Blog

  • Thực quản II: Hẹp lòng, Hội chứng cấp tính, U tân sinh và Chèn ép mạch máu

    Thực quản II: Hẹp, Hội chứng cấp tính, Khối u và Ấn lõm mạch máu

    Terrence C. Demos, MD, Harold V. Posniak, MD, Wayde Nagamine, MD và Mary Olson, MD

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Loyola, Hoa Kỳ

    Ngày xuất bản

    Trong Thực quản II, chúng ta sẽ thảo luận về:

    • Hẹp thực quản
    • Các hội chứng thực quản cấp tính.
    • Khối u lành tính và ác tính.
    • Ấn lõm mạch máu.

    Hẹp Thực Quản

    Bảng trình bày các nguyên nhân thường gặp và ít gặp gây hẹp thực quản.

    Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy một vị trí hẹp (mũi tên) với các nếp niêm mạc không đều tại vị trí hẹp trên hình ảnh đối quang khí.
    Bệnh nhân này được chẩn đoán thực quản Barrett.
    Hẹp và loét thực quản đoạn giữa gợi ý nghi ngờ thực quản Barrett.

    Hai hình ảnh bên phải cho thấy thực quản Barrett với vị trí hẹp không đều do ung thư biểu mô tuyến.

    Hình ảnh cho thấy một đoạn hẹp lành tính dài, thon đều đối xứng xuất hiện nhiều tháng sau xạ trị.

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân có đoạn hẹp lành tính ở đoạn cao của thực quản (mũi tên).
    Có hình ảnh đông đặc phổi thùy dưới hai bên do hít sặc tái diễn nhiều lần.

    Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 5.000–15.000 trường hợp nuốt phải chất ăn mòn.
    Khoảng 50%–80% xảy ra ở nhóm bệnh nhân nhi.
    Hình bên trái cho thấy đoạn hẹp cao (mũi tên) sau khi nuốt phải chất ăn mòn.

    Các gai xương (mũi tên) có thể chèn ép vào thực quản và hạ họng.
    Tuy nhiên, chúng hiếm khi gây ra triệu chứng lâm sàng.

    Hẹp thực quản đa ổ là tình trạng ít gặp.
    Bảng trình bày các bệnh lý có thể biểu hiện với nhiều đoạn hẹp thực quản.


    Benign pemphigoid

    Pemphigoid lành tính

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân mắc pemphigoid lành tính.
    Các bóng nước niêm mạc đã dẫn đến hình thành nhiều đoạn hẹp (mũi tên).


    Epidermolysis bullosa

    Ly thượng bì bọng nước (Epidermolysis bullosa)

    Hình ảnh này của một bệnh nhân mắc ly thượng bì bọng nước lành tính.
    Nhiều đoạn hẹp (mũi tên) là di chứng của bệnh lý bọng nước niêm mạc.
    Bệnh lý bọng nước da lan rộng đã dẫn đến tình trạng dính ngón tay và co rút.


    Corrosive ingestion

    Nuốt phải chất ăn mòn

    Nuốt phải chất ăn mòn có thể dẫn đến hình thành nhiều đoạn hẹp thực quản.

    Các hội chứng thực quản cấp tính

    Bảng bên trái liệt kê các nguyên nhân gây hội chứng thực quản cấp tính.

    Hội chứng Boerhaave

    Hội chứng Boerhaave là tình trạng vỡ thành thực quản.
    Nguyên nhân thường gặp nhất là nôn mửa quá mức trong các rối loạn ăn uống như chứng cuồng ăn (bulimia), mặc dù hiếm gặp hơn có thể xảy ra khi ho quá mạnh hoặc trong các tình huống khác như tắc nghẽn do thức ăn.

    Hội chứng Boerhaave là thủng thực quản xuyên thành (toàn bộ chiều dày thành), khác biệt với hội chứng Mallory-Weiss – một dạng rách thực quản không xuyên thành cũng liên quan đến nôn mửa.
    Các hội chứng này khác biệt với thủng do thầy thuốc (iatrogenic perforation), vốn chiếm 85-90% các trường hợp vỡ thực quản, thường là biến chứng của thủ thuật nội soi, ống thông nuôi dưỡng hoặc phẫu thuật không liên quan.

    Hình ảnh này của một bệnh nhân mắc hội chứng Boerhaave.
    X-quang ngực cho thấy tràn khí trung thất (các mũi tên).
    Chụp thực quản cản quang cho thấy thuốc cản quang tan trong nước thoát ra ngoài lòng thực quản vào nửa ngực trái (dấu hoa thị).

    Thủng hầu như luôn xảy ra ở phía trái của thực quản đoạn xa.
    X-quang cho thấy khí trung thất, tràn dịch màng phổi và sau đó là tràn khí màng phổi.
    Chụp thực quản cản quang được sử dụng để xác nhận rò rỉ, trước tiên dùng thuốc cản quang tan trong nước, sau đó dùng barium nếu không phát hiện rò rỉ.


    Boerhaave's syndrome

    Hội chứng Boerhaave

    Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân mắc hội chứng Boerhaave.
    Chụp thực quản barium cho thấy khí ngoài lòng thực quản (mũi tên) mà không có hiện tượng thoát thuốc cản quang ra ngoài.
    CT cho thấy khí ngoài lòng thực quản (các mũi tên).
    Rách thực quản đoạn xa bên trái được xác nhận trong phẫu thuật.
    CT có thể phát hiện lượng nhỏ khí ngoài lòng thực quản hoặc thoát thuốc cản quang mà không thể nhìn thấy trên X-quang hoặc chụp thực quản cản quang.

    Rách niêm mạc Mallory-Weiss

    Rách niêm mạc Mallory-Weiss xảy ra do nôn mửa kéo dài và dữ dội, ho hoặc co giật.
    Thông thường, niêm mạc tại vùng nối thực quản – dạ dày bị rách và chảy máu, biểu hiện bằng máu đỏ tươi trong chất nôn hoặc phân có máu.
    Tình trạng này có thể xảy ra do uống rượu quá mức.
    Đây là một tình trạng cấp tính thường tự khỏi trong vòng 10 ngày mà không cần điều trị đặc hiệu.


    Mallory-Weiss tear

    Rách niêm mạc Mallory-Weiss

    Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân bị rách niêm mạc Mallory-Weiss.
    Phim chụp điểm (spot films) cho thấy barium (các mũi tên) trong đường rách niêm mạc dạng tuyến tính gần chỗ nối thực quản – dạ dày.
    Vết rách có thể ở thực quản đoạn xa, đáy vị hoặc kéo dài qua chỗ nối thực quản – dạ dày.

    Tụ máu thực quản

    Các tổn thương hiếm gặp này có liên quan đến tình trạng tăng áp lực trong lòng thực quản, thường gặp nhất là do nôn mửa, can thiệp dụng cụ, và dùng thuốc chống đông máu hoặc rối loạn đông máu.
    Một số trường hợp xảy ra tự phát.
    Chấn thương đụng dập là nguyên nhân hiếm gặp.
    Tụ máu thực quản có tính chất tự giới hạn và hầu như không bao giờ tiến triển thành thủng.
    Hầu hết các trường hợp tụ máu thực quản tự khỏi trong 1-2 tuần với điều trị bảo tồn.

    Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân bị tụ máu thực quản.
    Bệnh nhân nhập viện với triệu chứng đau ngực và khó nuốt sau khi nôn mửa.
    Ngoài hình ảnh động mạch chủ xoắn vặn, X-quang ngực bình thường.
    Chụp thực quản barium cho thấy lòng thực quản hẹp (các mũi tên) trên phim thẳng (AP) và lòng thực quản dẹt trên phim nghiêng (các đầu mũi tên), gợi ý tụ máu trong thành thực quản.

    Trên CT, chẩn đoán tụ máu trong thành thực quản được xác nhận.
    Khối tụ máu thành thực quản tăng tỷ trọng (đầu mũi tên) được thấy kế bên ống thông mũi – dạ dày (mũi tên).
    Sau điều trị bảo tồn, sáu tháng sau chụp thực quản barium cho kết quả bình thường.

    Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân có biến chứng sau nội soi.
    Can thiệp dụng cụ gây rách niêm mạc và tụ máu trong thành thực quản dạng bóc tách, tạo ra hình ảnh lòng đôi với dải niêm mạc phân cách (các mũi tên).

    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh thoát thuốc cản quang trong thành thực quản (mũi tên) sau nong đoạn xa điều trị achalasia.
    Ở giữa là hình ảnh thoát thuốc cản quang trong thành thực quản (mũi tên) sau nội soi có biến chứng.
    Bên phải là hình ảnh thủng thực quản sau sinh thiết với thuốc cản quang thoát ra ngoài lòng thực quản (mũi tên).

    Khối u lành tính

    Dưới đây là danh sách các khối lành tính của thực quản.


    Esophageal leiomyoma

    U cơ trơn thực quản

    U cơ trơn (Leiomyoma)

    U cơ trơn là khối u lành tính thực quản thường gặp nhất, thường có kích thước lớn nhưng không gây tắc nghẽn. U mô đệm đường tiêu hóa (GIST) ít gặp nhất ở thực quản.

    Hình bên trái là bệnh nhân không có triệu chứng với u cơ trơn.
    Trên phim ngực thẳng, thấy một đám mờ bất thường phía sau tim (mũi tên).
    Hình chụp thực quản cản quang barium cho thấy một khối có múi (mũi tên) không gây tắc nghẽn mặc dù kích thước lớn.


    Esophageal leiomyoma

    U cơ trơn thực quản

    Các tổn thương niêm mạc được nhận biết qua hình ảnh bề mặt niêm mạc không đều.
    Các tổn thương trong thành dưới niêm mạc tạo ra hình khuyết lấp đầy nhẵn, và khi nhìn nghiêng, bờ tổn thương thường tạo góc gần vuông với thành thực quản.
    Các tổn thương ngoại lai có xu hướng tạo góc tù dài hơn nếu không dính vào thành thực quản, và tâm điểm của chúng có thể nằm ngoài thực quản. Trên thực tế, việc xác định vị trí của tổn thương có thể gặp khó khăn.

    Trên phim X-quang, khối u (mũi tên) lồi vào ngách thực quản-tĩnh mạch đơn.
    Trên hình chụp thực quản cản quang, bờ dưới của tổn thương trong thành này tạo góc gần vuông (mũi tên) với thành thực quản.


    Calcified esophageal leiomyoma

    U cơ trơn thực quản có vôi hóa

    Một khối thực quản có vôi hóa hầu như luôn là u cơ trơn.
    Hình bên trái là bệnh nhân có tổn thương thực quản vôi hóa (mũi tên) lồi vào ngách thực quản-tĩnh mạch đơn trên phim X-quang.
    Tổn thương (mũi tên) trên CT và hình X-quang bệnh phẩm phẫu thuật cho thấy vôi hóa.

    Hình bên trái là bệnh nhân với u nguyên bào cơ dạng hạt (granular cell myoblastoma), một loại khối u lành tính hiếm gặp.
    Hai tổn thương này (mũi tên) có hình ảnh không đặc hiệu, tuy nhiên tổn thương ở phía gần hơn có bờ nhô ra và góc vuông, gợi ý vị trí trong thành thực quản.


    Pedunculated fibrovascular polyps

    Polyp xơ mạch có cuống

    Polyp xơ mạch (Fibrovascular polyp)

    Polyp xơ mạch có cuống là tổn thương hiếm gặp, khó chẩn đoán trên hình chụp thực quản cản quang barium.
    Sự di chuyển của polyp trong quá trình thăm khám tạo ra vị trí không cố định.
    Hình dạng của polyp đôi khi có thể gợi ý chẩn đoán như trong trường hợp bệnh nhân này.
    Cuống polyp thường khó xác định.

    Dị tật nhân đôi thực quản

    Hình bên trái là bệnh nhân với dị tật nhân đôi thực quản.
    Các hình ảnh trên chụp thực quản cản quang barium không đặc hiệu.
    Tổn thương (mũi tên) có thể thấy phía sau tim trên phim X-quang.
    Hẹp thực quản (mũi tên) do dị tật nhân đôi gây ra.

    Nang nhân đôi ruột trước (foregut duplication cyst) là một nang bẩm sinh.
    Trong trường hợp hình bên trái, nang đẩy hạ họng và thực quản đã cản quang (mũi tên) ra phía sau, đồng thời đẩy khí quản và thanh quản (dấu hoa thị) ra phía trước.

    Khối u ác tính

    Dưới đây là danh sách các khối u thực quản ác tính.

    Ung thư thực quản sớm và ung thư thực quản kích thước nhỏ không phải là hai khái niệm đồng nghĩa.
    Ung thư thực quản sớm được giới hạn ở lớp niêm mạc, dưới niêm mạc và chưa có di căn hạch bạch huyết.
    Hầu hết có kích thước nhỏ ( Ung thư thực quản kích thước nhỏ được định nghĩa dựa trên kích thước tổn thương, với đường kính Vì vậy, một ung thư sớm có thể có kích thước nhỏ, nhưng một ung thư kích thước nhỏ vẫn có thể đã xâm lấn hoặc di căn và do đó không được xếp vào loại ung thư sớm.

    Hình ảnh này của một bệnh nhân có ung thư thực quản sớm.
    Tổn thương không hiển thị trên phim chụp thực quản cản quang đơn thuần.
    Phim chụp thực quản đối quang kép (không khí – cản quang) cho thấy bề mặt niêm mạc không đều (các mũi tên) gợi ý tổn thương niêm mạc.
    Đây vừa là tổn thương kích thước nhỏ, vừa được xác nhận về mặt giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô vảy giai đoạn sớm.


    LEFT: Small polypoid carcinoma. RIGHT: Large polypoid lesion.

    TRÁI: Ung thư biểu mô dạng polyp kích thước nhỏ. PHẢI: Tổn thương dạng polyp kích thước lớn.

    Ung thư thực quản giai đoạn tiến triển có nhiều hình thái đại thể:

    • Dạng polyp
    • Dạng giãn tĩnh mạch (varicoid)
    • Dạng thâm nhiễm
    • Dạng loét
    • Dạng lan rộng bề mặt
    • Dạng hẹp (stricture)
    • Giả co thắt tâm vị (Pseudoachalasia)

    Bên trái là hai trường hợp ung thư biểu mô dạng polyp.


    Esophageal carcinoma with ulcerations (arrows) and sharp right angle junction with esophageal wall (arrowheads)

    Ung thư biểu mô thực quản với các ổ loét (mũi tên) và góc tiếp giáp vuông góc sắc nét với thành thực quản (đầu mũi tên)

    Hình ảnh này của một bệnh nhân có ung thư biểu mô dạng thâm nhiễm loét.
    Tổn thương có ranh giới chuyển tiếp đột ngột tạo thành góc nhọn và bờ nhô ra (overhanging edge).
    Đặc điểm này gợi ý sự xâm lấn thành thực quản và khác với góc tù thường gặp trong các tổn thương ngoại sinh không dính vào thực quản.


    Varicoid carcinoma

    Ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid)

    Các hình ảnh này của một bệnh nhân có ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid).
    Hình ảnh các khuyết thuốc không thay đổi gợi ý đây là khối u hơn là giãn tĩnh mạch thực sự.
    Lưu ý bờ trên sắc nét của tổn thương và ổ loét (các mũi tên)


    LEFT: Varicoid carcinoma. RIGHT: Superficial spreading carcinoma.

    TRÁI: Ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid). PHẢI: Ung thư biểu mô lan rộng bề mặt.

    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân có ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid).
    Các thùy dài mô phỏng hình ảnh giãn tĩnh mạch nhưng không thay đổi trong quá trình soi huỳnh quang.
    Lưu ý các nếp niêm mạc lớn không đều và khối mô mềm (mũi tên) ở đáy vị

    Bên cạnh đó là hình ảnh của một bệnh nhân có ung thư biểu mô lan rộng bề mặt.
    Tổn thương lan rộng bề mặt lan rộng liên quan đến đoạn thực quản xa.
    Hình ảnh này có thể gặp ở cả tổn thương sớm lẫn tổn thương giai đoạn tiến triển.


    LEFT: Long irregular distal stricture due to carcinomaRIGHT: Distal narrowing is not tapered and more proximal than achalasia. Irregularity (arrow) at narrowed site is subtle but persistent

    TRÁI: Hẹp đoạn xa dài và không đều do ung thư biểu mô. PHẢI: Hẹp đoạn xa không có dạng thuôn nhọn và ở vị trí gần hơn so với co thắt tâm vị. Sự không đều (mũi tên) tại vị trí hẹp tinh tế nhưng dai dẳng.

    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh bệnh nhân ung thư biểu mô có hẹp thực quản.
    Hẹp không đều, không đối xứng gợi ý mạnh đến ung thư biểu mô.
    Hẹp thuôn nhọn đều đặn, đối xứng là đặc trưng của nguyên nhân lành tính, tuy nhiên các hẹp ác tính cũng có thể có đặc điểm tương tự và bắt chước tổn thương lành tính.

    Bên cạnh đó là hình ảnh bệnh nhân ung thư biểu mô có hẹp thực quản giống co thắt tâm vị.
    Khối u ác tính đoạn thực quản xa có thể rất giống hình ảnh co thắt tâm vị.
    Nếu nhu động thực quản bình thường, có thể loại trừ co thắt tâm vị.
    Tuy nhiên, nếu nhu động bất thường, các đặc điểm hình ảnh tinh tế như: hẹp không đối xứng, không đều, đột ngột hoặc ở vị trí cao, bất thường niêm mạc, hoặc bất thường cố định sẽ gợi ý chẩn đoán.

    Bên trái là một trường hợp giả co thắt tâm vị khác.
    Hẹp đoạn xa mô phỏng hình ảnh co thắt tâm vị, nhưng vị trí hẹp lệch tâm, các bờ vai không đối xứng (các mũi tên), và niêm mạc không đều tại đỉnh vùng hẹp.
    CT cho thấy thành đáy vị dày lên (các mũi tên) do ung thư biểu mô tuyến.

    Dải khí quản – thực quản (Tracheoesophageal stripe)
    Chiều rộng của vùng tiếp giáp giữa thành sau khí quản và thành trước thực quản > 5 mm trên phim chụp ngực thẳng tư thế nghiêng là dấu hiệu nghi ngờ bệnh lý, thường gặp nhất là ung thư biểu mô thực quản hoặc co thắt tâm vị.

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có dải rộng 1 cm (các mũi tên).
    Phim chụp thực quản cản quang cho thấy dải rộng (các mũi tên) và bờ không đều của ung thư biểu mô đoạn thực quản giữa.
    CT cho thấy mô mềm bất thường ở phía sau khí quản.
    Khối u xâm lấn trung thất liền kề cung động mạch chủ (mũi tên)


    Barrett's esophagus with ulcerated (arrow) adenocarcinoma

    Thực quản Barrett với ung thư biểu mô tuyến có loét (mũi tên)

    Thực quản Barrett và Ung thư biểu mô tuyến

    Thực quản Barrett là yếu tố nguy cơ đã được chứng minh cho sự phát triển của ung thư biểu mô tuyến.
    Tuy nhiên, tỷ lệ mắc ung thư trong bối cảnh thực quản Barrett vẫn còn nhiều tranh cãi.
    Câu hỏi về đối tượng, phương thức và thời điểm tầm soát vẫn chưa được giải quyết thống nhất.

    Ung thư biểu mô tuyến chiếm 10% các khối u ác tính thực quản vào những năm 1960.
    Kể từ thập niên 1960, tỷ lệ mắc tại Hoa Kỳ tăng nhanh hơn bất kỳ loại ung thư nào khác.
    Tỷ lệ mắc hiện nay đang tiệm cận hoặc vượt qua ung thư biểu mô vảy ở nam giới da trắng tại Hoa Kỳ và châu Âu.

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có ung thư biểu mô tuyến dạng mảng (plaque-like) có loét (mũi tên) trên nền thực quản Barrett.

    Ung thư biểu mô tuyến nguyên phát của đáy vị có thể xâm lấn vào thực quản, tuy nhiên các tiêu chí phân biệt xâm lấn từ dạ dày với khối u nguyên phát thực quản vẫn còn là chủ đề tranh luận.

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có ung thư biểu mô tuyến đáy vị.
    Phim chụp cản quang barium cho thấy thành thực quản đoạn xa dày lên rõ rệt và không đều, cùng với các nếp niêm mạc bất thường tại vùng nối thực quản – dạ dày.
    CT cho thấy thành bờ cong nhỏ dày lên và không đều (các mũi tên) gần vùng nối thực quản – dạ dày.


    Spindle cell carcinoma

    Ung thư biểu mô tế bào hình thoi (Spindle cell carcinoma)

    Ung thư biểu mô tế bào hình thoi là các khối u hiếm gặp, còn được gọi là ung thư biểu mô – sarcoma (carcinosarcoma).
    Chúng thường có kích thước lớn nhưng không gây tắc nghẽn, như trong trường hợp được minh họa bên trái.
    U cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma) và u hắc tố ác tính nguyên phát hiếm gặp của thực quản cũng có xu hướng có kích thước lớn nhưng không gây tắc nghẽn đáng kể.


    Leiomyosarcoma of the esophagus

    U cơ trơn ác tính (Leiomyosarcoma) thực quản

    Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có u cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma) thực quản.
    Bờ (các mũi tên) của khối u kích thước lớn có thể nhìn thấy trên phim chụp ngực thẳng.
    Phim chụp thực quản cản quang tư thế nghiêng cho thấy sự không đều rõ rệt và hẹp lòng thực quản (các mũi tên).


    Leiomyosarcoma of the esophagus

    U cơ trơn ác tính (Leiomyosarcoma) thực quản

    Bên trái là một bệnh nhân khác có u cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma) thực quản.
    Khối u kích thước lớn làm biến dạng lòng thực quản.
    CT cho thấy khối tổn thương làm biến dạng nhưng không gây tắc nghẽn lòng

    Ấn lõm mạch máu

    Bên trái là danh sách các cấu trúc mạch máu có thể gây ấn lõm lên thực quản.


    Uphill varices in a patient with cirrhosis.

    Giãn tĩnh mạch hướng lên (Uphill varices) ở bệnh nhân xơ gan.

    Giãn tĩnh mạch hướng lên (Uphill varices)

    Trong tăng áp lực tĩnh mạch cửa, áp lực tĩnh mạch cửa tăng cao dẫn đến dòng chảy đảo ngược (hướng ly gan) đi vòng qua gan qua tĩnh mạch vị trái đến các tĩnh mạch thực quản và cạnh thực quản giãn rộng, rồi nối thông với tĩnh mạch đơn và bán đơn, dẫn lưu hướng lên vào tĩnh mạch chủ trên.
    Các khuyết đọng thuốc do giãn tĩnh mạch được đặc trưng bởi sự thay đổi hình ảnh trong quá trình thăm khám liên quan đến việc nín thở và áp lực lồng ngực.

    Bên trái là hình ảnh CT của bệnh nhân có giãn tĩnh mạch hướng lên (Uphill varices) kích thước lớn thứ phát do xơ gan kèm tăng áp lực tĩnh mạch cửa.


    Large mediastinal and esophageal (arrows) varices

    Giãn tĩnh mạch trung thất và thực quản (mũi tên) kích thước lớn

    Bên trái là hình ảnh CT của bệnh nhân có giãn tĩnh mạch hướng lên (uphill varices).


    LEFT: Retrocardiac mass-like varices (arrow). RIGHT: Esophagram showing varices (arrows)

    TRÁI: Giãn tĩnh mạch sau tim dạng khối (mũi tên). PHẢI: Hình chụp thực quản cản quang cho thấy giãn tĩnh mạch (mũi tên)

    Giãn tĩnh mạch hướng lên có thể có dạng khối như trường hợp được minh họa bên trái.
    Tiếp tục với hình ảnh tiếp theo.


    Mediastinal varices (blue arrows) and esophageal varices (red arrow)

    Giãn tĩnh mạch trung thất (mũi tên xanh) và giãn tĩnh mạch thực quản (mũi tên đỏ)

    Hình CT cho thấy giãn tĩnh mạch trung thất và thực quản dạng khối (mũi tên).


    Varicoid carcinoma

    Ung thư dạng giãn tĩnh mạch (Varicoid carcinoma)

    Cần phân biệt giãn tĩnh mạch với ung thư dạng giãn tĩnh mạch (varicoid carcinoma).
    Bên trái, hình ảnh cố định của các khuyết đọng thuốc gợi ý khối u hơn là giãn tĩnh mạch.
    Lưu ý bờ trên sắc nét của tổn thương (mũi tên)


    Downhill varices in a patient with a superior vena cava obstruction

    Giãn tĩnh mạch hướng xuống (Downhill varices) ở bệnh nhân tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên

    Giãn tĩnh mạch hướng xuống (Downhill Varices)
    Khi tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên, máu tĩnh mạch phần thân trên chảy xuống dưới theo hướng xuôi dòng qua các tĩnh mạch thực quản đến tĩnh mạch đơn, rồi đổ vào tĩnh mạch chủ trên ở phía dưới vị trí tắc nghẽn.
    Nếu vị trí tắc nghẽn nằm tại hoặc dưới tĩnh mạch đơn, dòng máu sẽ tiếp tục chảy xuống dưới đến hệ thống tĩnh mạch cửa, rồi qua tĩnh mạch gan đến tĩnh mạch chủ dưới và tâm nhĩ phải.

    Bên trái là hình ảnh giãn tĩnh mạch hướng xuống ở bệnh nhân tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên do bệnh histoplasma.
    Trên hình chụp thực quản cản quang, các khuyết đọng thuốc không hằng định (mũi tên) biểu hiện giãn tĩnh mạch hướng xuống ở thực quản trên.
    Hình chụp mạch máu cho thấy các mạch bàng hệ bao gồm tĩnh mạch liên sườn trên trái giãn rộng (mũi tên).


    Downhill varices in a patient with a superior vena cava obstruction

    Giãn tĩnh mạch hướng xuống (Downhill varices) ở bệnh nhân tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên

    Hình chụp thực quản cản quang cho thấy các khuyết đọng thuốc không hằng định (mũi tên xanh) do giãn tĩnh mạch hướng xuống ở thực quản trên.
    CT cho thấy giãn tĩnh mạch thực quản (mũi tên đỏ) và trung thất.
    Tiếp tục với hình chụp tĩnh mạch.

    Hình chụp tĩnh mạch chi trên cho thấy tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên (SVC).


    Aberrant right subclavian artery

    Động mạch dưới đòn phải bất thường (Aberrant right subclavian artery)

    Động mạch dưới đòn phải bất thường

    Đây là dị tật động mạch lồng ngực thường gặp nhất và hiếm khi gây triệu chứng.
    Động mạch chạy lên trên và sang phải tạo ra ấn lõm chéo phía sau lưng trên thực quản (mũi tên).
    CT cho thấy động mạch bất thường (mũi tên) là mạch xuất phát cuối cùng từ quai động mạch chủ và chạy phía sau khí quản và thực quản.


    Right aortic arch with aberrant left subclavian artery

    Quai động mạch chủ phải kèm động mạch dưới đòn trái bất thường

    Quai động mạch chủ phải kèm động mạch dưới đòn trái bất thường

    Quai động mạch chủ phải kèm động mạch dưới đòn trái bất thường thường là phát hiện tình cờ.
    Tuy nhiên, quai động mạch chủ phải với phân nhánh đối xứng gương hầu như luôn liên quan đến bệnh tim bẩm sinh.

    CT cho thấy quai động mạch chủ phải (R) và động mạch dưới đòn trái bất thường (mũi tên) xuất phát thấp từ quai và chạy sang trái phía sau thực quản và khí quản.
    Bên trái là hình chụp thực quản cản quang của bệnh nhân có quai động mạch chủ phải tạo ra ấn lõm phía sau trên tư thế nghiêng (mũi tên xanh).
    Sơ đồ minh họa động mạch dưới đòn trái bất thường (L SCA) nằm phía sau khí quản và thực quản.


    Double ArchLEFT: Right and left arch indent esophagus (arrows) at  different levels RIGHT: Angiogram with double arch in asymptomatic 65-year-old

    Quai đôi động mạch chủ – TRÁI: Quai phải và quai trái ấn lõm thực quản (mũi tên) ở các mức độ khác nhau – PHẢI: Hình chụp mạch máu với quai đôi ở bệnh nhân 65 tuổi không có triệu chứng

    Quai đôi động mạch chủ (Double Arch)

    Quai đôi động mạch chủ thường biểu hiện bằng tắc nghẽn đường thở, khó nuốt và hít sặc ở trẻ em.
    Các quai ấn lõm thực quản ở các mức độ khác nhau.


    Double Arch

    Quai đôi động mạch chủ

    Bên trái là một trường hợp quai đôi động mạch chủ khác.
    Phim X-quang ngực cho thấy đông đặc phổi phải do hít sặc ở trẻ 6 tuổi.
    Quai phải và quai trái ấn lõm thực quản (mũi tên) ở các mức độ khác nhau.


    Aberrant left pulmonary artery: aberrant artery extends between trachea and esophagus indenting both (arrows)

    Động mạch phổi trái bất thường: động mạch bất thường chạy giữa khí quản và thực quản, ấn lõm cả hai cấu trúc (mũi tên)

    Động mạch phổi trái bất thường

    Động mạch phổi trái bất thường ấn lõm khí quản phía sau và thực quản phía trước khi chạy giữa hai cấu trúc này.
    Hẹp phế quản phải có thể gây bẫy khí hoặc xẹp phổi.

    Động mạch chủ xoắn vặn
    Động mạch chủ xuống xoắn vặn là nguyên nhân thường gặp gây ấn lõm ngoại sinh lên thực quản.
    Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy thực quản đoạn xa bị hẹp.
    Tư thế chếch cho thấy ấn lõm thực quản do động mạch chủ với bờ tù (mũi tên), đặc trưng của chèn ép ngoại sinh.


    Normal and abnormal aortic arch impression on the esophagus

    Ấn lõm quai động mạch chủ lên thực quản bình thường và bất thường

    Bệnh lý động mạch chủ

    Ngoài cùng bên trái là hình ảnh ấn lõm bình thường của quai động mạch chủ lên thực quản.
    Ấn lõm này có thể lớn hơn khi có giãn động mạch chủ, như thấy ở bệnh nhân này với phình quai động mạch chủ do nhiễm khuẩn (mũi tên).


