Blog

  • Viêm ruột thừa và các bệnh giả lập

    Viêm Ruột Thừa và các Bệnh Lý Tương Tự

    Các chẩn đoán thay thế không cần phẫu thuật trên siêu âm và CT

    Adriaan van Breda Vriesman M.D. và Julien Puylaert M.D.

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Rijnland, Leiderdorp và Trung tâm Y tế Haaglanden, The Hague, Hà Lan

    Ngày đăng

    Giới thiệu
    Trong tổng quan này, chúng tôi tập trung vào các bệnh lý không cần phẫu thuật có biểu hiện tương tự viêm ruột thừa.
    Một chẩn đoán hình ảnh chính xác giúp tránh được một cuộc phẫu thuật không cần thiết hoặc việc theo dõi nội trú tốn kém.

    Để góp ý và nhận xét thêm: j.puylaert@gmail.com

    Ruột thừa


    Viêm ruột thừa với thâm nhiễm mỡ quanh ruột thừa. Nhấp vào hình để phóng to

    Viêm ruột thừa với thâm nhiễm mỡ quanh ruột thừa. Nhấp vào hình để phóng to

    Ruột thừa bình thường

    Siêu âm và CT cho phép quan sát trực tiếp ruột thừa bình thường hoặc đang viêm.
    Ruột thừa bình thường có thể được xác định trong 67-100% bệnh nhân không bị viêm ruột thừa khi thực hiện CT [1].


    Hình 1. Tình nguyện viên khỏe mạnh 34 tuổi với ruột thừa bình thường. A và B, Siêu âm theo mặt phẳng dọc (A) và ngang (B) cho thấy ruột thừa (đầu mũi tên) có đường kính nhỏ hơn ngưỡng cắt 7 mm, được bao quanh bởi mô mỡ bình thường không viêm.

    Hình 1. Tình nguyện viên khỏe mạnh 34 tuổi với ruột thừa bình thường. A và B, Siêu âm theo mặt phẳng dọc (A) và ngang (B) cho thấy ruột thừa (đầu mũi tên) có đường kính nhỏ hơn ngưỡng cắt 7 mm, được bao quanh bởi mô mỡ bình thường không viêm.

    Trên siêu âm, ruột thừa bình thường ít được quan sát thấy hơn, với tỷ lệ dao động từ 0-82% [1], phản ánh sự phụ thuộc vào người thực hiện của phương pháp siêu âm.
    Một trong những tiêu chí hình ảnh quan trọng nhất trong đánh giá viêm ruột thừa là đường kính ngoài của ruột thừa.
    Mặc dù đã có báo cáo về sự chồng lấp đường kính ruột thừa giữa trường hợp bình thường và viêm, ngưỡng giá trị 6-7 mm được sử dụng phổ biến nhất [1]. (Hình 1).


    Hình 2. Nam giới 50 tuổi với ruột thừa bình thường. CT không tiêm thuốc tương phản từ cho thấy ruột thừa chứa khí, không giãn (đầu mũi tên) với mô mỡ quanh ruột thừa đồng nhất, không có dấu hiệu thâm nhiễm mỡ.

    Hình 2. Nam giới 50 tuổi với ruột thừa bình thường. CT không tiêm thuốc cản quang cho thấy ruột thừa chứa khí, không giãn (đầu mũi tên) với mô mỡ quanh ruột thừa đồng nhất, không có dấu hiệu thâm nhiễm mỡ.

    Ruột thừa bình thường có đường kính ngoài tối đa 6 mm, được bao quanh bởi mô mỡ đồng nhất không viêm, và thường chứa khí trong lòng [2] (Hình 2).


    Hình 3. Nữ giới 19 tuổi bị viêm ruột thừa. Siêu âm theo mặt phẳng dọc và ngang cho thấy ruột thừa phóng to (mũi tên) được bao quanh bởi mô mỡ viêm tăng âm (đầu mũi tên).

    Hình 3. Nữ giới 19 tuổi bị viêm ruột thừa. Siêu âm theo mặt phẳng dọc và ngang cho thấy ruột thừa phóng to (mũi tên) được bao quanh bởi mô mỡ viêm tăng âm (đầu mũi tên).

    Viêm ruột thừa

    Ruột thừa viêm có đường kính lớn hơn 6 mm, và thường được bao quanh bởi mô mỡ viêm tăng âm trên siêu âm (Hình 3a).
    Các dấu hiệu hỗ trợ mạnh mẽ khác cho tình trạng viêm bao gồm sự hiện diện của sỏi phân ruột thừa, dày thành manh tràng tại đỉnh


    Hình 3b. Siêu âm Doppler năng lượng cho thấy tăng sinh mạch máu của thành ruột thừa.

    Hình 3b. Siêu âm Doppler năng lượng cho thấy tăng sinh mạch máu của thành ruột thừa.

    Một dấu hiệu hỗ trợ khác cho viêm ruột thừa là tăng sinh mạch máu của thành ruột thừa trên siêu âm Doppler màu [1] (Hình 3b).


    Hình 4. Nam giới 43 tuổi bị viêm ruột thừa. CT có tiêm thuốc cản quang cho thấy ruột thừa giãn chứa dịch (mũi tên) với thâm nhiễm mỡ quanh ruột thừa.

    Hình 4. Nam giới 43 tuổi bị viêm ruột thừa. CT có tiêm thuốc cản quang cho thấy ruột thừa giãn chứa dịch (mũi tên) với thâm nhiễm mỡ quanh ruột thừa.

    Trên CT, ruột thừa viêm được bao quanh bởi dấu hiệu thâm nhiễm mỡ (Hình 4).

    Các bệnh lý đường tiêu hóa không cần phẫu thuật tương tự viêm ruột thừa


    Hình 5. Nam giới 14 tuổi bị viêm hạch mạc treo. Siêu âm hố chậu phải cho thấy một cụm hạch bạch huyết mạc treo phóng to (đầu mũi tên). Ruột thừa bình thường (không hiển thị) và không tìm thấy bất thường nào khác.

    Hình 5. Nam giới 14 tuổi bị viêm hạch mạc treo. Siêu âm hố chậu phải cho thấy một cụm hạch bạch huyết mạc treo phóng to (đầu mũi tên). Ruột thừa bình thường (không hiển thị) và không tìm thấy bất thường nào khác.

    Viêm hạch mạc treo

    Viêm hạch mạc treo được báo cáo là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây đau hố chậu phải sau viêm ruột thừa, chiếm 2-14% chẩn đoán xuất viện ở bệnh nhân có nghi ngờ lâm sàng viêm ruột thừa [3].
    Bệnh được định nghĩa là tình trạng viêm lành tính, tự giới hạn của các hạch bạch huyết mạc treo bên phải mà không có quá trình viêm nền có thể xác định được, xảy ra thường gặp hơn ở trẻ em so với người lớn.
    Siêu âm và CT cho thấy hình ảnh hạch bạch huyết tập trung thành cụm (Hình 5).


    Hình 6. Nam giới 39 tuổi bị viêm hồi manh tràng do vi khuẩn. A và B, Siêu âm cho thấy dày thành mức độ vừa của hồi tràng đoạn cuối và manh tràng, được bao quanh bởi mô mỡ bình thường không viêm. Hạch bạch huyết mạc treo phóng to mức độ vừa cũng hiện diện (không hiển thị).

    Hình 6. Nam giới 39 tuổi bị viêm hồi manh tràng do vi khuẩn. A và B, Siêu âm cho thấy dày thành mức độ vừa của hồi tràng đoạn cuối và manh tràng, được bao quanh bởi mô mỡ bình thường không viêm. Hạch bạch huyết mạc treo phóng to mức độ vừa cũng hiện diện (không hiển thị).

    Viêm hồi manh tràng do vi khuẩn

    Do hạch bạch huyết phóng to cũng thường gặp trong viêm ruột thừa, ruột thừa bình thường phải được quan sát rõ ràng trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh trước khi xác định chẩn đoán viêm hạch mạc treo. Viêm ruột kết do nhiễm trùng có thể gây ra các triệu chứng nhẹ giống viêm dạ dày ruột do virus thông thường, nhưng cũng có thể biểu hiện lâm sàng với các đặc điểm không thể phân biệt với viêm ruột thừa [4].
    Biểu hiện sau này có thể xảy ra trong viêm hồi manh tràng do vi khuẩn, gây ra bởi Yersinia, Campylobacter hoặc Salmonella. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh cho thấy dày thành hồi tràng đoạn cuối và manh tràng mà không có viêm mô mỡ xung quanh (Hình 6), và hạch bạch huyết mạc treo phóng to mức độ vừa.


    Hình 7. Nữ giới 29 tuổi bị viêm túi mỡ đại tràng. A, Siêu âm hố chậu phải cho thấy một khối mỡ viêm tăng âm (đầu mũi tên) kề cạnh đại tràng (mũi tên), tại vị trí đau tối đa. B, Trên CT không tiêm thuốc cản quang, tổn thương mỡ chứa một vòng tăng tỷ trọng đặc trưng (mũi tên) tương ứng với lớp phúc mạc tạng dày lên.

    Hình 7. Nữ giới 29 tuổi bị viêm túi mỡ đại tràng. A, Siêu âm hố chậu phải cho thấy một khối mỡ viêm tăng âm (đầu mũi tên) kề cạnh đại tràng (mũi tên), tại vị trí đau tối đa. B, Trên CT không tiêm thuốc cản quang, tổn thương mỡ chứa một vòng tăng tỷ trọng đặc trưng (mũi tên) tương ứng với lớp phúc mạc tạng dày lên.

    Viêm túi mỡ đại tràng

    Các túi mỡ đại tràng là những cấu trúc mỡ nhỏ nhô ra từ bề mặt thanh mạc của đại tràng. Một túi mỡ đại tràng có thể bị xoắn và viêm thứ phát, gây đau bụng khu trú giống viêm ruột thừa khi nằm ở hố chậu phải.
    Viêm túi mỡ đại tràng là bệnh tự giới hạn, được báo cáo ở khoảng 1% bệnh nhân có nghi ngờ lâm sàng viêm ruột thừa [5].
    Siêu âm và CT cho thấy một khối mỡ viêm kề cạnh đại tràng (Hình 7), chứa một vòng tăng tỷ trọng đặc trưng của lớp phúc mạc tạng dày lên trên CT [5].


    Hình 8. Nam giới 41 tuổi bị nhồi máu mạc nối. A, Siêu âm vùng bụng phải giữa cho thấy một vùng mỡ phúc mạc viêm rộng (đầu mũi tên). B, CT không tiêm thuốc cản quang mô tả tổn thương là một vùng mỡ mạc nối viêm dạng bánh (đầu mũi tên), lớn hơn so với viêm túi mỡ đại tràng và không có vòng tăng tỷ trọng.

