chêm được xác nhận.

    Rách chân bám sụn chêm

    Rách chân bám sụn chêm là rách xuyên tâm xảy ra tại vị trí chân bám của sụn chêm.
    Bình thường, khi quan sát dây chằng chéo sau trên ảnh đứng dọc, bạn phải thấy một phần đáng kể của sừng sau sụn chêm trên lát cắt đó hoặc lát cắt kề cạnh.
    Nếu không thấy, đó là dấu hiệu sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng, gợi ý rách xuyên tâm.

    Xem thêm về rách chân bám sụn chêm

    Sụn chêm sau phẫu thuật

    Sụn chêm sau phẫu thuật khó đánh giá hơn vì hai tiêu chí quan trọng nhất, đó là tín hiệu bất thường và hình dạng bất thường, không còn áp dụng được nữa.

    Tín hiệu bất thường không còn là dấu hiệu đáng tin cậy của rách sụn chêm, vì nếu đã được khâu phục hồi, vùng này sẽ lành với mô sẹo, mô sẹo cũng có tín hiệu cao trên ảnh PD (hình minh họa).
    Mặc dù là một phát hiện không phổ biến, nếu đồng thời có tín hiệu cao trên chuỗi xung T2W, thì có thể chẩn đoán rách sụn chêm, vì đây là kết quả của dịch hoạt dịch rò rỉ vào vị trí rách.
    Tuy nhiên, đây là một phát hiện không thường gặp.

    Hình dạng bất thường có thể là kết quả của cắt sụn chêm một phần.
    Do đó, cần biết thủ thuật nào đã được thực hiện trong quá trình nội soi khớp.
    Chỉ khi so sánh với hình ảnh sau phẫu thuật trước đó, mới có thể xác định liệu hình dạng bất thường có phải là phát hiện mới gợi ý rách mới hay không.

    Đôi khi không thể phân biệt giữa hình ảnh sau phẫu thuật bình thường và rách tái phát trên MRI thông thường.
    Trong những trường hợp này, chụp MRI-khớp với 40cc Gadolinium pha loãng giúp phân biệt vì ngay cả lượng nhỏ Gadolinium rò rỉ vào vị trí rách cũng dễ dàng nhìn thấy trên ảnh T1 xóa mỡ.


    PD and T2W images. Prior partial meniscectomy and suture repair. At arthroscopy, there was no tear.

    Ảnh PD và T2W. Tiền sử cắt sụn chêm một phần và khâu phục hồi. Khi nội soi khớp, không phát hiện rách.

    Sụn chêm sau phẫu thuật 1
    Trường hợp bên trái cho thấy sụn chêm có hình dạng bất thường cũng như tín hiệu bất thường chạm đến bề mặt trên ảnh PD nhưng không thấy trên ảnh T2W.
    Bệnh nhân này có tiền sử cắt sụn chêm một phần và khâu phục hồi.
    Dựa trên các phát hiện hình ảnh này, không thể xác định đây là rách hay là hình ảnh bình thường sau phẫu thuật.
    Bệnh nhân này được phẫu thuật lại để tái tạo dây chằng chéo trước (ACL).
    Phẫu thuật viên đã quan sát sụn chêm và xác nhận sụn chêm bình thường, tức là không có rách.


    LEFT: Old MR exam with tear. Patient had a suture repair. RIGHT: On new exam, there is a new tear (yellow arrow). It is not possible to tell if the old tear has healed.

    TRÁI: Phim MRI cũ có rách. Bệnh nhân đã được khâu phục hồi. PHẢI: Trên phim MRI mới, có rách mới (mũi tên vàng). Không thể xác định liệu vết rách cũ đã lành hay chưa.

    Sụn chêm sau phẫu thuật 2
    Bệnh nhân này đã được khâu phục hồi do rách sụn chêm.
    Sau đó bệnh nhân bị chấn thương mới.
    Trên phim MRI mới, không thể xác định liệu vết rách cũ đã lành hay chưa.
    Tuy nhiên, phát hiện thấy rách mới, nên trường hợp này dễ chẩn đoán.


    MR-arthrogram: In the new tear the signal is as bright as in the synovial fluid (yellow arrows). In the healed tear the signal is not as bright.

    Chụp MRI-khớp: Tại vị trí rách mới, tín hiệu sáng tương đương dịch hoạt dịch (mũi tên vàng). Tại vị trí rách đã lành, tín hiệu không sáng bằng.

    Trên ảnh chụp MRI-khớp, vị trí rách mới có cường độ tín hiệu rất cao tương đương dịch hoạt dịch, trong khi vị trí rách cũ đã lành chỉ có cường độ tín hiệu trung bình.
    Do đó, so sánh với phim cũ giúp chẩn đoán xác định rách mới, trong khi ảnh chụp khớp cho thấy vết rách cũ đã lành.


    PD and MR-arthrogram after suture repair for meniscal tear: healed tear.

    Ảnh PD và chụp MRI-khớp sau khâu phục hồi rách sụn chêm: vết rách đã lành.

    Sụn chêm sau phẫu thuật 3
    Bệnh nhân này cũng đã được khâu phục hồi do rách sụn chêm.
    Sau một chấn thương mới, ảnh PD cho thấy tín hiệu cao rõ ràng chạm đến bề mặt sụn chêm (thấy rõ trên phim gốc, nhưng không thấy rõ trên ảnh đã nén bên trái).
    Trên ảnh này, không thể xác định liệu vết rách đã lành hay chưa.
    Do đó, chụp MRI-khớp được thực hiện và cho thấy vết rách đã lành.

  • Khám MRI khuỷu tay

    MRI examination of the Elbow

    by Mark Anderson

    University of Virginia Health Sciences Center

    Publicationdate

    Bài đánh giá này dựa trên bài thuyết trình của Mark Anderson và được chuyển thể cho the Radiology Assistant bởi Robin Smithuis.

    We will discuss:

    • Basic MR techniques and MR arthrography.
    • Appearance of normal anatomic structures.
    • Common types of pathology.

    MRI technique

    Scan planes

    Giống như ở vai, bạn cần đảm bảo thu nhận các mặt phẳng hình ảnh một cách chính xác theo chuẩn hóa.
    Sử dụng trục của các mỏm trên lồi cầu trên ảnh định vị axial để lập kế hoạch quét mặt phẳng coronal.
    Các hình ảnh sagittal được quét vuông góc với lát cắt coronal.

    Bằng cách này, bạn sẽ có được những hình ảnh rất bền vững và sẽ quen với giải phẫu bình thường.

    Imaging sequences

    T1
    Trong mỗi khớp được khảo sát, bạn nên có ít nhất một chuỗi xung T1 không chỉ để đánh giá giải phẫu, mà còn như một phương án dự phòng để quan sát tủy xương.
    Tất nhiên, hình ảnh T2-fatsat sẽ hiển thị các bất thường tủy xương, nhưng T1 có thể hữu ích trong việc cho chúng ta biết thực sự đang xảy ra điều gì.
    T1 chắc chắn được sử dụng trong chụp MR-khớp có thuốc cản từ.

    T2-fatsat
    T2 sẽ hiển thị hầu hết các bệnh lý, dù là ở tủy xương, dây chằng hay cơ do hàm lượng nước cao. Nó cũng có thể được sử dụng để chụp ảnh sụn.

    Gradient echo
    Với gradient echo, chúng ta có thể sử dụng các lát cắt mỏng 3-D để tạo hình ảnh sụn khớp và các dây chằng.

    Trong giao thức MRI, chúng tôi thực hiện T1 và T2-fatsat trên cả ba mặt phẳng hình ảnh.
    Đôi khi STIR được sử dụng.

    MR-arthrography

    Thông thường khớp quay-chỏm được chọc từ phía ngoài với bệnh nhân nằm sấp và cánh tay gấp 90 độ trên đầu (mũi tên đỏ).
    Tuy nhiên, điều này đôi khi có thể gây ra vấn đề nếu bạn quan tâm đến các dây chằng bên và bạn tiêm lidocaine hoặc thuốc cản quang vào các dây chằng này.
    Vì vậy, gần đây chúng tôi bắt đầu sử dụng đường tiếp cận phía sau vào hố mỏm khuỷu (mũi tên xanh).

    Gadolinium pha loãng được tiêm, tức là 0,05cc + 10cc nước muối sinh lý (sử dụng “ngoài chỉ định” tại Hoa Kỳ).

    Indications for MR-arthrography are:

    • UCL pathology in throwers.
    • Osteochondral lesions and repair
    • Loose bodies

    Anatomy and Pitfalls

    Khi nghiên cứu giải phẫu khuỷu tay, nên sử dụng phương pháp từ trong ra ngoài.

    Đầu tiên hãy nghiên cứu các xương, sau đó tiếp tục với các dây chằng và gân, rồi đến các cấu trúc xung quanh.

    Tendon attachments

    Common flexor tendon
    Attaches at the medial epicondyle

    Dây chằng bên trụ hay UCL
    Bắt đầu từ mặt dưới của mỏm trên lồi cầu trong và chạy xuống đến củ sublime, là mặt trong của mỏm vẹt.

    Common extensor tendon
    Originates at the lateral epicondyle.

    Dây chằng bên ngoài
    Xuất phát ngay bên dưới điểm bám của gân duỗi chung.

    Dây chằng bên trụ ngoài
    Đây là một thuật ngữ có phần khó hiểu dùng để chỉ một gân cũng xuất phát ngay bên dưới gân duỗi chung. Nó vòng xuống phía sau chỏm quay và bám vào vùng xương trụ được gọi là mào cơ ngửa – xem hình ảnh mặt bên.

    Biceps tendon
    Attaches on the radial tuberosity.

    Brachialis tendon
    Attaches on the coronoid process.

    Dây chằng vòng
    Bám vào mặt gan tay của khuyết sigma xương trụ, chạy vòng quanh chỏm xương quay và bám vào mặt mu tay của khuyết sigma.

    Pseudodefect of the capitellum

    Đây là một phát hiện mà bạn thường thấy trên các hình ảnh mặt phẳng coronal.
    Trông có vẻ giống như một tổn thương sụn xương, nhưng nếu bạn nhìn vào hình ảnh mặt phẳng sagittal, bạn sẽ nhận thấy rằng hình ảnh mặt phẳng coronal đi qua phần không có khớp phía sau của chỏm con.
    Vì vậy, khi khuỷu tay duỗi hoàn toàn, một phần của chỏm quay thực sự nằm phía sau bề mặt sụn khớp của chỏm con.
    Trên hình ảnh mặt phẳng coronal, chúng ta sẽ quan sát thấy chỏm quay được bao phủ bởi sụn và đối diện với nó là phần không được bao phủ bởi sụn của chỏm con, phần này thường có phần không đều.

    Pseudo-loose body

    Một phát hiện phổ biến khác là một mảnh mỡ nhỏ mà bạn sẽ thấy trên hình ảnh mặt phẳng đứng dọc, trông giống như một dị vật nhỏ tự do hoặc một khuyết sụn.
    Điều này có thể được giải thích nếu chúng ta nhìn vào bề mặt khớp của mỏm khuỷu.
    Thông thường mỏm khuỷu có hai mảnh sụn với một vùng nhỏ ở giữa, được lấp đầy bởi mỡ.

    Plica

    Cấu trúc này ở phía bên ngoài của khớp đôi khi được nhìn thấy và là một nếp gấp hoạt dịch (plica).
    Nó có thể nổi bật và trông gần giống như một sụn chêm.
    Đây là một cấu trúc bình thường, nhưng đôi khi nó bị dày lên hoặc không đều và có thể là nguyên nhân gây ra các triệu chứng.

    Elbow Mechanics

    Khuỷu tay đóng vai trò như một khớp bản lề khi chúng ta xem xét khớp cánh tay-trụ và khớp quay-mỏm cầu.

    Khớp còn lại là khớp quay trụ gần với chuyển động xoay cho phép sấp và ngửa.

    Nhiều chấn thương cấp tính và mãn tính xảy ra do động tác ném.
    Trong chuyển động ném ở giai đoạn giương tay muộn đến tăng tốc, có những lực valgus rất lớn kéo căng khuỷu tay.

    Tải trọng valgus tạo ra lực căng rất lớn ở phía trong cố gắng kéo các cấu trúc ra xa nhau (mũi tên vàng), trong khi phía ngoài sẽ chịu lực nén (mũi tên xanh).

    Ở phía sau, nó gây ra lực cắt dọc theo đầu mỏm khuỷu (mũi tên đen).

    Valgus overload syndrome

    Tất cả những lực này tạo nên cái được gọi là “hội chứng quá tải valgus” với những tổn thương rất đặc trưng ở khuỷu tay theo thời gian.

    • Lực căng ở phía trong gây ra rách dây chằng bên trụ.
    • Lực nén ở phía bên ngoài gây ra tổn thương sụn xương của chỏm con.
    • The shear forces on the posterior side cause arthrosis.

    Arthrosis in valgus overload syndrome

    Do quá tải valgus, có các lực cắt tác động lên phần sau-trong của khớp cánh tay-trụ.
    Lưu ý tình trạng xơ cứng dưới sụn được thấy trên ảnh T1W (mũi tên đỏ).

    Trên hình ảnh T2W có phù tủy xương dưới sụn và mất sụn khớp (mũi tên vàng).


    Đây là hình ảnh của một vận động viên bóng chày 20 tuổi.
    Hãy cuộn qua các hình ảnh.

    Trên các hình ảnh mặt phẳng coronal, bó trước của dây chằng UCL hiện rõ đẹp, nhưng lưu ý rằng có sự hình thành gai xương ở phần trong của khớp (mũi tên đỏ).

    Khi chúng ta đi xa hơn về phía sau có một vùng nhỏ có tín hiệu thấp (mũi tên vàng), đây là một chỗ bong gân của một phần dây chằng bên trụ (UCL).
    Điều này được thể hiện rõ hơn trên phim X-quang.

    Continue with the axial scan.


    Khi quan sát trên lát cắt ngang (axial), chúng ta có thể nhận thấy sự hình thành gai xương khổng lồ.

    Lưu ý rằng dây thần kinh trụ (mũi tên màu xanh) nằm cạnh các gai xương này và những bệnh nhân này có thể biểu hiện bệnh lý thần kinh trụ.

    Posterolateral Rotatory instability

    Có các giai đoạn mất vững khớp khuỷu tay khác nhau và giai đoạn cuối cùng là trật khớp.

    Trong giai đoạn 1 có sự bán trật của xương trụ và có sự rách của dây chằng bên trụ ngoài.

    Trong giai đoạn 2 có tổn thương nhiều hơn, khi mỏm vẹt tựa lên ròng rọc và có tổn thương dây chằng nhiều hơn.

    Trong giai đoạn 3, cuối cùng mỏm vẹt nằm ra phía sau xương cánh tay trong một tình trạng trật khớp thực sự và có thể gây rách dây chằng bên trụ, dẫn đến khuỷu tay rất mất vững – như kiểu khớp lơ lửng.

    Elbow dislocation

    Đây là hình ảnh chụp X-quang tư thế nghiêng của khuỷu tay một bệnh nhân bị ngã chống tay duỗi thẳng.
    Hình ảnh X-quang cho thấy tràn dịch khớp (mũi tên đỏ) và gãy mỏm vẹt (mũi tên vàng).

    Continue with the MR-images.

    Đây là hình ảnh MRI.
    Hãy xem các hình ảnh và sau đó tiếp tục đọc…

    Coronal view:

    1. Dây chằng bên ngoài bị bóc tách hoàn toàn (mũi tên vàng).
    2. radial head is subluxed.
    3. phù tủy xương của mỏm vẹt do gãy xương (mũi tên đỏ).

    Sagittal view:

    1. Chỏm xương quay bị bán trật nhẹ ra phía sau (mũi tên vàng).
    2. Large effusion and capsular disruption posteriorly.
    3. Đụng dập mặt sau của chỏm con do va chạm với mỏm vẹt (mũi tên đỏ).

    All these signs are the result of a posterior dislocation.

    Đọc thêm trong bài viết của Zehava Rosenberg trên AJR 2008 có tiêu đề: Đặc điểm MRI của Tổn thương Va chạm Chỏm Lồi Cầu Phía Sau

    Những hình ảnh này của một nam giới 23 tuổi bị ngã chống tay khi đang trượt ván hai tuần trước.
    Khi khám lâm sàng, ghi nhận giảm biên độ vận động khớp khuỷu và đau khi ấn dọc theo mặt ngoài.

    First study the images, then continue reading…

    Cấu trúc nào nằm phía sau chỏm quay trên hình ảnh cắt ngang?

    Sagittal view:

    • Một lần nữa, hình ảnh đặc trưng của phù tủy xương thường gặp trong trật khớp khuỷu tay ra sau với vết dập ở phía trước của chỏm xương quay (mũi tên đỏ) và ở phía sau của chỏm con xương cánh tay.
    • Chỏm quay phải đã va chạm vào phần sau của chỏm con xương cánh tay.

    Cấu trúc phía sau chỏm quay là dây chằng vòng.
    Nó không đều và dày lên do hậu quả của trật khớp ra sau.

    Osteochondral lesions

    OC lesion of capitellum

    Tổn thương sụn xương là tên gọi mới của bệnh viêm xương sụn bóc tách hay OCD.

    Quá tải valgus mãn tính có thể gây ra tổn thương sụn xương ở phía ngoài của khuỷu tay.
    Đây là kết quả của các lực va chạm và lực cắt lặp đi lặp lại.

    Hình chụp X-quang của một vận động viên bóng chày 15 tuổi với tiền sử đau khuỷu tay 4 năm và gần đây có triệu chứng kẹt khớp.

    Có một vùng thấu quang khu trú ở chỏm con và một số mảnh vỡ.
    Đây là hình ảnh điển hình của tổn thương sụn xương chỏm con và hiện tượng kẹt khớp có thể là kết quả của các dị vật trong khớp.

    Continue with the MR…

    MR-arthrogram xác nhận tổn thương sụn xương.
    Có gadolinium nằm giữa xương cánh tay và tổn thương sụn xương, cho thấy tổn thương này không ổn định.
    Nếu không có gadolinium, hãy tìm dịch khớp chui xuống dưới mảnh sụn xương.
    Có một mảnh thể tự do trong ngách sau của khớp quay-cánh tay.

    Notice also the fragmentation as seen on the axial image.

    Tổn thương sụn xương của chỏm con thường gặp ở vận động viên ném bóng và thể dục dụng cụ (11-15 tuổi), những người thường gặp nhiều vấn đề về cổ tay và khuỷu tay do chịu lực tỳ đè.

    Here another case in a 20 year old gymnast.

    Một lần nữa có hình ảnh thấu quang trên phim X-quang.
    Hình ảnh MR-arthrogram cho thấy một số phù nề tủy xương trên mặt phẳng coronal.
    Hình ảnh T1W mặt phẳng sagittal cho thấy bất thường xương dưới sụn, nhưng không có nhiều mảnh rời.
    Có một số mỏng sụn, nhưng không có khuyết sụn.
    Đây rõ ràng là một mảnh ổn định và không có dị vật khớp.

    Những hình ảnh này của một cầu thủ bóng chày trẻ, xuất hiện với triệu chứng đau khuỷu tay lúc 14 tuổi.
    Hình ảnh T2W-fatsat cho thấy phù tủy xương và có thể có gãy xương dưới sụn.

    Rõ ràng là có người đã bảo cậu bé tiếp tục ném bóng, vì cậu quay lại ba năm sau khi 17 tuổi và bạn có thể thấy điều gì xảy ra khi người ta thúc ép quá mức để biến những đứa trẻ này thành vận động viên chuyên nghiệp.
    Hình ảnh T1W cho thấy sự phân mảnh (mũi tên vàng) với một mảnh xương tự do (mũi tên đỏ).
    Hình ảnh T2W chứng minh rằng mảnh xương không ổn định do có tín hiệu cao giữa mảnh xương và xương cánh tay.

    Khi nội soi khớp, có thể thấy sự lõm xuống và không đều của sụn chỏm con.

    First the loose bodies were taken out.

    Sau đó, thủ thuật OATS thường được thực hiện, mà chúng ta sẽ thảo luận ngay bây giờ.

    OATS procedure

    OATS là viết tắt của ghép xương sụn tự thân (osteochondral autologous transfer).
    Các mảnh sụn và xương được lấy từ một vị trí xương khác không chịu lực và chuyển đến chỏm con (capitellum).
    Ở bệnh nhân này, sụn được lấy từ phần không chịu lực của khớp gối.

    Sau đó, các lỗ được khoan vào chỏm con và các khuyết hổng được lấp đầy bằng xương và sụn tự thân.
    Ở đây, lỗ khoan trên chỏm con được lấp đầy bằng bốn mảnh xương và sụn.

    The radial head is seen opposite the capitellum.

    OC lesion of trochlea

    Những hình ảnh này của một bệnh nhân bị đau khuỷu tay phía trước.
    Không có chấn thương gần đây.

    Chẩn đoán lâm sàng là viêm gân cơ nhị đầu hoặc viêm túi hoạt dịch vùng nhị đầu.
    Các phát hiện trên hình ảnh MRI mặt phẳng vành khá bất thường.
    Nếu bạn thấy điều này ở chỏm con, bạn sẽ gọi đó là tổn thương sụn xương chỏm con.

    Đây được gọi là tổn thương sụn xương của ròng rọc.
    Lưu ý các thay đổi dạng nang nhỏ (mũi tên trắng).

    There is also a small cartilage defect.

    Tổn thương xương sụn của ròng rọc thường gặp ở bệnh nhân trẻ tuổi, có bộ xương chưa trưởng thành.
    Tổn thương xuất hiện ở ròng rọc bên như trong trường hợp này do tình trạng duỗi quá mức lặp đi lặp lại trong vùng có nguồn cung cấp máu kém.

    Nó cũng được thấy ở ròng rọc trong do lỏng lẻo và va chạm sau trong.

    Đây là một bệnh nhân khác.
    Lưu ý rằng đây là bệnh nhân trẻ tuổi, vì sụn tăng trưởng vẫn còn mở.
    Có một tổn thương xương sụn lớn ở ròng rọc xương đùi bên ngoài (mũi tên vàng).
    Lưu ý phù nề ở xương dưới sụn (mũi tên đỏ).
    Sụn khớp vẫn còn nguyên vẹn.

    Ulnar Collateral Ligament

    Dây chằng bên trụ (UCL) nằm ở phía trong và có ba thành phần.

    Bó trước là thành phần chắc chắn nhất và là cấu trúc hạn chế chính chống lại lực valgus.
    Trên MR, đây là cấu trúc quan trọng nhất.

    Bó sau bám tận theo hình nan quạt vào mỏm khuỷu.
    Nó tạo thành sàn của ống khuỷu.

    Bó ngang chạy từ mỏm khuỷu đến mỏm khuỷu, vì vậy nó không có nhiều chức năng.

    Dây chằng bên trụ (UCL) (màu vàng) xuất phát từ mặt dưới của mỏm trên lồi cầu trong, ngay bên dưới nguyên ủy của gân cơ gấp chung.
    Nó bám vào một mấu nhỏ ở phía trong của mỏm vẹt, được gọi là củ sublime.


    Luôn sử dụng hình ảnh mặt cắt ngang (axial) khi nghiên cứu các dây chằng, đặc biệt là dây chằng bên trụ (UCL).

    Scroll through the images.

    • Nếu bạn nhìn vào mỏm trên lồi cầu trong, bạn sẽ nhận thấy bó sau như một cấu trúc mỏng (mũi tên xanh).
    • Notice the ulnar nerve sitting in the cubital tunnel.
    • The posterior bundle forms the floor of the cubital tunnel.
    • A retinaculum covers the cubital tunnel.
    • Lưu ý rằng bó trước dày hơn nhiều (mũi tên trắng).
    • Bạn có thể thấy sự khác biệt giữa dây chằng trước và dây chằng sau mặc dù chúng tạo thành một dây chằng duy nhất.
    • Khi đi về phía xa, chúng ta sẽ thấy chúng hợp nhất lại để bám vào củ sublime.

    text

    text

    Ở đây chúng ta thấy hai hình ảnh mặt phẳng coronal liên tiếp của dây chằng bên trụ (UCL).
    Bình thường có thể thấy một số tín hiệu cao ở phần gần (mũi tên).

    Hãy chú ý cách nó bám chắc vào củ sublime và so sánh với các hình ảnh tiếp theo.


    text

    text

    UCL tear

    Hãy nhớ rằng dây chằng UCL phải bám rất chắc vào củ sublime.
    Trong trường hợp này thì không như vậy, vì vậy ngay cả trên hai hình ảnh này bạn có thể nhận thấy rằng có một rách hoàn toàn.

    Lưu ý rằng có một số phù tủy xương ở củ sublime.

    Cơ chế chấn thương dây chằng trụ bên (UCL) thường do lực kéo căng mãn tính, tạo ra các vết rách vi thể.
    Điều này thường gặp ở các vận động viên ném bóng và các vận động viên ném qua đầu khác.
    Rách dây chằng cũng có thể xảy ra khi ngã chống tay duỗi thẳng.

    Thường gặp nhất là rách hoàn toàn, nhưng đôi khi có thể rách một phần và rất khó nhìn thấy.
    Đó là lý do tại sao ở những vận động viên này, chụp MR-arthrogram thường được thực hiện.

    Study the images and then continue reading…

    Đây là vận động viên ném bóng chày 18 tuổi với triệu chứng đau mặt trong khuỷu tay.
    Có thể thấy một vết rách một phần tạo ra ‘dấu hiệu T’.