    Coarctation: 'Reverse figure 3' indention of esophagus

    Hẹp eo động mạch chủ: Ấn lõm thực quản dạng ‘số 3 ngược’

    <div class=”dblok md:w-1/2 mx-2
    </article>

  • Xơ phổi

    Pulmonary Fibrosis

    A stepwise approach to fibrosis on HRCT

    Onno Mets, Lilian Meijboom and Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam và Bệnh viện Alrijne Leiderdorp

    Publicationdate

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về các bệnh lý phổi có dạng lưới và cung cấp hướng dẫn cho các bác sĩ X quang trong việc đánh giá các bệnh phổ biến nhất cùng các dạng tổn thương của chúng.
    Một phương pháp tiếp cận từng bước được trình bày nhằm xác định các đặc điểm chính trong bệnh phổi xơ hóa và giúp đưa ra chẩn đoán phân biệt dễ dàng hơn.

    Images can be enlarged by clicking on them.

    Chúng tôi xin cảm ơn Nestor L. Müller vì những nhận xét của ông về bản thảo.

    Lung anatomy


    Lung anatomy showing secondary lobules and the axial and peripheral interstitium.

    Lung anatomy showing secondary lobules and the axial and peripheral interstitium.

    Giải phẫu của bệnh phổi dạng lưới liên quan đến mô kẽ phổi, là một cấu trúc liên tục bao gồm cả thành phần ngoại vi và thành phần trục (hình).

    Mô kẽ ngoại vi nâng đỡ các tiểu thùy thứ cấp xa và bao gồm các vùng dưới màng phổi và quanh khe liên thùy, trong khi mô kẽ trục nâng đỡ các cấu trúc phế quản-mạch máu từ rốn phổi hướng ra ngoại vi.

    Mô kẽ cũng chứa các mạch bạch huyết của phổi. Trong điều kiện bình thường, bản thân mô kẽ nằm dưới ngưỡng phân giải của CT.
    Sự dày lên của mô kẽ là cơ chế nền tảng tạo nên hình ảnh dạng lưới.

    Bảng thuật ngữ Fleischner [1] định nghĩa hình lưới là “tập hợp vô số các đám mờ dạng đường nhỏ mà khi chồng lên nhau tạo ra hình ảnh giống như một tấm lưới”.

    Stepwise Approach

    Bước
    đầu tiên là xác định liệu hình ảnh lưới có thực sự đại diện cho xơ hóa hay không.

    Bước
    tiếp theo là xác định xem đó là kiểu UIP chắc chắn, có thể hoặc không xác định,
    hay một kiểu thay thế khác.

    Nếu
    đó là UIP chắc chắn hoặc có thể, cần nhận thức rằng không phải tất cả UIP đều
    bằng xơ phổi vô căn, vì UIP có/không có tổ ong cũng có thể gặp trong
    sarcoid xơ hóa, viêm phổi quá mẫn, và bệnh phổi kẽ liên quan đến bệnh mô liên kết
    giai đoạn cuối (CTD-ILD).

    Step 1 – Is it really fibrosis?


    Click to enlarge

    Click to enlarge

    Xơ hóa gây co kéo các cấu trúc xung quanh và sẽ dẫn đến:

    • Volume loss
    • Bronchiectasis
    • Distortion of the secondary lobule
    • Loss of the smooth air-to-interstitium interfaces

    Do đó, đây là những đặc điểm đầu tiên cần tìm kiếm khi đánh giá liệu hình ảnh lưới có đại diện cho xơ hóa phổi hay không.

    Hình ảnh cho thấy bệnh phổi xơ hóa với sự biến dạng của tiểu thùy thứ cấp, mất thể tích và giãn phế quản do co kéo (màu xanh lá là bình thường, màu vàng là bất thường).


    Pulmonary edema (A), Lymphangitic carcinomatosa (B), EGPA (C).

    Pulmonary edema (A), Lymphangitic carcinomatosa (B), EGPA (C).

    Không phải tất cả các dạng lưới đều là xơ hóa, vì mô kẽ phổi có thể bị dày lên do các bệnh lý khác.

    Most
    commonly this is:

    • Dịch do phù phổi.
      Nhưng
      cũng có thể gặp trong ví dụ như:
    • Tế bào ác tính trong ung thư biểu mô dạng bạch mạch, hoặc thâm nhiễm bạch cầu
    • Protein trong bệnh protein phế nang, amyloid và bệnh tích lũy
    • Benign cells in eosinophilic
      lung disease      

    Các
    hình ảnh minh họa các ví dụ về lưới không xơ hóa do dày thành kẽ trong phù phổi (A), ung thư biểu mô di căn đường bạch huyết (B), và浸润 bạch cầu ái toan trong u hạt bạch cầu ái toan kèm viêm đa mạch [EGPA,
    trước đây gọi là hội chứng Churg-Strauss] (C).

    ILA -interstitial lung abnormalities

    Những thay đổi mô kẽ nhẹ tình cờ phát hiện – ở những bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ bệnh phổi kẽ (ILD) – được gọi là ‘bất thường phổi kẽ (ILA)’.

    Những thay đổi không xác định và nhỏ này có thể đại diện cho giai đoạn sớm của bệnh phổi kẽ xơ hóa, nhưng cũng có thể chỉ là một số sẹo sau nhiễm trùng hoặc những thay đổi kẽ nhẹ liên quan đến hút thuốc hoặc tuổi tác.

    Ngưỡng cắt 5% tổn thương phổi đã được đề xuất như một tiêu chí phân biệt bệnh lý có ý nghĩa lâm sàng [2], tuy nhiên, việc đánh giá trực quan chính xác là rất khó khăn.

    Theo dõi có thể cho thấy đây có phải là phát hiện tình cờ có liên quan hay không, điều này là tùy chọn và phụ thuộc vào đặc điểm của bệnh nhân.

    Step 2 – UIP pattern

    Kiểu hình UIP dựa trên gradient tổn thương, phân bố của xơ hóa và sự vắng mặt của kiểu hình HRCT chiếm ưu thế khác.

    Các
    dạng tổn thương trên HRCT khác như kính mờ, nang phổi, nốt centrilobular hoặc
    nốt quanh bạch mạch và đông đặc phổi cần vắng mặt, vì những dạng này liên quan
    đến các bệnh lý nền khác và không ủng hộ chẩn đoán UIP/IPF.

    Đầu tiên, xơ hóa phải có gradient hướng về phía đáy phổi, với thùy dưới và góc sườn hoành bị tổn thương nhiều hơn so với vùng phổi giữa và trên.

    Xơ hóa có thể nằm hơi về phía trước hơn ở vùng phổi giữa/trên, được gọi là ‘dấu hiệu cánh quạt’, theo hình xoắn hiện diện trong cánh của một chiếc chân vịt.

    Các hình ảnh cho thấy tổn thương xơ hóa ưu thế ở vùng đáy phổi và dưới màng phổi trong A, so với tổn thương xơ hóa ưu thế ở vùng đỉnh phổi và trung tâm trong B.


    Subpleural dominant (A), subpleural sparing (B), and peribronchial dominant (C) patterns of fibrosis.

    Subpleural dominant (A), subpleural sparing (B), and peribronchial dominant (C) patterns of fibrosis.

    Thứ hai, xơ hóa phải có dạng chiếm ưu thế dưới màng phổi. Điều này có nghĩa là bệnh nhắm vào mô kẽ ngoại vi và tổn thương phổi ngay bên dưới màng phổi.
    Bệnh không được bỏ qua mô phổi dưới màng phổi, cũng không được tập trung xung quanh bó phế quản-mạch máu (tức là không được tổn thương chủ yếu ở mô kẽ trục).

    UIP classification

    Có các hướng dẫn chẩn đoán hình ảnh cụ thể để đánh giá UIP/IPF – được ban hành bởi sự hợp tác của các Hội Lồng ngực trên toàn thế giới (ATS/ERS/JRS/ALAT) cũng như bởi Hội Fleischner [3,4].
    Điểm mấu chốt của cả hai hướng dẫn là chẩn đoán hình ảnh HRCT cần đưa ra kết luận về một trong các trường hợp sau:

    • Definite UIP pattern
    • Probable UIP pattern
    • Indeterminate UIP pattern
    • Suggestive of another diagnosis than UIP/IPF

    Ở bệnh nhân có xơ hóa ưu thế vùng đáy và dưới màng phổi, không có các đặc điểm phụ trợ không phù hợp, sự hiện diện hay vắng mặt của tổ ong sẽ quyết định việc phân loại là dạng UIP xác định hay có thể.
    Tuy nhiên, việc đánh giá tổ ong có thể gặp phải sự biến thiên đáng kể giữa các quan sát viên, ngay cả giữa các chuyên gia [5].
    Tổ ong trên hình ảnh CT được định nghĩa là “các khoang khí dạng nang tập hợp theo hướng dưới màng phổi, thường có kích thước khoảng 3-10 mm”.
    Cần lưu ý rằng đây là khác biệt so với tổ ong quan sát thấy trên mô bệnh học, được định nghĩa là “mô phổi bị phá hủy và xơ hóa chứa nhiều khoang khí dạng nang với thành xơ dày, kèm mất hoàn toàn cấu trúc tiểu thùy” [1].
    Mặc dù cả hai đều đại diện cho tình trạng xơ hóa đã hình thành và nặng nề, chúng được quan sát ở các mức độ phóng đại khác nhau đáng kể.


    Definite UIP (A) and probable UIP (B).

    Definite UIP (A) and probable UIP (B).

    Trong A có hình ảnh tổ ong kết hợp với xơ hóa ưu thế ở nền phổi và dưới màng phổi, cho thấy hình thái UIP điển hình.

    In B there is a probable UIP pattern without honeycombing.


    The ongoing process of honeycombing formation. There is a spectrum ranging from normal lung tissue (A), through distortion of the secondary lobule with traction bronchiolectasis (B), to end stage cyst formation (C).

    The ongoing process of honeycombing formation. There is a spectrum ranging from normal lung tissue (A), through distortion of the secondary lobule with traction bronchiolectasis (B), to end stage cyst formation (C).

    Tổ ong
    là kết quả của xơ hóa tiến triển kèm theo biến dạng cấu trúc và nằm ở cuối thang điểm từ mô phổi bình thường, qua biến dạng tiểu thùy thứ cấp với giãn phế quản nhỏ do co kéo, đến hình thành nang giai đoạn cuối.

    Mặc dù
    sự hiện diện của tổ ong xác định sự khác biệt giữa thể UIP có thể và thể UIP chắc chắn,
    tổ ong không phải là dấu hiệu đặc trưng của bệnh xơ phổi vô căn
    (IPF) vì nó chỉ là một đặc điểm của xơ hóa nặng.

    Tổ ong
    cũng có thể xuất hiện trong giai đoạn xơ hóa (giai đoạn cuối) của bệnh sarcoidosis, NSIP và
    viêm phổi quá mẫn. Tóm lại, hình ảnh UIP không đồng nghĩa với IPF.

    Tuy nhiên,
    trong bối cảnh lâm sàng phù hợp ở bệnh nhân được nghi ngờ lâm sàng mắc xơ phổi vô căn (IPF), hình ảnh UIP điển hình sẽ xác định chẩn đoán (tức là chẩn đoán UIP/IPF), loại bỏ nhu cầu thực hiện các xét nghiệm xâm lấn thêm như sinh thiết phổi qua nội soi phế quản bằng đầu dò lạnh hoặc sinh thiết phổi phẫu thuật.

    Step 3 – Alternative Patterns

    – Axial and non-basal distribution

    Axial and non-basal distribution

    Khi
    bệnh lý mô kẽ không chủ yếu ở dưới màng phổi mà phân bố chủ yếu quanh phế quản,
    hai chẩn đoán cần cân nhắc hàng đầu là viêm phổi quá mẫn (HP) mạn tính thể xơ hóa
    và bệnh sarcoidosis.

    Ưu thế thùy đỉnh thường gặp trong bệnh sarcoidosis, nhưng chỉ gặp ở một số ít trường hợp viêm phổi quá mẫn mạn tính.


    Typical fibrotic hypersensitivity pneumonitis showing diffuse non-basal dominant (A), peribronchial orientated ground-glass and mild fibrotic changes with mosaicism (A and B), and expiratory air trapping (C).

    Typical fibrotic hypersensitivity pneumonitis showing diffuse non-basal dominant (A), peribronchial orientated ground-glass and mild fibrotic changes with mosaicism (A and B), and expiratory air trapping (C).

    Hypersensitivity pneumonitis

    HP mạn tính xơ hóa điển hình được đặc trưng bởi xơ hóa quanh phế quản với các mức độ kính mờ khác nhau và suy giảm khảm rõ rệt do sự bảo tồn của các tiểu thùy thứ cấp.

    Bẫy khí thì thở ra do tắc nghẽn đường thở nhỏ là một dấu hiệu đặc trưng.

    Các nốt kính mờ trung tiểu thùy có thể xuất hiện, nhưng thường gặp hơn và chiếm ưu thế ở giai đoạn bán cấp (không xơ hóa) của bệnh.


    hóa có thể có phân bố ngẫu nhiên hoặc lan tỏa, hoặc ưu thế ở vùng phổi giữa hoặc trên với tương đối ít tổn thương ở vùng đáy phổi.


    Fibrotic sarcoidosis with peribronchovascular and apical dominant disease

    Fibrotic sarcoidosis with peribronchovascular and apical dominant disease

    Sarcoidosis

    Sarcoidosis
    is the great mimicker. 

    Xơ hóa trong bệnh sarcoidosis thường có biểu hiện ưu thế ở vùng quanh phế quản mạch máu và vùng phổi giữa đến trên với biến dạng cấu trúc và giãn phế quản do co kéo trung tâm, kèm theo một lượng thay đổi của dạng lưới và đôi khi thậm chí có tổ ong.

    Mặc dù
    sarcoidosis ban đầu thường biểu hiện với hạch bạch huyết rốn phổi hai bên và trung thất, nhưng ở giai đoạn xơ hóa muộn của bệnh, các hạch thường có kích thước bình thường và bị vôi hóa.

    Các
    hình ảnh cho thấy bệnh sarcoidosis xơ hóa điển hình với tổn thương ưu thế quanh phế quản-mạch máu và vùng đỉnh, biểu hiện dạng nốt (hợp lưu), lưới và kính mờ nhẹ, cùng với giãn phế quản do co kéo lan rộng.

    – Ground-glass pattern and Consolidation

    Ground-glass

    Mặc dù có thể thấy một số kính mờ ở các vùng có dạng lưới – một dấu hiệu không loại trừ chẩn đoán kiểu UIP có thể – nhưng thành phần kính mờ chiếm ưu thế gợi ý một chẩn đoán thay thế khác.

    Kính mờ có thể gợi ý một loạt các bệnh lý, bao gồm bệnh mô liên kết (CTD) liên quan đến ILD, viêm phổi quá mẫn, cũng như ILD liên quan đến hút thuốc và thuốc.
    Kính mờ thường là đặc điểm của thể viêm phổi kẽ không đặc hiệu (NSIP).

    Kính mờ thuần túy không có thay đổi xơ hóa là đặc điểm nổi bật của NSIP thể tế bào, được phân biệt với thể NSIP xơ hóa trong đó có lưới, giãn phế quản do co kéo và biến dạng cấu trúc do xơ hóa.

    NSIP thường chiếm ưu thế ở vùng đáy phổi với hình ảnh kính mờ rõ rệt, lưới và giãn phế quản nhỏ do co kéo. Bảo tồn dưới màng phổi ở vùng lưng của thùy dưới chỉ xuất hiện trong khoảng 40% trường hợp và có thể là một đặc điểm hữu ích trong việc chẩn đoán.

    Consolidations

    Các vùng đông đặc không phải là một phần của hình ảnh UIP có thể. Các vùng xơ hóa nhỏ khu trú có thể gặp trong UIP, tuy nhiên, vùng đông đặc đáng kể hơn trên hình ảnh HRCT thường do thành phần viêm phổi tổ chức hóa và gợi ý chẩn đoán khác ngoài UIP/IPF.
    Nhiễm trùng phổi tiến triển hoặc ác tính luôn cần được xem xét.

    Bảng hiển thị các dạng hình ảnh trong bệnh phổi kẽ liên quan đến bệnh mô liên kết (CTD-ILD), trong đó kích thước phông chữ tương quan với tần suất của từng dạng hình ảnh.

    Bệnh phổi kẽ liên quan đến bệnh mô liên kết (CTD-ILD) có thể biểu hiện với nhiều dạng tổn thương khác nhau.
    Trong nhóm bệnh không đồng nhất này, các biểu hiện bệnh với dạng tổn thương NSIP cùng với các thành phần khác như đông đặc dạng vòm cung do viêm phổi tổ chức hóa (OP) hoặc nang do viêm phổi kẽ lympho bào (LIP) có thể gợi ý một chẩn đoán cụ thể (xem Bảng).


    NSIP in Sjögren’s disease

    NSIP in Sjögren’s disease

    NSIP

    Hình ảnh NSIP xơ hóa điển hình trong bệnh Sjögren với các thay đổi xơ hóa và kính mờ chiếm ưu thế theo phân bố đáy phổi, lan rộng ra phần trung tâm.

    Subpleural
    sparing is not a dominant feature in this case.


    ibrotic NSIP in anti-synthetase syndrome

    ibrotic NSIP in anti-synthetase syndrome

    Các hình ảnh cho thấy sự kết hợp giữa kính mờ ưu thế nền phổi và giãn phế quản do co kéo, kết hợp với các vùng đông đặc dạng cung quanh tiểu thùy giới hạn do viêm phổi tổ chức hóa (OP) đồng thời.

    Chẩn đoán cuối cùng là NSIP xơ hóa trong hội chứng kháng synthetase.

    Hội chứng kháng synthetase là một rối loạn đa hệ thống qua trung gian miễn dịch có thể bao gồm (trong số các biểu hiện khác) bệnh phổi kẽ, viêm cơ và/hoặc viêm đa khớp, thay đổi da và hiện tượng Raynaud.


    UIP pattern in Rheumatoid Arthritis

    UIP pattern in Rheumatoid Arthritis

    Rheumatoid Arthritis

    Những thay đổi xơ hóa nặng theo hướng ưu thế dưới màng phổi và đáy phổi, với hình ảnh tổ ong lan rộng, phù hợp với mô hình UIP do viêm khớp dạng thấp (RA).

    Viêm khớp dạng thấp có thể biểu hiện tổn thương đa khoang và dẫn đến bệnh lý đường thở, bệnh lý màng phổi và bệnh phổi kẽ, thường gặp nhất với dạng UIP (viêm phổi kẽ thông thường).

    Bệnh phổi kẽ liên quan đến hút thuốc là một phân nhóm khó, thường biểu hiện khí phế thũng nặng với những thay đổi xơ hóa chồng lấp nhẹ hơn, các bất thường lan tỏa hơn hoặc ưu thế ở vùng đỉnh, mất thể tích vùng đáy ít nghiêm trọng hơn và nhiều kính mờ hơn so với thể UIP (có thể) điển hình.

    Tuy nhiên, những thay đổi ở phổi liên quan đến hút thuốc thường đồng thời xuất hiện với các bệnh phổi kẽ khác, do một số lượng đáng kể bệnh nhân mắc bệnh phổi kẽ là những người đang hoặc đã từng hút thuốc lá.

    Người hút thuốc hiếm khi mắc HP mạn tính, trong khi đây là yếu tố nguy cơ cá nhân đối với UIP/IPF.
    Xơ hóa mô kẽ liên quan đến hút thuốc (SRIF) và xơ hóa phổi kết hợp khí phế thũng (CPFE) là các thuật ngữ thường được sử dụng, tuy nhiên, chúng chưa được định nghĩa chặt chẽ như các dạng tổn thương trên X-quang.

    Drug-induced ILD

    Bệnh phổi kẽ do thuốc là một phân nhóm khó chẩn đoán với các đặc điểm hình ảnh thường không đặc hiệu.
    Cần luôn xem xét trong mọi chẩn đoán phân biệt, đặc biệt trong các trường hợp có dạng không phải UIP.
    Theo kinh điển, bệnh phổi kẽ do thuốc thường liên quan đến dạng kính mờ chiếm ưu thế và/hoặc dạng đông đặc viêm phổi tổ chức, nhiều hơn là xơ hóa thực sự.

    Methotrexate, Amiodarone và Nitrofurantoin là những ví dụ điển hình về các thuốc gây độc phổi, mặc dù danh sách này còn được ghi nhận thêm rất nhiều loại khác.
    So với các thập kỷ trước, việc sử dụng ngày càng nhiều liệu pháp miễn dịch có thể khiến chúng ta gặp các dạng viêm phổi do thuốc thường xuyên hơn.
    Xem www.pneumotox.com để biết thêm thông tin về các thuốc gây độc phổi và các dạng hình ảnh học liên quan đã được báo cáo.

    Radiologically non-classifiable disease

    Không hiếm gặp trường hợp các phát hiện trên HRCT không phù hợp với một trong những dạng hình ảnh X quang đã được biết đến.
    Điều này có thể do những thay đổi mô kẽ hạn chế và không đặc hiệu, hoặc do sự kết hợp của các đặc điểm thực sự không xác định được.
    Ví dụ, có thể có dạng lưới ưu thế dưới màng phổi và giãn phế quản do co kéo, nhưng không có gradient rõ ràng hoặc thành phần kính mờ không rõ ràng và không có các phát hiện bổ sung nào khác để gợi ý một chẩn đoán cụ thể.

    Thường có quan niệm rằng việc không đưa ra kết luận về một dạng hình ảnh cụ thể là biểu hiện của sự thiếu quyết đoán, tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng “bệnh không phân loại được trên X quang” cũng là một kết luận hoàn toàn hợp lệ trong báo cáo HRCT.
    Trên thực tế, kết luận này còn tốt hơn nhiều so với “có thể là UIP, chẩn đoán phân biệt NSIP hoặc HP”.

    Multidisciplinary approach

    Chẩn đoán một bệnh điển hình dựa trên các hình ảnh học đặc trưng không phải là điều thường gặp.
    Thay vào đó, việc đưa ra chẩn đoán phân biệt phổ biến hơn vì các đặc điểm hình ảnh học có thể không đặc hiệu.
    Trong một nhóm đa chuyên khoa, các hình ảnh học có thể được đối chiếu với thông tin lâm sàng, kết quả đo chức năng hô hấp, kết quả xét nghiệm, kết quả rửa phế quản phế nang và sinh thiết phổi để đạt được chẩn đoán đồng thuận và kế hoạch điều trị.

    Clinical information

    Trong
    quá trình đánh giá bệnh nhân ILD, thông tin lâm sàng được thu thập (bảng)

    Mặc dù
    có hơn 200 tác nhân được ghi nhận có liên quan đến viêm phổi quá mẫn mạn tính,
    nhưng kết quả phân tích phơi nhiễm nghề nghiệp và môi trường thường còn hạn chế.

    Pulmonary Function Tests

    Hiểu biết cơ bản về cơ chế của các bài kiểm tra chức năng phổi là rất hữu ích.
    Có ba thành phần chính trong kiểm tra chức năng phổi:

    1. Static lung volumes (TLC, RV, VC)
    2. Spirometry (forced expiratory flow in 1 second’ (FEV1)
    3. Diffusion capacity for carbon monoxide (DLCO) 

    Index parameters in static lung volume assessment are: 

    • TLC: dung tích toàn phổi, là tổng thể tích của phổi sau khi hít vào tối đa
    • RV: thể tích khí cặn, là thể tích phổi ở cuối thì thở ra tối đa
    • VC: dung tích sống, là hiệu số giữa TLC và RV

    Thông thường, thể tích phổi giảm trong bệnh phổi hạn chế (ví dụ: xơ phổi, bệnh thần kinh cơ) và tăng trong bệnh phổi tắc nghẽn (ví dụ: COPD, hen suyễn).

    DLCO đo khả năng trao đổi khí carbon monoxide, và là chỉ số thay thế phản ánh khả năng oxy được vận chuyển vào máu.
    DLCO tỷ lệ thuận với diện tích bề mặt màng phế nang-mao mạch và tỷ lệ nghịch với độ dày của màng phế nang-mao mạch.
    Thông thường, DLCO giảm trong các bệnh lý làm giảm diện tích bề mặt màng (ví dụ: khí phế thũng, bệnh huyết khối tắc mạch) hoặc làm dày màng khuếch tán (ví dụ: xơ phổi).

    Kiểu mẫu PFT điển hình trong xơ hóa phổi là hạn chế, cho thấy kết quả đo phế dung tương đối bình thường với thể tích phổi và DLCO giảm.
    Tuy nhiên, có thể gặp kiểu mẫu hỗn hợp ở những bệnh nhân có cả hai thành phần bệnh hạn chế và tắc nghẽn.
    Ví dụ, các giai đoạn tiến triển của viêm phổi quá mẫn mạn tính hoặc sarcoidosis có thể biểu hiện đồng thời cả bệnh đường thở nhỏ lẫn xơ hóa phổi.
    Ngoài ra, sự đóng góp cộng gộp của khí phế thũng và xơ hóa trong ‘xơ hóa phổi kết hợp khí phế thũng’ (CPFE) có thể dẫn đến hiện tượng ‘bình thường hóa giả’ của kết quả đo phế dung và thể tích phổi, trong khi các triệu chứng lâm sàng và DLCO thường bất thường một cách rõ rệt.

    Laboratory analysis

    Việc tìm kiếm các dấu ấn viêm và tự kháng thể là một phần trong đánh giá tiêu chuẩn của ILD.
    Điều quan trọng cần nhận thức là sự hiện diện của một tự kháng thể không đồng nghĩa với chẩn đoán bệnh tự miễn.
    Thay vào đó, huyết thanh học dương tính giúp hỗ trợ chẩn đoán nếu đi kèm với các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng phù hợp.

    Common biomarkers are:

    • Yếu tố dạng thấp (RF)
      có thể gợi ý viêm khớp dạng thấp (RA), nhưng có độ nhạy và độ đặc hiệu hạn chế. RF có thể xuất hiện trong các bệnh khác bao gồm hội chứng Sjögren, lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau.
    • Anti-CCP
      có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy hạn chế đối với viêm khớp dạng thấp. Nó cũng có thể xuất hiện trong các bệnh như viêm khớp vảy nến, lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjögren và viêm cơ viêm da.
    • Kháng thể đặc hiệu viêm cơ
      thường được gọi là ‘blot viêm cơ’, do tính đặc hiệu cao đối với các bệnh viêm cơ tự miễn (IIM) như viêm da cơ.
    • Kháng thể kháng bào tương bạch cầu trung tính (ANCA)
      xuất hiện dưới dạng bào tương (cANCA) hoặc quanh nhân (pANCA), và là các dấu ấn sinh học đặc trưng của viêm mạch máu.
    • Enzyme chuyển đổi angiotensin (ACE) và thụ thể interleukin-2 hòa tan (sIL2R)
      là các dấu ấn sinh học được sử dụng trong đánh giá và theo dõi bệnh sarcoidosis.
    • Kết tủa huyết thanh
      là các kháng thể IgG huyết thanh
      chống lại các kháng nguyên đặc hiệu (ví dụ: vẹt hoặc ngỗng) và được sử dụng trong đánh giá
      viêm phổi quá mẫn.

    Bronchoalveolar lavage (BAL)

    Rửa phế quản phế nang miễn dịch (BAL) là một thủ thuật chẩn đoán để thu thập dịch tiết đường hô hấp.
    Kết quả BAL có giá trị hạn chế trong chẩn đoán UIP/IPF, ngoại trừ việc loại trừ các căn nguyên tiềm ẩn khác.

    • Tăng lymphocyte trong dịch rửa phế quản phế nang (tức là số lượng tế bào >25%) rất có khả năng do bệnh phổi kẽ liên quan đến hình thành u hạt (ví dụ: viêm phổi quá mẫn hoặc độc tính thuốc), đặc biệt khi kèm theo tương bào và tiền sử phơi nhiễm phù hợp.
    • Số lượng tế bào bạch cầu ái toan cao gợi ý bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan tiềm ẩn.
    • Đại thực bào phế nang chứa sắc tố thường được tìm thấy ở người hút thuốc, và có thể hỗ trợ chẩn đoán viêm tiểu phế quản hô hấp (RB-ILD) hoặc viêm phổi kẽ dạng bong vảy (DIP).
    • Xuất huyết phế nang lan tỏa (DAH) sẽ tạo ra dịch hút có màu đỏ với nhuộm hemosiderin dương tính.

    Pathology

    Nếu sau khi đánh giá lâm sàng, chụp CT và các xét nghiệm chẩn đoán bổ sung vẫn chưa có chẩn đoán xác định, nhóm đa chuyên khoa (MDT) có thể quyết định cần thực hiện sinh thiết phổi.
    Tuy nhiên, điều này phụ thuộc nhiều vào nguyện vọng của bệnh nhân, các bệnh đồng mắc và các lựa chọn điều trị hiện có, vì thủ thuật này có nguy cơ tương đối cao về biến chứng và tử vong.

    Thường thực hiện sinh thiết phổi bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực có hỗ trợ video (VATS), trong đó thông thường lấy ba mẫu từ mỗi thùy của phổi phải.
    Một lựa chọn gần đây hơn là sinh thiết lạnh qua nội soi, tuy nhiên, hiệu suất thường không tối ưu so với sinh thiết phẫu thuật.

    Chẩn đoán xác định IPF dựa trên các phát hiện trên HRCT kết hợp với mô bệnh học (bảng).

    Treatment and follow-up

    Bệnh nhân ILD thường được theo dõi bằng PFT và hình ảnh HRCT để đánh giá sự tiến triển của bệnh.
    Tùy thuộc vào chẩn đoán cuối cùng, có thể áp dụng liệu pháp điều trị bằng thuốc.
    Sự phân chia nhị phân của các lựa chọn điều trị là thuốc kháng xơ hóa (trong bệnh phổi xơ hóa nguyên phát như IPF) so với liệu pháp ức chế miễn dịch (trong bệnh phổi xơ hóa qua trung gian miễn dịch như HP mạn tính hoặc ILD liên quan đến CTD).

    Thuốc có thể được kết hợp với việc chấm dứt tiếp xúc với kháng nguyên hoặc thuốc gây độc phổi, cai thuốc lá, phục hồi chức năng phổi, v.v.

    Ghép phổi có thể là nỗ lực cuối cùng, nếu có thể thực hiện được.