    Hình 8. Nam giới 41 tuổi bị nhồi máu mạc nối. A, Siêu âm vùng bụng phải giữa cho thấy một vùng mỡ phúc mạc viêm rộng (đầu mũi tên). B, CT không tiêm thuốc cản quang mô tả tổn thương là một vùng mỡ mạc nối viêm dạng bánh (đầu mũi tên), lớn hơn so với viêm túi mỡ đại tràng và không có vòng tăng tỷ trọng.

    Nhồi máu mạc nối

    Nhồi máu mạc nối có sinh lý bệnh và biểu hiện lâm sàng tương tự viêm túi mỡ đại tràng, với mô mỡ bị nhồi máu là một đoạn mạc nối bên phải. Hình ảnh cho thấy một khối mỡ viêm dạng bánh (Hình 8), lớn hơn so với viêm túi mỡ đại tràng và không có vòng tăng tỷ trọng trên CT.


    Hình 9. Nữ giới 47 tuổi với đau hố chậu phải cấp tính. CT không tiêm thuốc cản quang cho thấy một khối mỡ viêm hình bầu dục (đầu mũi tên) với các quai ruột lân cận bình thường. Hình dạng và kích thước của tổn thương gợi ý viêm túi mỡ đại tràng, nhưng tổn thương không chứa vòng tăng tỷ trọng. Trong trường hợp này, khó phân biệt giữa viêm túi mỡ đại tràng hay nhồi máu mạc nối nhỏ.

    Hình 9. Nữ giới 47 tuổi với đau hố chậu phải cấp tính. CT không tiêm thuốc cản quang cho thấy một khối mỡ viêm hình bầu dục (đầu mũi tên) với các quai ruột lân cận bình thường. Hình dạng và kích thước của tổn thương gợi ý viêm túi mỡ đại tràng, nhưng tổn thương không chứa vòng tăng tỷ trọng. Trong trường hợp này, khó phân biệt giữa viêm túi mỡ đại tràng hay nhồi máu mạc nối nhỏ.

    Trong một số trường hợp, có thể khó phân biệt viêm túi mỡ đại tràng với nh

  • Siêu âm vai

    Shoulder Ultrasound

    Mohamed Salah Ayyad¹, Alrawy Ali Mohammad¹, Khaled Taha¹ và Robin Smithuis²

    ¹Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Y – Đại học Mansoura, Ai Cập và ²Bệnh viện Alrijne tại Leiden, Hà Lan

    Publicationdate

    Bài viết này hiện đang được chuẩn bị. Sau khi hoàn thiện, chúng tôi sẽ thông báo trên trang chủ.

    Bài viết này đóng vai trò là phần giới thiệu về siêu âm vai. Siêu âm là một kỹ thuật hình ảnh không xâm lấn, dễ tiếp cận, cho phép đánh giá toàn diện vùng vai, bao gồm cả đánh giá động ở bệnh nhân bị hội chứng chèn ép.

    Chúng tôi sẽ xem xét giải phẫu siêu âm của khớp vai, trình bày quy trình thăm khám—bao gồm tư thế bệnh nhân phù hợp—và thảo luận về các bệnh lý thường gặp trong siêu âm khớp vai.

    Anatomy

    Glenohumeral Joint Stabilization

    Một yếu tố ổn định quan trọng của khớp ổ chảo – cánh tay là vòng bít chóp xoay, được cấu thành bởi gân cơ dưới vai ở phía trước, gân cơ trên gai ở phía trên, và gân cơ dưới gai cùng gân cơ tròn bé ở phía sau.
    Trong số các gân phía sau này, chỉ có gân cơ dưới gai là có thể nhìn thấy một phần trong hình minh họa này.

    The normal anatomy is also discussed here.

    Rotator cuff interval

    Khoảng gian gân chóp xoay là một khoảng trống riêng biệt trong chóp xoay, nằm giữa bờ trên của gân dưới vai và bờ trước của gân trên gai.

    Trong khoảng này, chỏm xương cánh tay không được che phủ bởi chóp xoay mà thay vào đó được che phủ bởi phần trong khớp của gân đầu dài cơ nhị đầu, được giữ vững bởi dây chằng quạ-cánh tay.

    Khi đánh giá rách gân cơ trên gai, điều quan trọng là phải kiểm tra vị trí bám của gân vào mấu động lớn, đặc biệt dọc theo bờ sau của khoang gân cơ chóp xoay.
    Vùng trước này của gân cơ trên gai là vị trí thường gặp của rách gân bán phần, được gọi là “rách bờ viền.”

    Gân cơ nhị đầu được giữ ổn định bởi phức hợp bao khớp-dây chằng, được gọi là ròng rọc cơ nhị đầu, bao gồm dây chằng ổ chảo-cánh tay trên, dây chằng quạ-cánh tay và điểm bám tận phía xa của gân cơ dưới vai.

    Hình ảnh mặt sau của vai làm nổi bật các cơ trên gai, cơ dưới gai và cơ tròn bé cùng các gân liên quan của chúng.

    Spinoglenoid notch

    Khuyết gai-ổ chảo là vùng giải phẫu nằm giữa nền bên của gai xương bả vai và mỏm ổ chảo.
    Nó đóng vai trò là cầu nối giữa hố trên gai và hố dưới gai, đồng thời cho phép thần kinh và động mạch trên vai đi qua.
    Các nang hạch có thể hình thành ở vùng này, có khả năng chèn ép thần kinh trên vai và dẫn đến đau vai cùng teo cơ dưới gai.
    Các nang này thường là thứ phát do rách sụn viền ổ chảo vùng sau trên.

    Standard Ultrasound Examination

    Siêu âm khớp vai
    Đầu dò tuyến tính độ phân giải cao (≥10 MHz) thường được sử dụng để siêu âm khớp vai. Đôi khi, đầu dò cong (3,5 MHz) được sử dụng để cung cấp góc nhìn rộng hơn về khớp ổ chảo – cánh tay.

    Việc kiểm tra thường bắt đầu với gân đầu dài của cơ nhị đầu (LHB), đánh giá tình trạng tràn dịch, rách hoặc trật khớp.
    Teo mỡ cũng có thể được quan sát thấy, xuất hiện trong bụng cơ hoặc tại chỗ nối cơ-gân.
    Tiếp theo, các gân của cơ dưới vai, cơ trên gai và cơ dưới gai được đánh giá, đặc biệt chú ý đến việc xác định các vết rách.
    Việc kiểm tra có thể được mở rộng để bao gồm khớp cùng vai-đòn (AC), khuyết gai-ổ chảo, sụn viền sau và khớp ổ chảo-cánh tay.
    Nên sử dụng danh sách kiểm tra (xem Bảng) để đảm bảo tất cả các cấu trúc đã được kiểm tra kỹ lưỡng.

    Long head of the biceps tendon

    Gân LHB được quan sát rõ nhất bằng cách đặt đầu dò lên bụng cơ nhị đầu cánh tay ở vùng cánh tay trên và di chuyển về phía gần đến chỗ nối cơ-gân và gân.
    Cẳng tay bệnh nhân nên được ngửa và xoay trong nhẹ về phía gối đối bên.

    Ở tư thế này, gân cơ nhị đầu dài (LHB) xuất hiện như một cấu trúc tròn với cấu trúc âm dạng sợi (mũi tên đen) nằm trong rãnh gian củ (đầu mũi tên trắng).

    Video kiểm tra đầu dài của cơ nhị đầu trên mặt phẳng ngang.

    Click in the left upper corner for a full screen view.


    Anisotropy of the LHB

    Anisotropy of the LHB

    Tính dị hướng
    Tính dị hướng là một artefact xảy ra khi chùm tia siêu âm không vuông góc với gân cơ nhị đầu dài (LHB). Sự lệch trục này dẫn đến giảm phản xạ sóng âm, gây mất độ phân giải và làm cho cấu trúc có hình ảnh tối, giảm âm (mũi tên đen). Trong một số trường hợp, điều này có thể tạo ra ấn tượng rằng gân LHB bị trật ra khỏi rãnh liên củ.

    Để khắc phục hiện tượng dị hướng, hãy điều chỉnh lại vị trí đầu dò sao cho chùm siêu âm vuông góc với gân. Khi đó, gân cơ nhị đầu dài (LHB) sẽ lấy lại hình ảnh đặc trưng tăng âm, dạng sợi (mũi tên trắng).
    Cần lưu ý rằng hiện tượng dị hướng cũng có thể ảnh hưởng đến các cấu trúc khác, chẳng hạn như gân cơ dưới vai trong hình ảnh này, tương tự cũng xuất hiện giảm âm do hiện tượng nhiễu ảnh này.

    Rotator cuff interval

    Khi bệnh nhân di chuyển khuỷu tay ra sau một chút trong khi duy trì tư thế ngửa cẳng tay, phần trong khớp của gân cơ nhị đầu nằm trong khoảng gian cơ chóp xoay sẽ được hiển thị rõ ràng hơn. Tư thế này được gọi là tư thế Jugger (xem hình).

    Hình ảnh
    Mặt cắt ngang vùng khoang gân cơ chóp xoay.
    Gân cơ nhị đầu dài (mũi tên) nằm giữa gân cơ dưới vai ở phía trước và gân cơ trên gai ở phía sau.
    Gân cơ nhị đầu dài được che phủ bởi dây chằng quạ-cánh tay (đầu mũi tên).

    Subscapular tendon

    Cánh tay được đặt dọc theo thân mình, với khuỷu tay gấp góc 90º giữa cánh tay và cẳng tay.
    Cẳng tay được đặt ở tư thế ngửa và xoay ngoài.
    Đầu dò siêu âm được đặt ở phía trong để quan sát gân cơ dưới vai (SSC) khi nó đi qua bên dưới mỏm quạ.

    Video về chuyển động bình thường của cơ dưới vai
    Trong quá trình xoay trong và xoay ngoài của cẳng tay, toàn bộ gân phải được quan sát thấy trượt dưới mỏm quạ (xem video).
    Hiện tượng chèn ép được ghi nhận khi gân di chuyển không hoàn toàn hoặc bị chậm trễ (xem chương về chèn ép).

    Double click on the video for a full screen view.

    Supraspinatus tendon

    Vị trí tối ưu để khảo sát gân cơ trên gai là tư thế Crass cải tiến. Ở tư thế này, bệnh nhân được hướng dẫn đặt tay lên hông cùng bên hoặc hướng về túi quần phía sau (xem hình).

    Một lựa chọn thay thế là tư thế Crass, trong đó bệnh nhân đặt cánh tay ở tư thế xoay trong ra sau lưng.

    Infraspinatus tendon

    Việc kiểm tra gân cơ dưới gai có thể gặp nhiều khó khăn do khó phân biệt với gân cơ trên gai. Tư thế tối ưu để quan sát gân cơ dưới gai là yêu cầu bệnh nhân đặt tay lên vai đối bên.