    Đầu tiên hãy nghiên cứu các hình ảnh T2-fatsat theo mặt phẳng vành và sau đó tiếp tục đọc…

    Lưu ý rằng bó trước còn nguyên vẹn và bám chắc vào củ sublime (mũi tên vàng).

    Trên hai hình ảnh tiếp theo, có một số phù nề mô mềm và tín hiệu bất thường rõ hơn ở phía sau (mũi tên đỏ). Vì vậy, chúng tôi nghi ngờ có bệnh lý của bó sau.

    Now you remember that the axial images can be helpful.

    So continue with the axial image.

    Trên hình ảnh mặt cắt ngang, chúng ta thấy rõ bó trước bình thường (mũi tên đỏ).
    Chỉ có một ít phù nề bên cạnh nó.
    Tuy nhiên bó sau không bình thường.
    Đây là rách một phần.

    Chúng tôi thỉnh thoảng gặp trường hợp này ở các vận động viên ném, khi bó trước còn nguyên vẹn và khuỷu tay của họ không mất vững.

    Họ đã bị rách bó sau theo một cách nào đó, gây ra đau đớn.
    Họ không cần phẫu thuật, nhưng điều này vẫn có thể khiến họ phải nghỉ thi đấu trong một thời gian khá dài.

    Bây giờ là trường hợp cuối cùng.
    Đây là nam giới 38 tuổi đã tập tạ được 20 năm.
    Bệnh nhân phàn nàn về tình trạng đau khuỷu tay và tiếng lục cục ngắt quãng.

    Lưu ý rằng dây chằng UCL bất thường với một số vùng có tín hiệu rất cao cho thấy rách một phần.

    Ở phía bên ngoài có phù nề dưới sụn và mất sụn khớp.
    Đây là thoái hóa khớp thứ phát do mất vững mạn tính gây ra bởi tình trạng rách một phần mạn tính.

    UCL repair

    Sửa chữa dây chằng bên trụ (UCL) được thực hiện bằng cách tạo các đường hầm ở mỏm trên lồi cầu trong.
    Các đường hầm chạy xuống đến củ sublime và một mảnh ghép được đặt vào giữa chúng.

    Hình chụp X-quang này của một cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp 26 tuổi đã được tái tạo dây chằng bên trụ (UCL).

    Notice the tunnels (arrow).

    This operation usually works very well.


    Nếu bạn cuộn qua các hình ảnh MR, bạn có thể thấy đường hầm ở mỏm trên lồi cầu trong.

    Giống như trong mảnh ghép ACL, chúng ta có thể thấy tín hiệu thấp của mảnh ghép kéo dài xuống phía dưới.

    Trên các hình ảnh mặt phẳng coronal, mặc dù có các nhiễu ảnh dạng gai nhọn, dây chằng bên trụ (UCL) trông gần như bình thường.

    Ở đây chúng ta thấy hình ảnh của một bệnh nhân sau phẫu thuật sửa chữa nhưng không đạt kết quả tốt.
    Có sự phân mảnh của xương và sự gián đoạn của mảnh ghép.

    Trên hình ảnh CT-scan, có thể thấy rõ hơn rằng có một đường gãy xương đi qua đường hầm.

    Lateral Collateral Ligament

    Đây là hình minh họa về phức hợp dây chằng bên ngoài.

    Nó bao gồm dây chằng bên quay, dây chằng bên trụ ngoài và dây chằng vòng.

    Khi bạn tìm kiếm dây chằng bên quay, trước tiên hãy cố gắng xác định gân duỗi chung, vì ngay bên dưới nó bạn sẽ tìm thấy dây chằng bên quay (mũi tên vàng).

    Khi bạn di chuyển về phía sau hơn, bạn sẽ thấy LUCL – dây chằng bên trụ ngoài, quét ra phía sau chỏm quay (mũi tên trắng).

    Dây chằng vòng thường khó phân biệt với dây chằng bên quay (RCL), nhưng đôi khi có thể được xác định trên phim chụp MR-arthrogram theo mặt phẳng đứng dọc.


    Scroll through these images.
    You can also enlarge them.

    Common Extensor Tendon

    Gân duỗi chung xuất phát từ mỏm trên lồi cầu ngoài.
    Trên ảnh T1W, gân phải có tín hiệu thấp (mũi tên vàng).

    Lateral Epicondylitis

    Viêm lồi cầu ngoài còn được gọi là khuỷu tay tennis, mặc dù trong 95% trường hợp được gặp ở những người không chơi tennis.

    Nguyên nhân là do căng thẳng mãn tính lên gân duỗi chung, dẫn đến rách một phần và thoái hóa gân.
    Thông thường, cơ duỗi cổ tay quay ngắn là thành phần bị ảnh hưởng.

    Trong các trường hợp nặng hơn, có sự rách của dây chằng bên ngoài (LCL), cho thấy đáp ứng kém với điều trị bảo tồn.

    Here a typical case.

    Có sự dày lên và tín hiệu nội tại bất thường trên cả hình ảnh T1 và T2W.

    Common Flexor Tendon

    Gân cơ gấp chung xuất phát từ mỏm trên lồi cầu trong.
    Trên hình ảnh T1W, gân này có tín hiệu thấp (mũi tên đỏ).

    Medial Epicondylitis

    Đây là tình trạng đối xứng với viêm lồi cầu ngoài và còn được gọi là khuỷu tay của người chơi golf.

    Đây là tổn thương gân cơ gấp chung.
    Trên hình ảnh mặt phẳng đứng dọc, có thể thấy rõ đây chỉ là rách một phần.
    Tuy nhiên tình trạng này có thể gây đau đớn đáng kể.

    Đây là hình ảnh T1W và T2W theo mặt phẳng coronal.
    Có rách một phần, nhưng tổn thương rất rộng.

    Little Leaguer’s Elbow

    Đầu tiên hãy xem các hình ảnh của một bệnh nhân bị đau ở phía trong, sau đó tiếp tục đọc…

    The findings are very subtle.

    Mỏm trên lồi cầu trong của cánh tay bị ảnh hưởng có phần loãng xương hơn.
    Trong những trường hợp này, chúng tôi thường yêu cầu chụp so sánh đối bên, vì sự khác biệt có thể rất tinh tế.

    Chẩn đoán là khuỷu tay của vận động viên bóng chày nhí (Little Leaguer’s elbow), xảy ra do chấn thương stress mãn tính.
    Vùng thấu quang trên phim X-quang, trông giống như một đĩa sụn tăng trưởng bị giãn rộng, là do sự phát triển xâm lấn của sụn vào vùng hành xương.

    Continue with the MR…

    Trên MRI, bất thường rất rõ ràng.
    Có phù tủy xương ở mỏm trên lồi cầu trong và cả ở xương lân cận (mũi tên vàng).
    Khuỷu tay của cầu thủ bóng chày nhỏ tuổi còn được gọi là viêm mỏm xương chẩm giữa và một số người gọi là ly giải sụn tiếp hợp.

    Nhân tiện, đây cũng có thể được gọi là gãy xương loại I theo Salter-Harris, nếu đây là một chấn thương cấp tính.

    Notice the normal ulnar collateral ligament (red arrow).

    Ở trẻ em, điểm yếu trong stress valgus không phải là dây chằng bên trụ mà là sụn tiếp hợp.

    Here another case.

    Bệnh nhân này lớn tuổi hơn một chút.
    Mỏm trên lồi cầu bên trái đã liền sụn, nhưng bên phải sụn tiếp hợp vẫn còn hở một chút.

    Continue with the MR…

    On the MR there is marrow edema.

    Lưu ý rằng cũng có một số phù nề tại vị trí bám của dây chằng bên trụ, vì vậy cũng có một số rách của dây chằng bên trụ (UCL).

    Here some more views of a different patient.

    Biceps tendon


    Cuộn qua các hình ảnh cắt ngang của gân cơ nhị đầu từ chỗ nối cơ-gân đến điểm bám tận trên lồi củ xương quay.

    Bệnh lý của gân cơ nhị đầu đoạn xa rất giống với bệnh lý của gân Achilles.
    Có thể gặp thoái hóa gân, rách một phần và rách hoàn toàn có hoặc không có sự co rút.

    Đây là hình ảnh siêu âm của một nam giới 73 tuổi, xuất hiện đau đột ngột và cảm giác rách khi nâng một hộp đồ.
    Có đau khi sấp và ngửa cẳng tay, ấn đau ở phía trước gần khớp khuỷu.
    Không có bầm máu hay khối u sờ thấy được.

    Trên hình ảnh mặt phẳng đứng dọc, gân bị dày lên, nhưng ở phần xa gân không còn hiển thị.
    Đã thực hiện kiểm tra MRI.

    Bây giờ hãy xem các hình ảnh MRI và cố gắng xác định xem gân có bị co rút không và liệu đó là rách một phần hay rách hoàn toàn…

    Trên hình ảnh mặt phẳng đứng dọc, có vẻ như gân bị đứt hoàn toàn, nhưng hãy tiếp tục xem các hình ảnh tiếp theo.

    Tear of distal biceps tendon

    Có một vết rách hoàn toàn, vì nếu chúng ta theo dõi gân đến tận củ quay, chúng ta có thể thấy rằng gân không bám vào đó (mũi tên xanh lá).
    Chỉ có dịch.

    Lý do tại sao gân không bị co rút là vì cân cơ nhị đầu rộng – còn được gọi là lacertus fibrosus – vẫn còn nguyên vẹn (mũi tên đỏ).
    Gân nhị đầu xa không chỉ bám vào lồi củ xương quay, mà còn thông qua lacertus fibrosus bám vào cân cơ của khối cơ gấp-sấp ở phía trong cẳng tay.

    Gân xa của cơ nhị đầu được khoanh tròn ở hình ảnh phía trên bên trái.

    Khi cân cơ cũng bị rách, thì gân sẽ co rút lại và bạn sẽ thấy một khối phồng rõ ràng ở cánh tay do cơ nhị đầu bị co lại.

    Rách gân cơ nhị đầu đoạn xa là một chấn thương không phổ biến.
    Chiếm khoảng 5% các chấn thương cơ nhị đầu.
    Đây là hậu quả của một lực duỗi đột ngột tác động lên cánh tay khi khuỷu tay đang gấp.

    Rách gân cơ nhị đầu đoạn gần phổ biến hơn.
    Thường thì đầu dài của cơ nhị đầu là phần bị đứt hoàn toàn.

    Đây là một ví dụ khác.
    Trên hình ảnh T1W có một số dày lên và tín hiệu trung gian.
    Đây có thể là thoái hóa gân, nhưng hãy luôn xem xét hình ảnh T2W để tìm kiếm vết rách.
    Trong trường hợp này có một vết rách một phần.

    Đây là một trường hợp khác.
    Trên các hình ảnh mặt phẳng đứng dọc, chúng tôi không chắc chắn về một vết rách có thể xảy ra.
    Có thể chỉ có một số thoái hóa gân hoặc viêm gân.

    Các hình ảnh trục cho thấy rách một phần độ cao (mũi tên đỏ).

    Luôn đảm bảo rằng mặt cắt ngang của bạn đi hết đến phần lồi củ xương, bởi vì nếu bạn dừng lại quá sớm, như trong trường hợp này, thì bạn sẽ chỉ thấy gân dày lên và một ít dịch, nhưng bạn không thể xác định được liệu có rách gân hay không.

    Đây là một trường hợp dễ nhận biết, vì gân bị co rút như có thể thấy rõ nhất trên hình ảnh mặt phẳng đứng dọc.
    Vì vậy, lacertus chắc chắn cũng đã bị rách.

    Radiobicipital bursitis

    Đây là các hình ảnh mặt phẳng đứng dọc và mặt phẳng ngang của một bệnh nhân được chuyển đến bác sĩ phẫu thuật ung thư chỉnh hình vì một khối u gần khuỷu tay.

    Có một vết rách một phần (mũi tên) của gân cơ nhị đầu, nhưng câu hỏi đặt ra là, cấu trúc mà chúng ta đang quan sát là gì và bên trong nó chứa gì.

    Cấu trúc này là túi hoạt dịch quay-nhị đầu, vì vậy đây là viêm túi hoạt dịch.
    Cần nhớ rằng gân cơ nhị đầu không có bao gân, do đó viêm bao gân không phải là khả năng có thể xảy ra.

    Chẩn đoán phân biệt cho các cấu trúc cường độ thấp trong túi hoạt dịch bao gồm: chondromatosis màng hoạt dịch, viêm màng hoạt dịch thể sắc tố dạng nốt (PVNS) và thể hạt gạo.

    Hóa ra đây là các thể gạo (rice bodies).
    Trong bất kỳ khớp hoặc túi thanh dịch nào có lớp màng hoạt dịch, các thể gạo này có thể được hình thành do viêm mạn tính kèm theo tăng sản màng hoạt dịch.
    Các nhung mao sẽ phát triển vượt quá nguồn cung cấp máu của chúng, trở nên hoại tử và rơi vào trong khớp hoặc túi thanh dịch.
    Chúng được gọi là thể gạo vì khi mở khớp ra, chúng trông giống như những hạt gạo.

    Here another case.

    Mũi tên trắng trong hình bên trái đang chỉ vào túi hoạt dịch.
    Lưu ý rằng cơ nhị đầu vẫn còn nguyên vẹn.
    Bên cạnh túi hoạt dịch quay-nhị đầu (mũi tên vàng), một túi hoạt dịch gian cốt (mũi tên đỏ) cũng đã được Abdalla Skaf mô tả trên tạp chí Radiology trong bài báo có tiêu đề: Viêm túi hoạt dịch nhị đầu-quay: Các dấu hiệu trên hình ảnh MRI.

    Đôi khi các khối này có thể giống u bướu hoặc có thể gây chèn ép dây thần kinh quay khi chúng trở nên rất lớn.

    Brachialis tendon

    Cơ cánh tay xuất phát từ nửa dưới mặt trước của xương cánh tay, gần chỗ bám tận của cơ delta.
    Nó nằm sâu hơn cơ nhị đầu cánh tay, và là cơ hiệp lực hỗ trợ cơ nhị đầu trong động tác gấp khuỷu tay.

    Gân dày bám vào mặt trước của mỏm vẹt xương trụ.

    Trên mặt phẳng đứng dọc, khi so sánh gân cơ cánh tay (mũi tên vàng) với gân cơ nhị đầu (mũi tên đỏ), hãy chú ý rằng cơ cánh tay hầu như toàn bộ là cơ.
    Nó chỉ có một đoạn gân rất ngắn ở phía xa.

    Chronic avulsion

    Hình ảnh này là của một phụ nữ 68 tuổi, bị chấn thương cánh tay khoảng 10 năm trước và hiện đang có biểu hiện đau ngày càng tăng ở cánh tay đó.

    First study the radiograph and then continue with the MR…

    Đầu tiên hãy nghiên cứu các hình ảnh T1W theo trục này và sau đó tiếp tục đọc…

    Hình ảnh X-quang
    Vỏ xương trụ không đều và ở một phụ nữ 68 tuổi, có lo ngại về bất thường xương tiềm ẩn như khối u xương chẳng hạn.

    MRI
    Gân cơ nhị đầu được chỉ bởi mũi tên đỏ và cho thấy tình trạng thoái hóa gân và rách một phần.
    Tuy nhiên khi chúng ta quan sát vị trí bám của gân cơ cánh tay vào mỏm vẹt, có hiện tượng rách gân kèm theo phù tủy xương nhiều như được thấy trên hình ảnh T2W xóa mỡ.

    Trên thực tế, đây là loại chấn thương giật gân mạn tính với rách một phần gân.
    Phản ứng xương có thể bắt chước một tổn thương xương xâm lấn.

    Đây là một trường hợp avulsion mãn tính khác, được chuyển đến bác sĩ phẫu thuật ung thư, vì có lo ngại về khả năng u xương cạnh vỏ xương (juxta-cortical osteosarcoma).

    The MR however revealed the following:

    1. Tổn thương nằm ở vị trí bám tận của gân cơ lưng rộng vào xương cánh tay (mũi tên vàng).
    2. Tủy xương có một chút tín hiệu cao, nhưng nhìn chung không có vẻ bất thường.
    3. There is also injury to the muscle aswell (red arrow).

    Chấn thương bong điểm bám mạn tính thường gặp ở thanh thiếu niên, nhưng cũng có thể gặp ở bệnh nhân lớn tuổi hơn.
    Vấn đề là chúng có thể bắt chước hình ảnh của nhiễm trùng hoặc khối u.

    Nerves


    Scroll through the images.

    Ulnar nerve

    Ở đây chúng ta thấy dây thần kinh trụ nằm trong ống trụ.
    Bó sau của dây chằng bên trụ tạo thành sàn của ống, trong khi mạc hãm tạo thành trần của ống.

    Đầu tiên hãy quan sát các hình ảnh.
    Bệnh nhân này bị bệnh lý thần kinh trụ.
    Nguyên nhân là gì?

    Hội chứng ống khuỷu là một bệnh lý thần kinh ngoại biên thường gặp.
    Bệnh phát sinh do chèn ép dây thần kinh trụ trong ống khuỷu, nơi dây thần kinh đi bên dưới dây chằng giữ gân ống khuỷu.

    Possible causes of cubital tunnel syndrome:

    1. Overuse
    2. Bán trật khớp dây thần kinh trụ do lỏng lẻo bẩm sinh của mô xơ
    3. Humeral fracture with loose bodies or callus formation
    4. Arthritic spur arising from the epicondyle or olecranon,
    5. Bất thường cơ (ví dụ: cơ khuỷu phụ) như trong trường hợp này.
    6. Khối mô mềm: u nang hạch, u mỡ, u xương sụn, viêm màng hoạt dịch thứ phát do viêm khớp dạng thấp, nhiễm trùng (ví dụ: lao) và xuất huyết.

    Đọc thêm về bệnh thần kinh ngoại biên trong bài báo Radiographics năm 2006 của Gustav Andreisek và cộng sự có tiêu đề:

    Bệnh lý thần kinh ngoại biên của dây thần kinh giữa, thần kinh quay và thần kinh trụ: Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ.

    Những gì còn thiếu trong hình ảnh này và nguyên nhân có thể là…

    The ulnar nerve is not where it is supposed to be.

    Lúc này dây thần kinh có thể bị trật khớp, nhưng trong trường hợp này dây thần kinh đã được chuyển vị bằng phẫu thuật.

    Chuyển vị thần kinh trụ được thực hiện ở những bệnh nhân có thần kinh trụ bị chèn ép vào mỏm trên lồi cầu trong.

    Vậy câu hỏi đặt ra là, khi họ đưa dây thần kinh trụ ra khỏi đường hầm, họ sẽ đặt nó ở đâu.
    Điều này có thể là dưới da, dưới cơ hoặc trong cơ.


    Vì vậy, khi chúng ta quay lại hình ảnh, bạn sẽ nhận thấy rằng có thể khó tìm thấy dây thần kinh.
    Bất kỳ cấu trúc dưới da nào trong số này đều có thể là dây thần kinh đã được chuyển vị.

    Một cách để thực hiện là đi theo các cấu trúc về phía xa cho đến khi tìm thấy dây thần kinh trụ ở phía xa tại vị trí bình thường của nó ở vùng cẳng tay gần được bao quanh bởi mô mỡ.

    Sau đó khi bạn theo dõi nó về phía gần, bạn sẽ nhận thấy rằng đây là một trường hợp chuyển vị dưới da.

    Trong trường hợp này, có viêm dây thần kinh.
    Có sự phì đại của dây thần kinh.
    Trên hình ảnh T2W có tín hiệu cao.

    Dấu hiệu khác là sự phì đại không đồng đều của các bó sợi thần kinh, được thấy trên hình ảnh mặt phẳng đứng dọc (mũi tên).

    Radial nerve

    Dây thần kinh quay có thể được xác định rõ nhất ở mức chỏm xương quay, nơi có thể quan sát thấy các nhánh nông và nhánh sâu trong ống xương quay (mũi tên).

    This is a very consistent place to find the radial nerve.

    Các nhánh quay sâu tạo thành thần kinh gian cốt sau xuyên qua cơ ngửa tại cung Frohse (mũi tên).

    Hãy quan sát các hình ảnh này và sau đó tiếp tục đọc.
    Những phát hiện là gì?

    The findings are:

    1. Trên hình ảnh T1W phía trên bên trái, có tín hiệu cao của mỡ trong các cơ duỗi kèm theo giảm thể tích cơ, điều này cho thấy teo cơ mỡ hóa.
    2. Hình ảnh cắt ngang ở góc trên bên phải cho thấy một khối u nằm gần hơn trong cơ ngửa.
    3. The sagittal images confirm that this is a lipoma.

    Vì vậy, tình trạng teo cơ là kết quả của sự chèn ép dây thần kinh gian cốt sau, là một nhánh của dây thần kinh quay.

    Median nerve

    Dây thần kinh giữa đi xuống phía sau Lacertus fibrosis, là cân cơ của cơ nhị đầu và xuyên qua cơ sấp tròn.

    Denervation

    Bệnh lý thần kinh có thể biểu hiện dưới dạng dày lên của dây thần kinh khi có viêm thần kinh hoặc do chèn ép dây thần kinh.

    Dấu hiệu thứ phát của bệnh lý thần kinh là mất phân bố thần kinh với phù nề và/hoặc teo cơ.

    Trong trường hợp này có teo mãn tính với tín hiệu cao trên T1, đây là tình trạng không hồi phục.

    Trong giai đoạn mất thần kinh chi phối sớm hoặc bán cấp, dấu hiệu nổi bật là phù nề với tín hiệu cao trên ảnh T2W và có thể hồi phục.

    Đây là bệnh nhân nam 48 tuổi mắc hội chứng Marfan, khởi phát đột ngột yếu tay phải.

    Đây là một ví dụ điển hình về mất phân bố thần kinh bán cấp.
    Lưu ý trên ảnh T1W không có teo cơ.
    Chỉ có phù nề trên ảnh T2W.
    Nguyên nhân là do bệnh lý thần kinh quay đoạn gần.

    Soft Tissue Masses

    Xung quanh khuỷu tay có thể xuất hiện tất cả các loại khối mô mềm, tương tự như những khối cũng được thấy ở các vị trí khác.

    Nếu bạn không thể đưa ra chẩn đoán cụ thể, hãy gọi khối u là không xác định và tiến hành sinh thiết, vì trong nhiều trường hợp bạn không thể xác định được chẩn đoán.

    Hình ảnh cho thấy một tổn thương hình bầu dục, trông giống như u bao thần kinh, vì nó có hình dạng thuôn dài và có vẻ như đi theo đường thần kinh, nhưng hóa ra lại là u sarcôm hoạt dịch ở một bé trai 11 tuổi.

    Chỉ đưa ra chẩn đoán khi bạn chắc chắn về một chẩn đoán cụ thể như viêm túi hoạt dịch, dị dạng động tĩnh mạch, u mỡ, viêm màng hoạt dịch tế bào khổng lồ sắc tố hoặc nang hay tụ máu.


    Cat scratch disease

    Cat scratch disease

    Đây là bệnh nhân nam 37 tuổi đến khoa cấp cứu với triệu chứng đau, sưng và một khối u ở khuỷu tay trái đã tăng dần trong 3 tuần qua.

    Trên MRI thấy một khối ngay phía trên mỏm trên lồi cầu trong, nơi các hạch bạch huyết trên ròng rọc tồn tại.
    Khối này rất không đồng nhất cũng như sự ngấm thuốc tương phản.

    Dựa trên các kết quả MRI, bạn vẫn phải gọi khối này là chưa xác định được bản chất.

    Chẩn đoán cuối cùng là bệnh mèo cào dựa trên hiệu giá kháng thể Bartonella henselae cao.

    Đây là hình ảnh của một nữ bệnh nhân 26 tuổi cũng đến khám với khối u ở vùng quanh ròng rọc.

    It looks quite homogeneous and cystic.

    Continue with the post-Gd image.

    Lưu ý sự tăng cường tín hiệu không đồng nhất trên MRI và mạch máu nội tại nổi bật trên hình ảnh siêu âm mặt phẳng đứng dọc.
    Vì vậy, đây không phải là khối u dạng nang.
    Một lần nữa, trường hợp này được chẩn đoán là không xác định.

    The final diagnosis at biopsy was Lymphoma.

    Dưới đây là một số hình ảnh bổ sung của khối u có hình thái tương tự u bao thần kinh, nhưng cuối cùng được xác định là sarcoma hoạt dịch.

  • Giải phẫu vai và biến thể trên MRI

    Giải Phẫu Vai và Các Biến Thể Trên MRI

    Robin Smithuis và Henk Jan van der Woude

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Alrijne, Leiderdorp và Bệnh viện Onze Lieve Vrouwe Gasthuis, Amsterdam, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Khớp ổ chảo – cánh tay (glenohumeral) có biên độ vận động lớn hơn bất kỳ khớp nào khác trong cơ thể.
    Kích thước nhỏ của hõm ổ chảo (glenoid fossa) cùng với sự lỏng lẻo tương đối của bao khớp khiến khớp này tương đối kém vững và dễ bị bán trật khớp và trật khớp.
    MRI là phương thức chẩn đoán hình ảnh tốt nhất để thăm khám bệnh nhân có đau vai và mất vững khớp vai.
    Trong Phần I – MRI Khớp Vai, chúng tôi sẽ tập trung vào giải phẫu bình thường và các biến thể giải phẫu có thể bắt chước hình ảnh bệnh lý.
    Trong Phần II, chúng tôi sẽ thảo luận về mất vững khớp vai.
    Trong Phần III, chúng tôi sẽ tập trung vào hội chứng chèn ép (impingement) và rách chóp xoay.