  • Bệnh lý phúc mạc

    Bệnh lý Phúc mạc

    Angela Levy

    Trưởng khoa Chẩn đoán Hình ảnh Tiêu hóa, Bộ môn Bệnh học Hình ảnh, Viện Bệnh học Lực lượng Vũ trang, Washington DC; Phó Giáo sư Chẩn đoán Hình ảnh, Đại học Khoa học Y tế Uniformed Services, Bethesda, MD

    Ngày xuất bản

    Bài tổng quan này dựa trên bài trình bày của Angela Levy và được Robin Smithuis biên soạn lại cho Trợ lý Chẩn đoán Hình ảnh.

    Chúng tôi sẽ thảo luận về chẩn đoán phân biệt các khối dạng nang và đặc ở phúc mạc và mạc treo.
    Trong Phúc mạc và Mạc treo – Phần I: Giải phẫu
    sẽ trình bày giải phẫu bình thường và sinh lý học của phúc mạc cùng khoang phúc mạc.

    Bạn có thể nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    bởi Angela Levy

    Chẩn đoán phân biệt


    Chẩn đoán phân biệt các khối phúc mạc dạng nang

    Chẩn đoán phân biệt các khối phúc mạc dạng nang

    Các khối dạng nang

    Bước đầu tiên khi chẩn đoán các khối phúc mạc hoặc mạc treo là phân loại chúng thành dạng nang và dạng đặc.
    Thứ hai, cần lưu ý rằng bất kỳ ổ dịch khu trú nào do nhiễm trùng (ví dụ: áp xe) hoặc do viêm tụy, thủng tạng hay viêm phúc mạc mật đều có thể mô phỏng hình ảnh một khối dạng nang.
    Đặc biệt, các ổ dịch ở hậu cung mạc nối có thể mô phỏng hình ảnh khối dạng nang.
    Cuối cùng, cần nắm rõ các khối dạng nang thường gặp và tìm kiếm các đặc điểm đặc trưng của từng loại.

    • Ung thư biểu mô nhầy di căn phúc mạc
      là chẩn đoán có khả năng nhất đối với các khối phúc mạc dạng nang.
    • Giả u nhầy phúc mạc (Pseudomyxoma peritonei)
      ít gặp hơn, nhưng có hình ảnh khá tương đồng với ung thư biểu mô di căn phúc mạc.
    • Nang mạc treo
      U mạch bạch huyết (Lymphangioma) là loại nang mạc treo thường gặp nhất.
      Các loại nang mạc treo khác như nang nhân đôi ruột, nang ruột, giả nang không do tụy và nang trung biểu mô rất hiếm gặp và không có đặc điểm hình ảnh đặc trưng.
    • Nang vùi phúc mạc (Peritoneal inclusion cyst)
      là một khối u phúc mạc nguyên phát lành tính, ít gặp hơn.
      Tổn thương này còn được gọi là u trung biểu mô đa nang lành tính (benign multicystic mesothelioma).
      Tên gọi này dễ gây nhầm lẫn vì không có mối liên quan với u trung biểu mô ác tính.
      Tổn thương thường gặp ở phụ nữ có tiền sử phẫu thuật phụ khoa hoặc nhiễm trùng vùng chậu.

    Chẩn đoán phân biệt các khối phúc mạc dạng đặc

    Chẩn đoán phân biệt các khối phúc mạc dạng đặc

    Các khối dạng đặc

    • Ung thư biểu mô di căn phúc mạc (Peritoneal carcinomatosis)
      Là khối dạng đặc phúc mạc thường gặp nhất, xuất phát từ ung thư buồng trứng hoặc ung thư đường tiêu hóa.
      Thường kèm theo di căn mạc nối lớn (hình ảnh “bánh mạc nối” – omental cake) và cổ trướng.
    • U lympho không Hodgkin (NHL) và di căn hạch bạch huyết
      Là các chẩn đoán thường gặp nhất của khối mạc treo.
      NHL là nguyên nhân phổ biến nhất gây hạch to và thường có tổn thương lymphoma ở nhiều vị trí khác.
    • U carcinoid
      Biểu hiện là một khối mạc treo có bờ tua gai, thường kèm vôi hóa trung tâm. Tổn thương di căn đến gan.
      Kèm theo dày thành ruột do phản ứng xơ hóa (desmoplastic reaction).
    • Viêm mạc treo xơ hóa (Sclerosing mesenteritis)
      Có thể có hình ảnh tương tự u carcinoid.
      Tổn thương có phổ biểu hiện rộng, từ khối đặc thâm nhiễm đến dạng thường gặp hơn là phát hiện tình cờ, còn gọi là viêm mỡ mạc treo (mesenteric panniculitis), biểu hiện là khối mỡ thường không có ý nghĩa lâm sàng.
    • U xơ mạc treo (Mesenteric fibromatosis)
      Còn được gọi là u xơ trong ổ bụng, u xơ desmoid ổ bụng hoặc u desmoid.
      Đây là khối u xâm lấn tại chỗ, thường tái phát nhưng không di căn xa.
      Có thể có mô đệm nhầy (myxoid stroma) dẫn đến giảm tỷ trọng trên CT và tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W.
    • U trung biểu mô (Mesothelioma)
      Chiếm 20% tổng số các u trung biểu mô, có liên quan đến phơi nhiễm amiăng và mảng màng phổi.

    Các Khối Dạng Nang


    Mucinous Carcinomatosis with a tumor nodule along the right paracolic gutter

    Ung thư biểu mô nhầy phúc mạc với một nốt khối u dọc theo rãnh cạnh đại tràng phải

    Ung Thư Biểu Mô Nhầy Phúc Mạc

    Ung thư biểu mô nhầy phúc mạc là khối u dạng nang phổ biến nhất ảnh hưởng đến khoang phúc mạc.
    Thông thường, các di căn này xuất phát từ ung thư biểu mô nhầy của buồng trứng hoặc đường tiêu hóa (dạ dày, đại tràng, tụy).
    Tiên lượng bệnh xấu.
    Tuy nhiên, khi ung thư biểu mô tuyến nhầy độ thấp của ruột thừa lan rộng vào khoang phúc mạc, hậu quả thường là giả u nhầy phúc mạc (pseudomyxoma peritonei), đây là một loại khối u riêng biệt với tiên lượng tốt hơn.

    Trong ung thư biểu mô phúc mạc, chúng ta thấy các nốt khối u dọc theo lớp lót phúc mạc (mũi tên), các ổ di căn mạc nối và tắc ruột.


    Pseudomyxoma peritonei with pronounced scalloping of the liver and almost destruction of the spleen. Notice the calcifications

    Giả u nhầy phúc mạc với hình ảnh lõm múi rõ rệt trên bề mặt gan và gần như phá hủy lách. Lưu ý các vôi hóa

    Giả U Nhầy Phúc Mạc

    Giả u nhầy phúc mạc là hậu quả của ung thư biểu mô tuyến nhầy của ruột thừa, biểu hiện dưới dạng nang nhầy (mucocele) và lan rộng vào khoang phúc mạc.
    Đây là một hội chứng lâm sàng, đặc trưng bởi tình trạng cổ trướng nhầy thể tích lớn, tái phát và khó điều trị, do sự phát triển trên bề mặt phúc mạc mà không xâm lấn đáng kể vào các mô bên dưới.
    Đặc điểm điển hình của giả u nhầy phúc mạc là hình ảnh lõm múi trên bề mặt gan và lách.
    Khác với di căn phúc mạc, không có các nốt khối u.
    Có thể có một số vôi hóa.


    Pseudomyxoma peritonei with a little bit of scalloping and a mucocele of the appendix

    Giả u nhầy phúc mạc với hình ảnh lõm múi nhẹ và nang nhầy ruột thừa

    Giả u nhầy phúc mạc (2)
    Bên trái là một trường hợp giả u nhầy phúc mạc khác.
    Hầu như không có hình ảnh lõm múi trên bề mặt gan.
    Lưu ý dây chằng liềm dày lên.
    Có nang nhầy của ruột thừa (mũi tên).
    Dấu hiệu này hiếm khi được ghi nhận.


    Pseudomyxoma peritonei with thickened mesentery (arrow)

    Giả u nhầy phúc mạc với mạc treo dày lên (mũi tên)

    Bên trái là một trường hợp giả u nhầy phúc mạc khác.
    Có hiện tượng chèn ép mạc treo dẫn đến mạc treo dày lên dạng bánh, tăng tỷ trọng (mũi tên).
    Ngoài ra còn có một số vôi hóa.

    Giả u nhầy phúc mạc thường bị nhầm lẫn với ung thư biểu mô nhầy phúc mạc.
    Khác với ung thư biểu mô phúc mạc, giả u nhầy phúc mạc không có các ổ di căn mạc nối thực sự biểu hiện dạng bánh mạc nối hoặc các ổ di căn phúc mạc.


    Lymphangioma

    U mạch bạch huyết

    Nang Mạc Treo – U Mạch Bạch Huyết

    Nang mạc treo là thuật ngữ mô tả dùng để chỉ bất kỳ tổn thương dạng nang nào nằm trong mạc treo.
    Thông thường đây là u mạch bạch huyết (lymphangioma).
    Các nang mạc treo khác như nang ruột đôi (enteric duplication cyst), nang ruột (enteric cyst), nang giả không do tụy và nang trung biểu mô rất hiếm gặp và không có đặc điểm hình ảnh đặc trưng.
    U mạch bạch huyết là tổn thương lành tính có nguồn gốc mạch máu.
    Phần lớn u mạch bạch huyết nằm ở vùng cổ, nhưng 5% có vị trí trong ổ bụng.
    U mạch bạch huyết có các vách ngăn ngấm thuốc.
    Khác với di căn phúc mạc dạng nang, cổ trướng không phải là đặc điểm của u mạch bạch huyết.
    Khi thấy một tổn thương dạng nang có vách ngăn mà không có cổ trướng, chẩn đoán có khả năng nhất là u mạch bạch huyết.


    Lymphangioma

    U mạch bạch huyết

    U mạch bạch huyết thường có liên quan mật thiết với ruột non.
    Trong phẫu thuật, việc tách khối u ra khỏi ruột thường rất khó khăn và trong nhiều trường hợp phải cắt bỏ cả đoạn ruột liên quan.

    Trường hợp bên trái cũng là u mạch bạch huyết.
    Lưu ý rằng CT không phải lúc nào cũng thể hiện rõ các vách ngăn, mặc dù bệnh phẩm cho thấy rõ ràng nhiều vách ngăn.
    Siêu âm hoặc MRI mô tả các vách ngăn này tốt hơn CT.


    Enteric Duplication Cyst

    Nang Ruột Đôi

    Nang Ruột Đôi

    Nang ruột đôi là nang có thành bao gồm đủ ba lớp của thành ruột, bao gồm lớp niêm mạc, lớp dưới niêm mạc và lớp cơ niêm.
    Mặc dù chúng ta thường nghĩ đến nang ruột đôi khi thấy một khối dạng nang kề cận ruột, cần nhận thức rằng đây là những tổn thương hiếm gặp.
    Chúng có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trong mạc treo, có thể kề cận hoặc cách xa ruột.

    Bên trái là hình ảnh nang ruột đôi.
    Nang nằm trong mạc treo đại tràng ngang.
    Bệnh nhân này ban đầu được nghi ngờ có khối u tụy dạng nang.
    Bệnh phẩm cho thấy đầy đủ các lớp thành ruột.

    Nang Giả Không Do Tụy

    Nang giả không do tụy là di tích của một khối máu tụ hoặc ổ nhiễm trùng cũ.
    Hầu hết các bệnh nhân này có tiền sử chấn thương bụng trước đó.
    Thường có thành dày và có thể có cặn lắng bên trong tổn thương.

    Bệnh nhân bên trái đã bị tai nạn xe hơi tám tháng trước.
    Đây có thể là khối máu tụ mạc treo cũ do chấn thương dây an toàn.
    Lưu ý thành dày trên CT và cặn lắng trên siêu âm.

    Bên trái là hình ảnh bệnh phẩm và CT của một nang giả không do tụy.
    Lưu ý thành dày.
    Đây có thể là khối máu tụ hoặc áp xe cũ.
    Có thể gợi ý chẩn đoán này khi có tiền sử dương tính và thấy thành dày hoặc cặn lắng.

    Nang Ruột và Nang Trung Biểu Mô

    Đây cũng là các nang mạc treo.
    Chúng hiếm gặp và có đặc điểm hình ảnh không đặc hiệu.
    Trường hợp bên trái được chẩn đoán là u mạch bạch huyết, đơn giản vì u mạch bạch huyết là nang mạc treo phổ biến nhất.
    Trong phẫu thuật, đây là nang trung biểu mô.


    Peritoneal Inclusion Cyst

    Nang Vùi Phúc Mạc

    Nang Vùi Phúc Mạc

    Còn được gọi là Nang vùi phúc mạc đa thùy hoặc U trung biểu mô nang lành tính.
    Đây là khối u phúc mạc nguyên phát lành tính hiếm gặp, không có liên quan đến

    Khối Đặc


    Omental cake (arrows) and ascites in a patient with peritoneal metastases

    Omental cake (các mũi tên) và cổ trướng ở bệnh nhân có di căn phúc mạc

    Di căn phúc mạc

    Di căn phúc mạc là các khối đặc phúc mạc thường gặp nhất.
    Ung thư đường tiêu hóa và ung thư buồng trứng là các nguyên nhân phổ biến nhất.
    Thông thường có di căn mạc nối, tức là omental cake và cổ trướng.

    Hình bên trái là CT minh họa omental cake ở bệnh nhân ung thư buồng trứng.


    Metastasis of a lung carcinoma presenting as a solitary solid peritoneal mass

    Di căn của ung thư biểu mô phổi biểu hiện dưới dạng khối đặc phúc mạc đơn độc

    Hình bên trái là bệnh nhân ung thư biểu mô phổi.
    Khối đặc đơn độc này được phát hiện ở vùng chậu.
    Dựa trên tiền sử bệnh, tổn thương này được nghi ngờ là di căn.
    Các khối u đặc đơn độc khác như … có thể có biểu hiện tương tự.
    Cần sinh thiết để xác định chẩn đoán.
    Kết quả cho thấy đây là di căn của ung thư biểu mô phổi.


    NHL located in the small bowel mesentery

    U lympho không Hodgkin (NHL) khu trú tại mạc treo ruột non

    U lympho

    U lympho không Hodgkin (NHL) là nguyên nhân phổ biến nhất gây hạch to.
    Thông thường có các vị trí u lympho khác kèm theo.
    Tỷ trọng trên CT tại thời điểm chẩn đoán rất đồng nhất trong hầu hết các trường hợp, với mức độ ngấm thuốc tối thiểu hoặc không ngấm thuốc.
    Tỷ trọng không đồng nhất chỉ gặp trong các trường hợp có mô học xâm lấn.
    Trong quá trình điều trị, tỷ trọng trở nên không đồng nhất do hoại tử và xơ hóa.
    Vôi hóa có thể xảy ra.


    Carcinoid

    U carcinoid

    U Carcinoid

    U carcinoid là khối u thần kinh nội tiết phát triển chậm, thường gặp nhất ở ruột non.
    Ít hơn 10% bệnh nhân mắc u carcinoid sẽ phát triển hội chứng carcinoid, do sản xuất quá mức serotonin, có thể dẫn đến các triệu chứng như đỏ bừng da, tiêu chảy và co thắt phế quản.
    U carcinoid di căn đến mạc treo, đôi khi dễ nhận thấy hơn so với khối u nguyên phát ở ruột non.
    Có kèm theo dày thành ruột do phản ứng xơ hóa mô đệm (desmoplastic reaction).

    Hình bên trái là bệnh nhân với u carcinoid điển hình có vôi hóa trung tâm (mũi tên xanh dương).
    Lưu ý hiện tượng co kéo ruột và dày thành ruột.
    Có di căn gan (mũi tên vàng).


    Positive octreoscan in a patient with carcinoid and liver metastases (blue arrows)

    Octreoscan dương tính ở bệnh nhân u carcinoid có di căn gan (mũi tên xanh dương)

    Hình bên trái là một bệnh nhân khác mắc u carcinoid.
    Hình bên phải là octreoscan, dương tính trong 85% các trường hợp u carcinoid, do đó đây có thể là công cụ hỗ trợ rất hữu ích trong chẩn đoán phân biệt.
    Trong trường hợp này, chúng ta cũng có thể phát hiện di căn gan trên hình chụp (mũi tên xanh dương).
    Lưu ý không có hoạt động của khối u nguyên phát ở ruột non.
    Điều này thường gặp vì khối u nguyên phát có thể khá nhỏ.

    U mô đệm đường tiêu hóa – GIST

    Các khối u ruột non nguyên phát có thể lan rộng vào mạc treo, và ví dụ điển hình cho điều này là GIST.
    Khối u có thể có thành phần mạc treo lớn với điểm bám vào thành ruột rất nhỏ, đến mức khó nhận thấy.
    Trên CT, các khối u này có tỷ trọng hỗn hợp do hoại tử và xuất huyết, đồng thời có xu hướng tăng sinh mạch máu mạnh, do đó sẽ ngấm thuốc như trường hợp minh họa bên trái.

    U giả viêm (Inflammatory Pseudotumor)

    Bệnh này có thể ảnh hưởng đến phổi, hốc mắt và mạc treo.
    U giả viêm là chẩn đoán loại trừ.
    Thông thường chẩn đoán được xác lập trong phẫu thuật hoặc sinh thiết.
    Đây là hậu quả của tình trạng viêm mạn tính với cơ chế bệnh sinh chưa rõ ràng.
    Có thể là do nhiễm trùng tiềm ẩn sau chấn thương nhỏ hoặc sau phẫu thuật.


    Mesenteric fibromatosis

    U xơ mạc treo (Mesenteric fibromatosis)

    U xơ mạc treo – U Desmoid

    U xơ mạc treo còn được gọi là u xơ trong ổ bụng, u desmoid ổ bụng hoặc u desmoid.
    Hình bên trái là bệnh nhân nam 33 tuổi than phiền về tình trạng bụng ngày càng to, cảm giác đầy bụng và sờ thấy khối ở bụng.
    Trước tiên hãy nghiên cứu các hình ảnh bên trái rồi tiếp tục xem hình MRI.
    Hãy tìm các đặc điểm hình ảnh hữu ích trong chẩn đoán phân biệt.


    Mesenteric fibromatosiswith high signal on T2WI

    U xơ mạc treo tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W

    Trước hết, đây là tổn thương có bờ rõ với giảm tỷ trọng trên CT.
    Có ngấm thuốc nhẹ xung quanh tổn thương và một số dải ngấm thuốc nhỏ bên trong tổn thương.
    Trên MRI, tổn thương giảm tín hiệu trên chuỗi xung T1W như dự kiến.
    Trên chuỗi xung T2W, tổn thương tăng tín hiệu tương đối.
    Kết hợp với giảm tỷ trọng trên CT, điều này cho thấy có chứa mucin bên trong tổn thương.
    Đặc điểm này rất gợi ý chẩn đoán u xơ mạc treo.


    Mesenteric fibromatosis with Gadolinium enhancement

    U xơ mạc treo ngấm thuốc tương phản từ Gadolinium

    U xơ mạc treo – U Desmoid (2)
    Mức độ ngấm thuốc trên MRI rõ hơn so với trên CT.
    Trên CT, giảm tỷ trọng của mucin nổi bật hơn, nhưng trên MRI chúng ta có thể đánh giá sự ngấm thuốc tốt hơn.
    Điều này cho thấy tổn thương được tưới máu tốt.


    Mesenteric fibromatosis with a fibrous stroma

    U xơ mạc treo với mô đệm xơ

    U xơ mạc treo hay u desmoid là quá trình tăng sinh lành tính, xâm lấn tại chỗ và có thể tái phát, nhưng không di căn.
    Mạc treo ruột non là vị trí thường gặp nhất.
    13% bệnh nhân có đa polyp tuyến gia đình (FAP).

    Hình bên trái là bệnh nhân khác mắc u xơ mạc treo.
    Lưu ý tổn thương này không có tỷ trọng thấp.
    Tổn thương này có mô đệm dạng collagen hoặc xơ hóa nhiều hơn.
    Vì vậy có hai thể hình ảnh khác biệt.

    U xơ mạc treo – U Desmoid (3)
    Hình bên trái là một trường hợp điển hình hơn với khối u giảm tỷ trọng nằm ở mạc nối lớn (hình trên) và dây chằng vị-lách (hình dưới).

  • Thiếu máu ruột – Bài giảng video

    Thiếu Máu Cục Bộ Ruột – Bài Giảng Video

    Robin Smithuis

    Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Chúng tôi giới thiệu 3 video giúp bạn chẩn đoán thiếu máu cục bộ ruột một cách tự tin, đồng thời tìm hiểu toàn diện về tắc ruột vòng kín và giao thức chụp CT tối ưu cho bệnh nhân đau bụng cấp.

    YouTube có thể yêu cầu bạn xác nhận độ tuổi trưởng thành vì một số video có hình ảnh khá nhiều máu.

    Thiếu máu cục bộ ruột – Phần 1

    Các nguyên nhân chính gây thiếu máu cục bộ ruột.

    Nhấn vào đây để xem video trên YouTube.

    Thiếu máu cục bộ ruột – Phần 2

    Thiếu máu cục bộ ruột trong tắc ruột vòng kín.

    Nhấn vào đây để xem bài giảng video trên YouTube.

    Thiếu máu cục bộ ruột – Phần 3

    Giao thức chụp CT trong thiếu máu cục bộ ruột và đau bụng cấp

    Nhấn vào đây để xem bài giảng video trên YouTube.

  • Các khối u gan thường gặp

    Các Khối U Gan Thường Gặp

    Richard Baron

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Đại học Chicago

    Ngày đăng

    Bài viết này được dựa trên bài thuyết trình của Richard Baron và được Robin Smithuis biên soạn lại cho Radiology Assistant.
    Richard Baron là Trưởng Khoa Chẩn đoán Hình ảnh tại Đại học Chicago, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về bệnh lý gan mật.
    Ông từng là Chủ tịch Hội Chụp cắt lớp vi tính Thân và Cộng hưởng từ (Society of Computed Body Tomography and Magnetic Resonance).
    Trong Phần I, các khái niệm cơ bản về phát hiện và đặc trưng hóa các khối gan trên CT được trình bày.
    Trong Phần II, các đặc điểm hình ảnh của những khối u gan thường gặp nhất được giới thiệu.

    U máu (Hemangioma)

    U máu là khối u gan lành tính phổ biến nhất.
    Khối u được cấu thành từ nhiều kênh mạch máu được lót bởi các tế bào nội mô.
    Trong 60% trường hợp, có hơn một u máu hiện diện.
    Kích thước dao động từ vài milimet đến hơn 10 cm (u máu khổng lồ).
    Vôi hóa hiếm gặp, xuất hiện trong dưới 10% trường hợp, thường ở vùng sẹo trung tâm của u máu khổng lồ.


    Typical hemangioma matches the bloodpool in every phase.

    U máu điển hình có tỷ trọng tương đương hồ máu ở mọi thì chụp.

    CT sẽ hiển thị u máu dưới dạng các khối có bờ rõ nét với tỷ trọng tương đương các mạch máu trên cả NECT và CECT.
    Đặc điểm ngấm thuốc được đặc trưng bởi sự ngấm thuốc cản quang tuần tự bắt đầu từ ngoại vi dưới dạng một hoặc nhiều vùng ngấm thuốc dạng nốt.
    Tất cả các vùng ngấm thuốc này phải có tỷ trọng tương đương hồ máu.
    Điều này có nghĩa là trong thì động mạch, các vùng ngấm thuốc phải có tỷ trọng gần bằng động mạch chủ, trong khi ở thì tĩnh mạch cửa, mức độ ngấm thuốc phải tương đương tỷ trọng của tĩnh mạch cửa.
    Ngay cả trên các hình ảnh thì muộn, tỷ trọng của u máu vẫn phải tương đương tỷ trọng của các mạch máu.
    Cuối cùng, hầu hết các u máu đều ngấm thuốc hoàn toàn (fill in hoàn toàn).


    Flash filling hemangioma in unenhanced, arterial and portal venous phase. Notice it matches the bloodpool.

    U máu ngấm thuốc nhanh (flash filling) trên thì không tiêm, thì động mạch và thì tĩnh mạch cửa. Lưu ý tỷ trọng tương đương hồ máu.

    Các u máu nhỏ có thể biểu hiện ngấm thuốc đồng nhất nhanh chóng (‘flash filling’).
    HCC nhỏ và di căn tăng sinh mạch có thể bắt chước u máu nhỏ vì tất cả đều biểu hiện ngấm thuốc đồng nhất trong thì động mạch.
    Bằng cách quan sát các thì chụp khác để xem liệu các vùng ngấm thuốc có tương đương hồ máu hay không, thông thường có thể phân biệt được các tổn thương này.


    Giant hemangiomas with scar-tissue. Notice that the enhancement matches the bloodpool in all phases. Central scar is hypodens on NECT and stays hypodens.

    U máu khổng lồ có mô sẹo. Lưu ý mức độ ngấm thuốc tương đương hồ máu ở tất cả các thì. Sẹo trung tâm giảm tỷ trọng trên NECT và vẫn giảm tỷ trọng ở các thì sau.

    Các u máu lớn có thể có hình ảnh không điển hình.
    Sự ngấm thuốc hoàn toàn đôi khi bị cản trở bởi xơ hóa sẹo trung tâm.
    Các tổn thương này cần được phân biệt với các tổn thương có sẹo khác như FLC, FNH và Ung thư biểu mô đường mật (Cholangiocarcinoma).
    Một lần nữa, việc đối chiếu với hồ máu sẽ giúp ích cho chẩn đoán.
    Bên trái là hai u máu lớn.
    Lưu ý rằng các phần ngấm thuốc của tổn thương bám theo hồ máu ở mọi thì, nhưng ở trung tâm có mô sẹo không ngấm thuốc.


    LEFT: rimenhancement in breast metastasis. RIGHT: nodular discontinuous enhancement  in hemangioma.

    TRÁI: Ngấm thuốc dạng viền trong di căn ung thư vú. PHẢI: Ngấm thuốc dạng nốt không liên tục trong u máu.

    Ngấm thuốc ngoại vi
    Sự ngấm thuốc của u máu bắt đầu từ ngoại vi.
    Đặc điểm ngấm thuốc có dạng nốt hoặc dạng cầu và không liên tục.
    Ngấm thuốc dạng viền là ngấm thuốc ngoại vi liên tục và không bao giờ là u máu.
    Ngấm thuốc dạng viền là đặc điểm của các tổn thương ác tính, đặc biệt là di căn.


    Liver lesion showing nodular enhancement, progressive fill in and delayed enhancement.

    Tổn thương gan biểu hiện ngấm thuốc dạng nốt, ngấm thuốc lấp đầy dần và ngấm thuốc thì muộn.

    Ngấm thuốc lấp đầy dần (Progressive fill in)
    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái và mô tả những gì bạn thấy. Sau đó tiếp tục đọc.

    Tổn thương này chắc chắn có một số đặc điểm của u máu như ngấm thuốc dạng nốt trong thì động mạch và ngấm thuốc lấp đầy dần trong thì tĩnh mạch cửa và thì cân bằng.
    Tuy nhiên, trong thì tĩnh mạch cửa, mức độ ngấm thuốc không sáng bằng mức độ ngấm thuốc của tĩnh mạch cửa.
    Kết luận phải là tổn thương này không tương đương hồ máu ở tất cả các thì, do đó không thể là u máu.
    Vì vậy, ngấm thuốc lấp đầy dần là một đặc điểm không đặc hiệu, có thể gặp trong nhiều tổn thương khác như di căn hoặc các khối u gan nguyên phát như ung thư biểu mô đường mật.
    Sự ngấm thuốc thì muộn trong tổn thương này là do mô xơ trong ung thư biểu mô đường mật và là đặc điểm đặc trưng của các khối u này.


    LEFT: Classic US appearance of a hemangioma.RIGHT: Also a hemangioma but now in a hyperechoic liver, so the lesion is relatively hypoechoic. Notice increased sound transmission.

    TRÁI: Hình ảnh siêu âm điển hình của u máu. PHẢI: Cũng là u máu nhưng trên nền gan tăng âm, do đó tổn thương tương đối giảm âm. Lưu ý hiện tượng tăng âm phía sau.

    Siêu âm
    Hầu hết các u máu được phát hiện bằng siêu âm.
    Nếu phải chọn một từ để đặc trưng cho u máu trên siêu âm, từ đó có lẽ là ‘tăng âm’.
    Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng điều này đơn giản có nghĩa là tổn thương tăng âm so với nhu mô gan bình thường.
    Nếu gan tăng âm do thoái hóa mỡ (steatosis), u máu có thể xuất hiện giảm âm (hình minh họa).
    Một đặc điểm quan trọng khác của u máu là hiện tượng tăng âm phía sau.
    Điều này là do tổn thương được cấu thành từ các kênh chứa máu.

    Chẩn đoán phân biệt
    U máu cần được phân biệt với các tổn thương tăng sinh mạch khác hoặc các tổn thương có biểu hiện ngấm thuốc ngoại vi và ngấm thuốc lấp đầy dần.

    Hepatocellular Carcinoma (HCC)

    HCC là bệnh ác tính ổ bụng phổ biến nhất trên thế giới và đặc biệt thường gặp ở châu Á và các nước Địa Trung Hải.
    HCC có thể xuất hiện dạng đơn ổ, đa ổ hoặc thâm nhiễm lan tỏa.
    HCC bao gồm các tế bào gan bất thường được sắp xếp theo dạng bè điển hình.
    Các tổn thương HCC lớn thường có hình ảnh khảm do xuất huyết và xơ hóa.

    Ở những bệnh nhân xơ gan hoặc viêm gan B/C, mối lo ngại chính của chúng ta là ung thư biểu mô tế bào gan (HCC), vì 85% các trường hợp HCC xảy ra ở những bệnh nhân này.
    Nếu theo dõi một nhóm bệnh nhân viêm gan C trong 10 năm, 50% trong số họ sẽ tiến triển đến giai đoạn cuối của bệnh gan và 25% sẽ mắc HCC.


    Small HCC seen only in arterial phase in a patient with cirrhosis.

    Small HCC seen only in arterial phase in a patient with cirrhosis.