    Đặt đầu dò ở cùng hướng như khi khám gân cơ trên gai. Khi đã quan sát được cơ trên gai, di chuyển đầu dò dần xuống dưới. Một khoảng hở nhỏ sẽ hiện ra, tiếp theo là hình ảnh nhỏ hơn, rõ nét của gân cơ dưới gai.

    Video of the infraspinatus tendon.

    Double click on the video for a full screen view.

    Acromioclavicular joint

    Khớp cùng vai đòn có thể dễ dàng xác định bằng cách sờ nắn phần lồi xương và sau đó đặt đầu dò lên trên đó.
    Khớp cùng vai đòn bình thường có đường viền nhẵn của các bề mặt khớp xương.

    Spinoglenoid notch

    Xác định gai xương bả vai như một mốc xương tăng âm.
    Di chuyển đầu dò sang bên cho đến khi xác định được khuyết gai-ổ chảo, nằm giữa gai xương bả vai phía ngoài và mỏm ổ chảo.

    Thần kinh trên vai xuất hiện dưới dạng cấu trúc hình ống giảm âm với hình thái bó sợi (mũi tên).
    Doppler năng lượng có thể hữu ích để theo dõi các mạch máu trên vai nhằm xác định vị trí thần kinh.

    Kiểm tra các nang hạch, có thể xuất hiện dưới dạng các cấu trúc giảm âm, chứa dịch, chèn ép thần kinh trên vai.
    Các nang này thường liên quan đến rách sụn viền ổ chảo mặt sau trên.

    Posterior labrum and glenohumeral joint

    Sụn viền sau có thể được khảo sát bằng cách đặt đầu dò
    tại mặt sau của khớp ổ chảo – cánh tay.
    Sụn viền được thấy như một cấu trúc tăng âm hình tam giác, có độ tăng âm cao hơn
    sụn khớp lân cận (mũi tên).

    Pathology

    Biceps tendinopathy

    Hình ảnh
    Hai ví dụ về gân đầu dài cơ nhị đầu bị dày lên.
    Lưu ý hình ảnh echo không đều đặn, đặc biệt ở hình bên phải.
    Có tăng sinh mạch máu và một ít dịch xung quanh (mũi tên).

    Rách đầu dài cơ nhị đầu (LHB)
    Vị trí tổn thương thường gặp nhất của LHB là tại chỗ nối cơ-gân và phần gân liền kề.
    Rách LHB có thể được xác định dễ dàng trên siêu âm dưới dạng dịch không hồi âm làm gián đoạn sự liên tục của các thớ cơ.
    Độ hồi âm của dịch thay đổi tùy thuộc vào tính chất mạn tính của tổn thương:

    • Acute tears typically appear as anechoic fluid.
    • Rách mạn tính có thể biểu hiện mảnh vụn tăng âm hoặc các tiếng vang phản xạ trong dịch.

    Hình ảnh
    Các ví dụ kèm theo minh họa các vết rách tại điểm nối cơ-gân của đầu dài cơ nhị đầu (LHB). Các vết rách có hình ảnh hoàn toàn vô âm, phù hợp với tổn thương cấp tính.

    Biceps tendon dislocation

    Gân đầu dài cơ nhị đầu (LHB) thường nằm ở trung tâm trong rãnh gian củ. Vị trí bất thường, lệch tâm hoặc di lệch của gân có thể cho thấy sự lỏng lẻo hoặc đứt của ròng rọc cơ nhị đầu.

    Kết quả hình ảnh
    Chụp cộng hưởng từ khớp với hình ảnh trục T1 có ức chế mỡ: Gân cơ nhị đầu bị di lệch về phía trong gân cơ dưới vai, như được chỉ ra bởi mũi tên.

    Continue with ultrasound images…

    Images

    1. Vị trí lệch tâm của đầu dài gân cơ nhị đầu do lỏng lẻo của ròng rọc cơ nhị đầu.
    2. Trật khớp gân cơ nhị đầu. Lưu ý rãnh nhị đầu trống (dấu hoa thị)

    Rotator cuff tears

    Rách một phần chiều dày
    Rách một phần chiều dày chỉ liên quan đến một phần của gân và không liên quan đến toàn bộ chiều dày.
    Tổn thương có thể nằm ở phía khớp hoặc phía túi hoạt dịch (hình).
    Rách trong chất gân cũng là một dạng rách một phần chiều dày.

    Rách toàn bộ chiều dày
    Rách toàn bộ chiều dày có thể là rách hoàn toàn hoặc chỉ liên quan đến một phần của gân.
    Đây được gọi là rách không hoàn toàn toàn bộ chiều dày và giống như một lỗ hổng trên gân (hình).

    Full thickness tears

    Hình ảnh này cho thấy rách hoàn toàn toàn bộ chiều dày gân cơ trên gai.
    Có một ổ dịch giảm âm nhỏ.
    Cả hai đầu gân đều tù và co rút (đầu mũi tên).

    Đây là một ví dụ khác về rách toàn bộ chiều dày gân cơ trên gai.
    Khoảng trống được lấp đầy bởi một ít dịch từ khớp ổ chảo-cánh tay (mũi tên)

    Partial thickness tears

    Here two examples of a partial tear on the articular side.

    Intrasubstance tears

    Rách nội chất là các vết rách một phần chiều dày không lan đến bề mặt khớp hoặc bề mặt túi hoạt dịch của gân.

    Hình ảnh
    Các hình ảnh minh họa hai ví dụ về rách nội chất nhỏ.


    Image during exoratation (left) and endorotation (right)

    Image during exoratation (left) and endorotation (right)

    Impingement

    Trong quá trình xoay trong, gân dưới vai bình thường sẽ gần như đi hoàn toàn bên dưới mỏm quạ.
    Hội chứng chèn ép được nghi ngờ khi một phần gân vẫn còn nhìn thấy được trong quá trình xoay trong tối đa.

    Hình ảnh
    Trong quá trình xoay trong, có sự đi qua không hoàn toàn dưới mỏm quạ và sự gấp khúc của gân dưới vai.

    Video of subscapular impingement.

    Nhấp đúp vào video để xem toàn màn hình.
    Lưu ý phạm vi chuyển động hạn chế.

    Video này ghi lại hình ảnh của một bệnh nhân nữ 58 tuổi đang bị đau dữ dội và hạn chế vận động ở vai.
    Ở tư thế xoay ngoài tối đa, một túi hoạt dịch dưới mỏm quạ lớn phồng lên trên gân dưới vai.

    Nhấp đúp vào video để xem toàn màn hình.
    Lưu ý phạm vi chuyển động hạn chế.

    Tendinopathy

    Thuật ngữ bệnh lý gân (tendinopathy) được sử dụng thay vì viêm gân (tendinitis) vì không có tình trạng viêm hoạt động, mà thay vào đó là một quá trình thoái hóa với sự thoái hóa nhầy (mucoid degeneration).
    Gân thường dày lên và có thể xuất hiện các vùng giảm âm dạng sọc (hypoechoic striated areas).

    Hình ảnh
    Gân trên gai dày lên với cấu trúc echo không đồng nhất.

    Viêm gân vôi hóa
    Viêm gân vôi hóa xảy ra khi các cặn canxi tích tụ bên trong gân. Mặc dù tình trạng này có thể ảnh hưởng đến các gân trên khắp cơ thể, nhưng thường gặp nhất là ở các gân chóp xoay của vai. Các cặn canxi này có thể bị viêm, dẫn đến đau.

    Imaging Findings:

    • Dày đáng kể gân trên gai với các vôi hóa lớn tạo ra bóng âm phía sau rộng.
    • Quan sát thấy một vôi hóa nhỏ trong gân cơ trên gai.

    Bursitis

    Khoang thanh mạc bình thường bị xẹp và
    hầu như không thể phân biệt được bằng siêu âm (mũi tên).

    Viêm túi thanh dịch cấp tính biểu hiện trên siêu âm là
    sự giãn nở của túi thanh dịch (mũi tên vàng).
    Viêm túi thanh dịch mạn tính có thể
    thấy thành dày (mũi tên trắng).

    AC pathology

    Thoái hóa khớp
    Chẩn đoán thoái hóa khớp cùng vai đòn có triệu chứng có thể gặp nhiều khó khăn, do các hình ảnh thoái hóa khớp trên X-quang và siêu âm thường gặp ở người trưởng thành và có mối tương quan kém với các triệu chứng lâm sàng.

    Hình ảnh
    Thoái hóa khớp cùng đòn với bất thường vỏ xương và phồng bao khớp.

    Viêm khớp cùng đòn
    Hình ảnh này của một nam vận động viên 19 tuổi bị chấn thương trong một trận đấu vật.
    Không có dấu hiệu viêm khớp nhiễm khuẩn và anh được chẩn đoán viêm khớp sau chấn thương.
    Tình trạng của anh cải thiện với thuốc kháng viêm và nghỉ ngơi.

  • Các ca lâm sàng bàn chân và cổ chân

    Các ca lâm sàng về Bàn chân và Cổ chân

    Willemijn Huijgen, Loes Huygen và Robin Smithuis

    Bệnh viện Haga tại The Hague, OLVG tại Amsterdam và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp

    Ngày đăng

    Những ca lâm sàng không thể bỏ qua…

    Ca 1 – Chấn thương bàn chân

    Bệnh nhân 33 tuổi bị chấn thương bàn chân và sưng nề vùng giữa bàn chân.
    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì và có ý nghĩa như thế nào?

    Xem phần thảo luận…

    Ca 2 – Đau mạn tính

    Bé gái 17 tuổi bị đau mạn tính vùng cổ chân và bàn chân.
    Bệnh nhân có tiền sử bong gân cổ chân tái phát nhiều lần.

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì?
    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Xem phần thảo luận...

    Ca 3 – Chấn thương bàn chân

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì và có ý nghĩa như thế nào?
    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Xem phần thảo luận…

    Ca 4 – Chấn thương bàn chân

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì và có ý nghĩa như thế nào?
    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Xem phần thảo luận…

    Ca 5 – Đau mạn tính

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì và có ý nghĩa như thế nào?
    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Xem phần thảo luận…

    Cổ chân

    Ca 1 – Chấn thương cổ chân

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì và có ý nghĩa như thế nào?
    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Xem phần thảo luận…

    Ca 2 – Chấn thương cổ chân

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì và có ý nghĩa như thế nào?

    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Xem phần thảo luận…

    Ca 3 – Chấn thương cổ chân

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì?

    Phân độ tổn thương trong trường hợp này là gì?

    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Xem phần thảo luận…

    Ca 4 – Chấn thương cổ chân

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì?

    Phân độ tổn thương trong trường hợp này là gì?

    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Xem phần thảo luận…

    Ca 5 – Chấn thương cổ chân

    Hình ảnh cho thấy những dấu hiệu gì và có ý nghĩa như thế nào?
    Nhấp vào hình ảnh để xem phóng to.