    Giới thiệu


    Lateral view of right shoulder

    Hình ảnh mặt bên của khớp vai phải

    Khớp ổ chảo – cánh tay (glenohumeral) được nâng đỡ bởi các cấu trúc sau:

    • Phía trên

      • Vòm cùng – quạ và dây chằng cùng – quạ
      • Đầu dài của gân cơ nhị đầu
      • Gân cơ trên gai
    • Phía trước

      • Sụn viền ổ chảo phía trước
      • Các dây chằng ổ chảo – cánh tay: SGHL, MGHL, IGHL (bó trước)
      • Gân cơ dưới vai
    • Phía sau

      • Sụn viền ổ chảo phía sau
      • Bó sau của dây chằng IGHL
      • Gân cơ dưới gai và cơ tròn bé

    Hình ảnh mặt trước

    Gân cơ dưới vai bám vào cả mấu động nhỏ lẫn mấu động lớn, đồng thời nâng đỡ đầu dài của gân cơ nhị đầu trong rãnh gian mấu động.

    Trật khớp của đầu dài gân cơ nhị đầu chắc chắn sẽ dẫn đến rách một phần gân cơ dưới vai.

    Chóp xoay được cấu thành từ các gân của cơ dưới vai, cơ trên gai, cơ dưới gai và cơ tròn bé.

    Hình ảnh mặt sau

    Hình ảnh thể hiện các cơ và gân của cơ trên gai, cơ dưới gai và cơ tròn bé. Tất cả đều bám vào mấu động lớn.

    Các cơ và gân chóp xoay có chức năng ổn định khớp vai trong quá trình vận động.

    Nếu không có chóp xoay, chỏm xương cánh tay sẽ trượt lên một phần ra khỏi hõm ổ chảo, làm giảm hiệu quả hoạt động của cơ delta.

    Rách lớn chóp xoay có thể khiến chỏm xương cánh tay di chuyển lên trên, dẫn đến hình ảnh chỏm xương cánh tay nằm cao bất thường.

    Giải phẫu bình thường


    Giải phẫu mặt cắt ngang và danh sách kiểm tra

    1. Tìm kiếm xương mỏm cùng vai phụ (os acromiale).
    2. Lưu ý rằng gân cơ trên gai song song với trục của cơ. Điều này không phải lúc nào cũng đúng.
    3. Lưu ý rằng gân cơ nhị đầu bám vào vị trí 12 giờ. Vị trí bám có thể thay đổi trong một phạm vi nhất định.
    4. Lưu ý sụn viền trên và chỗ bám của dây chằng ổ chảo-cánh tay trên.
      Ở mức này, tìm kiếm tổn thương SLAP và các biến thể như lỗ dưới sụn viền.
      Ở mức này, cũng tìm kiếm tổn thương Hill-Sachs ở bờ sau-ngoài của chỏm xương cánh tay.
    5. Các thớ sợi của gân cơ dưới vai giữ gân cơ nhị đầu trong rãnh của nó. Đánh giá sụn khớp.
    6. Ở mức này, đánh giá dây chằng ổ chảo-cánh tay giữa (MGHL) và sụn viền trước. Tìm kiếm các biến thể như phức hợp Buford. Đánh giá sụn khớp.
    7. Phần lõm ở bờ sau-ngoài của chỏm xương cánh tay không nên nhầm lẫn với tổn thương Hill-Sachs, vì đây là đường viền bình thường ở mức này.
      Tổn thương Hill-Sachs chỉ được thấy ở mức mỏm quạ.
      Ở phía trước, chúng ta đang ở vị trí 3-6 giờ. Đây là nơi thấy tổn thương Bankart và các biến thể của nó.
    8. Lưu ý các thớ sợi của dây chằng ổ chảo-cánh tay dưới (IGHL). Ở mức này cũng tìm kiếm tổn thương Bankart.

    Trục của gân cơ trên gai

    Gân cơ trên gai là cấu trúc quan trọng nhất của chóp xoay và là vị trí thường gặp của bệnh lý gân và rách gân.

    Rách gân cơ trên gai được quan sát rõ nhất trên các chuỗi chụp nghiêng vành và chuỗi ABER.

    Trong nhiều trường hợp, trục của gân cơ trên gai (đầu mũi tên) xoay ra trước nhiều hơn so với trục của cơ (mũi tên vàng).

    Khi lập kế hoạch chuỗi chụp nghiêng vành, tốt nhất nên tập trung vào trục của gân cơ trên gai.


    Giải phẫu mặt cắt vành và danh sách kiểm tra

    1. Lưu ý dây chằng quạ-đòn và đầu ngắn cơ nhị đầu.
    2. Lưu ý dây chằng quạ-mỏm cùng vai.
    3. Lưu ý thần kinh và mạch máu trên vai.
    4. Tìm kiếm hội chứng chèn ép cơ trên gai do gai xương khớp cùng-đòn hoặc dây chằng quạ-mỏm cùng vai dày lên.
    5. Đánh giá phức hợp sụn viền-gân cơ nhị đầu phần trên và tìm kiếm túi cùng dưới sụn viền hoặc rách SLAP.
    6. Tìm kiếm tràn dịch quá mức trong túi hoạt dịch dưới mỏm cùng vai và rách gân cơ trên gai.
    7. Tìm kiếm rách kiểu “rim-rent” của gân cơ trên gai tại chỗ bám của các thớ sợi trước.
    8. Đánh giá chỗ bám của dây chằng ổ chảo-cánh tay dưới (IGHL) vào xương cánh tay. Đánh giá phức hợp sụn viền-dây chằng phần dưới. Tìm kiếm tổn thương HAGL (bong điểm bám dây chằng ổ chảo-cánh tay tại xương cánh tay).
    9. Tìm kiếm rách gân cơ dưới gai.
    10. Lưu ý tổn thương Hill-Sachs nhỏ.


    Giải phẫu mặt cắt đứng dọc và danh sách kiểm tra

    1. Lưu ý các cơ chóp xoay và tìm kiếm dấu hiệu teo cơ.
    2. Lưu ý dây chằng ổ chảo-cánh tay giữa (MGHL), có đường đi chéo qua khớp, và đánh giá mối liên quan với gân cơ dưới vai.
    3. Đôi khi ở mức này có thể quan sát thấy rách sụn viền ở vị trí 3-6 giờ.
    4. Đánh giá điểm neo gân cơ nhị đầu.
    5. Lưu ý hình dạng của mỏm cùng vai.
    6. Tìm kiếm hội chứng chèn ép do khớp cùng-đòn. Lưu ý khoảng gian chóp xoay với dây chằng quạ-cánh tay.
    7. Tìm kiếm rách gân cơ trên gai.

    Tư thế ABER

    Rách sụn viền
    Tư thế dạng tay-xoay ngoài (ABER) rất hiệu quả trong việc đánh giá sụn viền trước-dưới ở vị trí 3-6 giờ,
    nơi hầu hết các trường hợp rách sụn viền xảy ra.
    Ở tư thế ABER, dây chằng ổ chảo-cánh tay dưới bị căng ra, tạo lực kéo lên sụn viền trước-dưới, cho phép thuốc tương phản từ nội khớp thấm vào giữa vị trí rách sụn viền và ổ chảo.

    Rách chóp xoay
    Tư thế ABER cũng rất hữu ích cho cả rách chóp xoay một phần lẫn toàn bộ chiều dày.
    Động tác dạng tay và xoay ngoài giải phóng sức căng trên chóp xoay so với mặt cắt vành tiêu chuẩn khi cánh tay ở tư thế khép.
    Kết quả là, các vết rách một phần chiều dày nhỏ ở mặt khớp sẽ không bị áp sát vào các thớ sợi còn nguyên vẹn liền kề của chóp xoay
    cũng như không bị che khuất bởi chỏm xương cánh tay, và thuốc tương phản từ nội khớp có thể giúp hiển thị rõ hơn vị trí rách (3).


    Tư thế ABER. Tổn thương Perthes (mũi tên)

    Tư thế ABER. Tổn thương Perthes (mũi tên)

    Hình ảnh ở tư thế ABER được thu nhận theo mặt phẳng ngang, lệch 45 độ so với mặt phẳng vành (hình minh họa).
    Ở tư thế đó, vùng 3-6 giờ được chụp theo mặt phẳng vuông góc.
    Lưu ý mũi tên đỏ chỉ một tổn thương Perthes nhỏ, không thấy được trên các mặt cắt ngang tiêu chuẩn.


    Os Acromiale

    Sự thất bại trong quá trình hợp nhất của một trong các trung tâm cốt hóa mỏm cùng vai sẽ dẫn đến hình thành os acromiale.
    Tình trạng này xuất hiện ở 5% dân số.
    Thông thường đây là phát hiện tình cờ và được xem là một biến thể giải phẫu bình thường.

    Os acromiale có thể gây hội chứng chèn ép (impingement) do nếu không ổn định, nó có thể bị kéo xuống dưới trong quá trình dạng tay bởi cơ delta, vốn bám vào vị trí này.

    Trên MRI, os acromiale được quan sát rõ nhất trên các lát cắt ngang (axial) phía trên.
    Os acromiale cần được đề cập trong báo cáo, vì ở những bệnh nhân được cân nhắc phẫu thuật giải áp dưới mỏm cùng vai,
    việc cắt bỏ phần mỏm cùng vai ở phía xa so với khớp sụn (synchondrosis) có thể làm mất ổn định thêm khớp sụn này và cho phép
    os acromiale di động nhiều hơn sau phẫu thuật, từ đó làm nặng thêm hội chứng chèn ép (4).

    Các hình ảnh MRI lát cắt ngang cho thấy os acromiale kèm theo các thay đổi thoái hóa, bao gồm nang dưới sụn và gai xương (mũi tên).

  • Hội chứng chèn ép đùi-ổ cối

    Femoroacetabular impingement syndrome

    Loes Schiphouwer¹, Adam Weir² and Robin Smithuis³

    ¹ Trung tâm Y tế Haaglanden The Hague, ² Trung tâm Y tế Erasmus Rotterdam và Phòng khám Y học thể thao và vận động Haarlem (SBK), và ³ Bệnh viện Alrijne tại Leiden, Hà Lan

    Hội chứng xung đột khớp háng (FAI) là một tình trạng đặc trưng bởi sự tiếp xúc bất thường giữa chỏm xương đùi và ổ cối, dẫn đến tổn thương sụn viền và sụn khớp, gây đau háng, đặc biệt ở những người trẻ tuổi có hoạt động thể chất cao.
    Hội chứng FAI có liên quan đến sự khởi phát sớm của thoái hóa khớp háng.

    Thuật ngữ hội chứng xung đột khớp háng chỏm đùi – ổ cối chỉ nên được áp dụng cho những bệnh nhân có rối loạn lâm sàng được xác định bởi bộ ba triệu chứng:

    1. Symptoms in young individuals
    2. Clinical signs at physical
      examination
    3. Characteristic radiological findings

    Bài
    viết này sẽ tập trung vào các phát hiện hình ảnh học liên quan đến hội chứng FAI.

    Introduction

    Khớp háng là khớp chỏm cầu.
    Chỏm xương đùi, được bao phủ bởi sụn khớp, đóng vai trò là “chỏm cầu” của khớp háng, trong khi ổ cối, được làm sâu hơn bởi viền sụn và sụn viền, đóng vai trò là “ổ khớp.”

    Với hình thái khớp háng bình thường, có sự tương hợp tốt trong tất cả
    các loại cử động của khớp háng. Nếu một khớp háng có hình thái bình thường được di chuyển đến
    biên độ vận động tối đa vượt quá giới hạn sinh lý thì ngay cả khớp háng bình thường cũng có thể bị xung đột.

    Sự tương hợp của khớp có thể bị ảnh hưởng bởi sự phát triển quá mức của xương ở phía xương đùi
    (hình thái Cam) hoặc bởi sự mở rộng của ổ cối ra ngoài chỏm xương đùi,
    dẫn đến tình trạng che phủ quá mức (hình thái Pincer).

    Video về Cam và Pincer
    Video này minh họa cách các hình thái Cam và Pincer có thể dẫn đến xung đột khớp háng.

    Trong video này, chỉ có các cấu trúc xương được mô tả. Tuy nhiên, điều quan trọng cần hiểu là hội chứng chèn ép cũng ảnh hưởng đến sụn viền và vành sụn khớp, có thể dẫn đến rách sụn viền và mất sụn khu trú.

    Điều quan trọng cần nhận thức là để chẩn đoán hội chứng xung đột khớp háng đùi-ổ cối (FAI), bệnh nhân phải có sự kết hợp của các yếu tố sau: các triệu chứng đau và đôi khi giảm biên độ vận động khớp háng, các dấu hiệu lâm sàng dương tính khi thăm khám khớp háng, và các hình ảnh học điển hình.

    Vì mỗi phát hiện đơn lẻ này đều không đặc hiệu, chẩn đoán hội chứng FAI
    đòi hỏi sự kết hợp của chúng. Điều quan trọng cần lưu ý là không tồn tại
    FAI không triệu chứng dựa trên hình ảnh học đơn thuần. Hình ảnh học mô tả hình thái của
    khớp háng

    Trong kiểu
    Cam, chỏm xương đùi có hình dạng bất thường, thường có hình bầu dục hơn là hình cầu, gây ra sự tiếp xúc bất thường với ổ cối.

    Điều này có thể dẫn đến tổn thương sụn và đau hông, đặc biệt trong
    các hoạt động liên quan đến xoay hoặc gấp khớp háng.
    Hình thái Cam đặc biệt phổ biến ở các vận động viên khỏe mạnh.
    Trong các nghiên cứu về cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp không có triệu chứng đau, hình thái Cam
    được quan sát thấy ở 60–80% người tham gia, so với 20–25% ở nhóm
    chứng.

    Symptoms

    Các triệu chứng của hội chứng FAI là đau hông hoặc đau bẹn phía trước ở mức độ vừa đến nặng.
    Bệnh nhân thường chỉ vị trí đau bằng cách tạo hình “dấu C” với bàn tay, do cơn đau nằm sâu bên trong khớp hông.
    Các triệu chứng trở nên nặng hơn khi chơi các môn thể thao đa hướng cũng như khi ngồi xổm, leo cầu thang và ngồi lâu.
    Việc đưa hông vào tư thế gấp sâu và xoay trong có thể làm tăng cơn đau.

    Clinical signs

    Các nghiệm pháp xung đột khớp háng thường tái hiện cơn đau điển hình của bệnh nhân.
    Thường có giới hạn tầm vận động khớp háng, đặc biệt là hạn chế xoay trong khi gấp, nhất là khi so sánh với bên đối diện.

    Nghiệm pháp FABER là gấp kết hợp với dạng và xoay ngoài –
    nghiệm pháp này đôi khi có thể tái hiện cơn đau.
    Nghiệm pháp được sử dụng phổ biến nhất là nghiệm pháp FADIR với gấp, khép và
    xoay trong.
    Các nghiệm pháp này có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu không cao, do đó các
    triệu chứng điển hình và hình ảnh học cũng cần phải có để chẩn đoán
    hội chứng FAI.

    AP and Dunn view

    Tư thế thẳng (AP)
    Tư thế chụp trước-sau (AP) của khung chậu đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các bất thường xương, đánh giá khe khớp, đo các góc quan trọng và xác định sự thẳng trục tổng thể của khung chậu, tất cả đều góp phần vào chẩn đoán hội chứng xung đột khớp háng-ổ cối.
    Tuy nhiên, tư thế này thường được sử dụng kết hợp với các tư thế chụp khác để đánh giá toàn diện hơn.

    Tư thế Dunn
    Tư thế Dunn là tư thế chụp nghiêng giúp hiển thị rõ vùng tiếp nối chỏm-cổ xương đùi theo góc độ thường không thấy được trên các tư thế tiêu chuẩn như tư thế thẳng trước-sau (AP) hoặc tư thế nghiêng. Tư thế này được thực hiện bằng cách cho bệnh nhân nằm ngửa với háng bên tổn thương gấp khoảng 45° và dạng 20° đến 30° ở tư thế xoay trung tính.
    Tư thế này cho phép quan sát rõ hơn mặt trên-trước của vùng tiếp nối chỏm-cổ xương đùi, vốn thường khó đánh giá trên các tư thế tiêu chuẩn và là vị trí hay gặp nhất của biến dạng dạng cam.

    Hình ảnh
    Vận động viên thể dục dụng cụ 20 tuổi với các triệu chứng ở hông.
    Trên phim chụp AP, vùng đầu-cổ xương đùi trông bình thường.
    Trên phim chụp tư thế Dunn, có hình thái Cam ở cả hai bên (mũi tên).

    WEA and CEA measurement (video)

    Video này hướng dẫn bạn cách đo các góc W-CEA và L-CEA. Nhấp vào video để xem ở chế độ phóng to.

    W-CEA
    W-CEA là góc giữa đường thẳng đứng đi qua tâm chỏm xương đùi và đường thẳng đến bờ ngoài của vòm ổ cối, đây là vùng chịu lực và đặc của phần trên ổ cối.
    Góc này đại diện cho độ che phủ phần trên-trước, có liên quan nhiều hơn đến FAI.

    L-CEA
    L-CEA là góc trung tâm-cạnh bên, được đo đến bờ ổ cối ngoài xa và đại diện cho độ che phủ trên-ngoài.
    Đôi khi các phép đo này trùng nhau.

    Cam morphology

    Hình thái Cam đề cập đến một phần lồi xương lành tính phát triển tại chỗ nối chỏm-cổ xương đùi của khớp háng, thường kết hợp với tình trạng mất hình cầu của chỏm xương đùi.
    Hình thái này phát triển trong giai đoạn thanh thiếu niên và không xuất hiện sau khi đầu xương đùi đã trưởng thành. Nó gây ra tình trạng chỏm và cổ xương đùi va chạm vào ổ cối, dẫn đến tổn thương sụn viền và sụn khớp, có thể gây đau khớp háng, đặc biệt khi thực hiện các hoạt động liên quan đến xoay hoặc gấp khớp háng.
    Có nhiều tuyên bố đồng thuận quốc tế khuyến nghị sử dụng thuật ngữ hình thái Cam. Các thuật ngữ như tổn thương Cam, lồi xương, hoặc biến dạng báng súng nên được tránh sử dụng, vì hình thái này cũng có thể xuất hiện ở nhiều vận động viên không có triệu chứng.
    Khi quan sát thấy một phần lồi xương hoặc độ lồi xương, như được minh họa trong hình, có thể gọi đây là hình thái Cam.

    Góc alpha
    Góc
    alpha được đo bằng cách vẽ một đường tròn qua chỏm xương đùi, một đường thẳng
    từ tâm cổ xương đùi đến tâm chỏm xương đùi, và sau đó
    một đường thẳng từ tâm chỏm xương đùi đến điểm giao nhau giữa chỗ nối chỏm-cổ xương đùi với đường tròn.
    Nếu góc từ 60 độ trở lên, có thể được phân loại là hình thái Cam.
    Phép đo này có thể được sử dụng trên cả hình ảnh thông thường lẫn
    hình ảnh cắt lớp – trong đó hình ảnh cắt lớp có độ nhạy cao hơn.
    Ngưỡng giá trị gần đây đã được tăng lên 60 độ để tăng tính đặc hiệu.

    Độ lệch
    Ngoài ra, độ lệch cũng có thể được đo trên hình ảnh cắt ngang (CT hoặc MRI).
    Để thực hiện điều này, một đường thẳng được vẽ ở phía trước của chỏm xương đùi, song song với cổ xương đùi.
    Nếu khoảng cách giữa đường thẳng này và phía trước của cổ xương đùi nhỏ hơn 8 mm, có thể được phân loại là hình thái Cam.


    Alpha angle measurement

    Hông bình thường có góc alpha nhỏ hơn 60º.
    Hông có hình thái Cam có góc alpha lớn hơn 60º.

    Tất nhiên, khi hình thái Cam rõ ràng như trong trường hợp này, các
    phép đo này là không cần thiết trong thực hành lâm sàng.

    Đây là một trường hợp hình thái Cam khá tinh tế ở một nam giới trẻ tuổi.
    Lưu ý rằng sụn tăng trưởng mào chậu chưa đóng lại (mũi tên).

    Images
    Two examples of Cam morphology.

    Pincer morphology

    Hình thái dạng kẹp được đặc trưng bởi sự định hướng bất thường hoặc hình dạng bất thường của ổ cối, chẳng hạn như ổ cối ngược chiều hoặc lồi ổ cối. Điều này dẫn đến sự che phủ quá mức hoặc bất thường của chỏm xương đùi, có thể gây ra xung đột.

    Nghịch xoay ổ cối
    Ổ cối bình thường có hướng xoay trước (hình minh họa), nghĩa là phần mở rộng hơn ở phía trước so với phía sau. Trên phim X-quang, thành trước chiếu về phía trong so với thành sau.
    Trong nghịch xoay ổ cối, ổ cối có hướng bất thường,
    dẫn đến che phủ quá mức chỏm xương đùi ở phía trước, có thể
    gây ra xung đột trong quá trình gấp và xoay trong. Trong những trường hợp này,
    bệnh nhân thường có biên độ xoay ngoài lớn khi
    thăm khám lâm sàng. Ngoài ra, gai ngồi sẽ chiếu về phía trong nhiều hơn (dấu hiệu gai ngồi).

    Góc nghiêng trước bình thường của ổ cối
    Đây là hình ảnh chi tiết của khớp háng trái bình thường trên phim X-quang khung chậu tư thế thẳng.
    Các số đo này luôn phải được đánh giá trên phim X-quang khung chậu chứ không phải phim chụp tập trung vào một khớp háng đơn lẻ.
    Do hướng nghiêng trước bình thường của ổ cối, bờ thành trước (đường đỏ) chiếu về phía trong so với thành sau (đường xanh lá), tức là không có hiện tượng giao thoa.

    Thành sau nhô ra ngoài đến trung tâm của chỏm xương đùi, tức là không có dấu hiệu thành sau.
    Gai ngồi (đường màu xanh) không nhô ra phía trong, tức là không có dấu hiệu gai ngồi.

    Nghịch chiều ổ cối
    Trên phim X-quang, các dấu hiệu của nghịch chiều ổ cối bao gồm:
    Dấu hiệu giao chéo – thành trước (đặc biệt là phần trên) chiếu ra ngoài so với thành sau.
    Dấu hiệu thành sau – thành sau chiếu vào trong so với tâm của chỏm xương đùi.
    Dấu hiệu gai ngồi – gai ngồi chiếu vào trong nhiều hơn bình thường.

    Nếu chỉ có dấu hiệu giao chéo dương tính, được gọi là kẹp cục bộ (anterosuperior).
    Khi
    cả dấu hiệu thành sau và dấu hiệu gai ngồi cũng dương tính,
    được phân loại là kẹp toàn bộ/lật ngược ổ cối.


    Đây là chi tiết của một X-quang Khung chậu tư thế thẳng (AP).
    Trước tiên hãy quan sát kỹ hình ảnh.

    Then scroll to the next image.

    Findings

    • Dấu hiệu giao chéo – phần trên của thành trước ổ cối (đường đỏ) kéo dài ra ngoài vượt qua thành sau ổ cối.
    • Dấu hiệu thành sau – thành sau nhô ra phía trong so với trung tâm của chỏm xương đùi.
    • Dấu hiệu gai ngồi – gai ngồi nhô vào trong nhiều hơn bình thường (đường màu xanh).

    Những
    phát hiện này phù hợp với hình thái kẹp toàn bộ do nghịch chuyển ổ cối.

    Notice that there is also some cam-morphology.

    Đây là một ví dụ khác về hình thái dạng kẹp trên hình ảnh được phóng to từ
    phim X-quang khung chậu tư thế AP.

    Có dấu hiệu giao chéo tinh tế.
    Ngoài ra còn có dấu hiệu thành sau và dấu hiệu gai ngồi.
    Lưu ý rằng còn có hình thái cam (đường vàng).


    Đây là một ví dụ khác về hình thái kiểu kẹp và kiểu cam trên phim X-quang khung chậu tư thế AP.
    Cuộn qua các hình ảnh.

    Acetabular protrusion

    Đường ilio-ischial
    Trong lồi cối, ổ cối quá sâu với sự dịch chuyển vào trong và che phủ toàn bộ quá mức chỏm xương đùi. Nếu bờ trong của chỏm xương đùi vượt ra ngoài đường ilio-ischial, tình trạng này được gọi là lồi cối. Đây là một phát hiện không phổ biến ở các vận động viên.

    Góc trung tâm-mép (CEA)
    Khi đo góc trung tâm-mép (CEA), cần sử dụng ranh giới ngoài của thành trước-trên/bờ ngoài của vòm ổ cối, còn được gọi là góc trung tâm-mép ngoài của Wiberg/W-CEA.

    Trên phim X-quang thẳng (AP), có thể xác định điểm này bằng cách sử dụng bờ ngoài của vùng xơ cứng dưới sụn của ổ cối phía trên.
    Khi sử dụng bờ ngoài cùng của ổ cối (thường phản ánh bờ của ổ cối trên-ngoài hơn là bờ trước-trên), hay còn gọi là L-CEA, mức độ che phủ có thể bị đánh giá quá cao.
    Nếu có tình trạng ngả sau của ổ cối (phần trên), W-CEA và L-CEA có thể bằng nhau.