    Early appearance of HCC

    Điều quan trọng là phải phân biệt HCC giai đoạn sớm với HCC giai đoạn muộn.
    Ngày nay chúng ta thường gặp những HCC rất nhỏ ở các bệnh nhân được tầm soát HCC (hình).
    Đây là những tổn thương nhỏ có ngấm thuốc đồng nhất thoáng qua.
    Chúng chỉ được nhìn thấy trong thì động mạch.
    Đôi khi có ngấm thuốc viền và có thể nhầm lẫn với u máu.
    Luôn quan sát hình ảnh của chúng trong các thì khác và so sánh với vùng máu, đồng thời nhớ rằng ngấm thuốc viền không bao giờ là u máu.
    Những HCC giai đoạn sớm này rất khác so với những HCC kích thước lớn mà chúng ta thấy ở các bệnh nhân không có xơ gan.


    Large HCC with mozaik pattern in a non cirrhotic patient.

    Large HCC with mozaik pattern in a non cirrhotic patient.

    Late appearance of HCC

    HCC là một khối u thầm lặng, vì vậy nếu bệnh nhân không có xơ gan hoặc viêm gan C, bạn sẽ phát hiện chúng ở giai đoạn muộn.
    Chúng thường có kích thước rất lớn với hình ảnh khảm, vỏ bao, xuất huyết, hoại tử và thoái hóa mỡ.
    HCC trở nên đồng tỷ trọng hoặc giảm tỷ trọng so với gan trong thì tĩnh mạch cửa do hiện tượng thải thuốc nhanh.
    Trên các hình ảnh thì muộn, vỏ bao và đôi khi các vách ngăn thể hiện sự ngấm thuốc kéo dài.


    LEFT: Diffusely enhancing tumor thrombus in HCC with portal vein invasion.RIGHT: Tumor thrombus with vessels within the thrombus.

    LEFT: Diffusely enhancing tumor thrombus in HCC with portal vein invasion.RIGHT: Tumor thrombus with vessels within the thrombus.

    HCC và Huyết khối Tĩnh mạch Cửa
    Nhiều bệnh nhân xơ gan có huyết khối tĩnh mạch cửa và nhiều bệnh nhân HCC có huyết khối.
    Đây là hai phát hiện thường gặp và có thể chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên.
    Điều rất quan trọng là phải phân biệt giữa huyết khối đơn thuần và huyết khối do khối u.
    Thứ nhất, nếu có huyết khối ác tính trong tĩnh mạch cửa, nó sẽ luôn bắt thuốc cản quang và được nhìn thấy rõ nhất trong thì động mạch.
    Thứ hai, nếu có huyết khối ác tính trong tĩnh mạch cửa, nó sẽ làm tăng đường kính của mạch máu.
    Đôi khi huyết khối do khối u có thể biểu hiện với hình ảnh tân mạch bên trong huyết khối (hình minh họa).

    Differential diagnosis

    HCC giai đoạn sớm cần được phân biệt với các tổn thương tăng sinh mạch khác, những tổn thương này sẽ tăng đậm độ trong thì động mạch.
    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái và nhận xét các kiểu ngấm thuốc.
    Sau đó tiếp tục.


    NECT, arterial and portal venous phase in a patient with Hepatitis C with two lesions in the liver (arrows).

    NECT, arterial and portal venous phase in a patient with Hepatitis C with two lesions in the liver (arrows).

    Trong thì động mạch, chúng ta thấy hai tổn thương tăng sinh mạch.
    Bây giờ đừng chỉ tập trung vào những hình ảnh mà bạn thấy tổn thương rõ nhất.
    Bạn phải xem tất cả các hình ảnh còn lại, vì chúng cung cấp manh mối để chẩn đoán.
    Các hình ảnh phía trên cho thấy một tổn thương đồng tỷ trọng với gan trên CCLVT không tiêm thuốc.
    Trong thì động mạch có sự ngấm thuốc, nhưng không đậm bằng tỷ trọng máu trong lòng mạch.
    Trong thì tĩnh mạch cửa, tổn thương lại đồng tỷ trọng với nhu mô gan xung quanh và không thể nhìn thấy.
    Nếu chỉ có thì tĩnh mạch cửa, chắc chắn bạn sẽ bỏ sót tổn thương này.
    Các hình ảnh phía dưới cho thấy một tổn thương có thể nhìn thấy trên tất cả các hình ảnh.
    Bạn thấy nó trên CCLVT không tiêm thuốc và có thể nhận xét rằng nó giảm tỷ trọng so với gan.
    Điều này có giúp ích gì không?
    Không, hoàn toàn không.
    Tuy nhiên, nếu nhìn vào tỷ trọng máu trong lòng mạch, bạn sẽ nhận thấy rằng ở tất cả các thì, tổn thương có tỷ trọng tương đương với máu trong lòng mạch.
    Vậy chúng ta có một ung thư biểu mô tế bào gan ở thùy phải trên các hình ảnh phía trên và một u máu ở thùy trái trên các hình ảnh phía dưới.
    Điều quan trọng là phải xem xét tất cả các thì chụp.


    Arterial phase (left) and NECT (right)

    Arterial phase (left) and NECT (right)

    Tầm quan trọng của chụp cắt lớp không tiêm thuốc cản quang được minh họa qua trường hợp bên trái.
    Trong thì động mạch, chúng ta thấy một cấu trúc tăng tỷ trọng ở phân thùy bên của thùy gan trái.
    Hình ảnh này trông giống như một nốt ngấm thuốc rất gợi ý ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn sớm.
    Tuy nhiên, nếu nhìn vào ảnh CCLVT không tiêm thuốc bên phải, chúng ta sẽ nhận thấy rằng đây không phải là hình ảnh ngấm thuốc. Đây chỉ là một nốt chứa sắt (nốt siderot) có tỷ trọng cao.
    Chúng rất phổ biến và được ghi nhận ở tới 50% bệnh nhân xơ gan.


    Hypovascular HCC seen in late portal venous phase

    Hypovascular HCC seen in late portal venous phase

    10% ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) có tỷ trọng thấp hơn so với nhu mô gan.
    Các đặc điểm hình ảnh sẽ không đặc hiệu.
    Trường hợp bên trái được chứng minh là HCC.

    Hepatic Adenoma

    U tuyến tế bào gan là những khối u lớn, được phân định rõ ràng và có vỏ bao.
    Chúng bao gồm các tấm tế bào gan không có ống mật hoặc vùng cửa.
    80% u tuyến là đơn độc và 20% là đa ổ.
    U tuyến thường có kích thước 8-15 cm và bao gồm các tấm tế bào gan biệt hóa tốt.
    U tuyến dễ bị hoại tử trung tâm và xuất huyết do nguồn cung cấp mạch máu bị giới hạn ở bề mặt khối u.
    Cơ chế bệnh sinh được cho là liên quan đến tình trạng giãn mạch toàn thể phát triển do gan tiếp xúc với thuốc tránh thai dạng uống và các steroid tổng hợp liên quan.
    Ở phụ nữ trẻ sử dụng thuốc tránh thai, u tuyến là khối u gan gặp thường gặp nhất.

    CT sẽ hiển thị hầu hết các u tuyến dưới dạng tổn thương ngấm thuốc đồng nhất trong thì động mạch muộn, và sẽ đồng tỷ trọng với nhu mô gan ở các thì muộn hơn.
    Thật không may, sự ngấm thuốc đồng nhất trong thì động mạch muộn này không đặc hiệu cho u tuyến, vì HCC nhỏ và u máu cũng như di căn tăng sinh mạch và FNH có thể biểu hiện ngấm thuốc tương tự trong thì động mạch.
    Tuy nhiên, các tổn thương ác tính có xu hướng thải thuốc nhanh hơn so với nhu mô gan xung quanh, do đó chúng có thể trở nên tương đối giảm tỷ trọng ở các thì muộn hơn.
    Dấu hiệu xuất huyết dưới dạng vùng tăng tỷ trọng có thể gặp trong tới 40% các trường hợp u tuyến.
    Tuy nhiên, đây cũng là đặc điểm của HCC và u máu lớn.

    Sự lắng đọng mỡ trong các u tuyến chỉ được xác định trên CT ở khoảng 7% bệnh nhân và được thể hiện rõ hơn trên MRI.
    Thông thường, các u tuyến có ranh giới rõ ràng và không có bờ viền thùy múi.
    Vỏ giả tỷ trọng thấp có thể được nhìn thấy ở tới 30% bệnh nhân.
    Vỏ này chỉ thể hiện sự ngấm thuốc trên các lần chụp thì muộn.
    Vôi hóa thô chỉ được thấy ở 5% bệnh nhân.
    Bên trái là hình ảnh u tuyến có lắng đọng mỡ và vỏ bao.

    MRI thường nhạy hơn trong việc phát hiện mỡ và xuất huyết.
    Hình ảnh dịch chuyển hóa học cho thấy mất tín hiệu trên các hình ảnh lệch pha có thể xác nhận sự hiện diện của mỡ.
    HCC được biết là chứa mỡ trong tới 40% các tổn thương, do đó sự hiện diện của mỡ không giúp phân biệt các tổn thương.


    Adenoma with hemorrhage.

    Adenoma with hemorrhage.

    U tuyến có thể vỡ và chảy máu, gây đau hạ sườn phải.
    Hai tổn thương gan phổ biến nhất gây xuất huyết gan là u tuyến gan (HA) và ung thư biểu mô tế bào gan (HCC).
    Mặc dù u tuyến là tổn thương lành tính, chúng có thể chuyển dạng ác tính thành ung thư biểu mô tế bào gan (HCC).
    Mặc dù sự chuyển dạng ác tính hiếm gặp, vì lý do này, phẫu thuật cắt bỏ được khuyến nghị ở hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán nghi ngờ u tuyến.


    Enhancing adenoma with fat in the center

    Enhancing adenoma with fat in the center

    Có sự chồng lấp đáng kể giữa hình ảnh CT của u tuyến, HCC, FNH và di căn tăng sinh mạch, khiến việc chẩn đoán xác định dựa trên tiêu chí hình ảnh CT đơn thuần trở nên khó khăn và thường không thể thực hiện được.
    Tương quan lâm sàng trong những trường hợp này là hữu ích nhất.
    Ở phụ nữ trẻ khỏe mạnh đang sử dụng thuốc tránh thai đường uống, u tuyến được ưu tiên nghĩ đến.
    Bệnh nhân mắc bệnh dự trữ glycogen, bệnh nhiễm sắt, chứng to cực đầu chi, hoặc nam giới sử dụng steroid đồng hóa cũng có nguy cơ cao phát triển u tuyến gan.
    Tiền sử xơ gan và nồng độ AFP cao nghiêng về HCC.
    Tiền sử khối u nguyên phát tăng sinh mạch nghiêng về di căn.


    Adenoma showing capsule in delayed phase

    Adenoma showing capsule in delayed phase

    Do nguy cơ xuất huyết trong phúc mạc và sự xuất hiện hiếm gặp của biến đổi ác tính thành HCC, phẫu thuật cắt bỏ đã được khuyến nghị ở hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán là HA.
    Nguy cơ chảy máu đáng kể từ khối u có thể lên đến 30%.
    Nguy cơ chính xác của biến đổi ác tính vẫn chưa được xác định.
    Một số ý kiến chỉ khuyến nghị phẫu thuật cắt bỏ khi khối u lớn hơn 5 cm hoặc khi nồng độ AFP tăng cao, vì hai phát hiện này có liên quan đến nguy cơ ác tính cao hơn.
    Giá trị của sinh thiết kim nhỏ qua da trong chẩn đoán HA còn gây tranh cãi vì hai lý do.
    Thứ nhất, các nghiên cứu mô học có thể dẫn đến chẩn đoán nhầm khi phân biệt HA với FNH.
    Ngoài ra, tồn tại nguy cơ xuất huyết đáng kể khi thực hiện sinh thiết trên các khối u tăng sinh mạch máu này.
    U tuyến có thể thu nhỏ sau khi ngừng thuốc tránh thai đường uống, nhưng điều này không làm giảm nguy cơ biến đổi ác tính.
    Khi có thể xác định chẩn đoán chắc chắn FNH bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, có thể tránh phẫu thuật và theo dõi tổn thương một cách an toàn bằng các nghiên cứu X-quang.
    Tuy nhiên, nếu HA hoặc HCC vẫn còn trong chẩn đoán phân biệt, phẫu thuật thường được chỉ định.

    Focal Nodular Hyperplasia (FNH)

    FNH là khối u phổ biến thứ hai của gan.
    FNH không phải là một tân sinh thực sự. Người ta cho rằng đây là một phản ứng tăng sản do tăng lưu lượng máu trong dị dạng động tĩnh mạch trong gan.
    Tất cả các thành phần bình thường của gan đều hiện diện nhưng được tổ chức theo một cấu trúc bất thường.

    Siêu âm sẽ hiển thị FNH như một tổn thương không đặc hiệu với ranh giới không rõ ràng.
    Sẹo trung tâm có thể được phát hiện như một vùng tăng âm, nhưng thường không thể phân biệt được.
    Với siêu âm Doppler màu, đôi khi có thể thấy các mạch máu bên trong sẹo.

    CT sẽ cho thấy U tăng sản nốt khu trú (FNH) là một khối u giàu mạch máu, tăng tỷ trọng trong thì động mạch, ngoại trừ sẹo trung tâm.
    Bên trái là hình ảnh điển hình của FNH với sẹo trung tâm giảm tỷ trọng trong thì tĩnh mạch cửa và tăng tỷ trọng trong thì cân bằng.

    MRI sẽ cho thấy sẹo trung tâm giảm tín hiệu trên ảnh T1.
    Trên ảnh T2, sẹo xuất hiện tăng tín hiệu ở 80% bệnh nhân, đây là hình ảnh rất điển hình.
    Tuy nhiên ở 20% bệnh nhân, sẹo lại giảm tín hiệu.
    MRI có tiêm Gadolinium sẽ cho thấy hình thái ngấm thuốc tương tự như trên CECT.


    FNH seen as hypervascular lesion in the late arterial phase and isodense to normal liver in the portal venous phase. No scar was seen.

    FNH seen as hypervascular lesion in the late arterial phase and isodense to normal liver in the portal venous phase. No scar was seen.

    Chẩn đoán FNH dựa trên việc xác định sẹo trung tâm và sự tăng quang đồng nhất.
    Tuy nhiên, sẹo trung tâm điển hình có thể không quan sát thấy ở tới 20% bệnh nhân (hình).
    Hơn nữa, sẹo trung tâm có thể được tìm thấy ở một số bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào gan thể sợi-lá, u tuyến gan và ung thư biểu mô đường mật trong gan.
    Chìa khóa để chẩn đoán tổn thương bên trái là thực tế tổn thương này đồng tỷ trọng với nhu mô gan bình thường trong thì tĩnh mạch cửa và duy trì như vậy mà không có hiện tượng thải thuốc trong thì muộn (không hiển thị).
    Đây cũng có thể là u tuyến, nhưng ung thư biểu mô tế bào gan khó có khả năng xảy ra vì chúng thường biểu hiện thải thuốc nhanh.


    T2WI, T1WI without Gadolineum and a delayed phase after Gadolineum.

    T2WI, T1WI without Gadolineum and a delayed phase after Gadolineum.

    Nếu bạn nhìn vào các hình ảnh bên trái và chỉ xem xét các hình ảnh T2W, nguyên nhân nào có thể gây ra vùng trung tâm có tín hiệu cao?

    Nguyên nhân phổ biến nhất sẽ là hoại tử trung tâm trong một khối u.
    Tuy nhiên nếu bạn nhìn vào thì muộn, bạn sẽ nhận thấy rằng vùng này có ngấm thuốc.
    Vì vậy đây là mô xơ và chẩn đoán là TSLTHU.
    Ung thư biểu mô tế bào gan dạng sợi lá (FLC) có sẹo tối trên T2WI và TSLTHU có sẹo sáng trên T2WI trong 80% các trường hợp.
    Điều này có nghĩa là đôi khi việc phân biệt giữa TSLTHU và FLC sẽ không thể thực hiện được.

    Fibrolamellar carcinoma (FLC)

    FLC là một khối u tế bào gan ác tính không phổ biến, nhưng ít xâm lấn hơn so với HCC.
    FLC đặc trưng biểu hiện là một khối u gan lớn từ 10-20 cm ở thanh thiếu niên hoặc người trẻ tuổi.
    Các yếu tố nguy cơ điển hình của HCC như xơ gan, tăng alpha-fetoprotein, viêm gan virus, lạm dụng rượu đều không có mặt.
    FLC đặc trưng xuất hiện như một khối u không đồng nhất có múi với sẹo trung tâm trên nền gan hoàn toàn bình thường. Vôi hóa xảy ra trong 30-60% các khối u dạng xơ lá.


    LEFT: FLC in late arterial phase: central calcification and heterogenous enhancement in a lamellar pattern. RIGHT: venous phase with hypodense central scar.

    LEFT: FLC in late arterial phase: central calcification and heterogenous enhancement in a lamellar pattern. RIGHT: venous phase with hypodense central scar.

    Các đặc điểm hình ảnh của FLC trùng lặp với các tổn thương tạo sẹo khác bao gồm FNH, HCC, U máu và Ung thư biểu mô đường mật.
    Đặc biệt, FNH có thể giống FLC, vì cả hai có đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng tương tự nhau.
    Ngược lại với FNH, sẹo trung tâm trong FLC thường giảm tín hiệu trên T2WI và ít khi có ngấm thuốc thì muộn.
    Trong khi FNH luôn rất đồng nhất, FLC thường không đồng nhất sau khi tiêm thuốc tương phản.

    Ở bên trái là các mẫu bệnh lý của FLC và FNH.
    Thoạt nhìn chúng trông rất giống nhau.
    Tuy nhiên khi quan sát kỹ, bạn sẽ nhận thấy cấu trúc dạng lá và không đồng nhất của FLC so với hình ảnh đồng nhất của FNH.

    Trên hình ảnh không tăng cường, FLC thường biểu hiện là một khối lớn với vôi hóa trung tâm.

    Ung thư đường mật (Cholangiocarcinoma)

    Ung thư đường mật thường biểu hiện là một khối kích thước từ 5-20cm. Trong 65% trường hợp có các nốt vệ tinh và một số trường hợp có thể thấy các vôi hóa dạng chấm nhỏ.
    Chẩn đoán ung thư đường mật thường khó khăn đối với cả bác sĩ chẩn đoán hình ảnh lẫn bác sĩ giải phẫu bệnh.
    Nguyên nhân là do ung thư đường mật có hình thái và mô học rất đa dạng.
    Tổn thương có thể gây hẹp hoặc giãn rộng lòng ống mật, do mô đệm có thể là dạng xơ hoặc dạng tuyến.
    Khối u có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên đường mật trong gan hoặc ống mật chủ.


    Cholangiocarcinoma: Non enhanced, arterial, portal venous and equilibrium phase.

    Ung thư đường mật: Thì không tiêm thuốc, thì động mạch, thì tĩnh mạch cửa và thì cân bằng.

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái và cố gắng tìm các thuật ngữ mô tả phù hợp cho những gì bạn thấy. Sau đó tiếp tục đọc.

    Tổn thương bên trái có các đặc điểm sau:

    • Tổn thương giảm tỷ trọng ở thì động mạch và thì tĩnh mạch cửa, với ngấm thuốc ngoại vi.
    • Tổn thương tăng tỷ trọng ở thì cân bằng, gợi ý mô xơ đặc.
    • Tổn thương gây co rút bao gan.

    Hình ảnh một khối thâm nhiễm kèm co rút bao gan và ngấm thuốc muộn kéo dài là đặc trưng điển hình của ung thư đường mật.

    Ung thư đường mật thể thâm nhiễm không gây hiệu ứng choán chỗ, vì khi mô đệm trưởng thành, mô xơ sẽ co lại và gây co rút bao gan.
    Không có nhiều loại u gây co rút bao gan, vì hầu hết các khối u thường gây phồng lồi bao gan.
    Loại u phổ biến nhất gây co rút bao gan ngoài ung thư đường mật là ung thư vú di căn.
    Điều này tạo ra hình ảnh giả xơ gan.
    Một nguyên nhân khác gây co rút cục bộ là teo gan do tắc nghẽn đường mật hoặc tắc nghẽn tĩnh mạch cửa mạn tính.

    Ca lâm sàng bên trái minh họa mức độ khó khăn trong việc phát hiện ung thư đường mật.
    Chỉ trên các hình ảnh thì muộn, 8-10 phút sau tiêm thuốc cản quang, mới thấy được tổn thương tương đối tăng tỷ trọng. Đây chính là thành phần xơ của khối u.

    Một số trường hợp ung thư đường mật có mô đệm dạng tuyến.

    Di Căn Gan

    Gan là vị trí di căn phổ biến nhất.
    Các cơ quan nguyên phát thường gặp nhất bao gồm: đại tràng, dạ dày, tụy, vú và phổi.
    Hầu hết các di căn gan đều có tính chất đa ổ, xâm lấn cả hai thùy gan ở 77% bệnh nhân; chỉ có 10% trường hợp xuất hiện tổn thương di căn đơn độc.

    Di căn giảm mạch máu là thể thường gặp nhất, xuất hiện trong các khối u đường tiêu hóa, phổi, vú và vùng đầu/cổ.
    Các tổn thương này được phát hiện dưới dạng tổn thương giảm tỷ trọng trong thì tĩnh mạch cửa muộn.
    Trong thì này, tỷ trọng của nhu mô gan bình thường tăng lên, làm bộc lộ các ổ di căn có tỷ trọng tương đối thấp hơn, đôi khi kèm theo ngấm thuốc ngoại vi.
    Hình ảnh ngấm thuốc dạng viền ngoại vi phản ánh vùng khối u còn hoạt tính ở ngoại vi, nổi bật trên nền trung tâm kém hoạt tính hoặc hoại tử (hình minh họa).

    Di căn tăng mạch máu ít gặp hơn, thường thấy trong ung thư biểu mô tế bào thận, u insulinoma, u carcinoid, sarcoma, u hắc tố và ung thư vú.
    Các tổn thương này được phát hiện rõ nhất trong thì động mạch muộn, khoảng 35 giây sau khi tiêm thuốc cản quang.
    Mặc dù di căn từ ung thư vú có thể tăng mạch máu, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thường quy bổ sung thì động mạch trong quy trình chụp không mang lại lợi ích đáng kể.

    Di căn vôi hóa gan là thể không phổ biến. Vôi hóa có thể gặp trong di căn từ ung thư đại tràng, dạ dày, vú, ung thư tụy nội tiết, u cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma), u xương ác tính (osteosarcoma) và u hắc tố.
    Khi CT phát hiện di căn gan vôi hóa ở bệnh nhân chưa xác định được khối u nguyên phát, ung thư đại tràng là nguyên nhân có khả năng cao nhất.

    Di căn dạng nang gan gặp trong ung thư buồng trứng chế nhầy, ung thư đại tràng, sarcoma, u hắc tố, ung thư phổi và u carcinoid.

    Trên MRI, các ổ di căn thường giảm tín hiệu trên chuỗi xung T1W và tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W.
    Phù nề quanh khối u làm cho tổn thương trông có kích thước lớn hơn trên chuỗi xung T2W và là dấu hiệu gợi ý mạnh của khối ác tính.
    Trên MRI động học có tiêm thuốc tương phản từ, đặc điểm của các ổ di căn tương tự như trên CT có tiêm thuốc cản quang.


    Calcified metastasis in a patient with colon cancer.

    Di căn vôi hóa ở bệnh nhân ung thư đại tràng.

    Đặc điểm trên siêu âm
    Trên siêu âm, các ổ di căn có thể biểu hiện dạng nang, giảm âm, đồng âm hoặc tăng âm.

    Tổn thương dạng bia bắn (bull’s eye) hoặc dạng đích (target) là hình ảnh biểu hiện thường gặp của di căn. Trong các ổ di căn này, vùng halo ngoại vi nhiều khả năng liên quan đến sự kết hợp giữa nhu mô gan bình thường bị chèn ép xung quanh khối và vùng tế bào ung thư đang tăng sinh.
    Hình ảnh này gợi ý hành vi xâm lấn mạnh và thường gặp trong ung thư phế quản, ung thư vú và ung thư đại tràng.
    Tuy nhiên, hình ảnh này không đặc hiệu cho di căn vì cũng có thể gặp trong các khối u gan nguyên phát ác tính (ví dụ: ung thư biểu mô tế bào gan – HCC) và lành tính (ví dụ: u tuyến gan trong bệnh tích lũy glycogen).
    Hình ảnh tương tự cũng đã được mô tả trong áp xe gan.
    Di căn vôi hóa có thể tạo bóng cản âm phía sau khi chúng có tính chất tăng âm dày đặc (hình minh họa). Hình ảnh này thường gặp trong ung thư đại trực tràng.

    Chẩn đoán phân biệt

    Di căn có thể có hình ảnh tương tự hầu hết các tổn thương xảy ra ở gan.
    Di căn tăng mạch máu cần được phân biệt với các khối u tăng mạch máu khác có thể có tính chất đa ổ như u máu (hemangioma), tăng sản nốt khu trú (FNH), u tuyến gan (adenoma) và HCC.
    Di căn giảm mạch máu cần được phân biệt với thâm nhiễm mỡ khu trú, áp xe gan, HCC giảm mạch máu không điển hình và ung thư biểu mô đường mật (cholangiocarcinoma).


    Metastasis difficult to detect on CECT in portal venous phase (left). Better seen on NECT.

    Ổ di căn khó phát hiện trên CT có thuốc cản quang thì tĩnh mạch cửa (trái). Hiện rõ hơn trên CT không tiêm thuốc.

    Di căn trong gan nhiễm mỡ
    Vùng gan bảo tồn khu trú trong gan nhiễm mỡ lan tỏa hoặc các ổ thâm nhiễm mỡ khu trú có thể mô phỏng hình ảnh di căn.
    Tuy nhiên, trên phim chụp không tiêm thuốc, các vùng biến đổi mỡ này thường có hình dạng không tròn đều, phân bố theo địa lý, không có hiệu ứng khối hoặc gây biến dạng mạch máu lân cận.

    Mặt khác, gan nhiễm mỡ cũng có thể che khuất các ổ di căn.
    Trên CT có tiêm thuốc cản quang, các tổn thương giảm mạch máu có thể bị che lấp nếu bản thân nhu mô gan đã có tỷ trọng thấp do lắng đọng mỡ. Trên CT không tiêm thuốc, các tổn thương này thường được hiển thị rõ hơn (hình minh họa).


    Steatosis of right liver lobe. No lesions detectable. On US multiple lesions in the same region.

    Gan nhiễm mỡ thùy gan phải. Không phát hiện được tổn thương. Trên siêu âm phát hiện nhiều tổn thương tại cùng vùng này.

    Nếu bệnh nhân đã được biết có gan nhiễm mỡ, nên ưu tiên thực hiện MRI hoặc siêu âm để phát hiện di căn gan.
    Hình bên trái là bệnh nhân có thâm nhiễm mỡ lan rộng ở phần lớn nhu mô gan.
    Không phát hiện được ổ di căn nào, nhưng khi siêu âm cùng vùng đó đã phát hiện được nhiều ổ di căn.

    Áp xe gan

    Biểu hiện của áp xe gan phụ thuộc rất nhiều vào con đường vi khuẩn xâm nhập vào gan.
    Có bốn con đường để vi khuẩn vào gan.
    Con đường phổ biến nhất là qua tĩnh mạch cửa, hậu quả của nhiễm trùng ổ bụng.
    Vi khuẩn xâm nhập qua hệ thống tĩnh mạch cửa có dòng chảy chậm và lắng đọng trong lòng mạch.
    Vi khuẩn sẽ rơi xuống phần thấp nhất của thùy gan phải.
    Trong nhiễm khuẩn huyết, vi khuẩn lan theo hệ thống động mạch như ở bệnh nhân viêm nội tâm mạc, tạo ra nhiều ổ áp xe rải rác ở ngoại vi gan.
    Con đường đường mật thường là hậu quả của các can thiệp đường mật như ERCP. Áp xe thường có vị trí trung tâm rồi lan rộng ra ngoài.
    Cuối cùng là con đường trực tiếp, như trong chấn thương xuyên thấu hoặc viêm túi mật lan trực tiếp vào gan.


    Áp xe gan ở bệnh nhân viêm túi thừa.

    Áp xe gan ở bệnh nhân viêm túi thừa.

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái và cố gắng tìm các thuật ngữ mô tả phù hợp cho những gì bạn thấy. Sau đó tiếp tục.

    Nếu mô tả hình ảnh bên trái, bạn sẽ sử dụng các thuật ngữ như:

    • Tổn thương giảm mạch máu
    • Giảm tỷ trọng, do đó có thể là dạng nang tức là chứa dịch.
    • Các tổn thương tập trung thành cụm hoặc tổn thương vệ tinh. Các tổn thương này có nhiều ổ nhưng không rải rác khắp gan.
    • Mặc dù khó nhận thấy, nhưng cũng có hình ảnh huyết khối tĩnh mạch cửa ở bên trái.

    Vì vậy, các dấu hiệu này gợi ý áp xe gan, đặc biệt vì các tổn thương tập trung thành cụm.
    Chỉ trong trường hợp bệnh nhân có ghép gan, các biloma trong vùng nhồi máu mới có hình ảnh tương tự.
    Nếu các tổn thương không tập trung thành cụm thì bất kỳ khối u dạng nang nào cũng có thể có hình ảnh như vậy.
    Việc chẩn đoán áp xe gan rất quan trọng vì đây là bệnh lành tính nhưng có thể gây tử vong, và bác sĩ chẩn đoán hình ảnh có thể là người đầu tiên đặt ra nghi ngờ này.


    TRÁI: Tổn thương nhỏ dạng nang sau ERCP gần đây PHẢI: 3 tuần sau, một ổ áp xe lớn đã hình thành.

    TRÁI: Tổn thương nhỏ dạng nang sau ERCP gần đây PHẢI: 3 tuần sau, một ổ áp xe lớn đã hình thành.

    Khi phát hiện một tổn thương nhỏ dạng nang ở bệnh nhân vừa trải qua ERCP, cần hết sức thận trọng khi kết luận đó chỉ là nang đơn giản.
    Áp xe đường mật khởi đầu nhỏ nhưng có thể tiến triển nhanh chóng.
    Hình ảnh bên trái minh họa một trường hợp như vậy.
    Chỉ trong vòng 3 tuần, tổn thương nhỏ ở thùy gan trái đã tiến triển thành ổ áp xe khổng lồ này.
    Do đó, bất kỳ cấu trúc dạng nang nào gần đường mật ở bệnh nhân vừa trải qua thủ thuật đường mật đều cần được nghi ngờ là áp xe gan.