    Xem phần thảo luận…

  • Dính khớp sọ sớm

    Dính Khớp Sọ Sớm

    Josephine Bomer-Skogstad, Marjolein Dremmen, Irene Mathijssen và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Đại học Akershus tại Lørenskog, Na Uy; Khoa Chẩn đoán Hình ảnh và Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Trung tâm Y tế Erasmus tại Rotterdam; và Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Trong bài tổng quan này, chúng tôi sẽ thảo luận về chẩn đoán hình ảnh trong bệnh dính khớp sọ sớm.
    Dính khớp sọ sớm (craniosynostosis) là tình trạng đóng sớm các đường khớp của hộp sọ, dẫn đến hình dạng đầu bất thường.
    Đây là một rối loạn hiếm gặp với tỷ lệ lưu hành khoảng 1/1500.
    Hầu hết các trường hợp đã xuất hiện từ giai đoạn trước sinh và sẽ được chẩn đoán trong vài tháng đầu đời.
    Bệnh cũng có thể được chẩn đoán trong tử cung, tuy nhiên chẩn đoán hình ảnh trước sinh nằm ngoài phạm vi của bài viết này.

    Giới thiệu

    Hộp sọ bình thường

    Trong vài năm đầu đời, não bộ phát triển nhanh chóng và hộp sọ cũng tăng trưởng theo.
    Quá trình này đòi hỏi các đường khớp phải còn mở để cho phép sự tăng trưởng theo kiểu cốt hóa nội sụn.
    Ở độ tuổi 1 năm, khoảng 65% sự tăng trưởng của hộp sọ đã hoàn thành; tốc độ tăng trưởng sau đó chậm dần và đạt khoảng 90% ở độ tuổi 5.

    Hầu hết các trường hợp dính khớp sọ sớm là hậu quả của một khiếm khuyết nội tại tại đường khớp.
    Dính khớp sọ sớm có thể là một phần của hội chứng bệnh lý; trong những trường hợp đó, tình trạng dính khớp thường liên quan đến nhiều đường khớp và có thể kèm theo các dị tật khác (tim mạch, thận và xương khớp).

    Đánh giá lâm sàng

    Trong vài thập kỷ qua, số lượng trẻ em đến khám vì hình dạng đầu bất thường ngày càng gia tăng, hiện được ghi nhận lên đến 1/5 trường hợp. Phần lớn các trường hợp là tật đầu lệch do tư thế (positional plagiocephaly) chứ không phải dính khớp sọ sớm thực sự. Tình trạng này thường liên quan đến khuyến cáo cho trẻ nằm ngửa khi ngủ nhằm phòng ngừa hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh.

    Một bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm thường có thể nhận biết biểu hiện điển hình của tật đầu lệch do tư thế và phân biệt với chẩn đoán phân biệt chính là hẹp đường khớp lambda một bên (xem bên dưới).
    Cha mẹ trẻ có thể được trấn an vì tình trạng này có khả năng tự giới hạn và thường hồi phục được với các hướng dẫn phù hợp.

    Trong trường hợp có nghi ngờ lâm sàng cao về dính khớp sọ sớm, nên cân nhắc chuyển tuyến kịp thời đến trung tâm chuyên khoa trước khi tiến hành chẩn đoán hình ảnh (hình minh họa).

    Tổng quan về dính khớp sọ

    Dính một khớp và dính hai khớp vành

    Trong dính khớp sọ, dị dạng hộp sọ đã hiện diện ngay từ khi sinh và sẽ tiến triển theo thời gian.
    Chẩn đoán kịp thời là rất quan trọng, vì điều trị sớm hơn sẽ mang lại kết quả tốt hơn.

    Trong dính một khớp và dính hai khớp vành, có thể dự đoán được hình dạng đầu đặc trưng tùy thuộc vào khớp sọ bị ảnh hưởng.
    Điều này được minh họa trong hình vẽ.

    Trong trường hợp tổn thương nhiều khớp, các thay đổi phức tạp hơn và không thể dự đoán dễ dàng.

    Đầu lệch (Plagiocephaly)

    Trong chứng đầu lệch (plagiocephaly), còn được gọi là hội chứng đầu phẳng, có hiện tượng dẹt không đối xứng ở một bên hộp sọ.
    Một thể nhẹ và phổ biến của chứng đầu lệch là do trẻ nằm ngửa trong thời gian dài, như đã đề cập ở trên.
    Thể này được gọi là đầu lệch do biến dạng tư thế. Không có dính khớp và tất cả các khớp sọ đều còn mở.

    Thể đầu lệch do dính khớp có thể xảy ra ở phía trước do dính một khớp vành đơn độc, hoặc ở phía sau do dính khớp lambda một bên.

    Chẩn đoán hình ảnh

    Khi nghi ngờ có dính khớp sọ sớm, phương tiện chẩn đoán hình ảnh đầu tay sẽ là siêu âm hoặc X-quang, tùy thuộc vào kinh nghiệm và sở thích của từng cơ sở y tế.

    Do không có bức xạ ion hóa, siêu âm là phương pháp được ưu tiên lựa chọn.
    Trong trường hợp nghi ngờ lâm sàng cao, CT 3D liều thấp được ưu tiên hơn.

    Hình ảnh minh họa siêu âm của một đường khớp bình thường, hẹp đường khớp vành một bên và hẹp đường khớp dọc giữa kèm gờ xương.

    X-quang sọ cho thấy các đường khớp còn mở.

    Cần lưu ý rằng X-quang có giá trị hạn chế trong việc đánh giá đường khớp dọc giữa, và tình trạng đóng khớp một phần của đường khớp này có thể bị bỏ sót.

    CT 3D

    Hình ảnh cho thấy các đường khớp còn mở ở một trẻ có đường khớp trán đã đóng về mặt sinh lý (mũi tên).


    Images courtesy of Dr K.A. Eley and Dr C. Delso

    Hình ảnh được cung cấp bởi Bác sĩ K.A. Eley và Bác sĩ C. Delso

    MRI

    Cũng có thể đánh giá các đường khớp sọ bằng MRI xương đen (black bone MRI), tuy nhiên do MRI thường đòi hỏi phải gây mê, phương pháp này chủ yếu được thực hiện kết hợp khi có chỉ định đánh giá các bất thường nội sọ và các biến chứng liên quan.

    Hình ảnh
    MRI xương đen cho thấy đường khớp dọc giữa đã đóng (trên) và đường khớp trán đã đóng (dưới) ở hai bệnh nhân khác nhau.

    Tật đầu lệch do tư thế

    Tật đầu lệch do tư thế hay do biến dạng (positional/deformational plagiocephaly) là tình trạng dẹt đầu do tư thế nằm ưa thích của trẻ.
    Đây không phải là tình trạng dính khớp sọ, mà là dạng biến dạng hộp sọ tạm thời phổ biến nhất.

    Điển hình là toàn bộ một bên được đẩy ra phía trước, do đó tai sẽ thấy ở vị trí trước hơn so với bên đối diện (mũi tên).

    Điều này trái ngược với tật đầu lệch phía sau do hẹp khớp lambda một bên, trong đó xương chũm và tai bị kéo xuống dưới và ra phía sau.

    Hình vẽ minh họa sự khác biệt giữa hai tình trạng này.

    Trong tật đầu lệch do tư thế, hình dạng đầu giống một hình bình hành.

    Trong hẹp khớp lambda một bên, hình dạng đầu giống một hình thang, do một bên hộp sọ bị hạn chế tăng trưởng.

    Đây là hình minh họa tương tự với đầy đủ các điểm khác biệt giữa tật đầu lệch do biến dạng và tật đầu lệch do hẹp khớp lambda.

    LƯU Ý: Hẹp khớp vành một bên cũng sẽ dẫn đến tai bị đẩy ra phía trước – tuy nhiên, vùng dẹt sẽ ở phía trán (tật đầu lệch trước) thay vì phía chẩm, và điển hình là mắt bị kéo lên trên ở bên bị ảnh hưởng.

    Hình ảnh

    Tật đầu lệch do tư thế. Tai trái bị đẩy ra phía trước.
    Lưu ý: Đánh giá lâm sàng đầy đủ và/hoặc siêu âm nên được thực hiện trước để tránh sự cần thiết phải chụp CT.

    Dính khớp sọ đơn đường khâu

    Đầu hình thuyền (Scaphocephaly)

    Scaphocephaly có nghĩa là hộp sọ có hình dạng ‘con thuyền’, là hậu quả của việc đóng sớm đường khâu dọc (mũi tên).
    Hộp sọ hẹp và dài.

    Đây là dạng dính khớp sọ đơn đường khâu phổ biến nhất.
    Đôi khi còn được gọi là dolichocephaly, vì ‘dolicho’ có nghĩa là dài.

    Hình ảnh
    Đầu hình thuyền: Đầu có đường kính bên-bên ngắn và đường kính trước-sau dài.

    Đầu hình tam giác (Trigonocephaly)

    Trigonocephaly đề cập đến hình dạng đầu hình tam giác do đóng sớm đường khâu trán (các mũi tên).

    Quá trình đóng sinh lý có thể bắt đầu sớm từ ba tháng tuổi, do đó đóng sớm thường biểu hiện từ rất sớm.
    Thể tích vùng đầu trán nhỏ với trán nhọn và hội chứng mắt gần nhau (hypotelorism).

    Chỉ những trường hợp nặng mới cần phẫu thuật và nếu về mặt lâm sàng không có chỉ định phẫu thuật thì không cần chụp CT.

    Hình ảnh
    Đầu hình tam giác: Trán nhọn và hội chứng mắt gần nhau. Nhìn từ trên xuống có thể thấy bờ ngoài hốc mắt.

    Đầu ngắn (Brachycephaly)

    Brachycephaly là hậu quả của việc đóng sớm cả hai đường khâu vành.
    Nền sọ vùng trán nhỏ với hốc mắt nông, bờ trên hốc mắt bị kéo lùi ra sau và đầu bị rút ngắn (‘brachy’) theo chiều trước-sau.

    Hình ảnh
    Dính khớp đường khâu vành hai bên kèm đầu ngắn.

    Đầu lệch trước do dính khớp (Synostotic Anterior plagiocephaly)

    Một trong hai đường khâu vành đã đóng sớm.
    Vùng trán bị dẹt ở phía bên bị ảnh hưởng, hốc mắt bị kéo lên trên, còn được gọi là mắt hề (harlequin’s eye), và mũi có thể bị lệch.

    Hình ảnh
    Dính khớp đường khâu vành bên trái. Vùng trán trái bị kéo lùi ra sau với hốc mắt bị nâng lên.

    Đầu lệch sau do dính khớp (Synostotic posterior plagiocephaly)

    Trong trường hợp này, đường khâu lambda đã đóng sớm.
    Đây là chẩn đoán phân biệt chính với đầu lệch do tư thế (xem phần trên).

    Có nguy cơ dị dạng Chiari loại 1 và nên chụp MRI não cùng khớp nối sọ-cổ.

    Hình ảnh
    Dính khớp đường khâu lambda bên phải.
    Phình lồi vùng chẩm-đỉnh đối bên rõ ràng.