    Nếu góc này bằng hoặc lớn hơn 40 độ, nó được phân loại là
    pincer toàn cầu với độ che phủ quá mức của chỏm xương đùi.

    Loạn sản ổ cối
    Loạn sản ổ cối hông không được nhận biết đôi khi bị nhầm lẫn về mặt lâm sàng với các triệu chứng liên quan đến FAI.
    Điều quan trọng là cũng cần báo cáo bất kỳ tình trạng thiếu che phủ hoặc loạn sản tiềm ẩn nào (tức là L-CEA < 20 độ).
    Nhiều chuyên gia cho rằng L-CEA từ 20 đến 25 độ là loạn sản giới hạn.

    Hình ảnh này của một nam giới 23 tuổi có biểu hiện các triệu chứng liên quan đến hông.

    Hình ảnh
    Đây là trường hợp lồi cối, trong đó chỏm xương đùi vừa vượt qua
    đường chậu ngồi.

    Hình ảnh
    Kiểu kẹp gọng kìm đơn thuần hai bên (chỉ có hình chụp tư thế AP) với góc W-CEA tăng và dấu hiệu gai ngồi ở bệnh nhân nữ 16 tuổi, đến khám vì các triệu chứng liên quan đến khớp háng.

    Treatment

    Điều trị bảo tồn
    Trong hầu hết các trường hợp, ban đầu người ta cố gắng cải thiện các triệu chứng thông qua điều trị bảo tồn. Phương pháp điều trị này bao gồm việc cung cấp thông tin về nguồn gốc của các triệu chứng, tư vấn tránh các tư thế quá mức. Thường thì việc ngồi ở tư thế gấp háng ít sâu hơn sẽ có ích. Các bài tập tăng cường cơ xung quanh khớp háng được áp dụng. Có thể chú ý đến vị trí của chân và khung chậu trong các động tác thể thao lặp đi lặp lại.

    Phẫu thuật nội soi khớp
    Nếu các biện pháp này không hiệu quả, có thể cân nhắc can thiệp phẫu thuật. Trước khi phẫu thuật, chụp cộng hưởng từ khớp thường được thực hiện để đánh giá tình trạng của sụn viền và loại trừ các bệnh lý có thể xảy ra khác, chẳng hạn như tổn thương sụn khớp nặng hoặc phù tủy xương vô căn. Các rách sụn viền nhỏ thường không được điều trị, trong khi các rách lớn không ổn định có thể được cắt bỏ hoặc sửa chữa. Trong quá trình phẫu thuật, phần xương thừa của hình thái cam ở phía xương đùi của viền ổ cối có thể được loại bỏ. Quá trình phục hồi chức năng sau phẫu thuật mất nhiều thời gian và thường phải mất ít nhất 9 tháng để trở lại thi đấu thể thao ở cấp độ cao.

    Có các thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy phẫu thuật hiệu quả hơn một chút so với liệu pháp bảo tồn. Nhiều vận động viên接受 điều trị vẫn còn một số triệu chứng về lâu dài và không phải tất cả đều có thể trở lại mức độ hoạt động trước đây của họ.

    Hình ảnh
    Ở một bệnh nhân có hình thái Cam, có thể thấy hiệu quả của việc tạo hình lại vùng tiếp nối đầu-cổ xương đùi (mũi tên).

    Examples of FAI

    Combination of Cam and Pincer morphology

    Những hình ảnh này là của một phụ nữ 28 tuổi tham gia tập CrossFit ở cấp độ chuyên nghiệp. Cô ấy đã có các triệu chứng ở vùng hông trái, cụ thể là ở phía trước, trong suốt một năm qua. Các triệu chứng trở nên nặng hơn khi thực hiện động tác squat và gấp hông.

    Khi thăm khám, ghi nhận giảm biên độ gấp háng (đau ở 120°) và hạn chế xoay (giới hạn ở 20° và đau).

    Đầu tiên hãy nghiên cứu hình ảnh X-quang.
    Sau đó tiếp tục với các hình ảnh chi tiết…

    Mặc dù các phát hiện còn tinh tế, nhưng có bằng chứng về hình thái Pincer, được chỉ ra bởi dấu hiệu giao thoa và dấu hiệu gai ngồi.
    Sự xoay ngược của ổ cối dẫn đến gai ngồi nổi bật hơn và khiến phần trên của thành trước ổ cối chồng lên thành sau trên hình ảnh.
    Ngoài ra, có dấu hiệu nhẹ của hình thái Cam.

    Continue with the MR-arthrogram…

    Sau đó, chụp cộng hưởng từ khớp được thực hiện, cho thấy rách sụn viền ở vùng trước trên.
    Ban đầu, bệnh nhân được điều trị bảo tồn bằng vật lý trị liệu, nhưng kết quả không đạt yêu cầu.

    Sau đó, một thủ thuật nội soi khớp đã được thực hiện, bao gồm việc tạo hình lại chỗ nối chỏm-cổ xương đùi (mũi tên), mang lại sự cải thiện đáng kể.

    Cam and osteoarthritis

    Đây là nam bệnh nhân 27 tuổi, xuất hiện đau sâu vùng bẹn phía trước cách đây bảy năm khi đang ngồi xổm.
    Kể từ đó, bệnh nhân đã ngừng chơi bóng đá nhưng vẫn tiếp tục bị đau.

    Hình ảnh
    Các phim X-quang cho thấy một gờ xương nhô ra ở đầu/cổ xương đùi phù hợp với hình thái cam.

    Continue with the MRI…


    Hình ảnh
    Hình ảnh bên trái là MRI xương/thời gian echo bằng không (ZTE).
    Đây là một kỹ thuật chụp MRI đặc biệt để khảo sát xương.
    Các hình ảnh trông khá giống với hình ảnh CT và có thể được thực hiện như một phần của chụp MRI-arthrogram khớp háng.
    Hình ảnh cho thấy một gai xương nhỏ (mũi tên đen).
    Cuộn qua các hình ảnh của MRI-arthrogram ở phía bên phải.
    Có một tổn thương sụn ở phía ổ cối (mũi tên vàng).

    Kết luận
    Do bệnh nhân này đã có thoái hóa khớp ở mức độ nhẹ, bệnh nhân không phải là đối tượng phù hợp để điều trị nội soi khớp.
    Bệnh nhân được điều trị bảo tồn bằng vật lý trị liệu, liệu pháp tập luyện, giáo dục sức khỏe và điều chỉnh hoạt động.

    Subspine impingement

    Hội chứng chèn ép gai chậu dưới là tình trạng gai chậu trước dưới, còn được gọi là gai chậu dưới, chèn ép vào cổ xương đùi hoặc chỏm xương đùi, đặc biệt trong các hoạt động đòi hỏi gấp háng sâu hoặc xoay háng, chẳng hạn như thể thao hoặc yoga.

    Những hình ảnh này của một phụ nữ 23 tuổi có tiền sử viêm khớp dạng thấp.
    Bệnh nhân đến khám với tình trạng đau tiến triển ở hông phải, đặc biệt trong các động tác gấp khi tập yoga.

    Hình ảnh
    Có một biến thể với vị trí thấp của gai chậu dưới (mũi tên).

    Đây là một ví dụ khác về chèn ép gai chậu dưới ở một cầu thủ bóng đá nghiệp dư 28 tuổi, người đã bị đau cấp tính ở vùng háng bụng bên phải khi chạy nước rút cách đây tám tháng.
    Kể từ đó, bệnh nhân có các triệu chứng háng tiến triển.
    Khám thực thể cho thấy giảm đáng kể động tác gấp, cũng như giảm xoay trong và xoay ngoài.

    Hình ảnh
    Có hình ảnh vôi hóa điển hình sau chấn thương gân cơ thẳng đùi tại vùng bám tận ở gai chậu trước dưới.
    Tình trạng này dẫn đến sự phát triển xương quá mức, gây chèn ép vùng đầu/cổ xương đùi.
    Phẫu thuật cắt bỏ phần xương hóa đã được thực hiện.

  • Answers to ankle and foot cases

    case 1 – distortion

    The findings are:

    • Khoảng cách lớn giữa nền xương bàn chân 1 và xương bàn chân 2 (mũi tên vàng).
    • Bán trật khớp giữa xương hộp và nền xương đốt bàn chân thứ 5 (mũi tên trắng).

    This means that there is a Lis Franck dislocation fracture.

    CT xác nhận nhiều gãy xương ở mức độ các khớp cổ bàn chân (khớp Lisfranc).

    Phức hợp dây chằng Lisfranc chạy giữa xương chêm trong (C1) và nền xương bàn chân thứ 2 và thứ 3.

    It consists of 3 components: 

    • a dorsal ligament
    • interosseous ligament
    • dây chằng gan chân, có các điểm bám vào nền xương bàn chân 2 và xương bàn chân 3.

    Nền của các xương đốt bàn chân tạo thành hình vòm giúp ổn định phần giữa bàn chân.
    Giống như các vòm cửa sổ cổ, cần có một viên đá khóa vòm ở đỉnh để khép kín vòm lại.
    Nếu viên đá này bị lấy đi, toàn bộ vòm sẽ sụp đổ.

    Ở bàn chân, nền xương đốt bàn chân thứ 2 là viên đá khóa của vòm bàn chân.
    Nếu nó mất kết nối với các xương đốt bàn chân khác, vòm bàn chân sẽ sụp đổ.
    Điều này cũng sẽ dẫn đến nhiều vết bong gân của các dây chằng nối các nền xương đốt bàn chân với nhau.

    Go back to the cases…

    case 2 – chronic pain post ankle sprains

    The findings are:

    • mỏm trước xương gót kéo dài khớp với xương thuyền.
    • the diagnosis is calcaneonavicular coalition.

    Xương gót và xương thuyền thường không khớp với nhau.
    Trong trường hợp liên kết xương, có thể thấy một cầu xương nối liền hai xương này.

    Compare to the normal situation.

    Với liên kết xơ hoặc sụn, các xương nằm gần nhau, cả hai đều có bề mặt không đều, và phần trước trong của xương gót bất thường bị giãn rộng hoặc phẳng dẹt.
    Trên phim X-quang tư thế bên, sự kéo dài của phần lưng trước xương gót có thể mô phỏng hình ảnh mũi con thú ăn kiến.
    Thiểu sản xương sên đôi khi được quan sát thấy trong liên kết gót-thuyền.

    Trên CT, chúng ta thấy sự hợp nhất giữa xương gót và xương thuyền.
    CT cho thấy xơ cứng xương và các nang dưới sụn như là dấu hiệu của ‘ma sát’ do khớp tân tạo.
    MRI cho thấy phù tủy xương như là dấu hiệu của sự hợp nhất có triệu chứng.

    Go back to the cases…

    case 3 – distortion

    The findings are:

    • Avulsion of the medial pole of navicular bone
    • Fracture on the lateral side of the calcaneus

    Điều này có nghĩa là có một tổn thương ở khớp Chopart, khớp này có hình chữ S và được tạo thành bởi khớp nối giữa xương gót với xương hộp và khớp nối giữa xương sên với xương thuyền.

    Các cử động ở khớp này rộng hơn so với các khớp cổ chân khác và bao gồm một loại chuyển động xoay với bàn chân được đưa về phía trong (lật trong) hoặc về phía ngoài (lật ngoài).

    Nghịch chuyển dẫn đến phân tâm khớp gót-hộp theo kiểu nén ép và khớp sên-thuyền thường kèm theo gấp lòng, điều này cũng có thể dẫn đến bong gân giật ở mặt lưng của khớp sên-thuyền.

    Lộn ngoài dẫn đến sự giãn cách ở phía khớp sên-thuyền với hoặc là đứt rời gân cơ chày sau hoặc là gãy xương do bong gân và sự nén ép ở phía khớp gót-hộp (gãy kiểu kẹp hạt).

    Điều này có nghĩa là khi bạn thấy một gãy xương, có thể còn có nhiều gãy xương khác kết hợp với đứt dây chằng và các mảnh avulsion nhỏ.

    Trong trường hợp này, có sự lật ngoài kèm giãn cách ở phía khớp sên-thuyền với avulsion cực trong của xương thuyền (mũi tên vàng) và lực nén ở phía khớp gót-hộp dẫn đến gãy xương kiểu kẹp hạt (mũi tên trắng).

    Go back to the cases…

    case 4 – distortion

    Đây là một trường hợp khác của gãy xương kiểu hạt dẻ do lực nén ở phía bên ngoài của cổ chân do sự lật ngoài ở khớp Chopart.

    Sự lật ngoài cũng có thể dẫn đến tổn thương giãn cách ở phía xương sên-thuyền với hoặc là đứt rời gân cơ chày sau hoặc là bong điểm bám của cực trong xương thuyền, nơi gân bám vào, như đã thấy trong trường hợp 2.

    Go back to the cases…

    case 5 – chronic pain

    The findings are:

    • narrowing of the posterior subtalar joint with sclerosis
    • C sign

    Khớp dưới sên bao gồm các diện khớp trước, giữa và sau. Hợp khối xương sên-gót thường gặp nhất ở diện khớp giữa tại mức độ của mỏm chống sên.
    Hợp khối xương sên-gót có thể khó quan sát trên các tư thế chụp X-quang tiêu chuẩn của bàn chân do hướng phức tạp của khớp dưới sên.

    Một số dấu hiệu X-quang thứ phát của liên hợp xương sên-gót đã được mô tả, bao gồm:

    • Talar beak
    • Narrowing of the posterior subtalar joint
    • Rounding of the lateral talar process
    • Thiếu hình ảnh mô tả các diện khớp giữa trên phim X-quang thẳng.
    • C-sign

    Mỏ xương sên xảy ra do sự suy giảm chuyển động của khớp dưới sên, dẫn đến xương thuyền trượt lên trên xương sên. Sự nâng màng xương xảy ra tại điểm bám của dây chằng sên-thuyền, và cuối cùng, một chu kỳ sửa chữa xương dẫn đến sự hình thành mỏ xương sên.

    Dấu hiệu “C” là một đường hình chữ C trên phim chụp nghiêng, phác thảo vòm xương sên phía trong và xương chêm sau dưới. Dấu hiệu C xuất hiện do sự cầu nối xương giữa vòm xương sên và xương chêm, cũng như đường viền dưới nổi bật của xương chêm.
    Khi chùm tia X chiếu tiếp tuyến với đường viền sau dưới của xương chêm bất thường trên một khoảng cách dài, một hình chữ “C” liên tục được tạo thành. Dấu hiệu C có thể được quan sát thấy trong cả các liên kết xương và không xương.

    Hình ảnh
    Trên hình ảnh T1W, có sự hợp nhất xương và cứng khớp của xương sên với xương gót.

    Go back to the cases…

    Ankle

    case 1 – distortion

    The findings are:

    • gãy xương thẳng đứng của mắt cá trong (mũi tên vàng).
      Đây không phải là gãy xương do giật hay kéo, mà là gãy xương do đẩy.
    • Có thể có một avulsion của mắt cá ngoài (mũi tên trắng), nhưng điều đó chưa chắc chắn.
      Tuy nhiên điều này không quan trọng vì chúng tôi sẽ trình bày ngay sau đây.

    Gãy dọc mắt cá trong là gãy do lực đẩy.

    Theo Lauge-Hansen, gãy xương xảy ra do lực khép trên bàn chân sấp.
    Phía bên ngoài chịu lực căng cực độ với sự kéo giãn trên dây chằng bên ngoài.

    Trong giai đoạn 1, có thể xảy ra đứt dây chằng bên ngoài hoặc gãy xương bong điểm bám (còn được gọi là Weber A).

    Trong giai đoạn 2 luôn có gãy xương thẳng đứng của mắt cá trong và phải có hoặc là bong điểm bám của mắt cá ngoài hoặc đứt dây chằng bên vì các trình tự này luôn theo thứ tự này với giai đoạn 1 trước rồi đến giai đoạn 2.

    Điều này có nghĩa là, dù chúng ta có thấy gãy xương ở phía bên ngoài hay không thì cũng không quan trọng.
    Chắc chắn phải có tổn thương ở cả phía trong lẫn phía ngoài và chúng ta hiện biết rằng cổ chân không ổn định, vì vòng ổn định đã bị phá vỡ ở hai vị trí.

    Here another unstable ankle fracture.

    Theo Lauge-Hansen đây là giai đoạn SA 2.
    Theo Weber đây là Weber A với gãy xương thêm ở mắt cá trong.

    Go back to the cases…

    case 2 – distortion

    Trong trường hợp này, phát hiện rõ ràng nhất là gãy mắt cá sau.
    Điều này cần thúc đẩy bạn tìm kiếm các phát hiện khác, vì gãy mắt cá sau đơn độc là cực kỳ hiếm gặp và có thể không tồn tại.

    You need to look at the algoritm for ankle fractures..

    Algoritm for ankle fractures

    Trong thuật toán, gãy mắt cá sau là một trong hai trường hợp:

    • Giai đoạn 3 của gãy xương Weber B
      (còn gọi là Ngửa-Xoay ngoài theo phân loại Lauge-Hansen) hoặc
    • Giai đoạn 4 của gãy xương Weber C
      (còn gọi là Sấp – Xoay ngoài theo phân loại Lauge-Hansen)

    Điều này có nghĩa là chúng ta phải tìm kiếm các dấu hiệu khác.
    Vì không có dấu hiệu của gãy xương Weber B, đây phải là gãy xương Weber C.

    Có những dấu hiệu nào khác ủng hộ chẩn đoán gãy xương Weber C không?

    Có.
    Bây giờ chúng ta nhận thấy sưng nề mô mềm ở phía trong và một mảnh avulsion nhỏ, đây là giai đoạn 1 của tổn thương này.

    Chúng tôi hiện có thể dự đoán gãy xương mác cao, điều này đã được xác nhận bằng chụp X-quang toàn bộ cẳng chân.

    Go back to the cases…

    case 3 – distortion

    Đây là một trường hợp khác của gãy xương mắt cá sau.

    Again we have to look at the algoritm for ankle fractures…

    Gãy mắt cá sau được thấy trong gãy xương Weber B hoặc Weber C.

    Trong trường hợp này, chúng ta đã thấy một gãy xương chéo của mắt cá ngoài, điều này có nghĩa là chúng ta đang đối mặt với gãy xương Weber B.
    Bây giờ chúng ta chỉ cần xác định đây là giai đoạn nào.
    Giai đoạn 2 phổ biến nhất là ổn định, nhưng giai đoạn 3 và 4 thì không ổn định.

    Trong trường hợp này, chúng ta đã ở giai đoạn 3 và muốn tìm kiếm các dấu hiệu của giai đoạn 4.
    Một khối sưng mô mềm đau khi thăm khám đã có thể chỉ ra giai đoạn 4, nhưng trong trường hợp này còn có thêm.

    Có thể bạn muốn quay lại xem phim X-quang trước khi tiếp tục đọc…

    In this case we are looking for a stage 4.

    Bây giờ bạn chú ý đến sưng phần mềm ở phía trong (mũi tên).
    Tuy nhiên, phát hiện quan trọng nhất là sự không đều và tính thấu quang của phần trên mắt cá trong.
    Nếu dùng trí tưởng tượng, bạn có thể xác định một đường gãy ở đây, điều mà bạn sẽ không nhận ra nếu không sử dụng thuật toán.

    Go back to the cases…

    case 4 – distortion

    Điều duy nhất chúng tôi nhận thấy là sưng nề mô mềm, đặc biệt ở phía trong.

    Continue with the ankle injury algoritm…

    Tổn thương các bó dây chằng bên trong có thể gặp trong gãy xương Weber B giai đoạn 4.
    Tuy nhiên không có dấu hiệu của gãy xương Weber B.

    Khả năng khác là có gãy xương Weber C kèm gãy xương mác cao, không hiển thị trên phim X-quang cổ chân.
    Đứt dây chằng delta là giai đoạn 1 và tổn thương có thể dừng lại ở đó hoặc tiến triển đến giai đoạn 2, 3 hoặc thậm chí giai đoạn 4.
    Chúng ta cần chụp thêm X-quang toàn bộ cẳng chân để xác định chúng ta đang đối mặt với giai đoạn nào.

    Continue with the x-rays of the lower leg…

    Có thể thấy gãy xương mác cao (Maisonneuve).
    Thông thường bệnh nhân chỉ cảm thấy đau ở vùng cổ chân do đứt dây chằng rất đau và không chú ý đến gãy xương mác.

    Go back to the cases…

    case 5 – distortion

    Có thể thấy một đường gãy nhỏ trên hình chiếu Morrison và hình chiếu bên.
    Đây là gãy xương tertius lớn.
    Không có dấu hiệu gãy xương mác kiểu Weber B.

    Sự kết hợp của gãy xương này và tình trạng sưng nề phần mềm ở phía trong cho thấy chúng ta đang đối mặt với tổn thương loại Weber C (hoặc tổn thương xoay ngoài do sấp theo phân loại Lauge-Hansen).

    Tổn thương dải bên trong ở giai đoạn 1 và gãy xương tertius ở giai đoạn 4.
    Điều này có nghĩa là đây là một gãy xương không ổn định.
    Phải có gãy xương mác cao.

    Go back to the cases…

  • Chấn thương gân kheo

    Chấn thương gân kheo

    Anne van der Made, Frank Smithuis, Gino Kerkhoffs và Mario Maas

    Khoa Chỉnh hình và Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam

    Ngày đăng

    Chẩn đoán chấn thương gân kheo chủ yếu dựa vào lâm sàng và tương đối rõ ràng.
    Vai trò của MRI không phải là xác định có hay không có chấn thương, mà là xác định tổn thương là rách một phần hay rách toàn bộ chiều dày.

    Rách toàn bộ chiều dày thường là chấn thương ở phần gân tự do hoặc tại điểm bám của gân vào ụ ngồi.
    Đối với các chấn thương này, vấn đề đặt ra là liệu có cần phẫu thuật phục hồi hay không.

    Rách một phần chiều dày thường xảy ra tại vùng nối cơ-gân hoặc nối cơ-mạc cơ.
    Các chấn thương này thường không cần phẫu thuật. Mục tiêu của chẩn đoán hình ảnh là xác định tiên lượng và hướng dẫn quá trình phục hồi chức năng.

    Giới thiệu

    Giải phẫu

    Các cơ gân kheo là nhóm cơ thuộc khoang sau của đùi, bao gồm cơ nhị đầu đùi, cơ bán gân và cơ bán màng.
    Các cơ này được chi phối bởi dây thần kinh tọa; khi co lại sẽ thực hiện động tác duỗi háng và gấp gối.
    Gân chung được tạo thành bởi đầu dài của cơ nhị đầu đùi ở phía ngoài và gân cơ bán gân ở phía trong.

    Cơ nhị đầu đùi
    Cơ nhị đầu đùi có hai đầu.
    Đầu dài xuất phát từ ụ ngồi, trong khi đầu ngắn xuất phát từ đường ráp (linea aspera) ở mặt sau xương đùi.
    Gân chung của hai đầu có thể sờ thấy ở phía ngoài vùng khoeo và bám tận vào chỏm xương mác.

    Cơ bán gân
    Cơ bán gân là cơ có phần gân chiếm ưu thế, nằm ở phía trong so với cơ nhị đầu đùi và che phủ phần lớn cơ bán màng.

    Cơ bán màng
    Cơ bán màng có hình dẹt và rộng, nằm bên dưới cơ bán gân.

    Hình ảnh giải phẫu được minh họa trên ảnh MRI mặt phẳng coronal.

    Điểm bám của cơ bán gân (2) vào nguyên ủy gân kheo có một phần là mô cơ.

    Gân tự do bám vào ụ ngồi và không có sợi cơ nào bám vào nó.

    Ranh giới giữa gân và các sợi cơ được gọi là chỗ nối cơ-gân (musculotendinous junction).

    Phần gân có các sợi cơ bám vào được gọi là gân trong cơ (intramuscular tendon).

    Bản thân cơ được bao bọc bởi mạc cơ (fascia).

    Các cơ gân kheo bám tận vào vùng trên của ụ ngồi.

    Trên hình ảnh nhìn từ phía sau, có thể thấy gân cơ bán màng bám vào phía ngoài trong khi thân cơ lại nằm ở phía trong.
    Gân chung của cơ nhị đầu đùi và cơ bán gân bám vào diện trong (medial facet).

    Các hương vị kem (xem thêm dấu hiệu kem rơi trong tổn thương toàn bộ chiều dày) có thể dùng làm gợi nhớ để xác định gân nào bị tổn thương:
    CaramelGân Chung – phía trong (Conjoint medial)
    Stracciatella – Cơ Bán Màng (Semimembranosus) – phía ngoài (lateral)

    Mẫu bệnh phẩm giải phẫu bệnh

    Đây là hình ảnh nhìn từ phía sau của mẫu bệnh phẩm phức hợp gân kheo gần bên phải sau khi đã lấy bỏ cơ mông.

    Cơ nhị đầu đùi và cơ bán gân bám vào ụ ngồi thông qua gân chung, gân này có kết nối nông với dây chằng cùng-ụ ngồi (sacrotuberous ligament – STL). Khi các gân bị bật khỏi ụ ngồi nhưng kết nối với dây chằng này vẫn còn nguyên vẹn, dây chằng cùng-ụ ngồi có thể đóng vai trò như một “dây cứu sinh” giúp ngăn gân bị co rút.