  • Siêu âm tuyến vú

    Siêu âm Vú

    Robin Smithuis, Lidy Wijers và Indra Dennert

    Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp – Hà Lan

    Bài viết này cung cấp kiến thức cơ bản về siêu âm vú.

    Chúng tôi sẽ tập trung vào cách siêu âm di động có thể được sử dụng bởi các nhân viên y tế tại các khu vực mà các phương tiện chẩn đoán khác như chụp nhũ ảnh (mammography) hoặc MRI chưa được phổ biến rộng rãi.

    Tuy nhiên, bài viết này cũng là một tài liệu giới thiệu hữu ích cho những ai đang thực hành chụp nhũ ảnh và MRI tuyến vú.

    Các video trong phần giới thiệu bao quát hầu hết nội dung của bài viết.

    Giới thiệu

    Video 1

    Trong video này chúng ta sẽ thảo luận về:

    • Giải phẫu bình thường
    • Chẩn đoán phân biệt khối tổn thương tuyến vú
    • Mô tuyến vú dày đặc
    • Nang
    • U xơ tuyến vú
    • Ung thư vú

    Video 2

    Trong video này chúng ta sẽ thảo luận về:

    • Nhiều ví dụ điển hình về ung thư vú
    • Ung thư trong nang
    • Chẩn đoán phân biệt khối u lành tính và ác tính
    • Kỹ thuật tạo ảnh hài hòa mô
    • Chẩn đoán và điều trị áp xe vú

    Đầu dò mảng tuyến tính kết nối với điện thoại thông minh

    Đầu dò mảng tuyến tính kết nối với điện thoại thông minh

    Siêu âm chủ yếu được sử dụng bổ sung cho nhũ ảnh và MRI.
    Tuy nhiên, đây là công cụ chẩn đoán ban đầu xuất sắc để khảo sát tuyến vú ở phụ nữ có triệu chứng như sờ thấy khối hoặc đau khu trú tại vú.

    Trong hầu hết các trường hợp, có thể xác định được liệu tổn thương là lành tính hay ung thư vú.
    Trong một số trường hợp, chọc hút có thể giúp phân biệt nang phức tạp với tổn thương đặc, đồng thời chọc hút cũng được sử dụng để điều trị áp xe.

    Siêu âm vú thường không được chỉ định để tầm soát ung thư vú. Nguyên nhân là do kỹ thuật này tốn nhiều thời gian và có thể bỏ sót một số dấu hiệu ung thư sớm như ung thư vú nhỏ không sờ thấy hoặc ung thư biểu mô ống tuyến tại chỗ, vốn chỉ biểu hiện bằng các vôi hóa nhỏ trên nhũ ảnh.

    Tuy vậy, siêu âm là một công cụ cực kỳ nhanh chóng và hiệu quả.
    Phương pháp này an toàn, chi phí thấp và có tính cơ động cao; các máy siêu âm cầm tay hiện đại chỉ bao gồm một đầu dò kết nối với điện thoại di động hoặc máy tính bảng.
    Các hệ thống này cung cấp hình ảnh độ phân giải cao với giá chỉ hơn một nghìn đô la.

    Chúng tôi kỳ vọng rằng ngày càng nhiều bác sĩ và nhân viên y tế sẽ ứng dụng siêu âm trong chăm sóc tuyến vú tại những nơi không có điều kiện tiếp cận hoặc chi trả cho các phương tiện khác như nhũ ảnh hay MRI.
    Khả năng kết nối với điện thoại di động giúp dễ dàng lưu trữ hình ảnh hoặc chia sẻ để xin ý kiến tư vấn thêm.

    Vú Bình Thường

    Tuyến vú được cấu tạo bởi sự pha trộn giữa mô xơ tuyến và mô mỡ.

    Mô tuyến không phân bố đồng đều trong vú.
    Thông thường, mô tuyến tập trung nhiều hơn ở góc phần tư trên ngoài và tỏa ra từ phía sau núm vú ra ngoại vi.

    Lượng mô tuyến đáp ứng với sự dao động nội tiết tố và thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt.
    Lượng mô tuyến giảm dần theo tuổi tác.

    Các ổ mô tuyến khu trú có thể biểu hiện như một khối u, do mô tuyến có độ chắc hơn so với mô mỡ xung quanh.

    Ở phụ nữ trẻ, đây là nguyên nhân rất phổ biến gây ra các khối u thường kèm theo đau ở vú.

    Khi đặt đầu dò lên vú, lớp đầu tiên quan sát được là da, bên dưới là sự pha trộn giữa mô tuyến và mô mỡ.

    Lớp sâu nhất là thành ngực với cơ ngực, các xương sườn và các cơ gian sườn.

    Phía sau hoặc sâu hơn so với xương sườn, không thể tạo hình ảnh do sóng âm bị hấp thụ, tạo ra một xảo ảnh gọi là bóng cản âm phía sau.

    Điều này có nghĩa là không thể quan sát được cấu trúc phía sau xương sườn, và vùng phía sau xương sườn trên hình ảnh sẽ có màu đen.

    Phổi bình thường chứa đầy không khí, cũng phản xạ sóng siêu âm.
    Bờ trước của phổi tạo ra một đường tăng âm (hyperechoic) hay đường trắng di động theo nhịp thở bình thường (xem video bên dưới).

    Sự phản xạ âm của các bóng khí trong phổi tạo ra cái mà chúng ta gọi là bóng cản bẩn (dirty shadow) (xem hình tiếp theo).
    Hiện tượng này không rõ rệt như ở xương sườn.


    Press Command + to enlarge images – Scroll for text

    Đây là hình ảnh siêu âm bình thường của tuyến vú.

    Lớp xám phía trên là da.

    Tiếp theo là sự pha trộn giữa mô mỡ (tối hoặc giảm âm) và mô tuyến (xám sáng hoặc tăng âm).

    Lớp có vân sọc phía sau mô vú là cơ ngực.

    Phía sau hoặc sâu hơn so với xương sườn có một vùng đen hay bóng cản âm phía sau.

    Phổi là lớp có thể quan sát sâu nhất.
    Không khí trong phổi phản xạ hầu hết sóng âm, tạo ra một đường sáng hoặc tăng âm với bóng cản bẩn phía sau.

    Video này trình bày giải phẫu vú bình thường.

    Lưu ý sự di động của phổi trong quá trình thở.

    Trong video này, có thể thấy một khối ung thư vú nằm trong mô tuyến.

    Thành phần mô vú

    Siêu âm cho phép xác định thành phần mô vú: mô xơ tuyến đồng nhất – mô không đồng nhất – hoặc mô mỡ đồng nhất (hình).
    Lưu ý rằng hình ảnh nhũ ảnh và siêu âm rất tương đồng nhau.

    Ở phụ nữ trẻ, vú chủ yếu chứa mô tuyến.

    Mô tuyến này có thể rất phát triển trong thời kỳ mang thai và cho con bú, đồng thời có thể biến đổi theo chu kỳ ở phụ nữ tiền mãn kinh, khiến vú có cảm giác u cục hoặc đau.

    Ở phụ nữ lớn tuổi, mô tuyến dần được thay thế bởi mô mỡ, mặc dù một số phụ nữ lớn tuổi vẫn có thể còn một lượng mô tuyến đáng kể.

    Ở phụ nữ béo phì, lượng mỡ trong vú nhiều hơn ngay cả ở độ tuổi trẻ hơn.

    Gần đường giữa, các xương sườn chỉ được cấu tạo bởi sụn và chưa bị vôi hóa.

    Sụn không tạo ra phản âm trắng ở mặt trước hay bóng cản âm phía sau.
    Thay vào đó, một cấu trúc giảm âm được quan sát thấy phía trước phổi.

    Không nên nhầm lẫn cấu trúc này với khối u vú.
    Thoạt nhìn, cấu trúc này có thể trông giống u xơ tuyến vú khi hình ảnh xương sườn được cắt trên mặt phẳng ngang.
    Khi xoay đầu dò, sẽ nhận thấy đây là một cấu trúc dài liên tục với phần xương sườn đã vôi hóa.

    Tổn thương nhỏ dưới da là một nang bì (dermoid cyst), sẽ được thảo luận ở phần sau.

    Trong cùng một tuyến vú có thể tồn tại các vùng có nhiều mô mỡ xen kẽ với các vùng chủ yếu là mô xơ tuyến, như có thể thấy trên video.

    Khi quan sát đường bờ của mô tuyến (mũi tên), có thể hình dung rằng khi sờ nắn sẽ cảm thấy gồ ghề và đôi khi tạo cảm giác như có một khối u khi mô tuyến rất phát triển.

    Hình ảnh vú trên siêu âm có thể khác nhau tùy theo máy của các nhà sản xuất khác nhau.

    Điều này có nghĩa là cần làm quen với hình ảnh trên máy siêu âm của chính mình.

    Các hình ảnh được chụp từ máy siêu âm Philips (trái) và Siemens (phải).

    Hãy chú ý sự khác biệt trong cách hiển thị lớp da chẳng hạn.

    Hình ảnh siêu âm – tổng quan

    Các bất thường phổ biến nhất ở tuyến vú, thường biểu hiện dưới dạng một khối ở vú, bao gồm: nang, u xơ tuyến vú, ung thư vú và mô tuyến có thể sờ thấy.

    Bảng dưới đây liệt kê các hình ảnh siêu âm điển hình (nhấp để phóng to).

    Chúng tôi sẽ thảo luận chi tiết từng đặc điểm này trong phần tiếp theo.

    Nang có thể gặp ở mọi lứa tuổi.

    U xơ tuyến vú là các khối u lành tính, thường gặp ở phụ nữ trẻ (đặc biệt trong độ tuổi 15-25) và hiếm khi xuất hiện như một phát hiện mới ở phụ nữ trên 50 tuổi.

    Ung thư vú chủ yếu gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi và ít phổ biến hơn ở phụ nữ trẻ.

    Mô tuyến có thể sờ thấy thường gặp ở phụ nữ trẻ, trong thai kỳ và thời kỳ cho con bú.
    Tình trạng này thường thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt.

    Nang

    Nang là loại khối u lành tính phổ biến nhất ở vú.
    Đây là các túi chứa dịch nằm bên trong tuyến vú và luôn luôn có bản chất lành tính.

    Việc xác định bản chất dạng nang của một khối u có thể sờ thấy là vô cùng quan trọng, vì khi đó bác sĩ có thể hoàn toàn yên tâm trấn an bệnh nhân rằng mọi thứ đều ổn.

    Trên siêu âm, các đặc điểm điển hình của nang bao gồm:

    • Hình ảnh trống âm (hay còn gọi là vùng đen)
    • Hình dạng tròn hoặc bầu dục
    • Bờ rõ nét, giới hạn rõ ràng
    • Tăng âm phía sau

    Phía sau nang thường có hiện tượng tăng âm, còn gọi là tăng âm phía sau, đề cập đến sự gia tăng các tín hiệu âm ở phía sâu sau nang, do dịch lỏng truyền âm rất tốt.

    Khi dịch trong nang chịu áp lực căng, nang trở nên tròn hơn và có thể sờ thấy được.

    Đây là một ví dụ điển hình về nhiều nang ở một phụ nữ có khối u sờ thấy được ở vú.

    Mặc dù có nhiều nang, nhưng chỉ có nang ở trung tâm mới sờ thấy được, vì nang này có hình tròn với dịch chịu áp lực căng bên trong.
    Các nang còn lại không sờ thấy được, vì chúng có cảm giác tương tự như mô vú bình thường xung quanh.

    Việc phát hiện thêm nhiều nang ở một phụ nữ đến khám vì có nang sờ thấy được là điều rất thường gặp.

    Người phụ nữ này có nhiều nang nhỏ ở cả hai vú.

    Các nang này không sờ thấy được.

    Đây là video về một nang có thể sờ thấy được.

    Trong trường hợp này, nang gây đau và được quyết định thực hiện chọc hút dịch.

    Lưu ý rằng thành nang hơi dày.
    Đây thường là dấu hiệu của nhiễm trùng độ thấp và giải thích tại sao nang gây đau.
    Các nang không biến chứng thường không gây đau.

    Đây là một nang nhiễm trùng khác, đã được chọc hút.

    Chọc hút là một thủ thuật nhanh chóng và đơn giản.
    Trong hầu hết các trường hợp, dịch hút ra có màu vàng trong suốt, nhưng cũng có thể có màu xanh lá hoặc nâu.
    Không cần thiết phải xét nghiệm dịch hút ra.

    Nang phức tạp

    Hầu hết các nang có hình ảnh điển hình như đã trình bày ở trên.

    Nang phức tạp có hình ảnh không điển hình:

    • Nội dung giảm âm – nội dung của nang có thể trở nên giàu protein và đặc quánh hơn do nhiễm trùng hoặc chảy máu bên trong. Kết quả là hình ảnh âm có thể trở nên giảm âm thay vì hình ảnh trống âm bình thường.
      Thông thường, các nang phức tạp này vẫn còn tăng âm phía sau, điều này chứng minh bản chất dạng nang của tổn thương.
    • Thành dày – thường do nhiễm trùng. Đôi khi thành nang có thể trở nên không đều và khi đó có thể khó phân biệt các nang này với ung thư, đặc biệt khi nội dung đã trở nên giảm âm.

    Nang phức tạp với nội dung giảm âm thường chứa các tín hiệu âm mức độ thấp, di chuyển khi bệnh nhân thay đổi tư thế.
    Khi vẫn còn nghi ngờ liệu tổn thương là nang hay khối u đặc, thì chọc hút dịch có thể giải quyết vấn đề này.

    Hình ảnh cho thấy một tổn thương trống âm, có thể hơi giảm âm với thành hơi không đều và dày.
    Tuy nhiên, vẫn có tăng âm phía sau, khiến chúng tôi nghĩ rằng đây có thể là một nang.
    Chọc hút đã được thực hiện và nang được hút hoàn toàn, đây là bằng chứng cuối cùng xác nhận chẩn đoán.


    Ung thư vú trong nang

    Khối u trong nang

    Đôi khi một phần của nang không có hình ảnh trống âm mà lại giảm âm hoặc tăng âm.

    Điều này có thể là kết quả của mủ hoặc các mảnh vụn, nhưng cũng có thể là một khối u trong nang như trong các hình ảnh này.
    Khối u trong nang là hiếm gặp.

    Khi thấy có mạch máu trên siêu âm Doppler màu thì đó là khối u trong nang, có thể lành tính hoặc ác tính.
    Đây là một khối u có thành phần dạng nang chứ không phải là một nang đơn thuần.

    Trong trường hợp không có dòng chảy trên siêu âm Doppler màu và không có tín hiệu âm mức độ thấp di chuyển khi thay đổi tư thế bệnh nhân, cần thực hiện chọc hút để phân biệt giữa nang phức tạp và khối đặc.

    Mủ và các mảnh vụn có thể được hút ra, khác với khối u.

    Trong trường hợp này, sinh thiết xác nhận là ung thư biểu mô trong nang.


    Ung thư vú trong nang

    Ung thư vú trong nang

    Đây là một trường hợp ung thư vú khác có thành phần dạng nang.

    Lưu ý thành phần đặc lớn với dòng chảy trên hình ảnh Doppler.

    U xơ tuyến vú (Fibroadenoma)


    U xơ tuyến vú là các khối u lành tính, thường gặp ở phụ nữ trẻ, đặc biệt trong độ tuổi 15-25 và hiếm gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi.

    Các đặc điểm siêu âm điển hình bao gồm:

    • Giảm âm
    • Hình bầu dục – đôi khi tròn hoặc có 2-3 múi.
    • Bờ rõ nét (còn gọi là bờ viền rõ)
    • Định hướng song song với da (chiều rộng lớn hơn chiều cao)
    • Đôi khi có thể phát hiện dòng chảy máu trong các mạch nhỏ bằng Doppler màu
    • Tăng âm phía sau ở mức độ thay đổi


    Đây là một trường hợp u xơ tuyến vú điển hình khác.

    Lưu ý rằng bờ tổn thương có dạng múi nhẹ.

    Người phụ nữ này có túi độn ngực, được thấy dưới dạng các cấu trúc chứa dịch.

    Các túi độn được đặt phía sau cơ ngực lớn.
    Cuộn hình ảnh để xem chú thích.

    Dưới đây là một số ví dụ về u xơ tuyến vú.

    Các tổn thương số 1-4 thuộc cùng một bệnh nhân.
    Đây là một phát hiện thường gặp.
    Khi phát hiện một u xơ tuyến vú, thường có thể tìm thấy thêm nhiều tổn thương khác.

    Tổn thương số 6 được sinh thiết do tuổi của bệnh nhân và kết quả cho thấy là u xơ tuyến vú.

    Tổn thương số 7 được sinh thiết vì có hình dạng không đều và hình ảnh gợi ý ung thư biểu mô.
    Kết quả cũng cho thấy đây là u xơ tuyến vú.

    U xơ tuyến vú đôi khi có vôi hóa, nhưng các vôi hóa này có kích thước lớn hơn so với các vôi hóa nhỏ thường gặp trong ung thư biểu mô.

    Vi vôi hóa như thấy trong ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS) – vốn có thể là tổn thương tiền ung thư – thường không quan sát được trên siêu âm.
    Trong việc phát hiện DCIS, chụp nhũ ảnh (mammography) có nhiều ưu thế hơn.

    Ung thư vú

    Ung thư vú là khối u ác tính phổ biến nhất ở phụ nữ.
    Nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ tăng dần theo độ tuổi.

    Hầu hết phụ nữ được chẩn đoán ung thư vú đều trên 50 tuổi, tuy nhiên phụ nữ trẻ tuổi hơn cũng có thể mắc bệnh này.

    Các triệu chứng lâm sàng đầu tiên có thể nhận thấy bao gồm:

    • Khối u hoặc vùng mô vú dày lên
    • Co rút núm vú
    • Lõm da vùng vú do khối u bên dưới co kéo

    Dưới đây là một số ví dụ về ung thư vú.

    Các đặc điểm chính bao gồm:

    • Khối giảm âm
    • Hình dạng thường không đều – đôi khi tròn hoặc bầu dục với hướng không song song với da
    • Bờ không rõ, đôi khi có quầng sáng (halo)
    • Có thể có bóng cản phía sau và các vôi hóa nhỏ

    Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn về các dấu hiệu siêu âm trong ung thư vú.


    Đây là hình ảnh của một phụ nữ 50 tuổi tự sờ thấy khối u ở vú.

    Hãy mô tả các dấu hiệu siêu âm, sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu siêu âm bao gồm:

    • Khối giảm âm với hình dạng không đều
    • Bờ không rõ ràng, vừa có góc cạnh vừa mờ nhạt
    • Các chấm tăng âm nhỏ, tương ứng với các vôi hóa
    • Không có bóng cản phía sau hoặc tăng âm phía sau

    Các vôi hóa này cũng được quan sát thấy trên hình ảnh nhũ ảnh.
    Vùng trắng trên nhũ ảnh chính là khối u.

    Tiếp tục xem video.

    Nhấp vào hình ảnh để bắt đầu video.

    Nhấp lại vào hình ảnh để dừng video.


    Quầng tăng âm (Hyperechoic halo)

    Một dấu hiệu thường gặp trong ung thư vú là quầng tăng âm bao quanh khối giảm âm.

    Quầng này là một phần của khối u và cần được tính vào kích thước đo của khối u.


    TRÁI: không dùng chế độ hài âm   PHẢI: có dùng chế độ hài âm

    Chế độ hài âm (Harmonics)

    Tạo ảnh hài âm là một kỹ thuật siêu âm khai thác đặc tính cộng hưởng của mô.
    Kỹ thuật này còn được gọi là tạo ảnh hài âm mô (tissue harmonic imaging – THI).

    Nếu máy siêu âm của bạn có tính năng này, bạn sẽ nhận thấy rằng hình ảnh thu được với chế độ hài âm có độ phân giải cao hơn và ít xảo ảnh hơn so với siêu âm thông thường.
    Bóng cản phía sau có thể được tăng cường rõ hơn.

    Lưu ý rằng khối ung thư vú nhỏ này được quan sát rõ hơn khi sử dụng chế độ hài âm.
    Có một khối giảm âm với quầng tăng âm xung quanh và bóng cản nhẹ phía sau. Hướng của khối u là thẳng đứng.
    Bờ khối không rõ và hình dạng khối u không đều.

    Đây là một trường hợp khó và không điển hình.

    Khi nhìn vào hình ảnh bên trái, gần như không thể nhận ra khối u.
    Hình ảnh trông gần giống như mô tuyến bình thường.

    Tuy nhiên, trên lâm sàng sờ thấy một khối u, và khi quan sát hình ảnh với chế độ hài âm được bật, chúng ta có thể thấy bóng cản phía sau.

    Trường hợp này được xác định là ung thư vú.

    Nếu máy siêu âm của bạn có chế độ hài âm, tốt nhất nên quan sát cả hai chế độ có và không có hài âm trong những trường hợp không rõ ràng ngay từ đầu.


    Các ví dụ về ung thư vú

    Cuộn qua mười một ví dụ về ung thư vú đã được xác nhận bằng sinh thiết.

    Video minh họa các trường hợp ung thư vú

    Nhấp vào hình ảnh để bắt đầu video.
    Nhấp lại vào hình ảnh để dừng video.

    Video bao gồm 3 ví dụ về ung thư vú.

    Lưu ý rằng video cuối cùng là của một phụ nữ 21 tuổi mắc ung thư vú.
    Đây là trường hợp không phổ biến, nhưng đáng tiếc là ung thư vú đôi khi vẫn gặp ở phụ nữ trẻ tuổi.

    Ung thư vú so với U xơ tuyến vú

    Đôi khi ung thư vú có thể có hình ảnh tương tự u xơ tuyến vú và ngược lại, u xơ tuyến vú cũng có thể có hình ảnh siêu âm giống ung thư.

    Bảng dưới đây liệt kê các điểm khác biệt về hình ảnh siêu âm giữa hai loại tổn thương này.

    Tuổi của bệnh nhân cũng là một yếu tố quan trọng cần xem xét, vì u xơ tuyến vú thường gặp ở phụ nữ trẻ, đặc biệt trong độ tuổi 15-25 và hiếm gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi, trong khi ung thư vú được chẩn đoán phổ biến nhất ở phụ nữ trên 50 tuổi và ít gặp hơn ở phụ nữ trẻ.

    Trong một số trường hợp, không thể phân biệt được hai loại tổn thương này chỉ dựa vào hình ảnh siêu âm đơn thuần và cần phải sinh thiết để có chẩn đoán xác định.


    Hãy cuộn qua các hình ảnh này.

    Các điểm khác biệt giữa u xơ tuyến vú và ung thư biểu mô được tóm tắt trong đây.


    Ung thư biểu mô vú so với u xơ tuyến vú

    Đây là hai tổn thương hình bầu dục giảm âm.

    Thoạt nhìn, chúng trông không khác nhau nhiều.
    Hãy quan sát kỹ các hình ảnh và xác định những điểm khác biệt.

    Tổn thương bên trái là ung thư biểu mô.

    • Hình dạng bất thường
    • Bờ góc cạnh và không rõ nét
    • Quầng tăng âm xung quanh
    • Hướng của tổn thương nghiêng về chiều dọc, không song song với da, tức là chiều cao lớn hơn chiều rộng
    • Bóng cản âm phía sau

    Tổn thương bên phải là u xơ tuyến vú.

    • Hình bầu dục với múi nhẹ
    • Bờ rõ nét
    • Hướng nằm ngang, song song với da
    • Tăng âm phía sau

    Breast cancer: at first glance looks like a fibroadenoma

    Ung thư vú: thoạt nhìn có hình ảnh giống u xơ tuyến vú

    Tuổi tác

    Tuổi của bệnh nhân nữ giúp ích như thế nào trong việc phân biệt u xơ tuyến vú và ung thư vú?

    Trong hầu hết các trường hợp, yếu tố tuổi tác giúp củng cố chẩn đoán hình ảnh của chúng ta.
    Mặt khác, khi phát hiện một khối ở vú của phụ nữ trẻ không đáp ứng đầy đủ tất cả các tiêu chí của u xơ tuyến vú điển hình, chúng ta nên tiến hành sinh thiết để loại trừ ung thư biểu mô.
    Ví dụ, khi tổn thương có bờ không rõ nét hoặc chiều cao lớn hơn chiều rộng.

    Điều tương tự cũng áp dụng cho một khối mới xuất hiện có hình ảnh giống u xơ tuyến vú ở phụ nữ lớn tuổi.

    Hình ảnh cho thấy một tổn thương mà thoạt nhìn có vẻ giống u xơ tuyến vú.
    Tuy nhiên, có hai điểm không phù hợp.
    Thứ nhất, tuổi của bệnh nhân là 49 tuổi và thứ hai, bờ phía sau của tổn thương có một số chỗ không đều.
    Sinh thiết đã được thực hiện và khối này được xác định là ung thư.

    Mô tuyến sờ thấy được


    Mô xơ tuyến không phân bố đều trong vú và thường tập trung nhiều hơn ở góc phần tư trên ngoài.

    Đôi khi sự phì đại khu trú của mô tuyến có thể rất rõ rệt, tạo thành một khối u mà khi sờ nắn không thể phân biệt được với khối u thực sự.

    Hình ảnh siêu âm cho thấy một vùng tập trung mô tuyến nằm trong nền mô mỡ của vú.
    Do mô tuyến có độ chắc hơn mô mỡ, vùng này sẽ có cảm giác như một khối khi sờ nắn.

    Chụp nhũ ảnh được thực hiện với đánh dấu vị trí khối sờ thấy và cũng cho thấy hình ảnh tập trung khu trú của mô tuyến bình thường.

    Video ghi lại trường hợp một phụ nữ tự phát hiện khối u ở vú.

    Trên siêu âm, phát hiện mô tuyến phát triển rõ rệt.

    Do mô tuyến có độ chắc hơn mô mỡ xung quanh, có thể hình dung rằng khi trượt ngón tay trên bề mặt da, vùng này sẽ có cảm giác như một chỗ gồ lên.

    Mô xơ tuyến đôi khi phát triển rất dày đặc đến mức chùm tia siêu âm khó có thể xuyên qua được.

    Điều này có thể tạo ra hình ảnh giả của một khối giảm âm bờ không đều kèm bóng cản phía sau, dễ nhầm lẫn với ung thư biểu mô (xem video).

    Tuy nhiên, khi thực hiện động tác ép nhẹ lên vùng mô này, có thể thấy đây chỉ là mô xơ tuyến tăng âm phát triển rõ rệt.

    Thông thường, đây là những bệnh nhân trẻ tuổi đến khám vì khối lớn, đau ở vú.

    Áp-xe


    Áp-xe vú là tình trạng tích tụ mủ gây đau trong tuyến vú do nhiễm khuẩn.
    Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến phụ nữ đang cho con bú như một biến chứng của viêm vú và ít gặp hơn ở phụ nữ không cho con bú.

    Bệnh nhân thường đến khám với triệu chứng khối đau, da vùng tổn thương có thể đỏ và dày lên.

    Hình ảnh siêu âm của một phụ nữ đến khám với triệu chứng sốt và khối đau ở vú phía sau núm vú bị thụt vào.
    Trong quá trình ép và thả nhẹ bằng đầu dò, có thể quan sát thấy dịch trong ổ áp-xe di chuyển.
    Cũng cần lưu ý hiện tượng tăng âm phía sau (posterior enhancement) — đây là dấu hiệu cho thấy cấu trúc này chứa dịch.

    Tiếp tục xem hình ảnh tiếp theo…

    Sau đó, ổ áp-xe được tiến hành chọc hút.

    Chọc hút là phương pháp điều trị ưu tiên hàng đầu đối với áp-xe.

    Trong trường hợp này không cần phẫu thuật hay kháng sinh, mặc dù đôi khi kháng sinh cũng được chỉ định kết hợp.

    Đây là một ổ áp-xe khác nằm phía sau núm vú, đã được chọc hút.

    Đây có thể là một thủ thuật gây đau cho bệnh nhân.
    Tốt nhất nên tiêm thuốc gây tê tại chỗ vào da và tổ chức dưới da, sau đó cố gắng dẫn lưu mủ qua chính kim đó.

    Nếu mủ quá đặc, cần sử dụng kim có kích thước lớn hơn.
    Cần dành đủ thời gian để thuốc tê phát huy tác dụng.

    Da và mô dưới da

    Các bất thường xuất phát từ da hoặc mô dưới da có thể biểu hiện như một khối u ở vú, nhưng chúng không phải là bất thường của tuyến vú.

    Khi xác định được tổn thương có nguồn gốc từ da hoặc mô dưới da, có thể khẳng định đây không phải là khối u vú.

    Các hình ảnh siêu âm cho thấy tổn thương nằm trong lớp da chứ không nằm trong nhu mô vú.

    Hầu hết các tổn thương này là nang bì (dermoid cyst).
    Cần cố gắng tìm đường thông với da, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng quan sát được.

    Bệnh nhân nữ này đến khám với triệu chứng đau và có khối u ở vú, kèm theo da vùng tương ứng bị đỏ.

    Đây là một tổn thương trong da khác.
    Lưu ý da bị dày lên.

    Nhiều khả năng đây là nang bì có viêm.

    Tổn thương đã tự lành mà không cần điều trị.


    Đây là một trường hợp nang bì khác.

    Tổn thương nằm trong mô dưới da và có đường thông với da.

    Đây không phải là khối u vú.


    Cuộn qua để xem thêm các tổn thương lành tính có nguồn gốc từ da hoặc mô dưới da.

    U mỡ (Lipoma)

    U mỡ không phổ biến ở vú, nhưng khi xuất hiện, chúng có hình ảnh tương tự như u mỡ ở bất kỳ vị trí nào khác trên cơ thể.

    Chúng có âm vang đồng hoặc tăng âm so với mô mỡ xung quanh.

    U mỡ luôn luôn là lành tính.

    Đôi khi u mỡ không thể phân biệt được với hoại tử mỡ, vấn đề này sẽ được thảo luận tiếp theo.

    Hoại tử mỡ (Fat necrosis)

    Hoại tử mỡ là một thực thể lành tính, thường biểu hiện là một khối nhỏ có thể sờ thấy, nằm nông trong tuyến vú.

    Người ta cho rằng hoại tử mỡ là hậu quả của chấn thương, mặc dù bệnh nhân thường không nhớ rõ một sự kiện chấn thương cụ thể nào.