    Dính khớp sọ nhiều đường khớp

    Dính khớp sọ nhiều đường khớp là các dị dạng phức tạp.
    Chúng thường liên quan đến các hội chứng và có nhiều đột biến gen đã được xác định.

    Các hội chứng dính khớp sọ được biết đến nhiều nhất là Pfeiffer/Crouzon, Apert, Saethre-Chotzen và Muenke.
    Trong những trường hợp nặng nhất, tất cả các đường khớp sẽ dần dần đóng lại.
    Tình trạng ‘dính toàn bộ khớp sọ’ như vậy là một bệnh cảnh rất nghiêm trọng.

    Hình ảnh
    Hội chứng Saethre-Chotzen. Ở trẻ hai tháng tuổi, có hình ảnh dính khớp vành hai bên với hình dạng hộp sọ biến dạng nặng nề. Thóp được mở rộng đáng kể.

    Cùng bệnh nhân như trên.

    Ở ba tuổi, có hình ảnh đầu nhỏ do tình trạng gần như dính toàn bộ khớp sọ.
    Lưu ý hình ảnh lỗ đỉnh hai bên giãn rộng.

    Trẻ ba tháng tuổi mắc hội chứng Pfeiffer.

    Có hình ảnh dính khớp vành hai bên với thóp trước và thóp chũm giãn rộng.
    Sự phồng ra ở vùng thái dương tạo nên hình ảnh ba thùy, còn được gọi là ‘dị dạng đầu lá cỏ ba lá’.

    Lưu ý hình ảnh giãn não thất kèm phù quanh não thất.

    Biến chứng nội sọ


    Raised intracranial pressure

    Tăng áp lực nội sọ

    MRI đóng vai trò chủ đạo trong việc phát hiện các dị tật nội sọ kèm theo và các biến chứng từ dính khớp sọ đa đường khâu.

    Hình ảnh
    Tăng áp lực nội sọ.
    TRÁI: Các vết ấn lõm trên phim X-quang sọ có độ nhạy thấp, đặc biệt ở trẻ nhỏ, nhưng khi xuất hiện, chúng rất gợi ý tình trạng tăng áp lực nội sọ.
    PHẢI: Não úng thủy với dòng chảy tâm trương đảo ngược, biểu hiện của tăng áp lực nội sọ.

    Các dấu hiệu có thể gợi ý tăng áp lực nội sọ được liệt kê trong bảng bên trái.

    Mỗi dấu hiệu đơn lẻ không đặc hiệu, nhưng sự kết hợp của nhiều dấu hiệu cần làm tăng mức độ nghi ngờ.
    Tăng áp lực nội sọ có thể dẫn đến hình thành các tuần hoàn bàng hệ tĩnh mạch, điều này có thể có ý nghĩa quan trọng trong lập kế hoạch phẫu thuật trước mổ.
    Dị tật Chiari có thể gây rỗng tủy sống.

    Các hình ảnh thuộc về một bệnh nhân có tăng áp lực nội sọ.

    Có hình ảnh thoát vị hạnh nhân tiểu não với tình trạng chèn ép nặng tại vùng nối sọ-cổ.
    Hậu quả là hình thành ổ rỗng tủy trải dài toàn bộ chiều dài của tủy sống.

    Biến chứng sau phẫu thuật

    Phẫu thuật cần được thực hiện kịp thời để đạt được kết quả tối ưu.

    Thời điểm phẫu thuật phụ thuộc vào dạng dị tật, nhưng thông thường ưu tiên thực hiện trước 6 tháng tuổi. Các biến chứng sau phẫu thuật bao gồm mất máu, nhiễm trùng, phù não và rò dịch não tủy.

    Hình ảnh
    Biến chứng trực tiếp:
    TRÁI: Tràn dịch/tụ máu lớn do lò xo di chuyển.
    PHẢI: Tụ máu dưới da đầu kèm mất máu nghiêm trọng.

    Hình ảnh
    Chảy dịch não tủy do rò dịch não tủy từ thoát vị nền trán vào hốc mũi trên sau phẫu thuật tầng giữa mặt ở bệnh nhân mắc hội chứng Apert.

    Những điểm dễ nhầm lẫn


    Metopic ridge

    Gờ đường khớp trán (Metopic ridge)

    Gờ đường khớp trán (Metopic ridge)

    Gờ đường khớp trán đơn thuần không đồng nghĩa với
    tật đầu hình tam giác (trigonocephaly).
    Trẻ thường đến khám muộn hơn, xương sọ vùng trán có thể tích bình thường và không có hiện tượng hẹp khoảng cách hai mắt (hypotelorism).

    Đây là một dị dạng thường gặp có thể được chẩn đoán trên lâm sàng và không cần chẩn đoán hình ảnh.
    Tương tự như tật đầu hình tam giác mức độ nhẹ, trường hợp này không cần can thiệp phẫu thuật.

    Hình ảnh
    Gờ đường khớp trán nhẹ ở trẻ chín tháng tuổi (mũi tên). Lưu ý rằng lần chụp này được thực hiện vì một mục đích khác.
    Gờ đường khớp trán có thể được chẩn đoán trên lâm sàng và không nên chỉ định chẩn đoán hình ảnh.
    Thóp trước đã đóng nhưng ngoài đường khớp trán, các đường khớp còn lại vẫn còn mở.

    Thóp trước không có

    Thóp trước không có không nhất thiết phải là nguyên nhân gây lo ngại.
    Miễn là hộp sọ có hình dạng và chu vi bình thường, các đường khớp còn thông – tình trạng này không có ý nghĩa lâm sàng.

    Hình ảnh
    Xương Worm kích thước lớn chiếm toàn bộ vị trí thóp trước (xương bregma) ở trẻ sáu tháng tuổi.
    Hộp sọ có hình dạng bình thường và các đường khớp còn mở. Đường khớp trán đã liền theo sinh lý.

  • BI-RADS cho X-quang tuyến vú và Siêu âm 2013

    BI-RADS cho Chụp X-quang Tuyến vú và Siêu âm 2013

    Phiên bản cập nhật

    Harmien Zonderland và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Bài viết này cung cấp tóm tắt về Atlas BI-RADS® Phiên bản 5 (2013) dành cho chụp X-quang tuyến vú và siêu âm tuyến vú.
    Đây là phiên bản cập nhật của bài viết năm 2005.
    Từ năm 2000, việc áp dụng BI-RADS đã trở thành bắt buộc tại Hà Lan, được quy định trong Hướng dẫn Ung thư Vú cập nhật (2012) (6).
    Việc triển khai BI-RADS là một phần không thể tách rời của chương trình đảm bảo chất lượng quốc gia trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú.
    Chúng tôi khuyến khích tất cả các chuyên gia liên quan đến chẩn đoán hình ảnh tuyến vú tham khảo Atlas BI-RADS có minh họa, Phiên bản 5 (2013) để hiểu toàn diện và áp dụng đúng hệ thống này.

    Giới thiệu

    ACR BI-RADS Atlas 2013 (4) là phiên bản cập nhật của Atlas năm 2003.

    BI-RADS® được thiết kế nhằm chuẩn hóa báo cáo chẩn đoán hình ảnh tuyến vú và giảm thiểu sự nhầm lẫn trong quá trình diễn giải kết quả.
    Hệ thống này cũng hỗ trợ theo dõi kết quả điều trị và đánh giá chất lượng.

    Tài liệu bao gồm bộ từ điển thuật ngữ chuẩn hóa (các mô tả) dành cho chụp nhũ ảnh, siêu âm tuyến vú và MRI, cùng với các chương về Tổ chức Báo cáo và Hướng dẫn Thực hành lâm sàng hàng ngày.

    Báo cáo Chuẩn hóa

    Khi viết báo cáo một nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, cần bao gồm các yếu tố sau:

    1. Chỉ định thực hiện:
      Ghi rõ mục đích của thăm khám là tầm soát, chẩn đoán hay theo dõi.
      Tiền sử bệnh nhân: Bao gồm các thông tin lâm sàng liên quan. Nếu thực hiện siêu âm, cần ghi rõ đây là siêu âm có mục tiêu (tập trung vào vùng cụ thể cần khảo sát) hay siêu âm tầm soát bổ sung.
    2. Thành phần mô tuyến vú:
      Mô tả mật độ tuyến vú theo các phân loại BI-RADS.
    3. Mô tả các phát hiện:
      Sử dụng thuật ngữ chuẩn hóa để mô tả tất cả các phát hiện có ý nghĩa.
      Các mô tả hình thái học bao gồm:
      • Khối
      • Bất đối xứng
      • Biến dạng cấu trúc
      • Vôi hóa

      Ghi nhận các đặc điểm kèm theo như dày da, co kéo núm vú hoặc vôi hóa liên quan.
      Đối chiếu các phát hiện hình ảnh với thông tin lâm sàng và kết quả từ chụp nhũ ảnh, siêu âm và/hoặc MRI.
      Tích hợp các phát hiện trên nhũ ảnh và siêu âm vào một báo cáo thống nhất.

    4. So sánh với các nghiên cứu trước:
      So sánh với hình ảnh trước đó khi có sẵn.
      Việc chờ đợi hình ảnh cũ để so sánh chỉ nên trì hoãn báo cáo khi thực sự cần thiết cho đánh giá cuối cùng.
    5. Phân loại đánh giá cuối cùng:
      Xếp loại BI-RADS (0–6) và ghi kèm cụm từ chuẩn hóa tương ứng.
      Khi thực hiện cả chụp nhũ ảnh và siêu âm, đánh giá tổng thể phải phản ánh phát hiện đáng ngờ nhất — tức là phát hiện có khả năng ác tính cao nhất.
    6. Khuyến nghị xử trí:
      Đưa ra các khuyến nghị rõ ràng về xử trí tiếp theo hoặc theo dõi.
    7. Thông báo các phát hiện bất ngờ:
      Bất kỳ phát hiện bất ngờ hoặc có ý nghĩa lâm sàng nào cần được thông báo kịp thời cho bác sĩ lâm sàng chỉ định.
      Các trao đổi bằng lời giữa bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân hoặc bác sĩ lâm sàng cần được ghi lại trong báo cáo.

    Bộ Từ điển Thuật ngữ Chụp Nhũ ảnh và Siêu âm

    Bảng trình bày tóm tắt bộ từ điển thuật ngữ dùng trong chụp nhũ ảnh và siêu âm.
    Nhấp vào hình ảnh để phóng to bảng.

    Trước tiên, mô tả thành phần mô tuyến vú.
    Khi có phát hiện đáng kể, sử dụng các mô tả trong bảng.

    Bộ từ điển siêu âm có nhiều điểm tương đồng với bộ từ điển chụp nhũ ảnh, nhưng có một số mô tả đặc trưng riêng cho siêu âm.

    Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn về bộ từ điển này ở phần tiếp theo.