    Lưu ý rằng cơ bán gân cũng có các sợi cơ bám trực tiếp vào ụ ngồi.

    Gân cơ bán màng chạy bên dưới gân chung và bám vào phía ngoài hơn trên ụ ngồi.

    Trong hình này, cơ bán gân và cơ nhị đầu đùi được kéo sang một bên để quan sát rõ hơn cơ và gân bán màng.
    Lưu ý rằng gân cơ bán màng bám vào phía ngoài so với gân chung.

    Dây thần kinh tọa nằm rất gần với điểm bám gân kheo gần, cách khoảng một centimet về phía ngoài.

    Trên ảnh MRI mặt phẳng axial này, hãy chú ý kết nối dạng cân (aponeurotic) giữa dây chằng cùng-ụ ngồi và phần nông của gân chung.

    Trong một số trường hợp, các gân có thể bị bật khỏi ụ ngồi trong khi kết nối này vẫn còn nguyên vẹn. Trong những trường hợp như vậy, sẽ không có hiện tượng co rút gân và thường không cần can thiệp phẫu thuật.

    Phân loại chấn thương cơ theo Điền kinh Anh quốc (BAMIC)

    BAMIC là hệ thống phân loại được sử dụng phổ biến nhất cho các chấn thương gân kheo.

    Độ 0-3 là các tổn thương không toàn bộ chiều dày (partial thickness).
    Hậu tố bổ sung ‘a’, ‘b’ hoặc ‘c’ chỉ ra vị trí của tổn thương không toàn bộ chiều dày:

    • a – tổn thương cơ-mạc (myofascial)
    • b – tổn thương chỗ nối cơ-gân (musculo-tendinous)
    • c – tổn thương trong gân (intratendinous)

    Độ 4 là rách toàn bộ chiều dày (full thickness) có hoặc không có co rút gân.

    Tổn thương không toàn bộ chiều dày (độ 0-3)

    Tổn thương không toàn bộ chiều dày (độ 0-3) thường liên quan đến chỗ nối cơ-gân, có hoặc không có hiện tượng gợn sóng của gân trong cơ.
    Đôi khi vùng cơ bám vào mạc cơ cũng bị tổn thương. Đây được gọi là tổn thương cơ-mạc (myofascial) hay tổn thương ngoại mạc cơ (epimysial).

    Tổn thương toàn bộ chiều dày (độ 4)

    Ở bệnh nhân trẻ, đây có thể là bong sụn tiếp hợp (apophysiolysis) của ụ ngồi.

    Ở người trưởng thành, tổn thương có thể là bật gân (tendon avulsion) hoặc rách gân tự do.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định điều trị và là một phần của kế hoạch tiền phẫu bao gồm:

    • Gân nào bị tổn thương
    • Chiều dài co rút của gân bị bật
    • Teo cơ hoặc thâm nhiễm mỡ
    • Hình thái dây thần kinh tọa
    • Tiếp xúc của dây thần kinh tọa với mô sẹo quanh thần kinh

    Báo cáo MRI

    Có nhiều quan tâm và tranh luận về việc các phát hiện trên MRI có thể hỗ trợ như thế nào trong việc tiên lượng bệnh, theo dõi tiến trình phục hồi chức năng và đưa ra quyết định cho phép trở lại thi đấu. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các tổn thương không toàn bộ chiều dày.

    Do đó, tất cả các điểm trong báo cáo MRI ở bên trái đều được ghi nhận (với sự chú ý đặc biệt đến chiều dài phù nề và mức độ biến dạng), mặc dù vẫn chưa rõ phát hiện nào là tốt nhất trong việc tiên lượng bệnh.

    Tổn thương bán phần

    Đại đa số các tổn thương bán phần gân cơ hamstring xảy ra tại vùng nối cơ-gân (MTJ), nơi lực được truyền từ các sợi cơ sang các sợi của gân trong cơ. Các tổn thương này thường gặp khi vận động viên với tay ra sau đùi trong lúc chạy nước rút.

    Các tổn thương này có thể xảy ra kèm hoặc không kèm theo tổn thương gân trong cơ đồng thời.

    Tổn thương gân cơ hamstring bán phần được điều trị bảo tồn bằng chương trình phục hồi chức năng theo từng giai đoạn.

    Chiều dài vùng phù nề

    Sự hiện diện của phù nề có thể được sử dụng để xác định vị trí tổn thương.
    Phù nề thường biểu hiện dưới dạng tăng tín hiệu hình lông vũ bao quanh gân trong cơ và các bó cơ.

    Tổng chiều dài vùng phù nề được ghi nhận (đường chấm trắng). Hãy quan sát kỹ hơn phần gân (đường chấm vàng) và tiếp tục đọc.

    Chiều dài đoạn gân biến dạng

    Khi gân có hình thái bình thường, khả năng căng giãn ở mức độ thấp.
    Gân dày lên, gân có dạng gợn sóng, tăng tín hiệu trong gân đều có thể là dấu hiệu của căng giãn mức độ cao hơn.

    Trường hợp 1: gân bình thường.
    Trường hợp 2: gân hơi dày và có dạng gợn sóng nhẹ trên một đoạn ngắn.
    Trường hợp 3: gân dày rõ rệt và có dạng gợn sóng rõ.

    Tất cả các dấu hiệu này cần được mô tả trong báo cáo.
    Tổng chiều dài đoạn gân biến dạng được ghi nhận.

    Mặt phẳng coronal so với mặt phẳng axial

    Chỉ dựa vào các hình ảnh coronal đơn thuần, đôi khi khó có thể phân loại chính xác mức độ biến dạng. Cần sử dụng các hình ảnh axial để quan sát kỹ hơn.

    Trên các hình ảnh axial này, có thể thấy tăng tín hiệu và dày lên của gân cơ nhị đầu đùi bên trái (vòng tròn chấm vàng) khi so sánh với bên không bị tổn thương (vòng tròn chấm trắng).

    DOMS
    Ở bệnh nhân này, phù nề cơ kín đáo tại cơ bán gân được ghi nhận, được chẩn đoán là DOMS – đau cơ khởi phát muộn (mũi tên).

    Cả chiều dài vùng phù nề và chiều dài đoạn gân biến dạng đều được đo và ghi nhận trong báo cáo.

    Trong trường hợp này, tổn thương gân cơ nhị đầu đùi được phân loại là tổn thương bán phần độ 3, do chiều dài vùng phù nề > 15cm (đường chấm trắng) và chiều dài đoạn gân biến dạng > 5cm (đường chấm vàng).

    Thêm hai trường hợp để minh họa cách phân loại này.

    A Phù nề cơ 5-10cm (đường chấm trắng) tại vùng MTJ không kèm biến dạng cấu trúc gân, được phân loại là BAMIC 2b.

    B Phù nề cơ >15cm (đường chấm trắng), tại vùng MTJ / gân trong cơ, biến dạng gân > 5cm (đường chấm vàng). Gân có hình ảnh gián đoạn với mất tín hiệu thấp trong lòng gân kèm theo dạng gợn sóng, cho thấy mất sức căng khu trú. BAMIC 3b/c.

    Video về tổn thương gân cơ hamstring bán phần. Lưu ý chiều dài vùng phù nề cơ và chiều dài đoạn gân biến dạng. Do cả hai đặc điểm này đều trải dài trên một khoảng cách đáng kể, đây là các yếu tố tiên lượng xấu.


    Tại đây bạn có thể cuộn qua các hình ảnh axial. Có thể phóng to hình ảnh bằng cách nhấp vào chúng.

    Đây là tổn thương bán phần, bắt đầu từ gân chung ở phía gần, bao gồm cả vùng MTJ và gân trong cơ ở phía xa hơn. Chiều dài vùng phù nề và mức độ biến dạng gân đều ở mức độ cao. Trường hợp này được phân loại là tổn thương BAMIC 3b/c.

    Tổn thương toàn bộ chiều dày

    Rách gân tự do

    Trong các tổn thương toàn bộ chiều dày, gân tự do bị rách và mất liên tục với củ ngồi.

    Do mất lực căng, gân và cơ sẽ co rút khỏi củ ngồi và xuất hiện một khoảng trống.

    Mức độ co rút gân được xem là yếu tố quan trọng trong việc quyết định phương pháp điều trị.
    Một số chuyên gia khuyến cáo phẫu thuật sửa chữa khi mức độ co rút lớn hơn 2 cm.

    Đo trực tiếp mức độ co rút

    Phương pháp đáng tin cậy nhất để định lượng mức độ co rút là ‘đo trực tiếp’ trên chuỗi xung nhạy dịch theo mặt phẳng coronal.

    Đầu tiên, xác định điểm đại diện cho trung tâm (tam giác trắng) của nguyên ủy phức hợp gân cơ hamstring gần ở vùng trên (đường chấm) của củ ngồi (IT).
    Từ điểm này, đo khoảng cách trực tiếp (tức là ngắn nhất) (mũi tên trắng) đến phần gần nhất của đầu gân giảm tín hiệu (tam giác đen) (tính bằng cm).

    Lưu ý rằng việc xác định các mốc giải phẫu được thực hiện trên các lát cắt khác nhau trong cùng một chuỗi xung MRI.

    Dấu hiệu kem rơi

    Tốt nhất nên xác định gân nào bị rách trên các ảnh axial.

    Củ ngồi có thể được hình dung như một chiếc ốc quế kem, với gân cơ bán màng (anterolateral – trước ngoài) và gân chung (posteromedial – sau trong) như hai viên kem với hương vị StracciatelLa CaraMel.

    Hình ảnh cho thấy bong gân cơ bán màng.

    ① Gân cơ bán màng
    ② Gân chung

    Ghi nhớ các hương vị:

    StracciatellaSemimembranosus (cơ bán màng) ngoài
    CaramelConjoint (gân chung) trong

    Ở bệnh nhân này, cả gân cơ bán màng bên phải lẫn gân chung đều bị bong.

    Cả hai viên kem đều đã rơi.

    Trên các hình ảnh này ghi nhận tổn thương toàn bộ chiều dày.
    Cả hai viên kem đều rơi trên ảnh axial, cho thấy cả hai gân đều bị bong.

    Trên ảnh coronal, tổng mức độ co rút đã được đo và ghi nhận.

    Bong sụn tiếp hợp (Apophysiolysis)

    Ở thanh thiếu niên, tổn thương gân cơ hamstring gần thường xảy ra ở mức sụn tiếp hợp ngồi, do xương là mắt xích yếu nhất.
    Tổn thương bản thân gân hoặc tại chỗ nối cơ-gân rất hiếm gặp.

    Video này cho thấy hình ảnh bong sụn tiếp hợp trên CT.
    Tiếp tục xem MRI…

    MRI của cùng bệnh nhân.

    Tổn thương dây thần kinh tọa

    Hình ảnh này cho thấy tổn thương một phần gân chung của chân phải (vòng tròn vàng).
    Có một lượng lớn máu tụ xung quanh trong cơ và dọc theo mạc cơ.

    Phù nề bao quanh dây thần kinh tọa (mũi tên vàng), có thể dẫn đến bệnh lý thần kinh.
    Tuy nhiên, có sự tương quan kém giữa các hình ảnh trên MRI và các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân.

    Trong trường hợp này, tổn thương một phần ít rõ ràng hơn. Tuy nhiên, dây thần kinh tọa vẫn bị phì đại và dẹt do phù nề từ tổn thương.

    Tất cả các đặc điểm gợi ý tổn thương thần kinh đều được ghi nhận (bao gồm: phì đại dây thần kinh, dẹt dây thần kinh, phù nề trong dây thần kinh, phù nề xung quanh hoặc xơ hóa xung quanh).

    Theo dõi

    Tổn thương cũ

    Sau chấn thương, gân có thể trở về hình ảnh bình thường sau khi lành. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp tổn thương một phần, sẹo xơ hóa thường được ghi nhận tại vị trí chấn thương cũ (vòng tròn chấm vàng).

    Khá thường gặp trường hợp khi chụp MRI vì một chấn thương cấp tính, các vị trí xơ hóa sẹo của những chấn thương cũ hơn cũng được phát hiện đồng thời.

    Tái bám gân

    Sau một chấn thương bong điểm bám hoàn toàn, gân có thể được tái bám bằng phẫu thuật. Trong trường hợp này, các neo cố định tại lồi củ xương có thể được quan sát thấy. Hậu quả của chấn thương có thể dẫn đến teo mỡ bụng cơ.

    Giao thức chụp MRI

    MRI protocol based on pulse sequences: coronal fatsat, axial PD fatsat and axial T2.

    1. Chuỗi xung T2 xóa mỡ mặt phẳng coronal (fatsat, STIR hoặc dixon) cho phép đánh giá tổng quan nhanh chóng về tổn thương và giúp đo lường dễ dàng các khoảng cách liên quan (ví dụ: chiều dài vùng phù nề hoặc mức độ co rút gân).
    2. Chuỗi xung PD xóa mỡ mặt phẳng axial (fatsat hoặc dixon) tập trung vào vùng tổn thương và cho phép đánh giá đầy đủ tình trạng phù nề hoặc tụ máu, bao gồm cả trong cơ lẫn giữa các cơ.
    3. Chuỗi xung T2 mặt phẳng axial từ điểm nguyên ủy đến điểm bám tận cho phép hiển thị chi tiết tổn thương gân. Các hình ảnh độ phân giải cao này rất hữu ích để đánh giá giải phẫu và mức độ tổn thương trên từng bó sợi riêng lẻ. Thông thường cần hai khối chụp (stack).

    Toàn bộ phức hợp cơ hamstring của cả hai chân cần được khảo sát trên tất cả các chuỗi xung để so sánh bên tổn thương với bên hamstring lành.
    Đặc biệt, các tổn thương một phần có thể rất khó phát hiện.
    Chúng tôi chỉ sử dụng mặt phẳng coronal và axial để đánh giá giải phẫu, vì việc đánh giá giải phẫu trên mặt phẳng sagittal thường khó khăn hơn.

  • Khám MRI

    MRI examination

    Ivo Schoots, Mario Maas and Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Trung tâm Y tế Amsterdam (AMC) tại Amsterdam và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Publicationdate

    Các vấn đề về bàn chân liên quan đến đái tháo đường như viêm tủy xương và bệnh xương khớp thần kinh Charcot có liên quan đến tỷ lệ bệnh tật cao và chi phí chăm sóc sức khỏe lớn.
    Bàn chân đỏ và nóng ở bệnh nhân bệnh thần kinh do đái tháo đường là một vấn đề chẩn đoán khó khăn.
    Trong tổng quan này, chúng tôi sẽ tập trung vào hai câu hỏi:

    • Is this an active Charcot foot or is it osteomyelitis?
    • Is this a Charcot foot with superimposed infection?

    Overview

    Osteomyelitis versus Charcot

    Viêm tủy xương:
    Viêm tủy xương ở bệnh nhân đái tháo đường có bệnh lý thần kinh ngoại biên là tình trạng nhiễm trùng xương thường xảy ra do lan rộng liên tục từ một vết loét da.
    Do đó, vị trí phổ biến nhất của viêm tủy xương không phải ở vùng bàn chân giữa, mà là tại các điểm chịu áp lực của bàn chân trước (chỏm xương đốt bàn chân, khớp liên đốt) và ở bàn chân sau tại mặt gan chân của xương gót phía sau.
    Để xác định có viêm tủy xương hay không, hãy đặt một vật đánh dấu lên vết loét hoặc đường dò và theo dõi xuống đến xương, đồng thời đánh giá cường độ tín hiệu MRI của tủy xương (1).

    Charcot hoạt động:
    Khác với viêm tủy xương, bệnh thần kinh-xương khớp Charcot chủ yếu là bệnh lý khớp, thường gặp nhất ở bàn chân giữa.
    Ở giai đoạn sớm, X-quang sẽ không phát hiện bất thường xương, nhưng MRI sẽ cho thấy phù tủy xương dưới sụn.
    Các mô mềm dưới da thường không bị ảnh hưởng.

    Cường độ tín hiệu trên MRI không thể phân biệt giữa Khớp Charcot đang hoạt động và viêm tủy xương.
    Vị trí, tức là xương hoặc khớp và có hoặc không có loét, là những dấu hiệu gợi ý để chẩn đoán đúng.

    Giai đoạn mạn tính của Charcot:
    Giai đoạn mạn tính của Charcot không còn biểu hiện bàn chân nóng và đỏ, nhưng phù nề thường vẫn tồn tại.
    Biến dạng khớp, bán trật khớp và trật khớp các xương bàn chân dẫn đến biến dạng kiểu đáy cong (rocker-bottom) trong đó xương hộp trở thành cấu trúc chịu lực.
    Biến dạng bàn chân với sự phân bố áp lực bất thường trên bề mặt gan bàn chân kết hợp với giảm hoặc mất cảm giác, khiến bàn chân dễ bị tổn thương và dẫn đến hình thành chai chân, phồng rộp cũng như loét bàn chân.

    Charcot kết hợp với viêm tủy xương:
    Loét bàn chân có thể dẫn đến nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm mô tế bào và viêm tủy xương, và cuối cùng có thể dẫn đến cắt cụt chi.
    Phương pháp đơn giản nhất để xác định có viêm tủy xương hay không là theo dõi đường đi của vết loét hoặc đường rò đến xương và đánh giá cường độ tín hiệu của tủy xương (1).
    Viêm tủy xương trong bệnh Charcot mạn tính thường khu trú ở vùng bàn chân giữa, trong khi viêm tủy xương trong bệnh thần kinh do đái tháo đường không có Charcot thường ở vùng bàn chân trước và bàn chân sau.

    Osteomyelitis

    Mặc dù việc chẩn đoán viêm tủy xương là quan trọng, nhưng đáng tiếc là cũng rất khó khăn.
    Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng cũng như xét nghiệm thường không có nhiều giá trị.
    Chẩn đoán lâm sàng dựa vào việc xác định và đặc điểm hóa vết loét bàn chân liên quan, đây là phương pháp thường không đáng tin cậy.
    Điều quan trọng là phải đánh dấu bất thường trên da hoặc mô dưới da, tức là vết loét hoặc đường rò, và tìm mối liên hệ của chúng với vùng bất thường của xương.

    Thử nghiệm thăm dò đến xương, tức là sờ nắn xương bằng que thăm dò kim loại tù vô trùng ở phần sâu của vết loét bàn chân bị nhiễm trùng, được cho là có tương quan cao với viêm tủy xương.
    Tuy nhiên, trong các nghiên cứu sau đó, nó có giá trị tiên đoán dương tính tương đối thấp (7).

    Trên phim X-quang thông thường, nhiễm trùng xương có thể không hiển thị trong 2 tuần đầu và ở giai đoạn muộn hơn, các đặc điểm X-quang của bệnh thần kinh-xương khớp và viêm tủy xương chồng lấp nhau.
    Trong cả hai trường hợp đều sẽ có hiện tượng mất khoáng, phá hủy và phản ứng màng xương, đặc biệt khi bệnh thần kinh-xương khớp biểu hiện ở giai đoạn muộn.

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân có khuyết hổng da nhỏ và phù nề dưới da ở vùng xương bàn chân.
    Một dấu hiệu thứ phát là áp xe được ghi nhận ở vùng bàn chân trước, với tín hiệu cao trên chuỗi xung STIR, tín hiệu thấp hoặc trung gian trên chuỗi xung T1W, và bắt thuốc dạng viền với tín hiệu cao trên chuỗi xung T1+Gd.

    Charcot neuro-osteoarthropathy


    Acute Charcot neuro-osteoarthropathy of the midfoot

    Acute Charcot neuro-osteoarthropathy of the midfoot

    Bệnh thần kinh-xương khớp Charcot là một bệnh thoái hóa với sự phá hủy tiến triển của xương và khớp.
    Bệnh gặp ở những bệnh nhân có rối loạn thần kinh kèm mất cảm giác ở bàn chân, bao gồm bệnh giang mai thần kinh (tabes dorsalis), bệnh phong, bệnh thần kinh do đái tháo đường và các tình trạng khác liên quan đến tổn thương tủy sống.
    Năm 1868, Jean-Martin Charcot đã đưa ra mô tả chi tiết đầu tiên về khía cạnh thần kinh của tình trạng này ở một bệnh nhân mắc bệnh giang mai.
    Ngày nay, đái tháo đường là căn nguyên phổ biến nhất liên quan đến bệnh xương khớp Charcot, trong đó các khớp ở bàn chân và cổ chân là những vị trí thường bị ảnh hưởng nhất.

    Dưới đây là hình minh họa với các đặc điểm MRI chính của bệnh xương khớp thần kinh Charcot cấp tính:

    • Subarticular marrow edema in the midfoot
    • Subcutaneous soft tissues are relatively uninvolved.

    Chronic stage of Charcot osteoarthropathy

    Chronic stage of Charcot osteoarthropathy

    The exact nature of Charcot arthropathy is unknown.

    Thuyết chấn thương thần kinh cho rằng bệnh khớp Charcot được gây ra bởi chấn thương không được nhận biết ở bàn chân mất cảm giác. Bệnh lý thần kinh cảm giác khiến bệnh nhân không nhận thức được sự phá hủy xương xảy ra khi tiếp tục đi lại.

    Thuyết thần kinh mạch máu cho rằng tình trạng bệnh lý nền dẫn đến sự phát triển của bệnh lý thần kinh tự chủ, khiến chi nhận được lưu lượng máu tăng cao, từ đó gây ra sự mất cân bằng giữa quá trình hủy xương do tăng hoạt động của tế bào hủy cốt bào và quá trình tổng hợp xương (1).

    Hình ảnh cho thấy bệnh lý thần kinh-xương khớp tiến triển của các khớp cổ bàn chân (trật khớp Lisfranc) với các nang dưới sụn, bào mòn, giãn rộng khớp và trật khớp.


    A hot red foot in acute Charcot neuro-osteoarthropathy

    A hot red foot in acute Charcot neuro-osteoarthropathy

    Acute Charcot

    Bệnh viêm xương khớp thần kinh Charcot cấp tính được xác định bởi các dấu hiệu lâm sàng.
    Cần có bệnh lý thần kinh và bàn chân sưng nóng.
    Nhiệt độ da phải cao hơn 2°C hoặc hơn tại vị trí biến dạng tối đa của bàn chân bị ảnh hưởng so với vị trí tương tự trên bàn chân đối diện.
    Cần loại trừ viêm tủy xương và không có sốt.
    Nồng độ protein C phản ứng trong huyết thanh bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ.
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm nhiễm trùng (viêm tủy xương, viêm mô tế bào, viêm khớp nhiễm khuẩn), viêm (gút, viêm khớp dạng thấp) và huyết khối tĩnh mạch sâu.

    Ở giai đoạn sớm này, chưa có bất thường trên X-quang.
    Giai đoạn cấp tính của bệnh xương khớp thần kinh Charcot cho thấy sự phá hủy xương và khớp nhanh chóng và tiến triển trong vài ngày hoặc vài tuần.
    Bất động bằng bó bột tiếp xúc toàn diện có thể ngăn ngừa sự phá hủy xương và khớp thêm.

    Đây là hình chụp X-quang của một bệnh nhân bị bệnh thần kinh do đái tháo đường và bàn chân đỏ nóng.
    Trong giai đoạn cấp tính, hình chụp X-quang có thể bình thường và không thể loại trừ chẩn đoán bệnh xương khớp thần kinh Charcot cấp tính.

    Trong vòng 4 tháng có sự giảm dần độ nghiêng xương gót với biến dạng ngựa tại khớp cổ chân.
    Có sự phá hủy khớp cổ bàn chân với biến dạng bàn chân đế cong điển hình.

    Bony debris is seen on the dorsal aspect of the foot.

    Trong giai đoạn cấp tính, MRI chỉ cho thấy phù tủy xương dưới sụn.

    Đây là hình ảnh MRI của một bệnh nhân bị bệnh xương khớp thần kinh Charcot cấp tính.
    Phù tủy xương thường không giới hạn ở một hoặc hai xương, mà xuất hiện ở toàn bộ bàn chân giữa.
    Phù tủy xương và sự ngấm thuốc của nó thường tập trung ở vùng xương dưới sụn, gợi ý bệnh lý khớp.
    Mô dưới da tương đối bình thường và không có vết loét hay các dấu hiệu nhiễm trùng khác.

    Chronic Charcot

    Giai đoạn mãn tính không hoạt động không còn biểu hiện bàn chân ấm và đỏ.
    Phù nề thường vẫn tồn tại.
    Tiếng lạo xạo, các mảnh xương rời có thể sờ thấy và các gai xương lớn là kết quả của sự phá hủy xương và sụn lan rộng.
    Biến dạng khớp, bán trật và trật khớp các xương bàn chân dẫn đến biến dạng kiểu đế lắc, trong đó xương hộp trở thành cấu trúc chịu lực.
    Điều này dẫn đến hình thành chai da quá mức, phồng rộp và loét bàn chân.
    Ở giai đoạn bệnh xương khớp Charcot mãn tính không hoạt động, quá trình lành xương và sự thay đổi từ phản ứng màng xương hoạt động sẽ tiến triển thành phản ứng màng xương không hoạt động và bờ xơ cứng.

    Mô tả X-quang kinh điển của bệnh xương khớp thần kinh là năm chữ D.
    Mảnh vụn có thể hiện diện và tràn dịch có thể giải áp dọc theo các mặt phẳng cân mạc, mang theo mảnh vụn xương ra xa khớp.
    Trật khớp là kết quả của sự lỏng lẻo dây chằng.