    Do chấn thương, mô mỡ trải qua các biến đổi khiến nó trở nên cứng hơn và đôi khi đau khi sờ nắn.

    Trên siêu âm, tổn thương thường biểu hiện là một vùng mô mỡ hơi phù nề và tăng âm so với mô mỡ xung quanh.
    Do đó có sự tương đồng với u mỡ.

    Thành phần bên trong có thể hóa lỏng và tạo thành nang dầu (oil cyst), trên siêu âm có hình ảnh tương tự như các nang thông thường khác.

    U mỡ thường mềm hơn và không đau khi sờ nắn.

    Xương sườn


    Một xương sườn nhô ra có thể tạo thành một khối cứng lồi lên, dễ nhầm lẫn với khối u vú.


    Bệnh nhân này than phiền về một khối cứng đau trong vú.

    Trên siêu âm, ghi nhận hình ảnh khớp sụn-xương sườn nhô ra.
    Đây là vị trí tiếp nối giữa phần xương đã vôi hóa của xương sườn và phần sụn.
    Các vôi hóa thường có thể được quan sát thấy trong phần sụn, như trong trường hợp này.

    Video này minh họa hình ảnh sụn xương sườn bình thường.

    Bằng cách xoay đầu dò, có thể thấy xương sườn là một cấu trúc chạy dọc, nằm phía trước phổi và phía sau cơ ngực.

    Hố Nách

    Các hạch bạch huyết vùng nách bình thường thường có kích thước nhỏ, hình bầu dục, giảm âm với trung tâm tăng âm.

    Trung tâm tăng âm chủ yếu được cấu thành bởi mô mỡ và chứa các mạch máu.

    Vỏ giảm âm bao quanh chính là mô bạch huyết thực sự.


    A normal intramammary lymph node

    Một hạch bạch huyết trong tuyến vú bình thường

    Đôi khi một hạch bạch huyết chỉ biểu hiện là một tổn thương giảm âm hình bầu dục mà không có trung tâm tăng âm rõ ràng.

    Khi quan sát thấy các mạch máu ở rốn hạch như trong trường hợp này, thì chắc chắn đây là một hạch bạch huyết.
    Thực tế, hạch bạch huyết này nằm trong nhu mô vú, tức là hạch bạch huyết trong tuyến vú (intramammary lymph node), đây là một phát hiện lành tính.


    Large axillary lymph node metastases of a small irregular carcinoma

    Di căn hạch bạch huyết vùng nách kích thước lớn từ một ung thư biểu mô nhỏ bờ không đều

    Hạch bạch huyết to

    Hạch bạch huyết to vùng nách có thể là hậu quả của di căn theo đường bạch huyết từ ung thư vú.

    Các hình ảnh này thuộc về một phụ nữ 50 tuổi đến khám vì sờ thấy các khối ở vùng nách, tương ứng với các hạch bạch huyết to, hình tròn, giảm âm.

    Tiếp theo đó, siêu âm tuyến vú được thực hiện và phát hiện một tổn thương ung thư nhỏ, giảm âm, bờ không đều, không sờ thấy được trên lâm sàng.

    Mô tuyến lạc chỗ vùng nách

    Một số phụ nữ có mô tuyến vú xơ-tuyến (fibroglandular) ở vùng nách.

    Mô này hoạt động giống hệt như mô tuyến trong vú và có thể trở nên căng tức hoặc đau vào một thời điểm nhất định trong chu kỳ kinh nguyệt.

    Hình ảnh siêu âm này thuộc về một phụ nữ trẻ đến khám vì cảm thấy sưng đau ở vùng nách.
    Hình ảnh cho thấy mô tuyến bình thường ở một vị trí bất thường.

    Túi độn ngực

    Hầu hết các túi độn ngực là túi giả được bơm đầy silicon.
    Trên siêu âm, chúng có hình ảnh tương tự một nang lớn.
    Túi độn thường được đặt ở phía sau mô tuyến vú hoặc phía sau cơ ngực lớn.

    Túi độn chứa silicon hoặc nước muối sinh lý đều có hình ảnh vô âm (xuyên âm).

    Ở hầu hết bệnh nhân, túi độn ngực có hình dạng đều đặn với bờ viền có múi.

    Đôi khi sự phân múi này có thể tạo cảm giác như có một khối u trong vú (hình minh họa).


    Collections or silicone leakage **

    Tụ dịch hoặc rò rỉ silicon **

    Rò rỉ silicon

    Khi silicon rò rỉ ra ngoài túi độn, nó sẽ tạo ra bóng lưng tăng âm hay còn gọi là bóng lưng bẩn, tương tự như hình ảnh chúng ta thấy ở phổi do không khí trong phổi gây ra.

    Hình ảnh cho thấy sự rò rỉ silicon ở phía trước túi độn.

    Tiêm silicon tự do vào vú là một phương pháp nâng ngực thay thế cho túi độn ngực.
    Phương pháp này có nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng và đã bị cấm ở nhiều quốc gia.

    Toàn bộ hình ảnh trông bị mờ nhòe.
    Đây được gọi là hình ảnh “bão tuyết” (snow storm appearance).

    Hình ảnh tương tự cũng sẽ xuất hiện trong trường hợp rò rỉ silicon ồ ạt.

    Hình ảnh một u xơ tuyến vú (fibroadenoma) nằm ở phía trước túi độn silicon.

    Siêu âm ở Nam giới

    Vú to ở nam giới (Gynecomastia)

    Vú to ở nam giới là rối loạn tuyến vú phổ biến nhất ở nam giới, thường biểu hiện bằng một khối có thể sờ thấy hoặc cảm giác đau tức vùng vú.

    Về lâm sàng, vú to ở nam giới biểu hiện là một khối mềm, di động, đau, nằm dưới quầng vú.
    Bất kỳ khối nào không nằm dưới quầng vú đều không phải là vú to ở nam giới.

    Trên siêu âm, bất thường cần được xác định ngay phía sau núm vú.

    Ung thư vú ở nam giới có hình ảnh tương tự như ung thư vú ở nữ giới.

    Các hình ảnh này là của bệnh nhân nam 70 tuổi đến khám vì sưng đau phía sau núm vú phải.
    Lưu ý rằng có một ít mô tuyến xơ ở bên phải, trong khi bên trái chỉ có mô mỡ dưới da.


    Bilateral gynecomastia in an athlete taking steroids

    Vú to hai bên ở một vận động viên có sử dụng steroid

    Trẻ sơ sinh, trẻ em trai trong giai đoạn dậy thì và nam giới lớn tuổi có thể phát triển vú to do những thay đổi bình thường trong nồng độ hormone.

    Một nguyên nhân phổ biến gây vú to ở nam giới là việc sử dụng steroid đồng hóa — loại thuốc được các vận động viên dùng để tăng cơ bắp và nâng cao thành tích.

    Bệnh nhân này có sử dụng steroid và biểu hiện vú to cả hai bên.
    Đôi khi vú to ở nam giới có thể tạo ra hình ảnh giả ung thư biểu mô, như trong các hình ảnh ở đây, nhưng may mắn thay, tổn thương xuất hiện ở cả hai bên và có tiền sử sử dụng steroid.

    Chẩn đoán vú to ở nam giới thường dễ dàng hơn khi thực hiện trên nhũ ảnh (mammogram).

    Vùng núm vú

    Vùng núm vú có thể khó khảo sát.

    Trong hầu hết các trường hợp, chỉ thấy hình ảnh dày da nhẹ và phía sau núm vú có một số ống tuyến giãn.

    Hình ảnh này của một bệnh nhân đến khám với triệu chứng núm vú bị tụt vào trong.

    Có một khối u bờ không đều phía sau núm vú với hình ảnh xâm lấn vào núm vú (mũi tên).

    Đây là một khối u khác phía sau núm vú (n).

    Các khối u này có thể rất khó phát hiện.

    Ở mọi phụ nữ có triệu chứng núm vú tụt vào trong, vùng này cần được khảo sát cẩn thận.

    Bệnh nhân này có núm vú lớn, khiến việc khảo sát vùng phía sau núm vú trở nên khó khăn.

    Một lượng lớn gel (g) đã được sử dụng để đảm bảo tiếp xúc tốt với da.

    Quan sát thấy một khối u lớn phía sau núm vú.

  • Tiêu xương – U xương ranh giới rõ

    Osteolytic – well defined bone tumors

    Henk Jan van der Woude and Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Onze Lieve Vrouwe Gasthuis, Amsterdam và Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp, Hà Lan

    Publicationdate

    Trong bài viết U xương – Chẩn đoán phân biệt, chúng tôi thảo luận về cách tiếp cận có hệ thống trong chẩn đoán phân biệt các u xương và tổn thương dạng u.
    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về chẩn đoán phân biệt các u xương tiêu xương giới hạn rõ và các tổn thương dạng u.

    Các chữ viết tắt được sử dụng:

    • ABC = Aneurysmal bone cyst
    • CMF = Chondromyxoid fibroma
    • EG = Eosinophilic Granuloma
    • GCT = Giant cell tumour
    • FD = Fibrous dysplasia
    • HPT = Hyperparathyroidism with Brown tumor
    • NOF = Non Ossifying Fibroma
    • SBC = Simple Bone Cyst

    Introduction

    Bên trái là các u xương và tổn thương dạng u xương lành tính được xác định rõ ràng phổ biến nhất.
    Các tổn thương này đôi khi được gọi là tổn thương nang lành tính, đây là một thuật ngữ không chính xác vì hầu hết chúng không phải dạng nang, ngoại trừ SBC và ABC.
    Đúng là ở bệnh nhân dưới 30 tuổi, ranh giới được xác định rõ ràng có nghĩa là chúng ta đang xử lý một tổn thương lành tính, nhưng ở bệnh nhân trên 40 tuổi, di căn và đa u tủy xương cần được đưa vào chẩn đoán phân biệt.

    Bên trái là bảng liệt kê các khối u xương tiêu xương được xác định rõ ràng và các tổn thương giả u theo các nhóm tuổi khác nhau.

    Notice the following:

    • Ở bệnh nhân
      Ở bệnh nhân > 40 tuổi, di căn xương và đa u tủy xương là những khối u xương tiêu xương được xác định rõ ràng phổ biến nhất.
    • Bệnh nhân có u nâu trong cường cận giáp nên có các dấu hiệu khác của cường cận giáp hoặc đang chạy thận nhân tạo.
    • Sự phân biệt giữa u sụn lành tính và sarcoma sụn độ thấp có thể không thể thực hiện được chỉ dựa trên các kết quả hình ảnh học.
    • Infection is seen in all ages.

    Fegnomashic

    Hầu hết các khối u xương biểu hiện dưới dạng tổn thương tiêu xương giới hạn rõ, đôi khi được gọi là ‘tổn thương dạng bong bóng’.
    Điều quan trọng là phải có một phương pháp tiếp cận chẩn đoán phân biệt tốt đối với các tổn thương này.
    Bạn có thể sử dụng bảng trên, nhưng một cách khác để xem xét chẩn đoán phân biệt các tổn thương tiêu xương giới hạn rõ là sử dụng từ gợi nhớ Fegnomashic, được phổ biến bởi Clyde Helms (1).
    Một số người thích sử dụng từ gợi nhớ Fogmachines, được tạo thành từ các chữ cái giống nhau, nhưng là một từ có nghĩa thực sự.


    Fibrous dysplasia: various presentations with or without sclerotic margin, with groundglass appearance, with calcifications or ossifications

    Fibrous dysplasia: various presentations with or without sclerotic margin, with groundglass appearance, with calcifications or ossifications

    Fibrous dysplasia

    Loạn sản xơ là một rối loạn lành tính được đặc trưng bởi sự tăng sinh dạng khối u của mô xơ-xương và có thể có nhiều hình thái khác nhau.
    Loạn sản xơ thường biểu hiện là tổn thương dài trong xương dài.
    Loạn sản xơ thường thuần túy tiêu xương và có hình ảnh kính mờ khi chất nền vôi hóa.
    Trong nhiều trường hợp có giãn nở xương và biến dạng xương.
    Đầu trên xương đùi cùng bên luôn bị ảnh hưởng khi vùng chậu bị tổn thương.
    Khi xem xét loạn sản xơ ở xương chày, u nguyên bào men cần được đưa vào chẩn đoán phân biệt.

    Discriminator:

    • Nếu có phản ứng màng xương hoặc đau, hãy loại trừ loạn sản xơ, trừ khi có gãy xương.

    More on Fibrous dysplasia

    Enchondroma

    U sụn trong xương (Enchondroma) là một khối u sụn lành tính.
    Thường được phát hiện tình cờ.
    Ở các đốt ngón tay, bệnh thường biểu hiện kèm theo gãy xương.
    Đây là tổn thương phổ biến nhất ở các đốt ngón tay, nghĩa là một tổn thương tiêu xương giới hạn rõ ở bàn tay hầu như luôn là u sụn trong xương.
    Ở một số vị trí, có thể khó phân biệt giữa u sụn trong xương và nhồi máu xương.
    Gần như không thể phân biệt giữa u sụn trong xương và u sụn ác tính độ thấp chỉ dựa trên đặc điểm X-quang đơn thuần.

    Bệnh Ollier là tình trạng có nhiều u sụn trong xương.
    Hội chứng Maffucci là tình trạng có nhiều u sụn trong xương kết hợp với u mạch máu mô mềm.

    Các đặc điểm ủng hộ chẩn đoán sarcoma sụn độ thấp:

    • Higher age
    • Size > 5 cm
    • Activity on bone scan
    • Fast enhancement on dynamic contrast enhanced MR series
    • Endosteal scalloping of the cortical bone

    Discriminators :

    • Must have calcification except in phalanges.
    • No periostitis.

    • trái
      Hình ảnh PD coronal ức chế mỡ của khớp gối. Các u sụn nội xương điển hình ở xương đùi và xương chày thường được phát hiện như một phát hiện tình cờ trong các kỳ kiểm tra MR.
    • giữa
      Tổn thương tiêu xương xác định rõ ở xương sườn với mỏng vỏ xương.
    • phải
      Tổn thương tiêu xương được xác định rõ với bờ xơ cứng và không có vôi hóa ở đốt ngón xa.

    Eosinophilic granuloma

    EG là sự tăng sinh không tân sinh của các mô bào và còn được gọi là bệnh mô bào tế bào Langerhans.
    Bệnh cần được đưa vào chẩn đoán phân biệt của bất kỳ tổn thương xơ cứng hoặc tiêu xương nào, dù bờ rõ hay không rõ, ở bệnh nhân dưới 30 tuổi.
    Có thể loại trừ chẩn đoán EG ở bệnh nhân trên 30 tuổi.
    EG thường gặp ở một xương, nhưng cũng có thể gặp ở nhiều xương.

    • trái
      Tổn thương tiêu xương xuất phát từ hộp sọ thần kinh kèm theo sưng phần mềm liên quan.
    • giữa
      Tổn thương hỗn hợp tiêu xương-xơ cứng, không rõ ranh giới với phản ứng màng xương đặc.
    • phải
      Tổn thương tiêu xương sọ được xác định rõ ràng. Không có dấu hiệu ‘mảnh xương chết dạng nút’, vốn ít nhiều mang tính đặc trưng bệnh lý.

    Discriminator:

    • Must be under age 30.

    Giant cell tumor in the tibia abuts the articular surface

    Giant cell tumor in the tibia abuts the articular surface

    Giant cell tumor

    U tế bào khổng lồ là tổn thương chứa các tế bào khổng lồ đa nhân.
    Trong hầu hết các trường hợp, đây là tổn thương lành tính.
    U tế bào khổng lồ ác tính rất hiếm gặp và không thể phân biệt u tế bào khổng lồ lành tính hay ác tính dựa trên phim X-quang.
    U tế bào khổng lồ cũng được đưa vào chẩn đoán phân biệt của tổn thương tiêu xương không rõ ranh giới, với điều kiện tuổi và vị trí của tổn thương phù hợp.

    Discriminators:

    • Epiphyses must be closed.
    • Must be an epiphyseal lesion and abut the articular surface.
    • Must be well-defined and non-sclerotic margin.
    • Must be eccentric.

    NOF: typical presentation as an eccentric, multi-loculated subcortical lesion with a central lucency and a scalloped sclerotic margin.

    NOF: typical presentation as an eccentric, multi-loculated subcortical lesion with a central lucency and a scalloped sclerotic margin.

    NOF

    NOF là một tổn thương lành tính, giới hạn rõ, đơn độc do sự tăng sinh của mô xơ.
    Đây là tổn thương xương phổ biến nhất.
    NOF thường được phát hiện tình cờ, có hoặc không kèm theo gãy xương.
    NOF thường có bờ xơ cứng và có thể phồng to.
    Chúng tự thoái triển với sự lấp đầy dần dần.
    NOF có thể xuất hiện dưới dạng tổn thương đa ổ.
    Hình ảnh X-quang hầu như luôn điển hình, do đó không cần thiết phải chụp thêm hình ảnh học bổ sung hay sinh thiết.

    Discriminators:

    • Must be under age 30.
    • No periostitis or pain.

    Osteoblastoma

    U tạo xương (Osteoblastoma) là một khối u lành tính đơn độc hiếm gặp, tạo ra chất dạng xương và xương.
    Cần xem xét u tạo xương khi nang xương phình mạch (ABC) nằm trong chẩn đoán phân biệt của tổn thương cột sống (hình).
    U tạo xương điển hình có kích thước lớn hơn 2 cm, ngoài ra hoàn toàn giống với u xương dạng xương (osteoid osteoma).

    Discriminator:

    • Mention when ABC is mentioned.

    Metastases

    Di căn là các khối u xương ác tính phổ biến nhất.
    Di căn phải được đưa vào chẩn đoán phân biệt của bất kỳ tổn thương xương nào, dù là tiêu xương hoặc xơ cứng xương được xác định rõ hay không rõ ràng ở bệnh nhân > 40 tuổi.
    Di căn xương có xu hướng ưu tiên các vị trí tủy tạo máu: cột sống, xương chậu, xương sườn, hộp sọ và các xương dài đoạn gần: xương đùi, xương cánh tay.
    Di căn có thể được đưa vào chẩn đoán phân biệt nếu bệnh nhân trẻ tuổi được biết là có bệnh ác tính, như u nguyên bào thần kinh, u cơ vân ác tính, u nguyên bào võng mạc.
    Di căn tiêu xương phổ biến nhất: thận, phổi, đại tràng và u hắc tố.
    Di căn xơ cứng xương phổ biến nhất: tuyến tiền liệt và vú.

    Discriminator:

    • Must be over age 40.

    Multiple Myeloma: multiple lytic lesions in the humerus

    Multiple Myeloma: multiple lytic lesions in the humerus

    Multiple Myeloma

    Đa u tủy xương phải được đưa vào chẩn đoán phân biệt của bất kỳ tổn thương xương tiêu xương nào, dù bờ rõ hay không rõ ở bệnh nhân trên 40 tuổi.
    Vị trí hay gặp nhất là ở bộ xương trục (cột sống, hộp sọ, xương chậu và xương sườn) và ở thân xương dài (xương đùi và xương cánh tay).
    Biểu hiện thường gặp nhất: nhiều tổn thương tiêu xương dạng “đục lỗ”.
    Đa u tủy xương không có sự bắt xạ trên xạ hình xương.

    Discriminator:

    • Must be over age 40.

    Multiple Myeloma (2)

    Differential diagnosis:

    • multiple lesions: metastases.
    • solitary lesion: chondrotumor, GCT and lymphoma.

    Bên trái là hình ảnh CT của một bệnh nhân bị đa u tủy xương.
    Lưu ý các tổn thương tiêu xương nhiều nơi và hình thái phá hủy vỏ xương lan tỏa.
    Ở cánh xương cùng bên trái có một tổn thương lớn hơn với tỷ trọng cao do tủy xương mỡ bị thay thế bởi u tủy (mũi tên đỏ).


    ABC of the proximal fibula: well-defined, expansile osteolytic lesion with thin peripheral bone shell

    ABC of the proximal fibula: well-defined, expansile osteolytic lesion with thin peripheral bone shell

    Aneurysmal Bone Cyst

    ABC (Nang xương phình mạch) là tổn thương xương tiêu xương đơn độc, dạng phồng, giới hạn rõ, chứa đầy máu.
    Được gọi là phình mạch vì có đặc tính phồng to.
    ABC được cho là kết quả của một quá trình phản ứng thứ phát sau chấn thương hoặc tăng áp lực tĩnh mạch.
    Đôi khi có thể tìm thấy tổn thương nền như u tế bào khổng lồ (GCT), u tạo xương (osteoblastoma) hoặc u nguyên bào sụn (chondroblastoma).
    ABC có thể xảy ra ở hầu hết mọi vị trí trong hệ xương.


    Discriminators:

    • Must be under age 30.
    • Must be expansile

    More on ABC


    SBC: well-defined osteolytic lesion without expansion of the proximal meta-diaphysis of the humerus with pathologic fracture

    SBC: well-defined osteolytic lesion without expansion of the proximal meta-diaphysis of the humerus with pathologic fracture

    Solitary Bone Cyst

    Nang xương đơn độc, còn được gọi là nang xương đơn buồng, là một nang xương thực sự.
    Nhiều tổn thương tiêu xương giới hạn rõ thường được gọi là dạng nang, nhưng đây là cách gọi không chính xác.
    Nang xương đơn độc thường biểu hiện bằng gãy xương.
    Đôi khi có thể thấy hình ảnh mảnh xương gãy rơi xuống (fallen fragment).
    Vị trí hay gặp: đầu trên xương cánh tay và xương đùi.
    Thường ít giãn nở hơn so với nang xương phình mạch.
    Chẩn đoán phân biệt: nang xương phình mạch, loạn sản xơ dạng nang.
    Nang xương đơn độc có thể di chuyển từ vùng hành xương đến thân xương trong quá trình phát triển của xương.


    Discriminators:

    • Must be under age 30.
    • Must be centric

    Hyperparathyroidism

    U nâu có thể xuất hiện ở bất kỳ xương nào và biểu hiện dưới dạng tổn thương tiêu xương với bờ rõ nét.
    Có thể thấy các vách ngăn và gờ xương.
    Chẩn đoán phân biệt: Nang xương phình mạch (ABC), di căn và u tế bào khổng lồ (GCT) tùy thuộc vào vị trí và độ tuổi.

    Bên trái là bệnh nhân đã được cắt thận do ung thư biểu mô tế bào thận và đang chạy thận nhân tạo.
    Nhiều tổn thương tiêu xương bờ rõ được phát hiện trên phim chụp CT theo dõi.
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm di căn xương và u nâu trong cường cận giáp.
    Sinh thiết xác nhận u nâu.

    Discriminators:

    • Must have other signs of HPT.

    Osteomyelitis

    Osteomyelitis

    Infection

    Nhiễm trùng hay viêm tủy xương là bệnh lý bắt chước điển hình của các khối u xương.
    Bệnh có phổ biểu hiện X-quang rộng, xảy ra ở mọi lứa tuổi và không có vị trí điển hình.
    Trong giai đoạn mạn tính, bệnh có thể bắt chước u xương lành tính (áp xe Brodie).
    Trong giai đoạn cấp tính, bệnh có thể bắt chước u xương ác tính với bờ không rõ ràng, phá hủy vỏ xương và phản ứng màng xương kiểu xâm lấn.
    Chỉ khi có phản ứng màng xương dạng đặc dày mới có thể nhận ra quá trình bệnh lý lành tính bên dưới.


    Discriminators:

    • None.


    Chondroblastoma: notice extensive edema (middle) and fluid-fluid level due to secondary ABC.

    Chondroblastoma: notice extensive edema (middle) and fluid-fluid level due to secondary ABC.

    Chondroblastoma

    Xương bánh chè, xương cổ tay và xương cổ chân có thể được xem như là đầu xương trong chẩn đoán phân biệt.
    Bên trái là hình ảnh u nguyên bào sụn nằm ở xương bánh chè.

    Discriminators :

    • must be under age 30.
    • must be in the epiphysis.

    Chondromyxoid Fibroma

    Chondromyxoid Fibroma

    Chondromyxoid Fibroma

    U xơ sụn nhầy là một tổn thương hiếm gặp.
    U xơ sụn nhầy có hình ảnh tương tự u xơ không cốt hóa.
    Vị trí ưu tiên: đầu gần xương chày và bàn chân.
    Mặc dù tên gọi gợi ý rằng u xơ sụn nhầy là tổn thương sụn, nhưng thông thường không thấy hình ảnh vôi hóa.

    Hình ảnh bên trái của một u xơ sụn dạng nhầy (CMF).
    Có một tổn thương tiêu xương lệch tâm ở vùng hành xương của đầu gần xương chày.
    Ở phía trong có một bờ xơ cứng.
    Ở phía ngoài có sự phá hủy vỏ xương đều đặn với lớp xương ngoại vi.
    Hình ảnh MRI cũng cho thấy bờ xơ cứng với cường độ tín hiệu thấp.

    Discriminators :

    • Mention when an NOF is mentioned.

    Discriminative features of well-defined osteolytic lesions

    Discriminative features of well-defined osteolytic lesions

    Bên trái là tóm tắt những điểm cần tìm trong các tổn thương tiêu xương được xác định rõ ràng.

    Charity

    Toàn bộ lợi nhuận của Radiology Assistant được chuyển đến Medical Action Myanmar, tổ chức được điều hành bởi Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis sr, người là giáo sư tại Đại học Oxford và cũng là anh trai của Robin Smithuis.

    Nhấp vào đây hoặc vào hình ảnh bên dưới để xem video về Medical Action Myanmar và nếu bạn thấy Radiology Assistant hữu ích, hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Giải phẫu xương thái dương 1.0

    Giải Phẫu Xương Thái Dương 1.0

    Erik Beek và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht và Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Phiên bản cập nhật: 21-2-2007
    Trong bài tổng quan này, chúng tôi trình bày giải phẫu bình thường của xương thái dương trên mặt phẳng cắt coronal và axial.
    Tìm hiểu giải phẫu bằng cách cuộn qua các hình ảnh.

    Xương thái dương

    Tai giữa bao gồm hòm nhĩ và hang chũm.
    Hang chũm là một tế bào khí lớn nằm phía trên và phía sau hòm nhĩ, thông với hòm nhĩ qua ống thông hang (aditus ad antrum).
    Thượng nhĩ (epitympanum) hay còn gọi là tầng áp mái (attic) là phần trên của hòm nhĩ nằm trên màng nhĩ, chứa đầu xương búa và thân xương đe.
    Màng nhĩ, xương búa, xương đe và xương bàn đạp truyền sóng âm đến đế xương bàn đạp, vốn gắn vào đáy ốc tai tại cửa sổ bầu dục.

    Giải phẫu trên mặt phẳng axial


    Cuộn qua các hình ảnh giải phẫu axial.

    Cuộn qua các lát cắt axial từ dưới lên trên

    • A = Hang chũm (Antrum)
    • f = Dây thần kinh mặt
    • genu = Gối thứ nhất của dây thần kinh mặt tại hạch gối (geniculate ganglion)
    • IAC = Ống tai trong (internal auditory canal)
    • long crus = Ngành dài của xương đe
    • short crus = Ngành ngắn của xương đe
    • U = Túi bầu dục (utricle) của tiền đình

    Giải phẫu axial từ dưới lên trên

    Ở mức thấp nhất, ta thấy dây thần kinh mặt đi xuống dưới để cuối cùng đến lỗ trâm chũm (stylomastoid foramen) (không hiển thị trong hình này).
    Động mạch cảnh được thấy bên trong ống cảnh (carotid canal).
    Cũng ở mức này là đỉnh của hành tĩnh mạch cảnh trong (jugular bulb).

    Màng nhĩ

    Cán xương búa (mũi tên vàng) được nối với màng nhĩ.


    Xương búa (mũi tên vàng). Cửa sổ tròn (mũi tên xanh lam)

    Xương búa (mũi tên vàng). Cửa sổ tròn (mũi tên xanh lam)

    Ở mức này, ta có thể thấy cán xương búa (mũi tên vàng) nằm phía trước mỏm dài của xương đe.
    Cửa sổ tròn được chỉ bởi mũi tên xanh lam.
    Cửa sổ tròn có chức năng giải phóng áp lực được tạo ra bởi các dao động dịch bên trong ốc tai, do đó đóng vai trò như một van giảm áp.


    Xương bàn đạp (mũi tên xanh lá) được thấy kết nối với cửa sổ bầu dục.

    Xương bàn đạp (mũi tên xanh lá) được thấy kết nối với cửa sổ bầu dục.

    Xương bàn đạp

    Đế xương bàn đạp dao động ra vào tại cửa sổ bầu dục.
    Các dao động được truyền qua nội dịch đến các tế bào lông của cơ quan Corti trong ốc tai.

    Ốc tai

    Bên trong ốc tai, sự chuyển động của các tế bào lông chuyển đổi các dao động âm thanh thành xung thần kinh, truyền theo dây thần kinh ốc tai đến vỏ não thính giác, nơi diễn giải các xung này thành âm thanh.
    Đầu xương búa được thấy nằm phía trước đầu xương đe (mũi tên vàng).

    Đoạn nhĩ của dây thần kinh mặt

    Trong hình ảnh này ở mức ống tai trong, đoạn nhĩ của dây thần kinh mặt được thấy nằm ngay phía trong và song song với thành của thượng nhĩ.
    Đầu xương búa (mũi tên vàng) được thấy nằm phía trước đầu và mỏm ngắn của xương đe.

    Hạch gối của dây thần kinh mặt

    Ở mức này, ống thông hang (aditus ad antrum) được thấy rõ. Đây là đường thông nối giữa hòm nhĩ và hang chũm.
    Đoạn mê đạo của dây thần kinh mặt xuất phát từ ống tai trong, chạy gần như vuông góc với trục dài của xương đá về phía trước để đến hạch gối (geniculate ganglion).
    Tại hạch, dây thần kinh mặt tạo thành một vòng chữ U (gối thứ nhất của dây thần kinh mặt) để chạy ra phía sau như đoạn nhĩ dọc theo thành trong của thượng nhĩ.