    Các Phân loại Đánh giá BI-RADS

    Bảng trình bày các phân loại đánh giá cuối cùng.

    Chúng ta sẽ thảo luận trước về bộ từ điển hình ảnh tuyến vú trong chụp nhũ ảnh và siêu âm, sau đó đi vào chi tiết hơn về các phân loại đánh giá cuối cùng cùng những điều nên và không nên làm trong từng phân loại.


    Nhấp vào hình ảnh để phóng to.

    Quan sát và phân tích các hình ảnh.

    Nếu phát hiện bất thường, hãy đưa ra mô tả và phân loại đánh giá tương ứng.

    Nhũ ảnh – Từ điển Hình ảnh Tuyến vú

    Thành phần Tuyến vú

    Trong phiên bản BI-RADS 2003, việc phân loại thành phần tuyến vú dựa trên mật độ tổng thể, chia thành các nhóm ACR: nhóm 1 (<25% mô tuyến xơ), nhóm 2 (25-50%), nhóm 3 (50-75%) và nhóm 4 (>75%).

    Trong BI-RADS 2013, việc sử dụng tỷ lệ phần trăm không được khuyến khích, vì trong từng trường hợp cụ thể, điều quan trọng hơn là đánh giá khả năng một khối có thể bị che khuất bởi mô tuyến xơ, thay vì dùng tỷ lệ phần trăm mật độ vú như một chỉ số nguy cơ ung thư vú.

    Trong phiên bản BI-RADS 2013, phân loại thành phần tuyến vú được thay đổi thành các nhóm a, b, c và d kèm theo mô tả:

    • a– Tuyến vú gần như hoàn toàn là mô mỡ.
      Nhũ ảnh có độ nhạy cao trong trường hợp này.
    • b– Có các vùng mô tuyến xơ rải rác.
      Thuật ngữ “mật độ” mô tả mức độ suy giảm tia X của mô vú, không phải các tổn thương nhũ ảnh riêng biệt.
    • c– Tuyến vú có mật độ không đồng nhất, có thể che khuất các khối nhỏ.
      Một số vùng trong tuyến vú có mật độ đủ cao để che khuất các khối nhỏ.
    • d
      – Tuyến vú có mật độ rất cao, làm giảm độ nhạy của nhũ ảnh.

    Lưu ý ở ví dụ bên trái, thành phần tuyến vú được phân loại là c – mật độ không đồng nhất, mặc dù thể tích mô tuyến xơ chiếm dưới 50%.

    Mô tuyến xơ ở phần trên có mật độ đủ cao để che khuất các khối nhỏ.
    Do đó được phân loại là c, vì các khối nhỏ có thể bị che khuất.
    Theo phân loại cũ, trường hợp này sẽ được gọi là ACR 2: mật độ 25-50%.

    Ví dụ bên phải có hơn 50% mô tuyến và cũng được phân loại là thành phần c.

    Khối

    Một ‘Khối’ là tổn thương chiếm chỗ ba chiều được quan sát thấy trên hai tư thế chụp khác nhau.
    Nếu một khối tiềm năng chỉ thấy trên một tư thế duy nhất, nên gọi là ‘bất đối xứng’ cho đến khi tính ba chiều của nó được xác nhận.

    1. Hình dạng: bầu dục (có thể có 2 hoặc 3 múi), tròn hoặc không đều
    2. Bờ: rõ nét, bị che khuất, vi thùy, không rõ ràng, tua gai
    3. Mật độ: cao, tương đương, thấp hoặc chứa mỡ.

    Các hình ảnh cho thấy một tổn thương chứa mỡ với vôi hóa dạng bỏng ngô.
    Tất cả các tổn thương chứa mỡ thường là lành tính.
    Các đặc điểm hình ảnh này có giá trị chẩn đoán u hamartoma – còn được gọi là u xơ tuyến mỡ (fibroadenolipoma).

    Hình dạng của một khối có thể là tròn, bầu dục hoặc không đều.

    Luôn đảm bảo rằng khối phát hiện qua thăm khám lâm sàng là cùng một khối được phát hiện trên nhũ ảnh hoặc siêu âm.
    Vị trí và kích thước cần được ghi nhận đối với bất kỳ tổn thương nào cần sinh thiết.

    Bờ của một tổn thương có thể là:

    • Rõ nét (trước đây gọi là bờ rõ).
      Đây là đặc điểm lành tính.
    • Bị che khuất hoặc che khuất một phần, khi bờ bị ẩn bởi mô tuyến xơ chồng lên. Siêu âm có thể hữu ích để xác định bờ rõ hơn.
    • Vi thùy. Đây là đặc điểm nghi ngờ ác tính.
    • Không rõ ràng (trước đây gọi là bờ không rõ).
      Đây cũng là đặc điểm nghi ngờ ác tính.
    • Tua gai với các đường tỏa ra từ khối là đặc điểm rất nghi ngờ ác tính.

    Mật độ của một khối được so sánh với mức độ suy giảm tia X dự kiến của một thể tích mô tuyến xơ tương đương.
    Mật độ cao có liên quan đến ác tính.
    Ung thư vú có mật độ thấp là cực kỳ hiếm gặp.

    Đây là hình ảnh nhiều khối tròn bờ rõ mật độ thấp ở vú phải.
    Đây là kết quả của thủ thuật ghép mỡ tự thân (lipofilling), tức là cấy ghép mỡ từ cơ thể vào tuyến vú.

    Đây là hình ảnh một khối tăng tỷ trọng với hình dạng không đều và bờ tua gai.
    Lưu ý hiện tượng co rút da khu trú.

    Trường hợp này được phân loại BI-RADS 5 và được xác nhận là ung thư biểu mô tuyến vú xâm lấn.

    Biến dạng cấu trúc

    Thuật ngữ biến dạng cấu trúc được sử dụng khi cấu trúc bình thường bị biến dạng mà không có khối rõ ràng nào được nhìn thấy.
    Điều này bao gồm các đường thẳng mảnh hoặc các tua gai tỏa ra từ một điểm, và hiện tượng co rút khu trú, biến dạng hoặc thẳng hóa ở rìa nhu mô tuyến.
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm mô sẹo hoặc ung thư biểu mô.

    Biến dạng cấu trúc cũng có thể được ghi nhận như một đặc điểm kèm theo.
    Ví dụ, nếu có một khối gây biến dạng cấu trúc, khả năng ác tính sẽ cao hơn so với trường hợp khối không có biến dạng.

    Lưu ý sự biến dạng cấu trúc vú bình thường trên tư thế chếch (vòng tròn vàng) và tư thế phóng đại.
    Bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt bỏ và chỉ tìm thấy mô sẹo trong bệnh phẩm.

    Bất đối xứng

    Định nghĩa
    Bất đối xứng là các hình ảnh đại diện cho các vùng mô một bên không đáp ứng định nghĩa của một khối.

    Các loại

    • Bất đối xứng trên một tư thế: Thường do sự chồng lấp của mô bình thường.
    • Bất đối xứng khu trú: Thấy trên hai tư thế; là một phát hiện thực sự cần phân biệt với khối.
    • Bất đối xứng toàn thể: Chiếm ít nhất một phần tư tuyến vú và thường là biến thể bình thường.
    • Bất đối xứng mới xuất hiện: Một vùng bất đối xứng mới, lớn hơn hoặc rõ ràng hơn so với các lần chụp trước.

    Đây là ví dụ về bất đối xứng khu trú thấy trên tư thế MLO và CC.
    Chụp ép khu trú và siêu âm không phát hiện khối nào.

    Siêu âm – Bảng Thuật ngữ Hình ảnh Vú

    Nhiều thuật ngữ mô tả trong siêu âm tương đồng với nhũ ảnh.
    Ví dụ như khi mô tả hình dạng hoặc bờ của một khối.

    Dưới đây chúng tôi sẽ tập trung vào các đặc điểm đặc trưng riêng của siêu âm:

    Thành phần mô vú:

    • Cấu trúc âm đồng nhất – mô mỡ
    • Cấu trúc âm đồng nhất – mô sợi tuyến
    • Cấu trúc âm không đồng nhất

    Khối:

    • Hướng của khối: đặc trưng riêng của siêu âm, được định nghĩa là song song (lành tính) hoặc không song song (dấu hiệu nghi ngờ) với bề mặt da.
    • Đặc điểm hồi âm: không có hồi âm, giảm âm, hỗn hợp dạng nang và đặc, đồng âm, tăng âm, không đồng nhất.
      Đặc điểm hồi âm có thể góp phần vào việc đánh giá tổn thương khi kết hợp với các đặc điểm khác. Riêng lẻ, đặc điểm này có độ đặc hiệu thấp.
    • Đặc điểm phía sau khối: tăng âm phía sau, bóng cản âm phía sau.
      Đặc điểm phía sau khối phản ánh đặc tính suy giảm âm của khối liên quan đến khả năng truyền âm, cũng có giá trị bổ sung. Riêng lẻ, đặc điểm này có độ đặc hiệu thấp.

    Vôi hóa:

    • Trên siêu âm, vôi hóa được đặc trưng kém hơn so với nhũ ảnh, nhưng có thể được nhận diện dưới dạng các ổ tăng âm, đặc biệt khi nằm trong một khối.

    Đặc điểm kèm theo:

    • Biến dạng cấu trúc
    • Thay đổi ống dẫn sữa
    • Thay đổi da
    • Phù nề
    • Mạch máu
    • Đánh giá độ đàn hồi

    Các trường hợp đặc biệt – các trường hợp có chẩn đoán đặc thù hoặc hình ảnh siêu âm mang tính bệnh lý đặc trưng:

    • Nang đơn thuần
    • Nang phức tạp
    • Cụm vi nang
    • Khối trong hoặc trên da
    • Dị vật bao gồm túi độn ngực
    • Hạch bạch huyết – trong tuyến vú
    • Hạch bạch huyết – vùng nách
    • Bất thường mạch máu
    • Tụ dịch sau phẫu thuật
    • Hoại tử mỡ

    Các Phân Loại Đánh Giá Cuối Cùng

    BI-RADS 0


    Cần Đánh Giá Hình Ảnh Bổ Sung và/hoặc Phim Chụp Nhũ Ảnh Cũ Để So Sánh:
    Phân loại 0 hay BI-RADS 0 được sử dụng khi cần đánh giá hình ảnh thêm (ví dụ: các tư thế bổ sung hoặc siêu âm) hoặc cần truy xuất các phim chụp trước đó.
    Khi các nghiên cứu hình ảnh bổ sung đã hoàn tất, một đánh giá cuối cùng sẽ được đưa ra.
    Luôn cố gắng tránh sử dụng phân loại này bằng cách thực hiện ngay các hình ảnh bổ sung hoặc truy xuất phim cũ trước khi đọc kết quả.
    Tốt hơn hết là có sẵn các phim chụp cũ trước khi bắt đầu thực hiện thăm khám.