    Ở ngoài cùng bên trái, hình ảnh X-quang bình thường trong giai đoạn cấp tính của Charcot.
    Tiếp theo là hình ảnh bệnh lý thần kinh-xương khớp Charcot tiến triển với trật khớp Lisfranc.

    Charcot with superimposed osteomyelitis

    Để xác định viêm tủy xương trong bàn chân Charcot trên hình ảnh MR, hãy theo dõi đường đi của vết loét hoặc đường rò đến xương và đánh giá cường độ tín hiệu của tủy xương.
    Nếu có phù tủy xương, viêm tủy xương rất có khả năng xảy ra.
    Nếu có phù tủy xương mà không có khiếm khuyết da, có thể có Charcot đang hoạt động.
    Nếu bình thường, cả Charcot đang hoạt động lẫn viêm tủy xương đều không có khả năng xảy ra.


    Charcot foot with rocker-bottom deformity and ulceration beneath the bony protuberance of the cuboid

    Charcot foot with rocker-bottom deformity and ulceration beneath the bony protuberance of the cuboid

    Bên trái là hình ảnh điển hình của biến dạng bàn chân hình đế lắc do sụp vòm dọc.
    Áp lực bất thường lên xương hộp đã dẫn đến loét.


    STIR and T1W images in Charcot neuro-osteoarthropathy with a plantar ulcer (asterix) and osteomyelitis of the cuboid.

    STIR and T1W images in Charcot neuro-osteoarthropathy with a plantar ulcer (asterix) and osteomyelitis of the cuboid.

    Ở bệnh nhân bị bệnh khớp xương thần kinh Charcot và bàn chân đế lắc, xương hộp là vị trí quan trọng của viêm tủy xương.
    Nếu hình ảnh T1 tại vị trí đó cho thấy cường độ tín hiệu thấp kết hợp với khuyết hổng da, viêm tủy xương là cực kỳ có khả năng.

    Hình ảnh STIR và T1 bên trái của bệnh nhân bị bệnh xương khớp thần kinh Charcot đang hoạt động với vết loét lòng bàn chân dọc theo chỗ lồi xương của xương hộp.
    Có tín hiệu bất thường trong xương hộp cạnh vết loét, gợi ý viêm tủy xương.


    Osteomyelitis in chronic Charcot neuro-osteoarthropathy

    Osteomyelitis in chronic Charcot neuro-osteoarthropathy

    Đây là các hình ảnh tăng cường tương phản có và không có bão hòa mỡ.
    Sự tăng cường của xương hộp và các mô mềm lân cận trên hình ảnh sau tiêm thuốc tương phản, cùng với vết loét lòng bàn chân, làm cho viêm tủy xương rất có khả năng xảy ra.


    No osteomyelitis in chronic Charcot neuro-osteoarthropathy

    No osteomyelitis in chronic Charcot neuro-osteoarthropathy

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân mắc bệnh xương khớp thần kinh Charcot với đường rò dưới da (mũi tên).
    Bệnh nhân này có phù nề và sưng dưới da.
    Khi theo dõi đường rò đến các mấu lồi xương của xương hộp, không có phù tủy xương ở vùng bàn chân giữa.
    Điều này khiến viêm tủy xương càng khó xảy ra hơn.

    Dấu hiệu bóng ma
    Dấu hiệu bóng ma gợi ý viêm xương khớp thần kinh có kèm theo viêm tủy xương.
    “Dấu hiệu bóng ma” đề cập đến sự kém rõ nét của bờ xương trên hình ảnh T1 không tiêm thuốc, các bờ này trở nên rõ ràng sau khi tiêm thuốc tương phản.
    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân bị viêm xương khớp thần kinh có kèm theo viêm tủy xương.
    Các vùng viêm tủy xương thể hiện rõ hơn trên hình ảnh T1 có tiêm thuốc tương phản so với hình ảnh T1 không tiêm thuốc.
    Phù tủy xương, vốn có tín hiệu thấp trên hình ảnh T1 không tiêm thuốc, sẽ bắt thuốc và trở nên sáng tương đương với tủy xương bình thường.

    MRI protocol

    Khảo sát MRI cần chú ý đặc biệt đến tư thế của bàn chân. Bàn chân phải được đặt ở trung tâm của nam châm để thu được hình ảnh ức chế mỡ đồng nhất.
    Cần đặt các marker lên trên các vết loét hoặc đường rò.
    Cần sử dụng các chuỗi xung T1 và STIR hoặc T2 fatsat.
    Do độ cong của bàn chân, ức chế mỡ đồng đều hơn khi sử dụng STIR so với hình ảnh T2 có trọng số với kỹ thuật bão hòa mỡ hóa học.
    Tuy nhiên, STIR không thể kết hợp với tiêm thuốc tương phản.
    Kỹ thuật tạo ảnh dịch chuyển hóa học Dixon được mô tả như một phương pháp thay thế cho kỹ thuật bão hòa mỡ phổ (8).
    Mặt phẳng cắt đứng dọc dùng để đánh giá tổn thương vùng giữa bàn chân, mặt gan bàn chân và xương gót phía sau.
    Mặt phẳng cắt song song với các ngón chân phù hợp để khảo sát các khớp bàn ngón và khớp liên đốt ngón.
    Thuốc tương phản được sử dụng để mô tả rõ hơn các vùng mô hoại tử, áp xe, đường rò và tổn thương khớp hoặc gân.

  • Thay khớp háng

    Arthroplasty of the Hip

    Normal and abnormal imaging findings

    Iain Watt, Susanne Boldrik, Evert van Langelaan và Robin Smithuis

    từ Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Đại học Leiden, Leiden; Trung tâm Y tế Alkmaar, Alkmaar và Khoa Chỉnh hình và Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp, Hà Lan

    Publicationdate

    X-quang là phương pháp hình ảnh học chính để đánh giá Thay khớp háng toàn phần.
    Tổng quan này tập trung vào các hình ảnh bình thường và biến chứng của thay khớp háng có xi măng so với không xi măng.
    Các ca lâm sàng tương tác được trình bày trong thanh menu để kiểm tra kiến thức của bạn về khớp háng nhân tạo.


    Total Hip Arthroplasty systems


    LEFT: Assembled cementless Mallory Head prosthesis.RIGHT: Femoral stem with proximal porous coating for bone ingrowth, separate metal femoral head,  polyethylene acetabular liner with a porous coated metal backing.

    LEFT: Assembled cementless Mallory Head prosthesis.RIGHT: Femoral stem with proximal porous coating for bone ingrowth, separate metal femoral head, polyethylene acetabular liner with a porous coated metal backing.

    Hệ thống Thay khớp háng toàn phần (THA) hiện đại có cấu trúc mô-đun. Điều này có nghĩa là thân khớp đùi, chỏm khớp, vỏ ổ cối và lớp lót là các bộ phận riêng biệt.
    Tính mô-đun này cho phép linh hoạt hơn trong việc tùy chỉnh kích thước và độ vừa khít của bộ phận giả.
    Phần ổ cối thường là lớp lót polyethylene có hoặc không có đế kim loại.
    Cố định bằng xi măng, đinh ghim, vít hoặc không xi măng với lớp phủ xốp để xương phát triển vào trong.
    Phần đùi bao gồm thân khớp kim loại (hợp kim crom coban hoặc titan) và chỏm xương đùi bằng kim loại hoặc gốm sứ.
    Cố định thân khớp cũng có thể bằng xi măng hoặc không xi măng với lớp phủ xốp để xương phát triển vào trong.

    Hầu hết các THA không xi măng hiện đại có thân xương đùi chỉ được phủ lớp coating ở phần gần, vì điều này mang lại kết quả lâu dài tốt hơn so với phủ toàn bộ (ít bị lỏng hơn).
    Một số THA không xi măng có thân xương đùi được phủ thêm lớp hydroxyapatite giúp cải thiện khả năng tích hợp xương. Lớp phủ này không hiển thị trên phim X-quang.


    LEFT: Hybrid THA with cemented femoral stem and noncemented acetabular cup.RIGHT: Bone ingrowth arthroplasty. Density lateral to femoral stem in Gruens zone I is a bone graft.

    LEFT: Hybrid THA with cemented femoral stem and noncemented acetabular cup.RIGHT: Bone ingrowth arthroplasty. Density lateral to femoral stem in Gruens zone I is a bone graft.

    Thay khớp háng toàn phần lai là sự kết hợp giữa cố định có xi măng và không xi măng.
    Do các thành phần ổ cối có xi măng có xu hướng bị lỏng theo thời gian, đôi khi người ta sử dụng kết hợp thành phần ổ cối không xi măng với thành phần xương đùi có xi măng.
    Nhìn chung, có xu hướng ưu tiên sử dụng thay khớp háng toàn phần không xi măng, vì cho kết quả lâu dài tốt hơn.

    Bên trái chúng ta thấy một khớp háng nhân tạo toàn phần (THA) lai ghép với cốc ổ cối tích hợp xương và thân xương đùi gắn xi măng, và bên cạnh đó là một khớp háng nhân tạo toàn phần không xi măng tích hợp xương.

    Initial Evaluation

    Các phim chụp ban đầu đóng vai trò là nghiên cứu cơ sở và được sử dụng làm phim tham chiếu để so sánh với tất cả các nghiên cứu trong tương lai, vì chụp X-quang tuần tự là phương pháp có giá trị nhất để phát hiện các biến chứng.

    Các phim chụp X-quang sau phẫu thuật ban đầu được thực hiện để tìm kiếm khả năng trật khớp hoặc gãy xương và để xem liệu bộ phận giả có được đặt đúng vị trí hay không.


    LEFT: Revision THA with a large femoral stem with periprosthetic fracture.RIGHT: Cement extrusion intrapelvic through acetabular defect.

    LEFT: Revision THA with a large femoral stem with periprosthetic fracture.RIGHT: Cement extrusion intrapelvic through acetabular defect.

    Trật khớp
    Trật khớp có thể xảy ra như một biến chứng muộn ở những khớp háng nhân tạo không được đặt đúng vị trí, nhưng phổ biến nhất là trong giai đoạn hậu phẫu ngay sau mổ (tỷ lệ mắc 3%).

    Gãy xương quanh khớp nhân tạo
    Gãy xương có thể xảy ra sau phẫu thuật ở những bệnh nhân có chất lượng xương kém và sử dụng khớp nhân tạo thay thế có cán dài, hoặc khi giải phẫu bất thường như trong trường hợp loạn sản khớp háng hoặc đã từng phẫu thuật trước đó.
    Gãy xương cũng phổ biến hơn với các cán xương đùi không xi măng, vì các loại này phải vừa khít chính xác và có thể gây gãy xương trong quá trình đặt khớp.
    Tỷ lệ gãy xương dao động từ 0,1 đến 1,0 phần trăm đối với các thành phần có xi măng và từ 3 đến 18 phần trăm đối với các thành phần không xi măng. Hầu hết các trường hợp gãy xương trong phẫu thuật xảy ra ở phía xương đùi.

    Tràn xi măng ra ngoài
    Khi ổ cối được chuẩn bị để đặt cốc, có thể xảy ra thủng. Khiếm khuyết này được lấp đầy bằng mảnh xương, xi măng hoặc ghép xương.
    Tràn xi măng ra ngoài thường không có triệu chứng.
    Các biến chứng hiếm gặp bao gồm rò ruột, bao bọc các cấu trúc mạch máu thần kinh và bỏng thành bàng quang.


    Measurement of lateral acetabular inclination. Right trochanter minor is lower in position than the left indicating leg length dicrepancy.Normal horizontal center of rotation (red line).

    Measurement of lateral acetabular inclination. Right trochanter minor is lower in position than the left indicating leg length dicrepancy.Normal horizontal center of rotation (red line).

    Alignment and Positioning

    Vị trí đặt cốc acetabulum và thân xương đùi cần mô phỏng giải phẫu bình thường.
    Khoảng cách từ tâm chỏm xương đùi đến điểm lệ (hoặc mốc giải phẫu có thể xác định khác) phải bằng nhau ở cả hai bên.
    Đây được gọi là tâm xoay ngang.
    Vị trí đặt cốc acetabulum quá lệch ngoài làm tăng nguy cơ trật khớp và có thể gây đi khập khiễng.

    Đường liên ụ ngồi được sử dụng làm mốc tham chiếu để đo độ nghiêng bên của cốc acetabular (30-50°).
    Đường này cũng được sử dụng để đo sự chênh lệch chiều dài chân.
    Chênh lệch chiều dài chân đến 1 cm được dung nạp tốt.
    Cốc được đặt cao hơn được dung nạp tốt hơn so với cốc được đặt lệch ngoài.


    Different anteversion of the acetabular cup in the same patient due to different rotation on a cross table view (left) compared to a lateral view (right).

    Different anteversion of the acetabular cup in the same patient due to different rotation on a cross table view (left) compared to a lateral view (right).

    Độ nghiêng trước của ổ cối nhân tạo nên nằm trong khoảng 5-25°.
    Không thể đo chính xác góc này trên phim chụp X-quang tư thế ngang bàn hoặc tư thế nghiêng thực sự, vì mức độ góc nghiêng biểu kiến trên phim X-quang bị ảnh hưởng bởi sự xoay của khung chậu hoặc đùi (hình).
    Đo bằng CT chính xác hơn, nhưng vẫn phải bù trừ cho góc nghiêng của khung chậu.


    LEFT: Femoral head with large collar. Dislocation due to increased lateral inclination of acetabular cupRIGHT: Different patient at risk for dislocation. High and lateral position of a steep acetabular cup. Notice polyethylene wear due to increased forces on the superolateral side of the cup.

    LEFT: Femoral head with large collar. Dislocation due to increased lateral inclination of acetabular cupRIGHT: Different patient at risk for dislocation. High and lateral position of a steep acetabular cup. Notice polyethylene wear due to increased forces on the superolateral side of the cup.

    The following conditions predispose to dislocation:

    – Tăng góc nghiêng ngoài của cốc acetabular.
    – Giảm hoặc tăng góc anteversion của cốc.
    – Vị trí quá ngoài của cốc acetabular.
    – Tăng hoặc giảm góc anteversion của thân xương đùi.

    Do lực tác động tăng lên ở bờ trên ngoài của ổ cối, việc tăng độ nghiêng ngoài của cấu phần ổ cối cũng có thể làm tăng nguy cơ mòn polyethylene của lớp lót ổ cối (xem hình).


    Varus position of femoral stem leading to loosening and fracture.

    Varus position of femoral stem leading to loosening and fracture.

    Vị trí ưu tiên của thành phần xương đùi là với thân khớp nằm ở trung tâm ống tủy xương đùi.

    Tâm xoay của chỏm xương đùi phải nằm ở mức đỉnh của mấu chuyển lớn.
    Vị trí varus của thân khớp xương đùi là yếu tố thuận lợi dẫn đến lỏng khớp và gãy xương.

    Normal Findings at Follow up


    LEFT: Normal cement-metal interface (yellow arrow). However loosening at cement-bone interface (orange curved arrow).RIGHT: At follow up also loosening at cement-metal interface.

    LEFT: Normal cement-metal interface (yellow arrow). However loosening at cement-bone interface (orange curved arrow).RIGHT: At follow up also loosening at cement-metal interface.

    Cemented THA

    Các phát hiện bình thường trong THA có xi măng khác với các khớp giả không xi măng vì xương tự nhiên cho thấy nhiều thay đổi phản ứng hơn với các khớp giả không xi măng.
    Trong THA có xi măng, lý tưởng là không nên có bất kỳ vùng thấu quang nào tại giao diện xương-xi măng hoặc xi măng-khớp giả, nhưng ngay cả trong các khớp giả có xi măng ổn định, chúng vẫn có thể xuất hiện.
    Vùng thấu quang tại giao diện kim loại-xi măng dọc theo mặt bên gần của thân khớp giả xương đùi có thể được nhìn thấy trên phim X-quang hậu phẫu ban đầu, phản ánh sự tiếp xúc không tối ưu giữa kim loại và xi măng tại thời điểm phẫu thuật.
    Vùng thấu quang ổn định là tốt, nhưng nếu vùng thấu quang mở rộng hoặc phát triển tại giao diện kim loại-xi măng trong quá trình theo dõi, thì đó là dấu hiệu của sự lỏng khớp (hình).
    Lý tưởng nhất là chỉ có một lớp xi măng dày 3-4mm xung quanh khớp giả. Việc bơm xi măng quá nhiều dẫn đến lỏng khớp.


    Acetabular zones according to De Lee and CharnleyFemoral zones according to Gruen

    Acetabular zones according to De Lee and CharnleyFemoral zones according to Gruen

    Tại ranh giới xương-xi măng, một lớp xơ mỏng có thể hình thành do phản ứng với hoại tử cục bộ của mô xương gây ra bởi nhiệt sinh ra trong quá trình polymer hóa xi măng.
    Lớp này trở nên ổn định sau 2 năm.
    Trên phim X-quang, lớp này được nhìn thấy như một vùng thấu quang.
    Đặc biệt tại vùng I của ổ cối, vùng thấu quang 1-2 mm thường xuyên được quan sát thấy tại ranh giới xương-xi măng, đây là hình ảnh bình thường miễn là nó ổn định.
    Tuy nhiên, nếu các vùng khác cũng bị ảnh hưởng và vùng thấu quang mở rộng, đây là dấu hiệu của sự lỏng khớp.
    Trong báo cáo của bạn, hãy luôn ghi rõ các vùng nào bị ảnh hưởng (hình).
    Tại ổ cối, có ba vùng được đánh dấu từ I đến III.
    Việc nhìn thấy đường thấu quang tại vùng I là khá phổ biến, nhưng không nên thấy ở vùng II và III.
    Tương tự, tại xương đùi có các vùng từ 1 đến 7. Vùng thấu quang rất thường gặp ở vùng 1, đôi khi ở vùng 7, nhưng không nên xuất hiện ở vùng dưới mấu chuyển lớn từ vùng 2 đến 6.


    Manipulated image showing normal reactions to the some of the uncemented hip prostheses.

    Manipulated image showing normal reactions to the some of the uncemented hip prostheses.

    Non Cemented THA

    Việc cấy ghép khớp háng không xi măng dạng xốp (bone ingrowth prosthesis) dẫn đến sự thay đổi phân bố ứng suất lên xương tự nhiên, đặc biệt ở các mẫu cũ hơn với cán khớp háng không thuôn và được phủ hoàn toàn.
    Hiện tượng che chắn ứng suất (stress shielding) ở vùng gần có thể dẫn đến loãng xương vùng gần và tiêu xương calcar.
    Tải trọng ứng suất ở vùng xa có thể dẫn đến dày vỏ xương và xơ cứng bắc cầu tại đầu mút của khớp giả (gọi là bệ đỡ – pedestal).
    Để tránh những thay đổi này, hầu hết các khớp giả không xi măng hiện đại chỉ có cố định ở vùng gần, do đó thường không thấy hiện tượng che chắn ứng suất vùng gần.
    Phần xa của khớp giả xương đùi không bị ‘chịu tải’, do đó sẽ không có hiện tượng tải trọng ứng suất vùng xa.

    Trong các trường hợp thay khớp háng không xi măng ổn định, các vùng thấu quang tại giao diện kim loại-xương có thể xuất hiện, do thông thường sự kết hợp giữa sự phát triển xương vào và sự phát triển mô xơ vào cung cấp sự cố định trong hầu hết các trường hợp.
    Mô xơ này biểu hiện dưới dạng vùng thấu quang tại giao diện.
    Một lần nữa, vùng này phải ổn định và nằm trong khoảng 1 – 2 mm.

    Hình bên trái tóm tắt tất cả các phát hiện ở một số khớp giả không xi măng, có thể là bình thường.
    Bạn cần phải quen thuộc với các thay đổi bình thường và bất thường trong các loại khớp giả được sử dụng bởi các bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình của bạn.


    Normal lucent zone:

    Normal lucent zone:

    Vùng thấu quang mỏng dọc theo ranh giới xương-kim loại do mô xơ là hiện tượng thường gặp (80%).
    Chúng phải nhỏ hơn 2mm và đi kèm với một đường xơ cứng song song với nó.
    Nếu chúng ổn định trong 2 năm thì sự cố định bởi mô xơ chắc đã xảy ra.


    Progressive calcar resorption during folllow up.

    Progressive calcar resorption during folllow up.

    Che chắn ứng suất hay tiêu xương được thấy ở những vùng tương đối không chịu lực.
    Các lực được truyền qua thân xương đùi tương đối cứng và biểu hiện là loãng xương ở vùng xương đùi gần với mỏng vỏ xương và tiêu xương cổ xương đùi.
    Điều này được thấy ở phía trong là tiêu xương calcar, do calcar đã mất chức năng của nó (hình).
    Nó còn được gọi là làm tròn calcar.

    Complications at Follow Up

    Có nhiều biến chứng trong phẫu thuật thay khớp háng toàn phần (THA).
    Theo dõi X-quang và so sánh với các phim cũ nhất hiện có là phương pháp có giá trị nhất để phát hiện các biến chứng này.
    Các biến chứng quan trọng nhất là lỏng cơ học, bệnh lý do hạt vi thể và nhiễm trùng.
    Tuy nhiên, các biến chứng này có thể có hình ảnh chẩn đoán tương tự nhau và có sự chồng lấp giữa các biểu hiện.


    Illustration of the typical radiographic changes in Loosening (left) - Particle disease (middle) - Infection (right)

    Illustration of the typical radiographic changes in Loosening (left) – Particle disease (middle) – Infection (right)

    Lỏng cơ học biểu hiện dưới dạng vùng thấu quang lan tỏa.
    Bệnh lý do hạt tiểu phân biểu hiện dưới dạng vùng thấu quang khu trú.
    Bằng chứng của mòn polyethylene, biểu hiện dưới dạng vị trí bất đối xứng của chỏm xương đùi trong ổ cối nhân tạo, thường cùng tồn tại với bệnh lý do hạt tiểu phân.
    .
    Nhiễm trùng biểu hiện dưới dạng vùng thấu quang không đều kèm phản ứng màng xương, nhưng có thể khó phân biệt với lỏng khớp và bệnh lý do hạt tiểu phân. Trong các trường hợp điển hình, các dấu hiệu hình ảnh của lỏng khớp, bệnh lý do hạt tiểu phân và nhiễm trùng khá rõ ràng (hình).
    Nhiễm trùng thường ở mức độ thấp và khó phát hiện bằng bất kỳ phương pháp chẩn đoán hình ảnh nào.
    Trong các trường hợp tiến triển nặng hơn, sẽ có tiêu xương không đều, không có viền xơ cứng, tiêu hủy vỏ xương và phản ứng màng xương.


    Progressive lucent zone around acetabular component in zone I and II.  Steeper position of the cup indicates migration. Subtle excentric positioning of the femoral head is indicative of polyethylene wear.

    Progressive lucent zone around acetabular component in zone I and II. Steeper position of the cup indicates migration. Subtle excentric positioning of the femoral head is indicative of polyethylene wear.

    Loosening

    Lỏng cơ học vẫn là chỉ định phổ biến nhất cho phẫu thuật sửa chữa. Bệnh nhân thường có triệu chứng, mặc dù có thể thấy các thay đổi trên X-quang không có triệu chứng.
    Các biểu hiện X-quang phổ biến nhất của tình trạng lỏng là:

    – Vùng thấu quang > 2 mm tại mặt tiếp xúc (gợi ý)
    – Di lệch thành phần khớp (chẩn đoán xác định).

    Một vùng thấu quang rộng hơn 2 mm tại mặt tiếp xúc xương-khớp giả hoặc tại mặt tiếp xúc xương-xi măng là dấu hiệu rất gợi ý của tình trạng lỏng khớp. Đặc biệt khi có nhiều vùng bị ảnh hưởng và khi có sự tiến triển.
    Một vùng thấu quang

    Di lệch cấu phần có giá trị chẩn đoán tình trạng lỏng khớp.
    Biểu hiện là sự nghiêng hoặc di lệch lên trên của ổ cối nhân tạo, hoặc sự lún xuống (>10mm) và nghiêng varus của cán khớp háng.
    Trường hợp bên trái cho thấy tình trạng lún xuống tiến triển, có giá trị chẩn đoán tình trạng lỏng khớp, kèm theo gãy vít tiếp theo sau đó.

    Lỏng khớp (2)
    Vì sự di chuyển có thể rất tinh tế, cần so sánh cẩn thận với phim chụp sau phẫu thuật ban đầu.
    Không chỉ so sánh với lần khám trước đó.
    Trường hợp bên trái cho thấy sự di chuyển của chỏm acetabulum, điều này sẽ được nhận thấy rõ hơn nếu sử dụng một điểm tham chiếu (xem hình tiếp theo)


    Same case as above with white marks on the tear drop figure. Migration is shown more easily. Blue arrow indicates acetabular fracture.

    Same case as above with white marks on the tear drop figure. Migration is shown more easily. Blue arrow indicates acetabular fracture.

    Nếu chúng ta quan sát các phim X-quang tương tự và sử dụng hình giọt nước mắt làm mốc giải phẫu, sự di trú sẽ trở nên rõ ràng hơn.
    Sự di trú của chỏm lên phía đầu đã dẫn đến gãy thành ổ cối (mũi tên xanh).