    Hang chũm

    Ở mức này, hang chũm được thấy bao quanh bởi các tế bào khí chũm nhỏ hơn, nằm ngay bên ngoài các ống bán khuyên trên.
    Ba ống bán khuyên nằm vuông góc với nhau để cảm nhận các chuyển động gia tốc và giảm tốc trong mỗi trong 3 mặt phẳng không gian.
    Vị trí tĩnh của đầu được cảm nhận bởi tiền đình, nơi chứa các tế bào lông cảm nhận vị trí.
    Các tư thế đầu khác nhau tạo ra các hiệu ứng trọng lực khác nhau bởi các hạt canxi carbonat nhỏ (otolith) lên các tế bào lông này.

    Giải phẫu trên mặt phẳng coronal

    Xương đá được định hướng theo chiều chéo từ sau-ngoài đến trước-trong.
    Do đó, hầu hết các cấu trúc sẽ bị cắt theo hướng chéo trên các hình ảnh coronal.
    Các hình ảnh coronal sau đây đi từ trước ra sau.
    Đầu tiên ta sẽ thấy màng nhĩ cùng các xương con, tiếp theo là ốc tai, hang chũm và các ống bán khuyên.
    Cuối cùng, hình ảnh sau nhất sẽ cho thấy điểm dây thần kinh mặt thoát ra khỏi xương thái dương tại lỗ trâm chũm (stylomastoid foramen).


    Scutum (mũi tên vàng). Đầu xương búa (mũi tên cam) được thấy nằm phía trong so với xương đe (mũi tên xanh lá)

    Scutum (mũi tên vàng). Đầu xương búa (mũi tên cam) được thấy nằm phía trong so với xương đe (mũi tên xanh lá)

    Scutum

    Scutum (mũi tên vàng) là một gai xương nhọn được tạo thành bởi thành ngoài của hòm nhĩ và thành trên của ống tai ngoài.
    Đây thường là cấu trúc xương đầu tiên bị ăn mòn do cholesteatoma, được hình thành bởi sự co kéo vào trong của màng Shrapnell (pars flaccida) của màng nhĩ vào thượng nhĩ.
    Nếu sự co kéo tiếp tục sẽ dẫn đến phá hủy các xương con.
    Nếu cholesteatoma lan ra phía sau qua ống thông hang vào trong bản thân xương chũm, có thể gây ăn mòn trần chũm (tegmen mastoideum), làm lộ màng cứng và ăn mòn ống bán khuyên ngoài gây điếc và chóng mặt.

    Bên trái, điểm trước nhất của dây thần kinh mặt được thấy (mũi tên trắng).
    Tại điểm này, dây thần kinh tạo thành vòng chữ U.
    Vị trí này được gọi là genu hay geniculum và đại diện cho hạch gối (geniculate ganglion).
    Xương búa được thấy nối với màng nhĩ và với xương đe.


    Tái tạo coronal cho thấy rõ ràng xương đe (I) nằm ở phía sau-ngoài so với đầu xương búa (H). Trên hình axial, mỏm ngắn của xương đe được thấy chỉ về phía sau-ngoài.

    Tái tạo coronal cho thấy rõ ràng xương đe (I) nằm ở phía sau-ngoài so với đầu xương búa (H). Trên hình axial, mỏm ngắn của xương đe được thấy chỉ về phía sau-ngoài.

    Trong nhiều hình minh họa, bạn sẽ thấy xương đe kết nối vào phía trong của xương búa, nhưng điều này không chính xác.
    Trên hình tái tạo coronal bên trái, có thể thấy rõ ràng rằng xương đe nằm ở phía sau-ngoài so với đầu xương búa.
    Ngành dài của xương đe sau đó chạy xuống dưới-vào trong đến xương bàn đạp.


    Đầu xương búa (mũi tên cam) được thấy nằm phía trong so với xương đe (mũi tên xanh lá)

    Đầu xương búa (mũi tên cam) được thấy nằm phía trong so với xương đe (mũi tên xanh lá)

    Một lát cắt coronal hơi ra phía sau hơn sẽ cho thấy dây thần kinh mặt hai lần.
    Phần phía trong là đoạn thoát ra khỏi ống tai trong và chạy về phía hạch gối (mũi tên trắng phía trong).
    Phần phía ngoài là đoạn chạy theo hướng ra sau, xuất phát từ vòng chữ U của gối thứ nhất.

  • Kiến thức cốt lõi Tim mạch trên CT ngực

    Những Điểm Quan Trọng về Tim Mạch trên CT Ngực.

    Onno Mets¹ và Robin Smithuis²

    ¹Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam và ²Bệnh viện Alrijne tại Leiden, Hà Lan

    Ngày đăng

    Trọng tâm chính của CT ngực thường tập trung vào nhu mô phổi và các bệnh lý liên quan.
    Tuy nhiên, ngoài lĩnh vực phổi, CT ngực còn cung cấp những thông tin có giá trị về hệ tim mạch, mặc dù điều này thường nằm ngoài phạm vi chỉ định chụp chiếu ban đầu.
    Do lượng thông tin phong phú trên các phim CT ngực không chuyên biệt tim mạch, có nguy cơ bỏ sót các phát hiện đối với những người không được đào tạo chuyên sâu hoặc không tập trung vào lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh tim mạch.

    Trong bài viết này, chúng tôi trình bày một phương pháp tiếp cận chẩn đoán có hệ thống đối với tim và các mạch máu, đồng thời thảo luận về các công cụ hữu ích sau:

    • ‘Tiếp cận năm góc’ – một phương pháp chẩn đoán đơn giản để phát hiện các biến thể mạch máu.
    • ‘Đi theo dòng chảy’ – một phương pháp có hệ thống hơn để khảo sát các cấu trúc tim mạch theo hướng máu chảy về nhĩ phải và cuối cùng rời khỏi thất trái.

    Giới thiệu

    Phương pháp Năm Góc

    Phát hiện các bất thường mạch máu trên phim CT ngực không chụp tim có thể là một thách thức, đặc biệt khi chúng không được nghi ngờ trước và do đó không phải là trọng tâm chính của cuộc khảo sát.
    Chỉ cần kiểm tra năm góc, có thể phát hiện được phần lớn các biến thể mạch máu:

    1. Giao điểm giữa tĩnh mạch phổi trên phải và tĩnh mạch chủ trên (mặt cắt ngang)
      Chẩn đoán phân biệt: Bất thường hồi lưu tĩnh mạch phổi bán phần (PAPVR) bên phải.
    2. Phía bên ngoài cung động mạch chủ (mặt cắt ngang)
      Chẩn đoán phân biệt: Tĩnh mạch chủ bên trái, tĩnh mạch hồng y nhĩ trái, PAPVR bên trái, tĩnh mạch liên sườn trên bên trái.
    3. Động mạch chủ xuống ở mức cơ hoành (mặt cắt ngang)
      Chẩn đoán phân biệt: Cấp máu động mạch hệ thống cho phổi, tiếp nối tĩnh mạch đơn thay thế tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh mạch Scimitar.
    4. Mức gốc động mạch chủ (mặt cắt ngang)
      Chẩn đoán phân biệt: Bất thường nguyên ủy động mạch vành.
    5. Cửa sổ phế động mạch (mặt cắt đứng dọc)
      Chẩn đoán phân biệt: Còn ống động mạch, túi thừa động mạch chủ, động mạch dưới đòn phải bất thường.

    Đi theo dòng chảy

    Một cách đơn giản để khảo sát các cấu trúc tim mạch là sử dụng phương pháp ‘đi theo dòng chảy’.
    Phương pháp này đánh giá các cấu trúc vận chuyển máu khi máu đi vào qua các tĩnh mạch chủ, qua tim phải vào các động mạch phổi, rồi theo đó đưa máu đến phổi.
    Sau đó máu trở về qua các tĩnh mạch phổi vào nhĩ trái và thất trái để đi vào động mạch chủ và các nhánh lớn bao gồm các động mạch vành.

    Tìm kiếm các bất thường sau:

    1. Tĩnh mạch chủ dưới (IVC) và tĩnh mạch chủ trên (SVC)
      Tiếp nối tĩnh mạch đơn thay thế tĩnh mạch chủ dưới, Tĩnh mạch chủ trên bên trái, Tĩnh mạch hồng y nhĩ trái.
    2. Tim phải
      Giãn, Huyết khối, U nhầy (Myxoma), Sùi van ba lá, Phì đại.
    3. Động mạch phổi
      Giãn, Bệnh lý huyết khối tắc mạch trung tâm.
    4. Tĩnh mạch phổi
      Bất thường hồi lưu tĩnh mạch phổi.
    5. Nhĩ trái và tiểu nhĩ trái
      Giãn, Huyết khối, U nhầy (Myxoma), Tim ba buồng nhĩ (Cor triatriatum), Thông vách.
    6. Thất trái
      Giãn, Phì đại, Bất thường tưới máu, Sau nhồi máu cơ tim, Phình và Huyết khối.
    7. Động mạch chủ và các nhánh
      Vôi hóa, Phình, Hẹp và tắc nhánh, Còn ống động mạch, Động mạch dưới đòn phải bất thường, Bất thường nguyên ủy động mạch vành.

    Tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới

    Tĩnh mạch chủ dưới tiếp nối qua tĩnh mạch đơn

    Trong biến thể này, đoạn tĩnh mạch chủ dưới dưới gan bị thiếu, các đoạn dưới thận và ngang thận dẫn lưu qua tĩnh mạch đơn giãn lớn vào tĩnh mạch chủ trên.
    Đoạn tĩnh mạch chủ dưới trên gan vẫn hiện diện nhưng chỉ dẫn lưu máu từ các tĩnh mạch gan vào tâm nhĩ phải.

    Tĩnh mạch chủ dưới tiếp nối qua tĩnh mạch đơn thường là phát hiện tình cờ ở bệnh nhân không có triệu chứng, mặc dù có thể đi kèm với các bất thường tim mạch khác, cũng như với tình trạng không có lách hoặc đa lách.
    Tầm quan trọng của việc không bỏ sót tình trạng này chủ yếu liên quan đến ý nghĩa trong lập kế hoạch phẫu thuật cũng như các thủ thuật nội mạch, vì nó cản trở việc đặt ống thông vào tim phải từ phía dưới.

    Hình ảnh
    Tĩnh mạch chủ dưới tiếp nối qua tĩnh mạch đơn cho thấy hình ảnh đặc trưng ‘động mạch chủ đôi’ ở mức trụ hoành, và sự giãn của tĩnh mạch đơn kéo dài đến điểm nối với tĩnh mạch chủ trên.


    Tĩnh mạch chủ trên trái tồn lưu

    Đây là bất thường tĩnh mạch lồng ngực thường gặp nhất và có thể xuất hiện đơn độc hoặc là thành phần của các bệnh lý bẩm sinh phức tạp hơn.
    Tĩnh mạch bắt đầu từ chỗ hợp lưu của tĩnh mạch dưới đòn trái và tĩnh mạch cảnh trong trái, đi qua phía trái trung thất cạnh cung động mạch chủ, và thường dẫn lưu vào tâm nhĩ phải qua xoang vành.
    Đối với một mạch máu ở vị trí này, phía bên ngoài cung động mạch chủ, chẩn đoán phân biệt bao gồm bốn khả năng:

    1. Tĩnh mạch chủ trên trái
    2. Tĩnh mạch hồng y nhĩ trái (LACV)
    3. Bất thường hồi lưu tĩnh mạch phổi một phần từ thùy trên phổi trái
    4. Tĩnh mạch liên sườn trên trái.

    Tĩnh mạch hồng y nhĩ trái

    Tĩnh mạch hồng y nhĩ trái (LACV) là một bất thường mạch máu hiếm gặp mà một số tác giả xem như tĩnh mạch chủ trên bên trái nối với tâm nhĩ trái. Tuy nhiên, có thể lập luận rằng bản chất của nó gần với phổ bất thường hồi lưu tĩnh mạch phổi hơn.

    Mặc dù trong tĩnh mạch hồng y nhĩ trái, các tĩnh mạch phổi vẫn dẫn lưu bình thường vào tâm nhĩ trái, nhưng có một kết nối tĩnh mạch bất thường giữa tâm nhĩ trái và tĩnh mạch tay đầu trái, tạo ra luồng thông trái-phải.

    Do vị trí của nó, tĩnh mạch hồng y nhĩ trái có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với tĩnh mạch chủ trên bên trái; tuy nhiên, tĩnh mạch chủ trên trái phải nối với xoang vành và tâm nhĩ phải, và chỉ đơn thuần là một biến thể tĩnh mạch chứ không phải là một luồng thông tim mạch. Chỉ cần kiểm tra vị trí dẫn lưu là có thể phân biệt được hai thực thể này.

    Tĩnh mạch liên sườn trên trái – Dấu hiệu “núm vú động mạch chủ”

    Tĩnh mạch liên sườn trên trái là một cấu trúc có thể bắt chước các biến thể mạch máu ở phía bên ngoài cung động mạch chủ.
    Đây là một cấu trúc tĩnh mạch bình thường được xem là một phần của hệ thống bán tĩnh mạch đơn, đôi khi nổi bật hơn ở một số người tùy thuộc vào lưu lượng tuần hoàn bàng hệ.
    Do vị trí của nó, cấu trúc này có thể gợi ý bất thường hồi lưu tĩnh mạch phổi, tĩnh mạch chủ trên trái hoặc tĩnh mạch hồng y nhĩ trái; tuy nhiên, việc đánh giá nguyên ủy và đường đi của cấu trúc mạch máu sẽ giúp phân biệt cấu trúc tĩnh mạch bình thường này với các chẩn đoán phân biệt về bất thường mạch máu nêu trên.

    Hình ảnh
    Tĩnh mạch liên sườn trên trái nổi bật, đôi khi được gọi là ‘núm vú động mạch chủ’.
    Lưu ý sự tương đồng với tĩnh mạch hồng y nhĩ trái (trên mặt cắt ngang).

    Buồng tim phải

    Van ba lá

    Phần lớn các trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bên phải đều liên quan đến van ba lá và có mối liên hệ với việc sử dụng ma túy qua đường tĩnh mạch. Ngoài những người sử dụng ma túy qua đường tĩnh mạch, bệnh nhân có ống thông thận nhân tạo, máy tạo nhịp tim và dây dẫn máy khử rung tim cũng có nguy cơ cao bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn van ba lá.

    Hình ảnh
    Sùi nhiễm khuẩn khổng lồ trên van ba lá ở một người dùng heroin qua đường tĩnh mạch bị viêm nội tâm mạc do S. Aureus.

    Giãn buồng tim phải

    Nhĩ phải thường giãn do bệnh lý van ba lá, có thể là nguyên phát hoặc thứ phát do bệnh lý thất phải. Thất phải có thể bị giãn vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong bối cảnh cấp tính hoặc mạn tính hơn.
    Trong bối cảnh cấp tính, thuyên tắc huyết khối ồ ạt có thể dẫn đến tắc nghẽn đường ra và phồng giãn thất phải, tình trạng này có mối tương quan nghịch với tỷ lệ bệnh tật và tử vong.

    Trong bối cảnh mạn tính hơn, giãn thất phải có thể gặp trong bệnh cơ tim phải, các bất thường bẩm sinh và tăng áp động mạch phổi do nhiều căn nguyên khác nhau, bao gồm cả bệnh huyết khối tắc mạch mạn tính.
    Quá trình thích nghi và tái cấu trúc của thất phải biểu hiện theo một phổ liên tục gồm giãn, phì đại và cuối cùng là suy chức năng.
    Suy tim phải sẽ dẫn đến cổ trướng và phù toàn thân, trái ngược với suy tim trái gây ứ huyết với phù phổi và tràn dịch màng phổi.

    Hình ảnh
    Huyết khối bám thành trung tâm ở bệnh nhân bị bệnh huyết khối tắc mạch mạn tính kèm giãn buồng tim phải, phù hợp với tăng áp động mạch phổi do huyết khối tắc mạch mạn tính (CTEPH).

    Động Mạch Phổi

    Giãn động mạch phổi chính (MPA) có thể phản ánh tình trạng tăng áp động mạch phổi nguyên phát hoặc thứ phát.
    Tương tự như kích thước động mạch chủ, kích thước động mạch phổi có thể khác nhau giữa các bệnh nhân dựa trên nhiều yếu tố như giới tính, tuổi tác, diện tích bề mặt cơ thể (BSA), v.v.
    Trong dân số chung với nguy cơ thấp mắc tăng áp động mạch phổi, đường kính động mạch phổi chính > 34 mm, hoặc tỷ lệ MPA/Động mạch chủ > 1,1, cần được ghi nhận là giãn.
    Ở các nhóm dân số nguy cơ cao với các yếu tố thuận lợi như bệnh tim trái, COPD, xơ cứng bì hệ thống, v.v., ngưỡng chẩn đoán giảm xuống còn > 30 mm, hoặc tỷ lệ MPA/Động mạch chủ > 0,9.

    Khi phát hiện giãn động mạch phổi, cần tiến hành tìm kiếm các dấu hiệu gợi ý nguyên nhân có thể gặp, trong phạm vi giới hạn của CT ngực không chuyên tim mạch.
    Điều này có thể hỗ trợ trong việc đề xuất các phương thức chẩn đoán hình ảnh bổ sung, cũng như chuyển bệnh nhân đến đúng chuyên khoa lâm sàng.

    Giãn động mạch phổi có thể do nhiều nguyên nhân, ví dụ như thuyên tắc phổi mạn tính, ứ huyết do bệnh tim trái, bệnh phổi xơ hóa và các bệnh phổi nặng khác, hoặc do luồng thông trái-phải trong các dị tật mạch máu.

    Hình ảnh
    Giãn động mạch phổi với đường kính 38 mm do luồng thông tim mạch trái-phải (ví dụ: hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường một phần – PAPVR).

    Tĩnh Mạch Phổi

    Bất thường dẫn lưu tĩnh mạch phổi

    Hình ảnh này đã được trình bày trước đó.

    Bằng cách kiểm tra năm vị trí then chốt này, có thể phát hiện được phần lớn các biến thể mạch máu, đặc biệt hữu ích trong việc phát hiện các bất thường tĩnh mạch phổi (in đậm):

    1. Giao điểm giữa tĩnh mạch phổi trên phải và tĩnh mạch chủ trên (mặt phẳng axial)
      Chẩn đoán phân biệt: Bất thường dẫn lưu tĩnh mạch phổi một phần (PAPVR) bên phải.
    2. Phía bên ngoài cung động mạch chủ (mặt phẳng axial)
      Chẩn đoán phân biệt: tĩnh mạch chủ bên trái, tĩnh mạch hồng y levo-nhĩ, PAPVR bên trái, tĩnh mạch liên sườn trên bên trái.
    3. Động mạch chủ xuống tại mức cơ hoành (mặt phẳng axial)
      Chẩn đoán phân biệt: cấp máu động mạch hệ thống cho phổi, tĩnh mạch azygos thay thế tĩnh mạch chủ dưới, Tĩnh mạch Scimitar.
    4. Cửa sổ phế động mạch-chủ (mặt phẳng sagittal)
      Chẩn đoán phân biệt: còn ống động mạch, túi thừa động mạch chủ, động mạch dưới đòn phải bất thường.
    5. Mức gốc động mạch chủ (mặt phẳng axial)
      Chẩn đoán phân biệt: bất thường nguyên ủy động mạch vành.


    Bất thường dẫn lưu tĩnh mạch phổi (2)
    Bình thường, máu đã được oxy hóa từ tất cả các thùy phổi sẽ dẫn lưu về nhĩ trái qua các tĩnh mạch phổi.
    Mặc dù số lượng và kích thước tĩnh mạch phổi có thể thay đổi giữa các bệnh nhân, vị trí dẫn lưu thì không được phép thay đổi.
    Trong bất thường dẫn lưu tĩnh mạch phổi, máu dẫn lưu vào tuần hoàn hệ thống thay vì vào nhĩ trái, tạo ra luồng thông trái-phải. Vị trí dẫn lưu có thể là trên tim (ví dụ: tĩnh mạch chủ), tại tim (ví dụ: nhĩ phải), dưới tim (ví dụ: tĩnh mạch chủ dưới) hoặc hỗn hợp (tức là kết hợp các dạng trên).

    Ở người lớn, thường gặp nhất là bất thường dẫn lưu tĩnh mạch phổi một phần (PAPVR) so với bất thường dẫn lưu tĩnh mạch phổi toàn phần (TAPVR) – đây là một dị tật bẩm sinh nặng, không thường được phát hiện tình cờ trên CT ngực ở người lớn.
    Mức độ ảnh hưởng của bất thường này lên tim phải, cũng như sự xuất hiện của các triệu chứng như khó thở, phụ thuộc vào tỷ lệ luồng thông. Nếu nhỏ, PAPVR có thể là một phát hiện không có ý nghĩa lâm sàng.

    Trong PAPVR, thùy trên trái thường dẫn lưu vào tĩnh mạch tay đầu trái. Bất thường phổ biến tiếp theo là thùy trên phải dẫn lưu vào tĩnh mạch chủ trên.
    PAPVR bên phải có mối liên quan chặt chẽ với thông liên nhĩ thể xoang tĩnh mạch (khoảng 40%), đây là một dạng thông liên nhĩ tại vị trí tiếp nối cavo-nhĩ. Do đó, cần kiểm tra sự hiện diện của dạng thông liên nhĩ này khi phát hiện PAPVR bên phải.

    Hình ảnh
    Bệnh nhân này được lên kế hoạch cắt thùy trên phải do ung thư phổi và bất thường mạch máu này ban đầu đã bị bỏ sót trên hình ảnh CT.
    Những hệ quả trong phẫu thuật của bất thường như vậy nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không bỏ sót các biến thể này.


    Cuộn qua các hình ảnh.

    Hình ảnh
    PAPVR bên trái phát hiện tình cờ với dẫn lưu trên tim của máu từ thùy trên trái vào tĩnh mạch tay đầu trái (các mũi tên).

    Tĩnh mạch Scimitar

    Tĩnh mạch Scimitar là một dạng PAPVR của phổi phải dẫn lưu xuống dưới tim, thường nhất là vào tĩnh mạch chủ dưới.

    Hình ảnh
    PAPVR của thùy dưới phải, dẫn lưu máu vào tĩnh mạch chủ dưới. Đây còn được gọi là tĩnh mạch Scimitar, do hình dạng của nó giống với một loại kiếm cong.

    Nhĩ Trái và Tiểu Nhĩ Trái

    Giãn Nhĩ Trái

    Giãn nhĩ trái là một phát hiện rất thường gặp, thường liên quan đến rung nhĩ và bệnh van tim hai lá.
    Giãn nhĩ trái có thể đi kèm với các rối loạn nhịp tim và hình thành huyết khối, làm tăng nguy cơ xảy ra các biến cố thuyên tắc mạch.


    Huyết Khối

    Khối trong tim thường gặp nhất là huyết khối, thường khu trú tại tiểu nhĩ trái (LAA), chủ yếu ở bệnh nhân rung nhĩ có giãn nhĩ trái đáng kể.
    Tuy nhiên, huyết khối cũng có thể xuất hiện ở nhĩ phải liên quan đến catheter tĩnh mạch trung tâm, hoặc trong phình mỏm thất trái sau nhồi máu cơ tim cũ.

    Cuộn qua các hình ảnh của bệnh nhân rung nhĩ.
    Nhận xét các phát hiện?

    Hình ảnh
    Nhĩ trái giãn.
    Có huyết khối trong tiểu nhĩ trái (mũi tên) lan rộng về phía nhĩ trái (đầu mũi tên).

    Tại tiểu nhĩ trái, thường gặp khó khăn trong chẩn đoán phân biệt hình ảnh giữa huyết khối và hiện tượng ngấm thuốc không hoàn toàn do dòng chảy chậm, đặc biệt khi chụp ở thì thuốc sớm.
    Vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách chụp CT ở thì thuốc muộn hơn hoặc chụp ở tư thế nằm sấp.
    Siêu âm tim qua thực quản được coi là tiêu chuẩn vàng.

    Hình ảnh
    Xảo ảnh dòng chảy chậm trong tiểu nhĩ trái, với hình ảnh ngấm thuốc không hoàn toàn của tiểu nhĩ trái ở thì sớm nhưng lấp đầy hoàn toàn ở thì thuốc muộn hơn.

    U Nhầy (Myxoma)

    U nhầy là một khối u lành tính tương đối hiếm gặp, nhưng là một trong những khối nguyên phát trong tim thường gặp nhất.
    U thường xuất phát từ nhĩ, chủ yếu ở phía trái.
    U thường có cuống và bám vào vách liên nhĩ.
    U có tỷ trọng thấp không đồng nhất và có thể có vôi hóa.
    Tùy thuộc vào kích thước, u có thể gây tắc nghẽn van tim, sa van và các biến cố thuyên tắc hệ thống.

    Hình ảnh
    U nhầy nhĩ trái phát hiện tình cờ.

    Tim Ba Buồng Nhĩ (Cor Triatriatum)

    Trong tim ba buồng nhĩ, nhĩ bị chia thành hai ngăn bởi một màng xơ cơ.
    Màng này thường gặp hơn ở nhĩ trái.
    Mức độ nặng của triệu chứng lâm sàng phụ thuộc vào kích thước lỗ thông trên màng.
    Các trường hợp nhẹ hơn có thể không được phát hiện trong thời gian dài.

    Hình ảnh
    Tim ba buồng nhĩ trái (cor triatriatum sinistra) phát hiện tình cờ với hình ảnh ngấm thuốc muộn của ngăn phải nhĩ trái.
    Trường hợp này ban đầu bị nhầm lẫn với huyết khối.

    Tiếp tục xem hình ảnh MR…

    Đây là hình ảnh MR của cùng trường hợp trên

    Hình ảnh
    Lấp đầy muộn của ngăn phải nhĩ trái trong tim ba buồng nhĩ trái (cor triatriatum sinistra).

    Hình ảnh
    Vách ngăn nhĩ trái mức độ nhẹ hơn trong tim ba buồng nhĩ, chỉ biểu hiện bằng một cấu trúc dạng dải mảnh, còn được gọi là ‘dải nhĩ trái’ (left atrial band)

    Tâm Thất Trái

    Giãn

    Tâm thất trái có thể bị giãn do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng phổ biến nhất là do bệnh cơ tim giãn nở hoặc bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ sau nhồi máu.
    Giảm chức năng tâm thu của tâm thất trái sẽ dẫn đến ứ huyết, kèm theo giãn nhĩ trái, phù phổi và tràn dịch màng phổi.
    Trong tình trạng mạn tính, bệnh tim trái và ứ huyết kéo dài có thể dẫn đến tăng áp lực ở phía tim phải, và cuối cùng gây ra tăng áp động mạch phổi.

    Hình ảnh của một bệnh nhân nữ chấn thương, nhập viện vì xuất huyết nội sọ.

    Hình ảnh
    Tình cờ phát hiện tâm thất trái giãn nặng.
    Đường kính ngang của tâm thất trái > 70 mm.

    Phì đại

    Kích thước cơ tim chịu ảnh hưởng bởi thời điểm thu nhận hình ảnh, do trong thì tâm thu cơ tim sẽ trông dày hơn so với thì tâm trương. Tuy nhiên, cần gợi ý phì đại cơ tim khi độ dày vượt quá 20-25 mm.
    Phì đại tâm thất trái có thể là đồng tâm hoặc không đối xứng:

    • Phì đại đồng tâm là hệ quả của tình trạng tăng gánh nặng công việc mạn tính, thường gặp nhất do quá tải áp lực trong tăng huyết áp mạn tính hoặc hẹp van động mạch chủ.
    • Phì đại không đối xứng có thể do bệnh cơ tim phì đại, trong đó điển hình là vách liên thất đoạn nền bị dày lên và có thể gây tắc nghẽn đường ra tâm thất trái (HOCM).
    • Các thể khác cũng được ghi nhận, ví dụ như thể phì đại vùng mỏm.

    Tái tạo đa mặt phẳng có thể hỗ trợ đánh giá hình thái của phì đại cơ tim và gợi ý nguyên nhân căn nguyên có thể.

    Hình ảnh
    Phì đại tâm thất trái đồng tâm trong tăng huyết áp mạn tính với độ dày lên đến 26 mm tại vách liên thất đoạn nền.
    Đây là bất thường ngay cả trong thì tâm thu.

    Nhồi máu cơ tim

    Nhồi máu cơ tim cũ có thể không được phát hiện và các dấu hiệu của biến cố này có thể được tình cờ phát hiện trên CT ngực không vì mục đích tim mạch.
    Điển hình trên CT cho thấy hình ảnh thành cơ tim mỏng có hoặc không kèm theo thay thế mỡ, biểu hiện là một đường giảm tỷ trọng dưới nội tâm mạc.

    Hình ảnh
    Thay thế xơ-mỡ dưới nội tâm mạc sau nhồi máu cũ trong vùng tưới máu của động mạch liên thất trước (LAD).

    Trong giai đoạn cấp tính của nhồi máu cơ tim, khiếm khuyết tưới máu có thể được phát hiện trên CT ngực có thuốc cản quang dưới dạng vùng giảm tỷ trọng trong lãnh thổ tưới máu của một động mạch vành.
    Điều này có thể xảy ra trong các tình huống mà bệnh nhân nhập viện ban đầu vì chấn thương – chẳng hạn như tai nạn giao thông hoặc ngã cầu thang – và vấn đề tim mạch khởi phát ban đầu bị bỏ sót.
    Tình huống này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá toàn diện các bất thường tim mạch trong việc phát hiện sớm các bệnh lý không nghi ngờ trước.

    Hình ảnh
    Khiếm khuyết tưới máu trong vùng tưới máu của LAD ở bệnh nhân chấn thương 45 tuổi, nhập viện sau khi ngã cầu thang trong lúc khuân vác nặng.
    Cài đặt cửa sổ sắc nét hơn giúp đánh giá sự khác biệt tỷ trọng cơ tim.

    Phình tâm thất trái

    Giãn phình tâm thất trái có thể hình thành sau nhồi máu cơ tim, và đôi khi có hình ảnh vôi hóa thành.
    Cần kiểm tra các dấu hiệu huyết khối trong buồng tim trong những trường hợp này, vì đây có thể là nguồn gây thuyên tắc hệ thống.

    Hình ảnh
    Sau nhồi máu cơ tim trong vùng tưới máu của LAD với hình thành phình vùng mỏm, vôi hóa thành và huyết khối trong buồng thất lớn.

    Khối tim

    Ác tính thứ phát do di căn phổ biến hơn nhiều so với u tim nguyên phát.
    Tỷ lệ ước tính lên đến 30:1.

    Hình ảnh
    Hình ảnh dày dạng nốt ở mỏm tim (mũi tên) và tràn dịch màng ngoài tim lượng nhiều.
    Đây là bệnh di căn từ ung thư vùng tai mũi họng.