    Bệnh nhân này được phát hiện có một khối trên phim nhũ ảnh tầm soát, được phân loại là BI-RADS 0 (cần đánh giá hình ảnh bổ sung).

    Siêu âm bổ sung cho thấy khối này là do một hạch bạch huyết trong tuyến vú gây ra.
    Đánh giá cuối cùng là BI-RADS 2 (tổn thương lành tính).

    Đừng quên đề cập trong báo cáo rằng hạch bạch huyết trên siêu âm tương ứng với khối không vôi hóa trên nhũ ảnh.
    Trong phần về vị trí, chúng ta sẽ thảo luận về cách xác định chắc chắn rằng hạch bạch huyết tìm thấy trên siêu âm chính là khối đã thấy trên nhũ ảnh.


    NÊN

    1. Sử dụng khi cần thêm hình ảnh nhũ ảnh: các tư thế bổ sung, nén điểm
    2. Sử dụng khi cần siêu âm bổ sung hoặc nhũ ảnh (toàn bộ) CHỈ KHI thiết bị hoặc nhân lực không có sẵn hoặc bệnh nhân không thể chờ đợi
    3. Sử dụng khi cần nhũ ảnh hoặc siêu âm trước đó để đưa ra đánh giá cuối cùng và ban hành phụ lục bao gồm đánh giá đã được điều chỉnh


    KHÔNG NÊN

    1. Không sử dụng khi nhũ ảnh hoặc siêu âm trước đó không có sẵn nhưng KHÔNG cần thiết để đưa ra đánh giá cuối cùng.
    2. Không sử dụng khi nhũ ảnh hoặc siêu âm trước đó không liên quan, vì tổn thương đã có tính chất nghi ngờ.
    3. Không sử dụng cho các tổn thương cần đánh giá thêm bằng MRI, mà hãy lập báo cáo trước khi thực hiện MRI.

    BI-RADS 1

    Âm tính:

    Không có gì cần nhận xét.

    Hai vú đối xứng và không có khối, biến dạng cấu trúc hay vôi hóa nghi ngờ.


    BI-RADS 1 (bình thường). Không có gì cần nhận xét.

    BI-RADS 1 (bình thường). Không có gì cần nhận xét.

    BI-RADS 1


    NÊN

    1. Sử dụng BI-RADS 1 khi không có bất thường trên hình ảnh ở bệnh nhân có bất thường sờ thấy được, có thể là ung thư sờ thấy được, NHƯNG cần thêm một câu khuyến nghị hội chẩn ngoại khoa hoặc chẩn đoán mô học nếu có chỉ định lâm sàng.

    BI-RADS 2

    Tổn Thương Lành Tính:

    Giống như BI-RADS 1, đây là đánh giá bình thường, nhưng ở đây, bác sĩ đọc phim chọn mô tả một tổn thương lành tính trong báo cáo nhũ ảnh, chẳng hạn như:

    • Theo dõi sau phẫu thuật bảo tồn vú
    • U xơ tuyến vú đang thoái triển và vôi hóa
    • Nhiều vôi hóa lớn dạng que
    • Hạch bạch huyết trong tuyến vú
    • Vôi hóa mạch máu
    • Túi ngực nhân tạo
    • Biến dạng cấu trúc rõ ràng liên quan đến phẫu thuật trước đó.
    • Các tổn thương chứa mỡ như nang dầu, u mỡ, nang sữa và u sai lạc mật độ hỗn hợp. Tất cả đều có hình ảnh đặc trưng lành tính và có thể được chẩn đoán một cách tự tin.

    Phân loại BI-RADS 2: Khối thấy trên nhũ ảnh được xác định là nang.

    Phân loại BI-RADS 2: Khối thấy trên nhũ ảnh được xác định là nang.

    BI-RADS 2


    NÊN

    1. Thống nhất trong nhóm thực hành về việc có hay không và khi nào thì mô tả các tổn thương lành tính trong báo cáo
    2. Sử dụng trong tầm soát hoặc chẩn đoán hình ảnh khi có tổn thương lành tính
    3. Sử dụng khi có hạch to hai bên, có thể do phản ứng hoặc nhiễm trùng
    4. Sử dụng trong chẩn đoán hình ảnh và khuyến nghị xử trí nếu phù hợp,
    5. – như trong áp xe hoặc tụ máu
    6. – như trong vỡ túi ngực và các dị vật khác


    KHÔNG NÊN

    1. Không sử dụng khi có tổn thương lành tính nhưng không được mô tả trong báo cáo, khi đó hãy dùng Phân loại 1.
    2. Không khuyến nghị MRI để đánh giá thêm một tổn thương lành tính.

    BI-RADS 3

    Tổn Thương Có Thể Lành Tính
    Đề Nghị Theo Dõi Ngắn Hạn Ban Đầu:

    Tổn thương được xếp vào phân loại này phải có nguy cơ ác tính dưới 2%.

    Tổn thương không được kỳ vọng sẽ thay đổi trong khoảng thời gian theo dõi, nhưng bác sĩ X-quang muốn xác nhận sự ổn định của nó.
    Các tổn thương phù hợp để xếp vào phân loại này bao gồm:

    • Khối bờ rõ không vôi hóa trên nhũ ảnh nền (trừ khi có thể xác định là nang, hạch bạch huyết trong tuyến vú, hoặc tổn thương lành tính khác),
    • Bất đối xứng khu trú trở nên kém đậm đặc hơn trên tư thế nén điểm
    • Nhóm vôi hóa chấm đơn độc

    Đây là một khối bờ rõ không sờ thấy được kèm theo một nhóm vôi hóa chấm.
    Khối được phân loại là BI-RADS 3.
    Tiếp tục theo dõi bằng hình ảnh.


    Đánh giá cuối cùng được thay đổi thành Phân loại 2

    Đánh giá cuối cùng được thay đổi thành Phân loại 2
    • Theo dõi ngắn hạn ban đầu đối với tổn thương BI-RADS 3 là nhũ ảnh một bên sau 6 tháng, sau đó khám theo dõi hai bên sau 12 tháng. Nếu ổn định, thực hiện theo dõi sau một năm và tùy chọn thêm một năm nữa.
    • Nếu tổn thương không thay đổi trong quá trình theo dõi, đánh giá cuối cùng được chuyển thành BI-RADS 2 (lành tính) và không cần theo dõi thêm.

    Theo dõi tại 6, 12 và 24 tháng không cho thấy thay đổi và đánh giá cuối cùng được chuyển thành Phân loại 2.
    Tuy nhiên, bệnh nhân và bác sĩ lâm sàng vẫn muốn phẫu thuật cắt bỏ, vì bác sĩ X-quang không thể đưa ra chẩn đoán phân biệt rõ ràng.

    Vì vậy, hãy thêm câu sau vào báo cáo của bạn:

    • BI-RADS 2 (tổn thương lành tính).
    • Thay vì ngừng theo dõi, chẩn đoán mô học sẽ được thực hiện theo nguyện vọng của bệnh nhân và bác sĩ lâm sàng.

    Giải phẫu bệnh: Dị dạng mạch máu lành tính.

    Nếu tổn thương BI-RADS 3 có bất kỳ thay đổi nào trong quá trình theo dõi, nó sẽ được chuyển thành BI-RADS 4 hoặc 5 và cần thực hiện sinh thiết.

    Hình ảnh phía trên cho thấy một vài vôi hóa vô định hình ban đầu được phân loại là BI-RADS 3.
    Tại lần theo dõi 12 tháng, ghi nhận hơn năm vôi hóa trong một nhóm.
    Tổn thương lúc này được phân loại là BI-RADS 4.
    Kết quả giải phẫu bệnh là DCIS kèm ung thư xâm nhập.

    BI-RADS 3


    NÊN

    1. Thực hiện theo dõi ngắn hạn ban đầu sau 6 tháng. Nếu ổn định, thực hiện theo dõi ngắn hạn lần hai sau 6 tháng (Với nhũ ảnh: chụp cả hai vú). Nếu ổn định, thực hiện theo dõi sau một năm và tùy chọn thêm một năm nữa. Sau đó chuyển sang Phân loại 2.
    2. Nhận thức rằng đánh giá lành tính luôn có thể được đưa ra trước khi hoàn thành phân tích Phân loại 3, nếu theo ý kiến của bác sĩ X-quang, tổn thương không có khả năng ác tính và do đó thuộc Phân loại 2.
    3. Sử dụng cho các tổn thương trên nhũ ảnh như:
      – Khối đặc bờ rõ không vôi hóa
      – Bất đối xứng khu trú
      – Nhóm vôi hóa chấm đơn độc
    4. Sử dụng cho các tổn thương trên siêu âm có bằng chứng vững chắc gợi ý:
      – U xơ tuyến điển hình
      – Nang phức tạp đơn độc
      – Nang vi thể cụm
    5. Sử dụng cho tổn thương có thể lành tính, trong khi bệnh nhân hoặc bác sĩ lâm sàng vẫn muốn sinh thiết. Khi đó thêm câu: ‘Thay vì theo dõi, chẩn đoán mô học sẽ được thực hiện theo nguyện vọng của bệnh nhân hoặc bác sĩ lâm sàng’.


    KHÔNG NÊN

    1. Không sử dụng khi không chắc chắn giữa đánh giá lành tính (Phân loại 2) hay nghi ngờ (Phân loại 4). Khi đó hãy dùng Phân loại 4.
    2. Không sử dụng trong thăm khám tầm soát
    3. Không sử dụng trong thăm khám chẩn đoán nếu cần thêm hình ảnh để đưa ra đánh giá cuối cùng
    4. Không sử dụng nếu tổn thương trước đó được đánh giá là Phân loại 3 đã tăng kích thước hoặc mức độ, như khối trên siêu âm tăng 20% hoặc hơn về kích thước lớn nhất. Khi đó hãy dùng Phân loại 4.
    5. Không khuyến nghị MRI để đánh giá thêm tổn thương có thể lành tính

    BI-RADS 4

    Bất Thường Nghi Ngờ – Nên Cân Nhắc Sinh Thiết:

    Phân loại này dành cho các tổn thương không có hình ảnh điển hình của ác tính nhưng đủ nghi ngờ để có chỉ định sinh thiết.
    BI-RADS 4 có phạm vi

    Vị trí trên Nhũ ảnh và Siêu âm


    Quan sát thấy một khối ở góc phần tư dưới ngoài của vú trái tại vị trí 4 giờ, ở phần sâu của vú, cách núm vú 4cm.

    Quan sát thấy một khối ở góc phần tư dưới ngoài của vú trái tại vị trí 4 giờ, ở phần sâu của vú, cách núm vú 4cm.