    Migration of acetabular cup cranially with tilting and subsequent acetabular fracture

    Migration of acetabular cup cranially with tilting and subsequent acetabular fracture

    Sự di chuyển của các thành phần ổ cối là không bao giờ được chấp nhận.
    Nó được nhận thấy như sự di chuyển lên trên hoặc nghiêng của chỏm (hình)

    The case on the left is for several reasons not ideal :

    – Vị trí cup quá cao và quá nghiêng về phía ngoài.
    – Độ nghiêng sang bên quá nhiều.
    – Lượng xi măng chèn lấp quá nhiều.
    – Các vít được đặt quá nằm ngang (ứng suất quá lớn).
    – Vùng thấu quang ở vùng II và III > 2 mm.

    Đặc biệt, vùng thấu quang ở các khu vực này rất gợi ý đến tình trạng lỏng khớp.
    Trong quá trình theo dõi, sự di chuyển lên trên kèm theo độ nghiêng tăng dần được ghi nhận, gây ra gãy vít cố định.


    Eccentric position of femoral head within cup consistent with polyethylene wear.Focal osteolysis with endosteal scalloping in proximal femur due to particle disease.

    Eccentric position of femoral head within cup consistent with polyethylene wear.Focal osteolysis with endosteal scalloping in proximal femur due to particle disease.

    Particle Disease

    Ban đầu bệnh lý này được gọi là bệnh xi măng hoặc u hạt xâm lấn.
    Đây là phản ứng mô bào xảy ra do phản ứng của đại thực bào với bất kỳ thành phần nào bong tróc khỏi bề mặt các cấu kiện của khớp nhân tạo.
    Ngày nay, bệnh lý này chủ yếu gặp ở khớp háng không xi măng như một phản ứng với các hạt mài mòn polyethylene nhỏ.
    Trên hình ảnh X-quang, các tổn thương u hạt xâm lấn này biểu hiện dưới dạng các vùng thấu quang khu trú xung quanh khớp nhân tạo.
    Tình trạng này có xu hướng xảy ra trong khoảng từ 1 đến 5 năm sau phẫu thuật và liên quan đến hình ảnh lõm vỏ nội tủy nhẵn.
    Đặc điểm then chốt là bệnh lý này không tạo ra phản ứng xương thứ phát.
    Những đặc điểm này giúp phân biệt bệnh hạt nhỏ với nhiễm trùng, vốn thường có các biểu hiện xâm lấn hơn, mặc dù việc phân biệt không phải lúc nào cũng khả thi.

    Mặc dù bệnh hạt là kết quả của sự mài mòn polyethylene, nhưng không phải lúc nào bạn cũng thấy các dấu hiệu rõ ràng của sự mài mòn polyethylene ở ổ cối nhân tạo.
    Tuy nhiên, bất cứ khi nào thấy vị trí lệch tâm của chỏm xương đùi trong ổ cối, hãy tìm kiếm các vùng thấu quang khu trú.
    Các khuyết hổng khu trú lớn có thể được phát hiện trong khi khớp nhân tạo vẫn còn vững.
    Bệnh hạt tiến triển không ngừng với tình trạng lỏng khớp, gãy xương và phá hủy xương.
    Đôi khi cần phải phẫu thuật thay lại một khớp háng toàn phần còn vững vì nếu mất xương nhiều hơn sẽ khiến phẫu thuật thay lại trở nên không thể thực hiện được.


    Subtle eccentric position of femoral head. Even more subtle focal osteolysis around screw in acetabulum.

    Subtle eccentric position of femoral head. Even more subtle focal osteolysis around screw in acetabulum.

    Bệnh do hạt mài mòn (2)
    Các hạt mài mòn nhỏ từ lớp lót polyethylene được bong ra vào dịch khớp và có thể di chuyển xung quanh khớp giả thông qua các kênh nhỏ ngay cả ở những khớp háng còn vững.
    Chúng có xu hướng di chuyển qua các lỗ vít (hình minh họa).
    Đây là lý do tại sao các phẫu thuật viên ngày càng hạn chế sử dụng vít để cố định cốc acetabulum.

    Một trường hợp khác ở bên trái.
    Một lần nữa có hiện tượng tiêu xương khu trú xung quanh các vít sau khi các hạt mài mòn di chuyển qua các lỗ vít.
    Vị trí lệch tâm của chỏm xương đùi trong ổ cối nhân tạo do mòn polyethylene.


    Creep is normal remoulding and is superomedial. Wear is superolateral and pathologic

    Creep is normal remoulding and is superomedial. Wear is superolateral and pathologic

    Polyethylene wear

    Sự chịu tải bình thường của chén polyethylene đi lên dọc thân xương đùi, dọc theo cổ xương đùi về phía cột sống thắt lưng.
    Do đó, việc quan sát thấy sự mỏng nhẹ ở vùng chịu lực là bình thường khi nhựa tự định hình lại. Sự định hình lại của chén này được gọi là hiện tượng từ biến (creep).
    Sự chịu tải bất thường dẫn đến áp lực nghiêng về phía ngoài hơn, gây ra mòn polyethylene ở phía trên-ngoài.

    Infection

    Các phát hiện X-quang ở bệnh nhân nhiễm trùng mức độ thấp có thể không đáng kể hoặc có thể bắt chước tình trạng lỏng khớp hoặc bệnh lý hạt nhỏ.
    Với các vi sinh vật có độc lực cao hơn, tiến triển có thể nhanh chóng, với sự phá hủy xương và hình thành đường rò, dẫn đến các phát hiện X-quang như được liệt kê trong bảng bên trái.

    Các tiêu chí thống nhất để chẩn đoán nhiễm trùng liên quan đến các bộ phận giả chưa được thiết lập.
    Trong một số nghiên cứu, nhiễm trùng được chẩn đoán khi có ít nhất một trong các tiêu chí sau:
    – Cùng một vi sinh vật trong hai lần cấy dịch khớp.
    – Dịch khớp có mủ tại vị trí cấy ghép
    – Viêm trên kết quả kiểm tra bệnh lý của mô quanh bộ phận giả.
    – Sự hiện diện của một đường rò thông với bộ phận giả.


    Irregular periprosthetic bone resorption with periosteal reaction typical for infection.

    Irregular periprosthetic bone resorption with periosteal reaction typical for infection.

    Bên trái là hình ảnh X-quang điển hình của nhiễm trùng với hình ảnh phá hủy xương không đều và phản ứng màng xương.
    Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nhiễm trùng thực sự ở mức độ thấp và khó xác định.

    Xạ hình xương bằng đồng vị phóng xạ rất nhạy trong việc phát hiện nhiễm trùng, nhưng không đặc hiệu vì có thể cho thấy các hình ảnh tương tự như những hình ảnh xảy ra trong tình trạng lỏng khớp.
    Kết quả âm tính trên xạ hình xương gợi ý rằng không có nhiễm trùng.
    Vai trò của các kỹ thuật đồng vị phóng xạ chuyên biệt để phát hiện nhiễm trùng như xạ hình Gallium hoặc bạch cầu đánh dấu Indium hoặc Immunoglobulin G vẫn chưa rõ ràng,
    nhưng chúng có xu hướng đặc hiệu hơn một chút so với xạ hình xương Technetium thông thường.

    Hầu hết các nhà nghiên cứu ủng hộ việc chọc hút dịch khớp dưới hướng dẫn của màn tăng sáng hoặc siêu âm để đánh giá nhiễm trùng.
    Nên lấy nhiều mẫu để giảm thiểu sự nhầm lẫn do tạp nhiễm từ da.

    Nhiễm trùng xảy ra trong vòng một năm sau khi đặt khớp giả là do nhiễm khuẩn trong quá trình phẫu thuật. Nguy cơ nhiễm trùng trong mổ dưới 1% nhờ sử dụng kháng sinh dự phòng và môi trường phẫu thuật với luồng khí lưu thông theo lớp.
    Nhiễm trùng muộn xảy ra do vi khuẩn theo đường máu từ các ổ nhiễm trùng đường hô hấp, răng miệng và đường tiết niệu.

    Fractures

    Tỷ lệ mắc sau phẫu thuật:
    – THA có xi măng: 0,4%
    – Khớp giả ép khít: 2,5%
    – Phẫu thuật thay khớp háng lại: 7,2%
    Thông thường không ảnh hưởng đến kết quả, nhưng có thể cần dùng cáp vòng cerclage.
    Đôi khi phẫu thuật viên tạo một lỗ kiểm soát có chủ ý trong quá trình phẫu thuật lại để hỗ trợ tháo bỏ thành phần xương đùi đã được đặt trước đó.
    Gãy xương trong quá trình theo dõi là hậu quả của tình trạng lỏng khớp, bệnh lý do hạt vi thể, nhiễm trùng hoặc các trường hợp nặng của hiện tượng che chắn ứng suất.


    Lateral dislocation of THA

    Lateral dislocation of THA

    Dislocation

    Như đã thảo luận ở trên, trật khớp hoặc bán trật khớp của các thành phần có thể xảy ra do các yếu tố từ phía bệnh nhân bao gồm trương lực cơ kém hoặc chấn thương, hoặc do các yếu tố phẫu thuật như đường tiếp cận phẫu thuật phía sau (thay vì phía bên).
    Một yếu tố khác là khó khăn trong việc đạt được góc nghiêng lý tưởng của cấu phần ổ cối. Đây thường là kết quả của những thay đổi thoái hóa nặng hoặc loạn sản.
    Trật khớp có thể xảy ra theo hướng ra sau, ra trước hoặc ra bên.


    Tilting of loose cup resulting in dislocation

    Tilting of loose cup resulting in dislocation

    Ở bên trái là một trường hợp khác với tình trạng trật khớp do hậu quả của việc nghiêng chỏm do lỏng khớp.

    Component fracture

    Gãy vỡ thành phần giả khớp là không phổ biến.
    Trường hợp bên trái có thể là thứ phát do mòn polyethylene nặng dẫn đến gãy vỡ cốc và xi măng.
    Sự phân ly thành phần giả khớp, trái ngược với gãy vỡ thành phần giả khớp, thường xảy ra nhất khi lớp lót nhựa của ổ cối trượt ra khỏi phần đế của nó.


    Destruction of polyethylene liner

    Destruction of polyethylene liner

    Trường hợp bên trái cho thấy sự mài mòn nghiêm trọng và gãy vỡ của lớp lót polyethylene.
    Phần đế kim loại vẫn còn nguyên vẹn.

    Trường hợp bên trái cho thấy gãy đầu kim loại của cấu phần xương đùi.


    Classification of heterotopic ossification according to Brooker

    Classification of heterotopic ossification according to Brooker

    Heterotopic Ossification

    Phân loại cốt hóa lạc chỗ bao gồm bốn độ dựa trên phim X-quang chậu hông tư thế thẳng trước-sau.
    Độ I = các đảo xương trong mô mềm.
    Độ II = gai xương để lại khoảng cách > 1 cm giữa các bề mặt xương đối diện.
    Độ III = gai xương để lại khoảng cách < 1 cm giữa các bề mặt xương đối diện.
    Độ IV = dính khớp háng trên X-quang.


    Various degrees of heterotopic ossification

    Various degrees of heterotopic ossification

    Cốt hóa lạc chỗ xảy ra khi các tế bào trung mô nguyên thủy trong các mô mềm xung quanh được chuyển đổi thành các tế bào tạo xương, hình thành xương lá trưởng thành.
    Tình trạng này thường xảy ra xung quanh cổ xương đùi và liền kề với mấu chuyển lớn, xuất hiện ở 15-50% bệnh nhân.

    Nhiều bệnh nhân bị cốt hóa lạc chỗ mức độ thấp trên X-quang thường không có triệu chứng.
    Nếu có triệu chứng, cứng khớp háng là phàn nàn phổ biến nhất và đau hiếm khi là vấn đề.

    Arthrography


    Arthrogram used to confirm intra-articular position of needle in possible infected prosthesis.

    Arthrogram used to confirm intra-articular position of needle in possible infected prosthesis.

    Chụp khớp và nhiễm trùng
    Chụp khớp đóng vai trò trong việc đánh giá khả năng nhiễm trùng.
    Giá trị của nó trong việc đánh giá khả năng lỏng khớp và đau khớp háng còn hạn chế.
    Chụp khớp được sử dụng để xác nhận vị trí trong khớp của kim và dịch được hút ra để cấy vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí.
    Độ nhạy để phát hiện nhiễm trùng là 66-90%.


    Subtraction arthrography reveals contrast leakage in Gruen zone 1 (yellow arrow).Movement of the patient simulates leakage in zone 2 and 3 (red arrow indicates white stripe on medial side which is as broad as black stripe on lateral side ( yellow arrow).

    Subtraction arthrography reveals contrast leakage in Gruen zone 1 (yellow arrow).Movement of the patient simulates leakage in zone 2 and 3 (red arrow indicates white stripe on medial side which is as broad as black stripe on lateral side ( yellow arrow).

    Chụp khớp cản quang và tình trạng lỏng khớp

    Việc không có sự lan rộng bất thường của chất cản quang không loại trừ tình trạng lỏng khớp, vì xơ hóa và các tế bào có thể lấp đầy các khoang giao tiếp, ngăn cản sự di chuyển của chất cản quang.
    Trong thay khớp háng toàn phần không xi măng, chụp khớp cản quang không chính xác trong việc phát hiện tình trạng lỏng khớp, vì các kênh nhỏ giữa các vùng xương mọc vào có thể tồn tại, cho phép chất cản quang đi qua ngay cả ở những khớp háng nhân tạo còn vững.
    Trong thay khớp háng toàn phần có xi măng, sự lan rộng của chất cản quang tại giao diện xương-xi măng có thể là dấu hiệu cho thấy khớp nhân tạo bị lỏng.


    Communication between intra-articular space and the trochanteric bursa

    Communication between intra-articular space and the trochanteric bursa

    Sự thông thương với túi thanh dịch mấu chuyển, vốn thường gặp, càng làm giảm độ nhạy do không thể tạo được áp lực nội khớp tốt (hình).

    Chụp khớp và đau hông
    Đôi khi chụp khớp được sử dụng để xác định xem các triệu chứng của bệnh nhân có thuyên giảm hay không bằng cách tiêm thuốc gây tê cục bộ tác dụng kéo dài.
    Mục đích là để xem liệu cơn đau hông có phải do khớp nhân tạo gây ra hay không, chứ không phải do nguyên nhân nào khác.

    Charity

    Toàn bộ lợi nhuận của Radiology Assistant được chuyển đến Medical Action Myanmar, tổ chức được điều hành bởi Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis sr, người là giáo sư tại Đại học Oxford và cũng là anh trai của Robin Smithuis.

    Nhấp vào đây để xem video của Medical Action Myanmar và nếu bạn thấy Radiology Assistant hữu ích, hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Tiêm khớp dưới hướng dẫn siêu âm

    US-guided injection of joints

    James Collins, Robin Smithuis and Matthieu Rutten

    Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Trung tâm Y tế, Leeuwarden, Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp và Bệnh viện Jeroen Bosch, ‘s-Hertogenbosch, Hà Lan

    Publicationdate

    Bài viết này mô tả ứng dụng của hướng dẫn siêu âm trong tiêm khớp chẩn đoán và điều trị.

    Siêu âm là một phương pháp thay thế có giá trị cho các thủ thuật được thực hiện mù hoặc dưới hướng dẫn của màn tăng sáng hoặc CT.

    Shoulder

    Glenohumeral joint

    Anterior approach

    Trong phương pháp tiếp cận phía trước, bệnh nhân nằm ngửa với cánh tay duỗi thẳng và xoay ra ngoài (hình).

    Đầu dò được đặt ở mặt bụng song song với trục dài của gân dưới vai.

    Đường màu xám ở cạnh đầu dò siêu âm chỉ trục dài.

    Không cần gây tê tại chỗ nếu sử dụng kim có đường kính từ 21 gauge trở xuống.

    Đối với việc chọc hút khớp, có thể cần sử dụng kim có lòng kim lớn hơn do độ nhớt cao của dịch hút. Trong những trường hợp như vậy, thuốc gây tê tại chỗ được chỉ định.

    Để thuận tiện cho việc tiêm thuốc hoặc chất cản quang, người ta có thể sử dụng một ống nối giữa kim tiêm và bơm tiêm, trong đó bơm tiêm được cầm và điều khiển bởi một trợ lý.


    The landmarks one should look for are the medial contour of the humeral head and medial to this the coracoid process (C)

    The landmarks one should look for are the medial contour of the humeral head and medial to this the coracoid process (C)

    Sử dụng kim 22-gauge, dài 50mm được kết nối với bơm tiêm chứa thuốc cản quang, do trợ lý cầm giữ và khi kim đã vào đúng vị trí thì bơm 15-20 mL thuốc cản quang.

    Kim được đưa vào vuông góc với bờ trong của chỏm xương cánh tay, xuyên qua gân dưới vai.

    Nếu kim chạm vào sụn của chỏm xương cánh tay, cần rút kim lại 1 hoặc 2 mm, nghiêng nhẹ khoảng 15◦ và sau đó đưa kim tiếp tuyến với chỏm xương vào trong khớp với mặt vát của kim hướng vào trong khớp (hình).

    Không nên cảm thấy có sức cản khi tiêm và cần quan sát thấy thuốc cản quang chảy tự do vào khớp và nếu có thể vào túi cùng dưới vai.

    Posterior approach

    A. Kim tiêm đang ở vị trí trong khớp với đầu kim nằm bên dưới gân cơ dưới gai (ISP) và sụn viền sau (L), tiếp giáp với sụn hyaline (dấu hoa thị) của chỏm xương cánh tay.

    B. Mặt cắt xác tương ứng cho thấy đường đi kim tối ưu (đường trắng).

    C. Siêu âm sau khi tiêm 15 mL thuốc cản quang. Vị trí đúng của kim trong khớp có thể được quan sát trực tiếp trong thời gian thực khi tiêm, đồng thời được xác nhận bởi hình ảnh cấu hình dạng ‘dấu phẩy’ của sụn viền posterior (đầu mũi tên), được nâng lên bởi dịch tiêm vào trong khớp.


    US-image showing a long axis view of the supraspinatus tendon (SSP). The advancing needle under real-time US-guidance has entered the subacromial bursa between the deltoid and SSP-muscle. Dilatation of the subacromial–subdeltoid bursa after injection of 5 mL fluid (blue arrows).

    US-image showing a long axis view of the supraspinatus tendon (SSP). The advancing needle under real-time US-guidance has entered the subacromial bursa between the deltoid and SSP-muscle. Dilatation of the subacromial–subdeltoid bursa after injection of 5 mL fluid (blue arrows).

    Subacromial bursa

    Túi hoạt dịch dưới mỏm cùng vai – dưới cơ delta là một khoang được lót bởi màng hoạt dịch, thường không chứa dịch hoặc chỉ chứa một lượng dịch tối thiểu.

    Túi hoạt dịch bao gồm hai lá túi. Lá ngoài và lá trong lần lượt hòa lẫn với cân cơ delta và chóp xoay. Các lá túi hoạt dịch có thể trượt dễ dàng lên nhau, do đó tạo điều kiện thuận lợi cho tầm vận động của khớp vai.

    Tiêm mù dưới mỏm cùng vai vào túi thanh dịch dưới mỏm cùng vai là một liệu pháp thường được thực hiện bởi các bác sĩ đa khoa và bác sĩ chỉnh hình. Tỷ lệ các mũi tiêm không vào đúng túi thanh dịch dưới mỏm cùng vai dao động từ 12% đến 70%.

    Elbow

    Để tiêm khớp khuỷu tay, bệnh nhân nằm ngửa với cánh tay gấp 90°, được nâng lên và đặt trên gối. Khe khớp giữa chỏm quay và chỏm con có thể dễ dàng sờ thấy. Bàn tay ở tư thế sấp hoặc có thể xoay về tư thế ngón cái hướng lên, tư thế này cần thiết để mở khớp tối đa.

    Đầu dò được đặt trên khớp để hiển thị khoang khớp. Kim (cỡ 22, dài 30 mm) được hướng theo góc đầu-đuôi nhẹ ở phía lưng-ngoài của khớp về phía khoang khớp, nhắm đến bề mặt khớp của chỏm quay.

    Khi thấy kim đã vào trong khớp và cảm nhận được sụn của chỏm xương quay, kim được rút lui nhẹ để đảm bảo rằng vát kim không chạm vào sụn và hướng vào trong khớp.

    Tiêm 5-8 mL thuốc cản quang. Không được cảm thấy có sức cản khi tiêm.

    Wrist and hand

    Radiocarpal joint

    Bệnh nhân nằm ngửa với cổ tay gấp lại và đặt trên miếng bọt biển 45◦ hoặc một chiếc khăn cuộn lại.

    Trong một số trường hợp, việc giữ cổ tay ở tư thế lệch trụ có thể giúp mở rộng khoang khớp hơn nữa.

    Khoảng cách giữa xương quay và xương thuyền được xác định trên siêu âm.

    Một kim 23-25 gauge, dài 30 mm được đưa vào khớp dưới hướng dẫn của siêu âm, hướng về phía bề mặt khớp của xương quay cho đến khi cảm nhận được sự tiếp xúc với xương quay.

    Sau khi đảm bảo rằng đầu kim không nằm trong sụn xuyên tâm, tiến hành bơm 2-4 mL thuốc cản quang.

    Vát của kim hướng về phía khoang khớp và thuốc cản quang được thấy chảy vào trong khớp.

    Distal radioulnar joint (DRUJ)

    Đầu dò tuyến tính được đặt theo trục dọc ở mặt lưng phía trên đầu xa xương quay và xương trụ. Dọc theo trục ngắn của đầu dò, một kim cỡ 23-25, dài 30 mm được đưa vào theo hướng từ gần đến xa theo chiều đuôi. Tổng lượng thuốc tiêm từ 0,5-1 mL được bơm vào tùy theo áp lực tăng dần trong quá trình tiêm.

    Carpal, carpometacarpal and interphalangeal joints

    Các bác sĩ và chuyên gia thường xuyên thực hiện chọc hút và tiêm nội khớp vào các khớp nhỏ ở cổ tay và ngón tay để giảm tràn dịch khớp hoặc để tiêm thuốc.

    Tỷ lệ thất bại và tần suất xảy ra của các mũi tiêm quanh khớp khá cao: 15% – 32%, đặc biệt là với các khớp ngón út và các khớp liên đốt xa (DIP).

    Tiêm thuốc ngoài khớp ngoài ý muốn hơn nữa có thể ảnh hưởng đến các dây chằng hoặc gân xung quanh, dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng.

    Phương pháp tiếp cận mặt lưng sử dụng kim cỡ 23-25 gauge được ưu tiên lựa chọn. Mặc dù đầu dò mảng tuyến tính tần số cao với tần số từ 18 đến 12 MHz thường được sử dụng để quét các cấu trúc mô mềm nông của cổ tay và bàn tay, đầu dò có diện tiếp xúc nhỏ có thể cho phép tiếp cận tốt hơn với các khớp ngoại vi nhỏ.

    Thông thường, 0,5-1 mL chất cản quang được bơm vào sau khi xác nhận vị trí đặt kim chính xác.

    Sacroiliac Joint

    Khớp cùng chậu đã được xác định là nguồn gốc gây đau lưng dưới và đau chi dưới, được cho là do viêm khớp cùng chậu gây ra.

    Điều trị bao gồm tiêm corticosteroid nội khớp. Các mũi tiêm chẩn đoán hoặc phong bế thần kinh thường được thực hiện để phân biệt các nguyên nhân có thể gây đau thắt lưng, vì trong 15-25% trường hợp, đau thắt lưng xuất phát từ khớp cùng chậu.

    Upper level SI joint injection

    Đầu dò được định hướng theo trục dọc được di chuyển từ mức đốt sống thắt lưng thứ năm xuống phía đuôi, hiển thị mặt lưng của xương cùng với mào cùng giữa và mào cùng bên, mặt mông của xương chậu, và lỗ cùng sau thứ nhất.

    Kim được đưa vào dọc theo trục ngắn của đầu dò vào khe giảm âm nằm giữa bề mặt xương cùng và đường viền xương chậu. Góc độ đưa kim được điều chỉnh theo hướng của khe giảm âm khớp cùng chậu, trong đó phần trên có hướng từ trong ra ngoài nhiều hơn, và phần dưới có hướng thẳng đứng hơn.

    Lower level SI joint injection

    Từ mức trên, đầu dò được di chuyển xuống dưới bằng cách xác định mào cùng giữa và mào cùng bên, tại mặt lưng của xương cùng và mặt mông của xương chậu cho đến khi lỗ cùng sau thứ hai được hiển thị.

    Tương tự như mức trên, kim được đưa vào khe giảm âm giữa xương cùng và xương chậu.

    Hip

    Bệnh nhân được đặt ở tư thế nằm ngửa. Chân được giữ ở tư thế xoay trong nhẹ và dạng ra, giúp giảm căng thẳng lên các cấu trúc bao khớp và di chuyển gân cơ thắt lưng chậu cùng túi thanh dịch về phía trong ra khỏi đường đi dự kiến của kim.
    Ưu tiên sử dụng đầu dò mảng cong 5-3,5 MHz, cung cấp độ sâu thâm nhập cần thiết.
    Thông thường, kim cỡ 21 gauge với chiều dài 9 cm được sử dụng cho người lớn trung bình. Ở người lớn nhỏ hơn hoặc trẻ em, có thể sử dụng kim tiêm dưới da cỡ 23 gauge, dài 5 cm.

    Thuốc gây tê cục bộ có thể được tiêm trước khi tiêm chính, tuy nhiên điều này đòi hỏi thao tác thêm cũng như đưa dịch không cản quang (thuốc gây tê) vào khớp, làm giảm không gian cho chất cản quang trong khoang khớp vốn đã hạn chế, đồng thời có thể cần đến 2 lần chọc kim.