    Cardiac lymphoma

    U lympho tim

    Hình ảnh
    U lympho tim nguyên phát
    với xâm lấn rãnh nhĩ thất và thành tâm thất phải.

    Động mạch chủ

    Giãn động mạch chủ

    Các ngưỡng giá trị được đề xuất để xác định phình động mạch chủ là 50 mm đối với đoạn lên và 40 mm đối với đoạn xuống, với giá trị bình thường tương ứng được giới hạn ở mức khoảng 40 và 30 mm.
    Các giá trị nằm giữa ngưỡng bình thường và ngưỡng phình mạch được coi là giãn.
    Tuy nhiên, kích thước động mạch chủ thay đổi tùy theo từng bệnh nhân, và các giá trị riêng lẻ khác nhau dựa trên các yếu tố như tuổi, giới tính và diện tích bề mặt cơ thể.
    Ngoài ra, cần lưu ý những thách thức tiềm ẩn trong độ chính xác đo lường do các yếu tố như chuyển động trong chụp CT không đồng bộ ECG.
    Tuy nhiên, có tính đến các sai số nêu trên, điều quan trọng là không được bỏ sót một động mạch chủ giãn đáng kể vì có nguy cơ vỡ tăng cao, đặc biệt ở những bệnh nhân có kích thước động mạch chủ đoạn gần vượt quá 55 mm.
    Ngưỡng xác định nhu cầu can thiệp phẫu thuật thấp hơn ở những bệnh nhân có bệnh mô liên kết đã biết như hội chứng Marfan hoặc Ehlers-Danlos.

    Hình ảnh
    Giãn phình nặng xoang động mạch chủ và động mạch chủ đoạn lên.

    Khi phát hiện giãn động mạch chủ đoạn gần, cần tiến hành đánh giá kỹ lưỡng hơn các bất thường có thể liên quan như hẹp van động mạch chủ hoặc van động mạch chủ hai lá.

    Hình ảnh
    Van động mạch chủ hai lá.


    From reference 1

    Từ tài liệu tham khảo 1

    Vôi hóa van động mạch chủ

    Vôi hóa van động mạch chủ thường do thoái hóa vôi hóa gây ra và do đó ngày càng được ghi nhận nhiều hơn ở bệnh nhân cao tuổi. Ở bệnh nhân trẻ tuổi, van động mạch chủ hai lá cần được đặt lên hàng đầu trong chẩn đoán phân biệt.
    Mức độ vôi hóa van động mạch chủ tương quan với mức độ nặng của hẹp van động mạch chủ.
    Khuyến cáo đánh giá định lượng bằng mắt mức độ vôi hóa van động mạch chủ thành nhẹ, trung bình và nặng (hình).

    Có thể đưa khuyến nghị vào báo cáo chẩn đoán hình ảnh (xem Hình).

    Nếu phát hiện vôi hóa van động mạch chủ, cần khảo sát kích thước gốc động mạch chủ và động mạch chủ đoạn lên.

    Vôi hóa cũng có thể xuất hiện ở các vị trí khác trong tim, bao gồm van hai lá hoặc vòng van hai lá, và màng ngoài tim. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp đây là những phát hiện không có ý nghĩa lâm sàng và không cần đưa ra khuyến nghị trong phần kết luận báo cáo.

    U xơ đàn hồi nhú của van động mạch chủ

    CT ngực không đồng bộ ECG không hiển thị rõ các van tim, tuy nhiên đôi khi vẫn có thể phát hiện các bất thường.
    Như đã đề cập ở trên, các phát hiện tình cờ chính tại van sẽ là vôi hóa van động mạch chủ và van hai lá.

    Một phát hiện hiếm gặp là u xơ đàn hồi nhú (mũi tên), đây là khối u nguyên phát thường gặp nhất liên quan đến các van tim, chủ yếu ở van động mạch chủ hoặc van hai lá.

    Hình ảnh CT điển hình của u xơ đàn hồi nhú là một khối nhỏ không đều, có cuống, liên quan đến van tim.
    Thường gặp nhất là phát hiện tình cờ không có triệu chứng, mặc dù u xơ đàn hồi nhú có thể gây biến chứng tắc mạch hệ thống.


    Right Aortic Arch with an aberrant left subclavian. View from anterior.

    Cung động mạch chủ bên phải với động mạch dưới đòn trái bất thường. Nhìn từ phía trước.

    Biến thể cung động mạch chủ và các nhánh

    Các bất thường của động mạch chủ và các nhánh được thảo luận trong bài viết ‘Bất thường mạch máu của động mạch chủ, mạch phổi và mạch hệ thống‘ của Marilyn J. Siegel và Robin Smithuis.

    Túi thừa động mạch chủ

    Túi thừa động mạch chủ thường được thấy tại vị trí eo động mạch chủ, nơi tàn dư ống động mạch hay dây chằng động mạch bám vào.
    Do đây cũng là vị trí xảy ra phần lớn các tổn thương động mạch chủ do chấn thương, nên đôi khi có thể nhầm lẫn với giả phình mạch.
    Túi thừa có góc tù hơn, thường có hình dạng giống mỏ chim và có thể có vôi hóa. Ngược lại với tổn thương động mạch chủ, túi thừa không có bờ không đều và không có thâm nhiễm hay dịch xung quanh.

    Ngay phía dưới mức eo động mạch chủ, động mạch chủ có thể phình ra lan tỏa hơn, được gọi là hình thoi động mạch chủ. Đây cũng là một biến thể không có ý nghĩa lâm sàng.

    Hình ảnh
    Các ví dụ về túi thừa động mạch chủ (trái), hình thoi động mạch chủ (giữa), và tổn thương động mạch chủ do chấn thương tại mức eo động mạch chủ.

    Các nhánh động mạch chủ bao gồm động mạch vành

    Động mạch dưới đòn phải bất thường

    Còn được gọi là động mạch Lusoria, đây là dị tật cung động mạch chủ thường gặp nhất. Thay vì là nhánh đầu tiên, động mạch dưới đòn phải xuất phát ở vị trí xa hơn so với động mạch dưới đòn trái, trở thành nhánh thứ tư. Sau đó nó chạy ngược về phía bên phải, với đường đi thay đổi so với thực quản và khí quản. Trong phần lớn các trường hợp, nó chạy sau thực quản, nhưng đôi khi đi giữa khí quản và thực quản, hoặc hiếm gặp hơn là đi trước khí quản. Thông thường không có triệu chứng, nhưng có thể gây ra các triệu chứng khí quản-thực quản, chủ yếu là khó nuốt.

    Hình ảnh
    Động mạch dưới đòn phải bất thường với đường đi sau thực quản.

    Đây là hình ảnh động mạch dưới đòn phải bất thường bị giãn.
    Lưu ý vị trí xuất phát từ động mạch chủ phía sau khí quản và thực quản.
    Sự giãn nở này gây ra khó nuốt do chèn ép thực quản.

    Phì đại động mạch phế quản

    Các động mạch phế quản cung cấp máu giàu oxy dưới áp lực hệ thống đến các cấu trúc nâng đỡ của phổi, bao gồm cả các động mạch phổi.
    Mặc dù có sự biến đổi, chúng thường xuất phát từ động mạch chủ xuống ở mức đốt sống ngực thứ năm.
    Các động mạch phế quản có kích thước nhỏ và thường khó quan sát.
    Khi bị giãn và ngấm thuốc cản quang đủ mức, chúng có thể được nhìn thấy trên CT ngực.
    Phì đại động mạch phế quản có thể gặp trong các trường hợp như bệnh nhu mô phổi nặng và tăng áp động mạch phổi do huyết khối tắc mạch mạn tính.

    Hình ảnh
    Phì đại động mạch phế quản với đường kính lên đến 4 mm (mũi tên) kèm theo một túi phình nhỏ (đầu mũi tên).


    Click on the image to see the jet

    Nhấp vào hình ảnh để xem dòng phụt

    Còn ống động mạch

    Ống động mạch nối giữa phần dưới cung động mạch chủ ở mức eo động mạch chủ và đoạn gần động mạch phổi trái.
    Trước khi sinh, nó cho phép máu bỏ qua phổi chưa được thông khí thông qua luồng thông phải-trái sinh lý.
    Ống động mạch thường đóng lại trong giai đoạn đầu sau sinh.
    Trái ngược với tình trạng trước sinh, ống động mạch còn tồn tại sau khi sinh tạo ra luồng thông trái-phải với máu chảy từ tuần hoàn hệ thống áp lực cao vào động mạch phổi áp lực thấp.
    Điều này dẫn đến tăng tuần hoàn phổi và quá tải thể tích tim trái.
    Mức độ nghiêm trọng của tình trạng này phụ thuộc vào kích thước của phân suất luồng thông.
    Sự thông thương của ống động mạch có thể đơn độc hoặc kết hợp với các dị tật tim khác.

    Hình ảnh
    Còn ống động mạch (PDA) phát hiện tình cờ với dòng phụt máu ngấm thuốc kém hơn (mũi tên) vào động mạch phổi.

    Các mạch máu cung động mạch chủ

    Các mạch máu cung động mạch chủ có thể được đánh giá dễ dàng về tình trạng tắc nghẽn đoạn gần trên CT có tiêm thuốc cản quang.
    Tùy thuộc vào mạch máu bị tổn thương, điều này có thể có ý nghĩa lâm sàng liên quan đến tưới máu não (ví dụ: động mạch cảnh) hoặc chi trên (ví dụ: động mạch dưới đòn).

    Hình ảnh
    Xơ vữa động mạch nặng tại đoạn gần động mạch dưới đòn trái.
    Tắc nghẽn hoặc hẹp nặng dòng chảy đoạn gần động mạch dưới đòn có thể giải thích sự chênh lệch huyết áp trái-phải, và là thông tin quan trọng, ví dụ để tránh nghi ngờ lâm sàng về bóc tách động mạch chủ về sau.


    Phổi biệt lập (Sequestration)

    Trong phổi biệt lập, phân thùy phổi bị tổn thương được cấp máu bởi động mạch hệ thống.
    Phân thùy phổi này không được thông khí và theo định nghĩa không có kết nối bình thường với cây phế quản và hệ thống động mạch phổi.

    Hình ảnh
    Cấp máu động mạch hệ thống đến thùy dưới phổi trái trong trường hợp phổi biệt lập.

    Đôi khi một phần nhu mô phổi được cấp máu bởi động mạch hệ thống, hoặc đơn độc (tức là biệt lập hoàn toàn) hoặc kết hợp với nguồn cấp máu động mạch phổi bình thường (tức là cấp máu kép), trong khi giải phẫu phế quản và sự thông khí của phân thùy phổi liên quan vẫn bình thường.
    Tình trạng này được gọi là cấp máu động mạch hệ thống bất thường của phổi bình thường.
    Đây thường là phát hiện không có triệu chứng, nhưng một số bệnh nhân có thể phát triển tăng áp lực cục bộ với các dấu hiệu ứ huyết và ho ra máu.
    Trường hợp này có thể cần can thiệp phẫu thuật hoặc nội mạch.

    Hình ảnh
    Cấp máu động mạch hệ thống bất thường phát hiện tình cờ của phân thùy sau-đáy bình thường thuộc thùy dưới phổi phải, không có phổi biệt lập. Lưu ý các dấu hiệu ứ huyết kín đáo tại phân thùy liên quan của thùy dưới phổi phải.

    Động mạch vành bất thường

    Có sự biến đổi lớn về nguyên ủy và đường đi của các động mạch vành.
    Hầu hết là các biến thể lành tính, nhưng đường đi liên động mạch và trong thành đoạn gần (chủ yếu là RCA xuất phát từ xoang vành trái) được cho là có nguy cơ tăng cao gây thiếu máu cục bộ, nhồi máu cơ tim và đột tử.
    Trong giới hạn nghiên cứu của CT ngực không chuyên tim mạch, có thể kiểm tra nguyên ủy và đường đi đoạn gần của các động mạch vành để phát hiện các bất thường.

    Hình ảnh
    Đường đi lành tính của LAD bất thường xuất phát từ động mạch vành phải (RCA), chạy phía trước đường ra thất phải (RVOT).

    Các bất thường khác của động mạch vành được thảo luận trong bài viết ‘Giải phẫu và bất thường động mạch vành‘ của Tineke Willems và Robin Smithuis


    From reference 1

    Từ tài liệu tham khảo 1

    Vôi hóa động mạch vành

    Vôi hóa động mạch vành phát hiện tình cờ là một phát hiện thường gặp trên CT ngực không chuyên tim mạch.
    Hiện nay có sự đồng thuận quốc tế rằng việc nhận xét về vôi hóa động mạch vành là thực hành lâm sàng tốt vì chúng là dấu hiệu của bệnh động mạch vành.
    Đề xuất là thực hiện đánh giá vôi hóa bằng mắt thường theo thang điểm đơn giản: Không có, Nhẹ, Trung bình hoặc Nặng, dựa trên tổng hợp các phát hiện ở cả ba động mạch vành (xem Hình).

    Có thể bổ sung khuyến nghị vào báo cáo chẩn đoán hình ảnh (hình)

    Khi có các dấu hiệu rõ ràng của bệnh động mạch vành đã được thiết lập như sự hiện diện của stent động mạch vành hoặc các thay đổi sau phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG), thì không cần đánh giá vôi hóa động mạch vành.


    Dr. Nini Tun and Dr. Frank Smithuis sr of Medical Action Mynmar

    Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis sr của Tổ chức Medical Action Myanmar

    Từ thiện

    Toàn bộ lợi nhuận từ Radiology Assistant được chuyển đến tổ chức Medical Action Myanmar, do Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis sr điều hành – ông là giáo sư tại Đại học Oxford và cũng là anh trai của Robin Smithuis.

    Nhấp vào đây để xem video về Medical Action Myanmar và nếu bạn thấy Radiology Assistant hữu ích, hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Bệnh lý sụn chêm

    Bệnh lý sụn chêm

    David Rubin và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trường Đại học Y Washington, St. Louis, Hoa Kỳ và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Bài viết này được xây dựng dựa trên bài thuyết trình của David Rubin và được Robin Smithuis chuyển thể cho the Radiology Assistant.
    Các ca lâm sàng tương tác được trình bày trong thanh menu để kiểm tra kiến thức của bạn.

    bởi David Rubin và Robin Smithuis

    Giải Phẫu Sụn Chêm Bình Thường


    Sụn chêm trong: Sừng sau luôn lớn hơn sừng trước.

    Sụn chêm trong: Sừng sau luôn lớn hơn sừng trước.

    Sụn chêm trong

    Cả hai sừng đều có hình tam giác với các đỉnh rất nhọn.
    Sừng sau luôn lớn hơn sừng trước (hình minh họa).
    Nếu không phải như vậy, hình dạng được xem là bất thường, có thể là dấu hiệu của rách sụn chêm hoặc cắt sụn chêm một phần.


    TRÁI: chân bám sụn chêm trong bình thường nằm ngay phía trước dây chằng chéo sau. PHẢI: mất chân bám sừng sau do rách chân bám sụn chêm.

    TRÁI: chân bám sụn chêm trong bình thường nằm ngay phía trước dây chằng chéo sau. PHẢI: mất chân bám sừng sau do rách chân bám sụn chêm.

    Chân bám sừng sau nằm ngay phía trước dây chằng chéo sau.
    Nếu không thấy chân bám này trên các lát cắt sagittal, cần nghĩ đến rách chân bám sụn chêm (hình minh họa).
    Sừng trước có điểm bám vào mâm chày và một phần thứ hai chạy từ trong ra ngoài để nối với sừng trước của sụn chêm ngoài (dây chằng liên sụn chêm hay dây chằng ngang).


    Sụn chêm ngoài. Cả hai sừng có kích thước xấp xỉ nhau.

    Sụn chêm ngoài. Cả hai sừng có kích thước xấp xỉ nhau.

    Sụn chêm ngoài

    Trên các lát cắt sagittal, sừng sau nằm ở vị trí cao hơn so với sừng trước.
    Cả hai sừng có kích thước xấp xỉ nhau.


    Sụn chêm ngoài: sừng sau và chân bám sừng sau.

    Sụn chêm ngoài: sừng sau và chân bám sừng sau.

    Phần sau của sụn chêm ngoài vươn cao lên trên gai chày để bám vào vị trí gần dây chằng chéo sau.
    Vị trí cao của sừng sau có thể là nguyên nhân gây tăng tín hiệu tại sừng sau trên tất cả các mặt phẳng do hiệu ứng góc ma thuật (magic angle effect).

    Rách sụn chêm

    Tiêu chuẩn chẩn đoán rách

    Hai tiêu chuẩn quan trọng nhất để chẩn đoán rách sụn chêm là hình dạng bất thường của sụn chêm và tín hiệu cao rõ ràng chạm đến bề mặt sụn chêm trên ảnh PD.


    High signal intensity not unequivocally contacting surface. Small black line on inferior margin of the meniscus. At arthroscopy the meniscus was normal.

    Tăng tín hiệu không chạm rõ ràng đến bề mặt. Đường đen nhỏ ở bờ dưới sụn chêm. Khi nội soi khớp, sụn chêm hoàn toàn bình thường.

    Đây là một quan niệm sai lầm khi cho rằng sụn chêm phải đồng nhất giảm tín hiệu trên ảnh mật độ proton (proton-density).
    Sụn chêm không nhất thiết phải có màu đen.
    Chỉ khi tín hiệu cao chạm rõ ràng đến bề mặt sụn chêm, bạn mới có thể chẩn đoán rách.
    Nếu còn nghi ngờ liệu tín hiệu cao có chạm đến bề mặt hay không, hãy xem xét tất cả các lát cắt lân cận.
    Nếu vẫn còn nghi ngờ, không nên chẩn đoán rách.
    Nếu bạn còn dấu hỏi trong đầu, hãy kết luận “sụn chêm bình thường”. (hình)


    Basic shapes: Longitudinal, Horizontal and Radial.

    Các hình thái cơ bản: Dọc, Ngang và Xuyên tâm.

    Danh pháp các loại rách sụn chêm

    Hình thái. Có 3 hình thái cơ bản của rách sụn chêm: rách dọc, rách ngang và rách xuyên tâm.
    Rách phức tạp là sự kết hợp của các hình thái cơ bản này.


    Bucket handle, Horizontal Flap tear and Parrot beak.

    Rách hình quai xô, rách vạt ngang và rách hình mỏ vẹt.

    Rách có di lệch
    Rách hình quai xô (Bucket-handle) = rách dọc có di lệch.
    Rách vạt (Flap tear) = rách ngang có di lệch.
    Rách hình mỏ vẹt (Parrot beak) = rách xuyên tâm có di lệch.

    Rách dọc, rách ngang và rách xuyên tâm

    Rách dọc
    Rách dọc chạy song song với trục dài của sụn chêm, chia sụn chêm thành phần trong và phần ngoài.
    Do đó, khoảng cách từ đường rách đến bờ ngoài sụn chêm luôn không đổi (hình).
    Đường rách không bao giờ chạm đến bờ trong.


    Three sagittal images of a longitudinal tear

    Ba lát cắt đứng dọc của một trường hợp rách dọc sụn chêm.

    Rách dọc đi theo các bó sợi collagen chạy song song với đường viền sụn chêm.
    Nếu rách dọc có thêm các thành phần khác (ngang hoặc xuyên tâm), thì đó là rách phức tạp, phá vỡ các bó sợi collagen.
    Loại rách này đòi hỏi chấn thương với năng lượng cao hơn.


    LEFT: abnormal shape of posterior horn. A piece is missing. RIGHT: displaced fragment in the intercondylar fossa.

    TRÁI: hình dạng bất thường của sừng sau. Một phần bị khuyết. PHẢI: mảnh di lệch trong hố liên lồi cầu.

    Rách dọc (2)

    Rách hình quai xô (Bucket handle tear)
    là rách dọc có di lệch.


    LEFT: meniscus is abnormal in shape and there is a displaced fragment. RIGHT: Three structures in the intercondylar fossa: post cruciate lig (1), ant cruciate lig (2) and displaced fragment (3).

    TRÁI: sụn chêm có hình dạng bất thường và có mảnh di lệch. PHẢI: Ba cấu trúc trong hố liên lồi cầu: dây chằng chéo sau (1), dây chằng chéo trước (2) và mảnh di lệch (3).

    Trên ảnh mặt phẳng coronal, rách hình quai xô dễ nhận biết hơn.
    Bình thường, trong hố liên lồi cầu chỉ có hai cấu trúc: dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau.
    Bất kỳ cấu trúc nào khác trong hố liên lồi cầu đều là bất thường, và mảnh sụn chêm di lệch là khả năng có thể xảy ra nhất.

    Xem thêm về rách hình quai xô


    Flipped meniscus: posterior horn is missing because it is flipped over and located on top of the anterior horn.

    Sụn chêm lật (Flipped meniscus): sừng sau không thấy vì đã bị lật và nằm chồng lên sừng trước.

    Rách dọc (3)

    Sụn chêm lật (Flipped meniscus) là một dạng của rách hình quai xô.
    Có sự bong tách bao khớp hoặc rách ngoại vi của sụn chêm, thường ở sừng sau.
    Sừng sau bị lật chồng lên sừng trước.

    Xem thêm về sụn chêm lật


    Horizontal tear with a meniscal cyst

    Rách ngang kèm nang sụn chêm.

    Rách ngang
    Rách ngang chia sụn chêm thành phần trên và phần dưới (giống bánh pita).
    Nếu rách ngang kéo dài từ đỉnh đến bờ ngoài sụn chêm, có thể dẫn đến hình thành nang sụn chêm.
    Dịch khớp chảy ra ngoại vi qua đường rách ngang, tích tụ bên trong sụn chêm và cuối cùng tạo thành nang.
    Sự thông thương với khoang khớp thường bị mất, do đó nang sẽ không ngấm thuốc tương phản từ trên MRI khớp.
    Dịch khớp được hấp thu và được thay thế bằng chất dạng keo.

    Có 3 tiêu chuẩn để chẩn đoán nang sụn chêm:

    1. Rách ngang.
    2. Tích tụ dịch với tín hiệu sáng trên T2W.
    3. Áp sát vào ngoại vi sụn chêm.

    Chẩn đoán nang sụn chêm rất quan trọng đối với phẫu thuật viên vì cần một lần phẫu thuật ở mặt ngoài khớp gối để lấy nang và một lần phẫu thuật ở mặt trong để xử lý sụn chêm.

    Rách xuyên tâm
    Rách xuyên tâm vuông góc với trục dài của sụn chêm.
    Loại rách này phá vỡ các bó sợi collagen chạy song song với trục dài của sụn chêm.
    Đây là loại rách do chấn thương năng lượng cao. Rách bắt đầu từ bờ trong và lan ra một phần hoặc toàn bộ chiều dày sụn chêm, chia sụn chêm thành phần trước và phần sau.
    Rách xuyên tâm khó nhận biết. Cần kết hợp các dấu hiệu trên cả ảnh đứng dọc (sagittal) và ảnh trán (coronal) để chẩn đoán.


    LEFT: triangle missing the tip.RIGHT: disrupted bow tie.

    TRÁI: hình tam giác mất đỉnh. PHẢI: hình nơ bị gián đoạn.

    Sự kết hợp các dấu hiệu sau có giá trị chẩn đoán:
    Trên một mặt phẳng: hình tam giác mất đỉnh; và trên mặt phẳng kia: hình nơ bị gián đoạn.


    Disrupted bow tie indicating a small radial tear.

    Hình nơ bị gián đoạn gợi ý rách xuyên tâm nhỏ.

    Rách xuyên tâm nhỏ khó chẩn đoán.
    Đôi khi dấu hiệu duy nhất là hình nơ bị gián đoạn.


    LEFT: Absent or empty meniscus on sagittal image.RIGHT: Axial image shows complete radial tear leading to a defect in the meniscus.

    TRÁI: Dấu hiệu sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng trên ảnh đứng dọc. PHẢI: Ảnh axial cho thấy rách xuyên tâm hoàn toàn tạo ra khuyết hổng trong sụn chêm.

    Nếu chụp ảnh rách xuyên tâm hoàn toàn dọc theo chiều dài đường rách, bạn sẽ thấy hình ảnh sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng.
    Các rách xuyên tâm hoàn toàn này mở ra và tạo ấn tượng như có một phần sụn chêm bị mất.
    Tuy nhiên, bạn sẽ không tìm thấy mảnh sụn chêm di lệch. Đây đơn giản là sự tách rời của các phần sụn chêm.

    Xem thêm về dấu hiệu sụn chêm rỗng


    Meniscal root tear: on sagittal images there is an absent or empty meniscus-sign adjacent to the posterior cruciate ligament where the meniscal root should be. On coronal images a meniscal root tear is confirmed.

    Rách chân bám sụn chêm: trên ảnh đứng dọc có dấu hiệu sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng kề cạnh dây chằng chéo sau tại vị trí lẽ ra phải thấy chân bám sụn chêm. Trên ảnh coronal, rách chân bám sụn chêm được xác nhận.

    Rách chân bám sụn chêm

    Rách chân bám sụn chêm là rách xuyên tâm xảy ra tại vị trí chân bám của sụn chêm.
    Bình thường, khi quan sát dây chằng chéo sau trên ảnh đứng dọc, bạn phải thấy một phần đáng kể của sừng sau sụn chêm trên lát cắt đó hoặc lát cắt kề cạnh.
    Nếu không thấy, đó là dấu hiệu sụn chêm vắng mặt hoặc rỗng, gợi ý rách xuyên tâm.

    Xem thêm về rách chân bám sụn chêm

    Sụn chêm sau phẫu thuật

    Sụn chêm sau phẫu thuật khó đánh giá hơn vì hai tiêu chí quan trọng nhất, đó là tín hiệu bất thường và hình dạng bất thường, không còn áp dụng được nữa.

    Tín hiệu bất thường không còn là dấu hiệu đáng tin cậy của rách sụn chêm, vì nếu đã được khâu phục hồi, vùng này sẽ lành với mô sẹo, mô sẹo cũng có tín hiệu cao trên ảnh PD (hình minh họa).
    Mặc dù là một phát hiện không phổ biến, nếu đồng thời có tín hiệu cao trên chuỗi xung T2W, thì có thể chẩn đoán rách sụn chêm, vì đây là kết quả của dịch hoạt dịch rò rỉ vào vị trí rách.
    Tuy nhiên, đây là một phát hiện không thường gặp.

    Hình dạng bất thường có thể là kết quả của cắt sụn chêm một phần.
    Do đó, cần biết thủ thuật nào đã được thực hiện trong quá trình nội soi khớp.
    Chỉ khi so sánh với hình ảnh sau phẫu thuật trước đó, mới có thể xác định liệu hình dạng bất thường có phải là phát hiện mới gợi ý rách mới hay không.

    Đôi khi không thể phân biệt giữa hình ảnh sau phẫu thuật bình thường và rách tái phát trên MRI thông thường.
    Trong những trường hợp này, chụp MRI-khớp với 40cc Gadolinium pha loãng giúp phân biệt vì ngay cả lượng nhỏ Gadolinium rò rỉ vào vị trí rách cũng dễ dàng nhìn thấy trên ảnh T1 xóa mỡ.


    PD and T2W images. Prior partial meniscectomy and suture repair. At arthroscopy, there was no tear.

    Ảnh PD và T2W. Tiền sử cắt sụn chêm một phần và khâu phục hồi. Khi nội soi khớp, không phát hiện rách.

    Sụn chêm sau phẫu thuật 1
    Trường hợp bên trái cho thấy sụn chêm có hình dạng bất thường cũng như tín hiệu bất thường chạm đến bề mặt trên ảnh PD nhưng không thấy trên ảnh T2W.
    Bệnh nhân này có tiền sử cắt sụn chêm một phần và khâu phục hồi.
    Dựa trên các phát hiện hình ảnh này, không thể xác định đây là rách hay là hình ảnh bình thường sau phẫu thuật.
    Bệnh nhân này được phẫu thuật lại để tái tạo dây chằng chéo trước (ACL).
    Phẫu thuật viên đã quan sát sụn chêm và xác nhận sụn chêm bình thường, tức là không có rách.


    LEFT: Old MR exam with tear. Patient had a suture repair. RIGHT: On new exam, there is a new tear (yellow arrow). It is not possible to tell if the old tear has healed.

    TRÁI: Phim MRI cũ có rách. Bệnh nhân đã được khâu phục hồi. PHẢI: Trên phim MRI mới, có rách mới (mũi tên vàng). Không thể xác định liệu vết rách cũ đã lành hay chưa.

    Sụn chêm sau phẫu thuật 2
    Bệnh nhân này đã được khâu phục hồi do rách sụn chêm.
    Sau đó bệnh nhân bị chấn thương mới.
    Trên phim MRI mới, không thể xác định liệu vết rách cũ đã lành hay chưa.
    Tuy nhiên, phát hiện thấy rách mới, nên trường hợp này dễ chẩn đoán.


    MR-arthrogram: In the new tear the signal is as bright as in the synovial fluid (yellow arrows). In the healed tear the signal is not as bright.

    Chụp MRI-khớp: Tại vị trí rách mới, tín hiệu sáng tương đương dịch hoạt dịch (mũi tên vàng). Tại vị trí rách đã lành, tín hiệu không sáng bằng.

    Trên ảnh chụp MRI-khớp, vị trí rách mới có cường độ tín hiệu rất cao tương đương dịch hoạt dịch, trong khi vị trí rách cũ đã lành chỉ có cường độ tín hiệu trung bình.
    Do đó, so sánh với phim cũ giúp chẩn đoán xác định rách mới, trong khi ảnh chụp khớp cho thấy vết rách cũ đã lành.


    PD and MR-arthrogram after suture repair for meniscal tear: healed tear.

    Ảnh PD và chụp MRI-khớp sau khâu phục hồi rách sụn chêm: vết rách đã lành.

    Sụn chêm sau phẫu thuật 3
    Bệnh nhân này cũng đã được khâu phục hồi do rách sụn chêm.
    Sau một chấn thương mới, ảnh PD cho thấy tín hiệu cao rõ ràng chạm đến bề mặt sụn chêm (thấy rõ trên phim gốc, nhưng không thấy rõ trên ảnh đã nén bên trái).
    Trên ảnh này, không thể xác định liệu vết rách đã lành hay chưa.
    Do đó, chụp MRI-khớp được thực hiện và cho thấy vết rách đã lành.