    Kim tiêm có thể vô tình bị rút ra khỏi khớp sau khi tiêm thuốc gây tê trong quá trình chuyển đổi để kết nối bơm tiêm với chất cản quang. Điều này có thể tránh được bằng cách sử dụng đầu nối ba chiều giữa hai bơm tiêm chứa thuốc gây tê và dịch tiêm (chất cản quang hoặc thuốc).
    Kim tiêm được đưa vào theo góc từ đuôi đến đầu dọc theo trục dài của đầu dò, hướng đến túi cùng trước gần chỗ nối cổ xương đùi với chỏm xương đùi (xem siêu âm và hình minh họa).

    Vát của kim nên hướng về phía khớp.
    Khi kim tiếp xúc với chỗ nối đầu-cổ xương đùi, kim được rút lui nhẹ để tránh vô tình tiêm vào bên dưới nếp gấp bao hoạt dịch của bao khớp háng (xem hình vẽ).
    Nếu được định vị chính xác trong bao khớp, 10-15 mL thuốc cản quang hoặc thuốc điều trị được tiêm vào và túi cùng phía trước sẽ căng phồng do dịch tiêm vào, xác nhận vị trí trong khớp.

    Knee

    Chỉ định chụp CT hoặc MR khớp học khớp gối bao gồm đánh giá sụn chêm sau phẫu thuật, nghi ngờ có dị vật trong khớp, đánh giá độ ổn định của tổn thương sụn xương và đánh giá sụn khớp. Ngoài ra, có thể được yêu cầu tiêm thuốc như corticosteroid và/hoặc thuốc gây tê cục bộ.

    Đối với việc tiêm, chúng tôi không sử dụng hướng dẫn siêu âm mà sử dụng quy trình “mù” tiêu chuẩn, đưa kim (cỡ 21, dài 50 mm) vào phía sau xương bánh chè theo đường tiếp cận bên giữa xương bánh chè.

    Xương bánh chè được đẩy ra ngoài và kim được đưa vào từ phía bên ngoài giữa, hướng về trung tâm của xương bánh chè được chỉ định bởi ngón trỏ bên trái.

    Kim được đưa vào theo chiều ngang hướng về phía sau trung tâm xương bánh chè cho đến khi tiếp xúc với diện khớp bánh chè bên ngoài hoặc lồi cầu đùi ngoài và khi cảm thấy đã vào trong khớp thì bơm 40 mL thuốc cản quang.

    Trước khi chụp CT hoặc MR, người ta có thể chọn cách băng chặt phía trên xương bánh chè, qua đó đẩy chất cản quang từ túi cùng trên xương bánh chè vào trong khoang khớp thực sự.

    Ankle and foot


    The foot is slightly plantar flexed. The long axis of the transducer is indicated by the grey line on the side, being in a sagittal plane.

    The foot is slightly plantar flexed. The long axis of the transducer is indicated by the grey line on the side, being in a sagittal plane.

    Tibiotalar joint

    CT hoặc MR chụp khớp cản quang có thể được sử dụng để đánh giá tổn thương dây chằng, tổn thương xương sụn hoặc sụn khớp, đánh giá các dị vật tự do hoặc đánh giá sự ổn định của các tổn thương xương sụn.

    Để tiêm vào khớp cổ chân (khớp chày-sên), bệnh nhân nằm ngửa với bàn chân ở tư thế gấp lòng nhẹ.

    Mặt trong của khớp chày-sên được khảo sát ở phía trước bằng siêu âm để xác định vị trí thích hợp cho việc tiêm, đồng thời kiểm tra xem có dịch khớp quá mức hay không.

    Chúng tôi sử dụng đầu dò mảng cong nhỏ 8 MHz, nhưng nếu muốn, có thể sử dụng đầu dò mảng tuyến tính 18-12 MHz. Trục dài của đầu dò được giữ trong mặt phẳng đứng dọc.


    Sonogram showing the needle (arrow) and the needle tip (arrowhead) and the injected contrast media in the tibiotalar joint.

    Sonogram showing the needle (arrow) and the needle tip (arrowhead) and the injected contrast media in the tibiotalar joint.

    Kim tiêm, thường là cỡ 22 (dài: 30 mm), được đưa vào dọc theo trục hình ảnh dài của đầu dò ở phía trong của khoang khớp trước, phía trong so với dây chằng chày trước, tránh các dây chằng và mạch máu.

    Cần xác định vòm xương sên và bờ trước xương chày nhô ra. Kim được đưa vào khớp theo hướng từ đuôi lên đầu, dưới bờ bụng của đầu xa xương chày, hướng vào bề mặt khớp của đầu xa xương chày.

    Cảm nhận được sự tiếp xúc và một lần nữa đảm bảo rằng đầu kim không chạm vào sụn xương chày và mặt vát của kim hướng vào trong khớp.

    8-10 ml thuốc cản quang được tiêm vào khớp chày-sên và người ta thấy bao khớp phía trước phồng lên do dịch.

    Không nên có sức cản khi tiêm hoặc đau mà bệnh nhân cảm thấy.

    Posterior subtalar joint

    Khớp dưới sên hay khớp sên-gót được cấu tạo bởi 3 diện khớp: diện khớp sau rộng đại diện cho bề mặt khớp chính, diện khớp giữa nằm ở phía trong nơi củ chống sên khớp với mỏm trong của xương sên, và diện khớp trước. Chụp khớp dưới sên có thể được thực hiện qua đường tiếp cận trước-ngoài, sau-ngoài hoặc sau-trong. 2-4 ml thuốc cản quang được tiêm vào khớp dưới sên sau.


    Schematic drawing in a coronal view of the right sinus tarsi. Displayed are the course and attachment sites of the cervical ligament (1); the interosseous talo- calcaneal ligament (2); and the medial (3), intermediate (4), and lateral (5) roots of the inferior extensor retinaculum.

    Schematic drawing in a coronal view of the right sinus tarsi. Displayed are the course and attachment sites of the cervical ligament (1); the interosseous talo- calcaneal ligament (2); and the medial (3), intermediate (4), and lateral (5) roots of the inferior extensor retinaculum.

    Sinus tarsi

    Xoang cổ chân là một khoang hình nón chạy theo hướng từ sau-trong đến trước-ngoài. Nó nằm ở mặt ngoài của bàn chân, giữa cổ xương sên và mặt trên-trước của xương gót.

    Xoang cổ chân tiếp nối về phía trong thành ống cổ chân, đây là khoang hình phễu nằm giữa xương sên và xương gót.

    Nó chứa mô mỡ, một vòng nối động mạch, bao khớp, các đầu tận thần kinh và năm cấu trúc dây chằng – rễ trong, rễ giữa và rễ ngoài của mạc hãm duỗi dưới; dây chằng cổ; và dây chằng sên gót gian cốt (hình).

    Khoang này có thể là nguyên nhân gây đau bàn chân trong hội chứng xoang cổ chân. Bước đầu tiên trong điều trị là tiêm thấm xoang cổ chân bằng hỗn hợp Depomedrol và thuốc gây tê tại chỗ (Lidocaine). Điều này có thể gây khó khăn cho phẫu thuật viên khi thực hiện theo phương pháp không có hướng dẫn, nhưng có thể thực hiện một cách tương đối dễ dàng và chính xác với sự hỗ trợ của siêu âm.

    Tiêm dưới hướng dẫn siêu âm vào xoang cổ chân bên phải với đường vào từ phía ngoài. Đầu dò được giữ theo mặt phẳng chếch vành. Kim được đưa vào dọc theo trục dài của đầu dò.

    The sinus tarsi can easily be visualized using ultrasound.

    Bệnh nhân lăn sang bên đối diện, đặt bàn chân cần điều trị với mặt trong tiếp xúc với mặt bàn, mặt ngoài của bàn chân hướng lên trên.

    Đầu dò được giữ theo mặt phẳng chếch vành so với bàn chân.

    Xoang cổ chân được xác định là một khoang hình tam giác nằm giữa mỏm trước của xương gót và cổ xương sên.

    Đầu kim (mũi tên) được nhìn thấy trong xoang cổ chân hình nón, được giới hạn bởi xương sên (T) và xương gót (C).

    Tùy thuộc vào mức độ viêm, có thể có hiện tượng xung huyết trong khoang và có thể thấy các mạch máu xen kẽ, những mạch máu này cần được tránh. Điều này tương đối dễ dàng, đặc biệt khi sử dụng doppler màu

    Volumes of injection

    Nhấp vào hình ảnh bên dưới để xem video về Medical Action Myanmar (MAM), một tổ chức phi chính phủ do Frank Smithuis và Nini Tun điều hành.
    MAM có 12 phòng khám và 2100 nhân viên y tế cộng đồng trên khắp Myanmar.
    Bạn cũng có thể truy cập trang web của MAM
    Tất cả các khoản quyên góp đều được sử dụng rất hiệu quả.

  • Gãy xương

    AO Spine Classification of Thoracolumbar Fractures

    Sander P.J. Muijs¹, Wouter Foppen², Frank Smithuis³ and Robin Smithuis⁴

    ¹Department of Orthopedic Surgery and ²Radiology and Nuclear Medicine, University Medical Center Utrecht, ³University Medical Center Amsterdam, ⁴ Alrijne Hospital, Leiden, the Netherlands

    Publicationdate

    The AO spine classification is the new standard for
    classifying spine injury.

    It is developed by the AO Spine Knowledge Forum Trauma.
    The forum members looked at all existing classification
    systems and formulated the most comprehensive system based on three injury
    mechanisms with increasing severity: compression (A), distraction (B) and
    translation (C).

    The classification is a primarily CT-based and easy to  use.
    In most cases, MRI is not
    needed for correct classification.
    Click here for AO Spine Classification Systems—the complete guides which includes the video guide and studies

    Overview

    This is a simplified roadmap of the AO spine classification.
    It is based on the principle, that you first look for the most severe scenario.

    When you study the images, ask yourself:

    1. Is there
      displacement of a vertebral body in relation to the adjacent vertebral body,
      i.e. a translation injury (type C).
    2. If it is not a C, then the next question is, whether there is an anterior or posterior tension band injury, i.e. a distraction injury (type B).
    3. If it isn’t a B, then the next question is, whether there is a vertebral body fracture, i.e. a compression injury (type A).

    Note: Type A injury can occur isolated or in combination with a type B or C injury.
    This is why the classification starts with the most extensive injuries, so you will not miss anything.

    Translation

    Type C – Translational injuries are characterized by dislocation of a vertebral level from the level below or above in any direction.

    No subtypes are present as there are numerous possibilities of dislocating fractures.
    However, they should be specified along with relevant vertebral body (A-type) or tension band (B-type) injuries to better describe the morphology.

    Distraction

    The next most severe injury is distraction.
    Distraction injury means that two or more vertebral levels are distracted or partially separated from each other. 
    Hyperextension can lead to distraction of the anterior tension band.
    Hyperflexion can lead to distraction of the posterior tension band.

    Anterior tension band
    This is formed by the vertebral bodies, the anterior and posterior longitudinal ligaments and the intervertebral discs.
    This type of injury is often seen in individuals with a rigid spine like diffuse idiopathic skeletal hyperostosis or ankylosing spondylitis and can occur even after minor trauma in this patient group.

    Posterior tension band
    This is the major stabilizer of the spine limiting flexion and reducing the axial load on the intervertebral discs.
    It is formed by: 

    • Osseous structures: pedicles, transverse processes, spinous processes.
    • Non-osseous structures: ligamentum flavum, ligamentum inter- and supraspinosum and the facet joints.

    Compression

    If it is not a type C or B injury, we ask ourselves whether there is a type A compression injury.
    Compression injuries are fractures of the vertebral bodies: 

    • A1 fracture of
      one endplate.
    • A2 split
      fracture where both endplates are involved without affecting the posterior wall of the vertebral body
    • A3 incomplete
      burst fracture, where the posterior wall and one endplate are involved
    • A4 complete
      burst fracture, where the posterior wall and both of the endplates are
      involved. 

    Note: Type A
    injury can occur isolated or secondary to B or C injury.
    In addition there is a type A0 fracture, which is a minor non-structural fracture, that does not affect the stability of the spine, e.g. a fracture of the transverse process or spinous process.

    Roadmap

    This is the complete version of the roadmap of the AO-spine classification.
    It starts with the most severe injury, which is C translation and finally ends with the insignificant A0-injury.

    C translation
    When there is displacement, it is a C-type translation injury without any subclassification.
    When you describe a type C injury, both involved levels which are
    displaced from each other are described: e.g. Th8-Th9 AO type C.

    B distraction
    If there is anterior
    distraction with disruption of the anterior tension band, you call it a
    B3-hyperextension injury.
    If there is injury to the
    posterior tension band, it is usually a combination of osseous and non-osseous
    injury (B2).
    Occasionally it is a purely osseous injury (B1) also
    known as Chance fracture.
    In general a B1-type injury has a
    better prognosis than a B2-type injury.    

    A compression
    When there is a compression fracture of a vertebral body, the subclassification is determined whether there is a fracture of one or both endplates and whether the posterior wall is involved.

    Complete overview

    This illustration summarizes the different fracture types of the AO-spine classification (adapted from reference 1).

    Type C – Translational injuries are characterized by:

    • Dislocation or displacement of a vertebral level from the level below or above in any direction.

    Type B – Distraction injuries are characterized by:

    • Hyperflexion with distraction of the tension band on the posterior side.
      Usually a combination of osseous and non-osseous injury (B2), but ocassionally a purely osseous injury (B1). This is also known as Chance fracture.
    • Hyperextension with distraction of the tension band on the anterior side (B3). This is a common injury in patients with a stiff back.


    Type A
     – Compression fractures of the vertebral bodies:

    • A1 fracture of one endplate.
    • A2 split fracture where both endplates are involved.
    • A3 a burst fracture, where the posterior wall and one of the endplates are involved.
    • A4 a complete burst fracture, where the posterior wall and both of the endplates are involved. 

    A helpful tool to classify the subtypes of A injury is the following:

    • Both endplates of the vertebra are each worth 1 point, the posterior wall 2 points.
    • Add up the points for the involved cortices of the vertebral body and you will get the correct subtype A injury.

    Type C Translational injuries

    We start with the most severe injury and work from there.
    Translational injuries are dislocation or displacement of a vertebral level from the level below or above.
    There are no subtypes because various configurations are possible.
    There is a high degree of instability and therefore an indication for surgery.

    Images
    Here we see a dislocation of the proximal levels to the right lateral side in the coronal plane.

    Conclusion
    Type C injury.

    What is the highest AO-type of injury?

    Images
    This is a clear example of translation in the anterior direction.

    Conclusion
    Type C injury.

    Scroll through images.
    What are the findings?
    What is the highest AO-type of injury?

    Findings

    • Dislocation of the proximal vertebrae anteriorly (white arrow). 
    • Both facet joints are perched (black arrows). Perched means to be situated above or on the edge of something. In this case the inferior process of vertebral articular joints appears to sit on the ipsilateral superior articular process of the vertebra below.
    • Due to the anterior displacement a fracture of the spinous process is seen, in a horizontal oblique course.


    Conclusion

    Type C injury.

    First look at the images.
    What are the findings?
    What is the highest AO-type of injury?

    Findings

    • Both facet joints are perched or displaced (black arrows).
      The displacement of the vertebrae (white arrow) is not as striking as in previous cases. 
    • There are fractures of the spinous processes on multiple levels.
      This is a common feature in C injuries. 
    • Pay attention to the chip fractures on the endplates.


    Conclusion

    Type C + A1 injury.


    Scroll through the images

    Findings:

    • Perched facet joints (yellow curved arrows), so think of C injury. 
    • Posterior displacement of the vertebral bodies in the midline.
    • Secondary A4 injury of the vertebral body.


    Conclusion

    Type C + A4 injury


    Scroll through images.
    What are the findings?
    What is the highest AO-type of injury?

    Findings

    • At a first glance we see a oblique fracture of the vertebral body (A1).
    • But as mentioned before, we have to start with the most severe type (C) and work from there. 
    • So ask yourself: Is there a dislocation in the transverse plane present (yes, look at the white lines) and is there a perched facet joint present (yes, unilaterally on the left side)


    Conclusion

    Type C + A1 (only upper endplate)


    Scroll through the images.
    What are the findings?
    What is the highest AO-type of injury?

    Findings

    • Vertical fracture of the posterior border of the vertebral body. It looks a bit odd. 
    • Again we first have to look for the presence of a type C injury.
    • Notice that there is a subtle posterior dislocation of the proximal levels. So this has to be C injury. 


    Conclusion

    Injury type C + A3

    These images are of a 65 year-old woman who fell from her bike.

    Scroll through the images.
    What are the findings?
    What is the highest AO-type of injury?

    Findings
    There is a type C injury.
    In addition to the dislocation in the upper thoracic spine, there is also a sternum fracture, further increasing instability alongside the severe spinal injury.


    This is a difficult case with injuries at many levels.
    What is the most severe level for classification.
    Then continue with the second stack below for classification of other levels.

    Findings

    1. The most severe level is L4/5 with dislocation (dotted lines)
    2. Facet fractures at L4 (arrows). 
    3. A4 burst fracture (circle). 


    Conclusion
    : 
    Injury type C + A4 at L4/5.

    Continue with the next stack of images to classify level L2…


    Scroll through images.
    What is the highest AO-level?

    Findings

    1. No dislocation ( no C type).
    2. Mainly horizontal fractures of spinous processus at multiple levels (B-type).
    3. Split fracture L2 (type A2).


    Conclusion

    Injury type B2 + A2 at level L2.

    The combination of these fractures make it difficult to comprehend what exactly has happened.
    The AO spine classification is only designed to classify these injuries as simple as possible.

    Type B / Distraction injuries

    B3 Extension distraction injury

    Hyperextension can result in distraction of the anterior tension band, which is formed by the vertebral bodies, the anterior and posterior longitudinal ligaments and the intervertebral disc.

    These injuries can be difficult to detect since patients are scanned in the supine position laying on their back, which may obscure the anterior distraction.

    However, these injuries mainly occur in patients with a rigid spine as a result of osteoarthritis, DISH or Ankylosing Spondylitis (SpA).
    Stay persistent when examining a patient with a rigid spine until you have found the B3 injury.

    Extension distraction is characterized by:

    • Distraction of the tension band on the anterior side.
    • Any horizontal or oblique fracture line through vertebral bodies anteriorly with separation on both sides.
    • Widening of intervertebral disc space.


    Scroll through images.
    What are the findings?

    Findings

    1. C injury? No.
    2. Signs of a rigid spine?
      Yes, so be aware of potentially very subtle B3 injury. 
    3. A subtle fracture on the anterior vertebral body is seen (arrows).


    Conclusion

    Injury type B3.


    Scroll through images.
    What are the findings?

    Findings

    1. C injury? No.
    2. Signs of a rigid spine? 
      Yes, clear example of SpA so be aware of a B3 injury. 
    3. Horizontal fracture of vertebral body  (white circle)
    4. Subtle separation anteriorly at the fracture level


    Conclusion
    injury type B3.


    Scroll through images.
    What are the findings?

    Findings

    1. C injury? No.
    2. Signs of a rigid spine? 
      Yes (DISH), so a B3 injury is very likely. 
    3. A subtle fracture on the anterior vertebral body (arrows). 
    4. No separation, probably due to positioning of patient in the scanner


    Conclusion

    Injury type B3.


    Scroll through images.
    What are the findings?

    Findings

    1. C injury? No.
    2. Signs of a rigid spine? 
      Yes, a B3 injury is very likely. 
    3. A subtle fracture on the anterior vertebral body. 


    Conclusion

    Injury type B3.

    B1 and B2 Flexion distraction injury

    Hyperflexion can lead to distraction of the posterior tension band, which is the term for the combined unit of bones and ligaments that together provide stability. 

    The posterior tension band is formed by: 

    • Osseous structures: pedicles, transverse processes, spinous processes.
    • Non-osseous structures: ligamentum flavum, inter- and supraspinosum, and the facet joints.

    When the posterior tension band is distracted in flexion distraction injury, it is classified as:

    • B1 flexion injury, which is purely osseous.
      This injury is a synonym for the previously called Chance fracture.
      B1 injury is rare, since ligamentous structures are almost always involved. 
    • B2 injury, which is a combination of osseous and non-osseous injury. Combination with type A injury is common, this is classified additionally.


    Study the images.
    What is the highest AO-type of injury?
    Any additional findings?

    Findings

    1. Fracture through spinous process indicating B2-flexion distraction injury. 
    2. Fracture of both endplates (1+1 point) and posterior wall (2 points) of the vertebral body, i.e. A4 compression fracture.

    Conclusion
    injury type B2-A4


    Scroll through the images.

    What is the highest AO-type of injury?
    Any additional findings?

    Then continue with the next images…

    Findings

    1. Black arrows: horizontal fractures through the pedicles as a result of flexion distraction trauma.
    2. White arrows: soft tissue swelling indicating injury to posterior ligaments.
    3. Circle: compression fracture of posterior wall (2 points) and two endplates (2 points)


    Conclusion

    Type B2-A4
    Flexion distraction injury with separation on the posterior side and a secondary burst fracture involving both endplates and the posterior wall.

    These images are of a young child with a spinal injury.

    Findings

    1. Clear widening of the interspinous distance (yellow arrow)
    2. Black arrowhead: small avulsion fracture to the flexion distraction
    3. MRI better depicts the ligamentous injury, which was suspected on CT


    Conclusion
    Injury type B2


    Scroll through the images.

    What is the highest AO-type of injury?
    Any additional findings?

    Findings

    1. Subtle widening of the interspinous distance (white circle)
    2. Small avulsion fracture spinous process (yellow arrow)
    3. Compression fracture with involvement of one endplate and posterior wall (1+2 points)


    Conclusion
    Injury type B2 + A3

    Type A / Compression injury

    If it is not a type C or B injury, then the next question is, whether it is a type A compression injury.
    Compression injuries are fractures of the vertebral bodies and are classified as:

    • A1 fracture of one endplate.
    • A2 split fracture where both endplates are involved.
    • A3 incomplete burst fracture, where the posterior wall and one endplate are involved
    • A4 complete burst fracture, where the posterior wall and both of the endplates are involved. 

    A4 Complete Burst fracture

    Fracture with involvement of the posterior wall and both endplates.
    A vertical fracture of the lamina can be present and does not constitute a tension band failure.

    What is the highest AO-type of injury?

    Findings:

    • No C or B injury
    • Fractures of the vertebral body with involvement of both endplates (1+1 points) and posterior wall (2 points)


    Conclusion
    Injury type A4


    What is the highest AO-type of injury?

    Findings

    • This is a flexion distraction injury type B2.
    • There is an additional compression fracture.

    What type of A fracture do we have here?

    Findings

    • Compression fracture of posterior wall (2 points) and two endplates (2 points).
    • This is the same case as in the B2 Flexion  distraction injury.

    What is the highest AO-type of injury?

    Findings

    • No C or B injury.
    • Fractures of the vertebral body with involvement of both endplates (1+1 points) and posterior wall (2 points).
    • In the coronal plane, a sagittal course of the fracture is seen, which is common in burst fractures.
    • Bulging of the posterior wall without any other signs of dislocation is the result of the burst fracture.
      Therefore no C injury.


    Conclusion
    Injury type A4

    Here more examples of typical burst injuries.
    Due to the axial force, the vertebral body is ‘split in half’, therefore a sagittal course of the fracture is common. 

    Therefore a fracture through the posterior osseous structures is possible in some type A injuries and should not always be regarded as a posterior distraction injury.
    This can be confusing sometimes.  

    A3 Incomplete Burst fractures

    Fracture with any involvement of the posterior wall; only a single endplate fractured.
    A vertical fracture of the lamina is usually present and does not constitute a tension band failure.

    What is the AO-type of the vertebral body fracture based on only these two inages?

    Findings:

    • Fractures of the vertebral body with involvement of upper endplates (1 points) and posterior wall (2 points)
    • Bulging of the posterior wall without any other signs of dislocation is the result of the burst fracture.
      Therefore no C injury.


    Conclusion
    Injury type A3

    Findings:

    • No C or B injury
    • Fractures vertebral body with involvement of upper endplate (1 point) and posterior wall (2 points)


    Conclusion
    Injury type A3

    A2 Split fracture

    A2 is a fracture of both endplates without involvement of the posterior wall of the vertebral body.


    What is the highest AO-type of injury?

    Findings:

    • No C or B injury
    • Fracture of the vertebral body with involvement of both endplates (1+1 points), no posterior wall involvement


    Conclusion
    injury type A2

    A1 Wedge fracture

    Fracture of a single endplate without involvement of the posterior wall of the vertebral body.

    What is the type of the fracture of the vertebral body?

    Findings:

    • Fracture vertebral body with involvement of upper endplate (1 point), no posterior wall involvement


    Conclusion
    Injury type A1

    A0 Minor fracture

    A0 is a minor non-structural fracture, that does not affect the stability of the spine.
    A fracture of the transverse process or spinous process is regarded as an injury type A0.
    Usually they are cause by direct trauma.

    Modifiers

    M1 modifier
    is when there is uncertainty concerning discoligamentous injury.

    M2 modifier describes patient-specific comorbidity, which might argue
    either for or against surgery for patients with relative surgical indications.

    Example of an M2 modifier are ankylosing spondylitis and Osteoporosis