    Một bộ mô tả vị trí đầy đủ bao gồm:

    1. Xác định vú phải hay vú trái
    2. Ký hiệu theo góc phần tư và theo mặt đồng hồ (tốt nhất nên ghi cả hai)
    3. Trên siêu âm, ký hiệu theo góc phần tư và mặt đồng hồ cần được bổ sung trực tiếp trên hình ảnh bằng ký hiệu vị trí cơ thể và tư thế đầu dò.
    4. Độ sâu: một phần ba trước, giữa hoặc sau (chỉ áp dụng cho Nhũ ảnh)
    5. Khoảng cách từ núm vú

    Có thể có sự khác biệt trong thực hành chẩn đoán hình ảnh tuyến vú; các thành viên trong cùng một nhóm thực hành nên thống nhất một chính sách nhất quán trong việc ghi chép tài liệu.

    Khi sử dụng nhiều phương thức chẩn đoán, cần luôn đảm bảo rằng các phương thức đó đang khảo sát cùng một tổn thương.
    Chẳng hạn, một tổn thương phát hiện trên siêu âm không nhất thiết phải là cùng tổn thương với phát hiện trên nhũ ảnh hoặc khám lâm sàng.
    Đôi khi, chụp nhũ ảnh lại với các đánh dấu đặt tại vị trí tổn thương phát hiện trên siêu âm có thể hữu ích.

    Các nang có thể được chọc hút hoặc bơm khí sau khi hút để xác nhận rằng tổn thương thấy trên nhũ ảnh là do nang gây ra.

    Đối với các tổn thương đặc, có thể tiêm thuốc cản quang vào tổn thương hoặc đặt dấu định vị trong các trường hợp khó.

    Đây là những hình ảnh mà bạn đã xem trước đó.
    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân có tổn thương mới phát hiện khi tầm soát.
    Trên siêu âm phát hiện một hạch bạch huyết trong tuyến vú, nhưng chúng tôi không chắc liệu đây có phải là cùng tổn thương với khối trên nhũ ảnh hay không.
    Tiếp tục xem các hình ảnh nhũ ảnh sau khi tiêm thuốc cản quang.

    Thuốc cản quang được tiêm vào hạch và chụp nhũ ảnh lại.
    Qua đó, chúng tôi có bằng chứng xác nhận rằng khối trên nhũ ảnh chính là hạch bạch huyết trong tuyến vú, vì khối trên nhũ ảnh có chứa thuốc cản quang.

    Bệnh nhân này nhập viện vì có khối u ở vú trái.
    Tuy nhiên, ở vú phải phát hiện một nhóm vôi hóa dạng vô định hình và đa hình thái nhỏ.
    Siêu âm được thực hiện để đánh giá thêm.

    Siêu âm vùng này phát hiện một khối bờ không đều, được xác nhận là ung thư biểu mô tuyến qua chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA).
    Để xác định liệu khối có nằm trong vùng vôi hóa hay không, thuốc cản quang được tiêm vào trong khối.

    Rõ ràng khối nằm ở một vùng khác của tuyến vú.
    Lúc này cần tiến hành sinh thiết hút chân không đối với vùng vôi hóa, vì có thể chúng ta đang đối mặt với ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS) ở một vùng và ung thư biểu mô xâm lấn ở một vùng khác.

    Đo kích thước

    Khối
    Trục dài nhất của tổn thương và số đo thứ hai vuông góc với trục đó.
    Đối với khối có bờ tua gai, không tính phần tua gai vào số đo.

    Biến dạng cấu trúc và Bất đối xứng
    Ước tính kích thước tuyến tính lớn nhất của tổn thương.

    Vôi hóa
    Phân bố vôi hóa được đo bằng cách ước tính kích thước tuyến tính lớn nhất.

    Hạch bạch huyết
    Chụp nhũ ảnh: trục ngắn.
    Siêu âm: độ dày vỏ hạch.

    Báo Cáo

    1. Mô tả chỉ định thực hiện nghiên cứu.
      Tầm soát, chẩn đoán hoặc theo dõi.
      Đề cập đến tiền sử bệnh của bệnh nhân.
      Nếu thực hiện Siêu âm, cần ghi rõ siêu âm được thực hiện có mục tiêu tại một vị trí cụ thể hay là tầm soát bổ sung.
    2. Mô tả thành phần mô tuyến vú.
    3. Mô tả bất kỳ phát hiện đáng kể nào bằng thuật ngữ chuẩn hóa.
      Sử dụng các mô tả hình thái học: khối, bất đối xứng, biến dạng cấu trúc và vôi hóa.
      Các phát hiện này có thể có các đặc điểm kèm theo, ví dụ như một khối có thể đi kèm với dày da, co rút núm vú, vôi hóa, v.v.
      Đối chiếu các phát hiện này với thông tin lâm sàng, nhũ ảnh, siêu âm hoặc MRI.
      Tích hợp các phát hiện trên nhũ ảnh và siêu âm vào một báo cáo duy nhất.
    4. So sánh với các nghiên cứu trước đó.
      Việc chờ đợi các phim chụp trước để so sánh chỉ nên thực hiện khi chúng thực sự cần thiết để đưa ra đánh giá cuối cùng.
    5. Kết luận theo danh mục đánh giá cuối cùng.
      Sử dụng các danh mục BI-RADS 0-6 và cụm từ tương ứng với từng danh mục.
      Nếu cả nhũ ảnh và siêu âm đều được thực hiện: đánh giá tổng thể phải dựa trên kết quả bất thường nhất trong hai phương pháp, dựa trên khả năng ác tính cao nhất.
    6. Đưa ra khuyến nghị xử trí.
    7. Thông báo các phát hiện ngoài dự kiến cho bác sĩ lâm sàng yêu cầu.
      Các trao đổi bằng lời giữa bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ lâm sàng yêu cầu cần được ghi lại trong báo cáo.

    Ví dụ về báo cáo

    Chỉ định thực hiện
    Khối di động gây đau, ở phía ngoài vú phải. Không có tiền sử bệnh lý vú.

    Phát hiện
    Không có phim chụp trước để so sánh.

    Nhũ ảnh
    Thành phần mô tuyến vú tổng thể: b. Các vùng mật độ tuyến xơ rải rác.
    Ở phía ngoài vú phải, tương ứng với khối sờ thấy, có một khối với hình dạng bầu dục và bờ một phần rõ, một phần bị che khuất.
    Khối đồng tỷ trọng so với mô tuyến xơ.
    Vị trí: Vú phải, vị trí 9 giờ, một phần ba giữa của vú.
    Kích thước: ước tính đường kính lớn nhất = 3 cm.
    Siêu âm bổ sung khối: Tương ứng với khối sờ thấy và khối trên nhũ ảnh, có một nang đơn giản hình bầu dục, định hướng song song, bờ rõ, không có hồi âm với tăng âm phía sau. Kích thước: 3,5 x 1,5 cm.
    Trong vú phải có ít nhất 2 nang nhỏ hơn.

    Đánh giá
    BI-RADS 2 (phát hiện lành tính).
    Khối sờ thấy là một nang đơn giản. Có ít nhất hai nang nhỏ hơn trong vú phải.

    Xử trí

    Nang sờ thấy gây đau, sau khi được sự đồng ý có thông tin, đã thực hiện chọc hút nang không biến chứng.

    Không có chỉ định theo dõi, trừ khi các triệu chứng tái phát, như đã giải thích cho bệnh nhân.

    Lưu ý:

    1. Không cần mô tả chi tiết nang: đây là ‘trường hợp đặc biệt’/chẩn đoán đặc thù.
    2. Không cần mô tả chi tiết hơn hoặc kích thước các nang bổ sung. Chỉ cần đề cập kích thước của nang quan trọng nhất (1).
    3. Không sử dụng các thuật ngữ khác ngoài các mô tả trong BI-RADS 2013.
    4. Nếu cả nhũ ảnh và siêu âm đều được thực hiện: Luôn mô tả trong hai đoạn văn được tích hợp trong một báo cáo duy nhất.
    5. Các trao đổi bằng lời giữa bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân và bác sĩ lâm sàng yêu cầu cần được ghi lại trong báo cáo gốc hoặc trong phần bổ sung.

    Chỉ định thực hiện

    Được giới thiệu từ bác sĩ đa khoa.
    Khối di động, ở phía ngoài vú trái, xuất hiện trong 2 tháng.
    Không có tiền sử bệnh lý vú.
    Không có phim chụp trước để so sánh.

    Phát hiện
    Nhũ ảnh: Thành phần mô tuyến vú tổng thể: a. Vú gần như hoàn toàn là mô mỡ.
    Ở phía ngoài vú trái, tại vị trí 3 giờ ở một phần ba sau của vú, tương ứng với khối sờ thấy, có một khối tăng tỷ trọng kích thước 3 cm với hình dạng tròn nhưng cũng có bờ không đều.

    Bờ một phần rõ và một phần không rõ với một số thùy nhỏ.

    Siêu âm: Tương ứng với khối sờ thấy và khối trên nhũ ảnh, có một khối giảm âm hơi không đều với định hướng không song song, > 75% bờ rõ và bờ không rõ cục bộ.

    Đánh giá
    BI-RADS 4a (nghi ngờ ác tính thấp).
    Khối sờ thấy tương ứng với một khối đặc, chủ yếu có bờ rõ.
    Ở bệnh nhân 35 tuổi này, chẩn đoán phân biệt bao gồm u xơ tuyến vú không điển hình hoặc u phyllodes.

    Xử trí
    Sau khi được sự đồng ý có thông tin của bệnh nhân, đã thực hiện sinh thiết lõi kim 14G, lấy được hai mẫu bệnh phẩm. Không có biến chứng.

    Đã trao đổi với bệnh nhân và bác sĩ đa khoa yêu cầu rằng trong trường hợp BI-RADS 4(a), nên chuyển đến phòng khám vú. Bệnh nhân và bác sĩ đa khoa yêu cầu ưu tiên chờ kết quả sinh thiết.

    Bổ sung
    Kết quả sinh thiết cho thấy tổn thương xơ-biểu mô, có thể là u phyllodes lành tính.
    Việc chuyển đến phòng khám vú lúc này được chỉ định mạnh mẽ và đã được bác sĩ đa khoa thực hiện sau khi tư vấn qua điện thoại.
    Chẩn đoán sau phẫu thuật cắt bỏ: u xơ tuyến vú tế bào cao 3 cm.

  • Giá trị bình thường trên siêu âm nhi khoa

    Giá Trị Bình Thường trong Siêu Âm Nhi Khoa

    Simon Robben, Rick van Rijn và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Đại học Maastricht, Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam và Bệnh viện Alrijne tại Leiden, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Tài liệu này cung cấp tổng quan về các giá trị tham chiếu bình thường trong thăm khám siêu âm ở trẻ sơ sinh và trẻ em.
    Các mục được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái.
    Chọn một trong các mục được liệt kê ở bên trái để xem chi tiết.

    Tuyến Thượng Thận


    Adapted from reference 21

    Phỏng theo tài liệu tham khảo số 21

    Vật liệu và Phương pháp
    Nghiên cứu siêu âm được thực hiện trên 92 trẻ nhũ nhi.

    Các Số Đo

    • Chiều dài (L): Được xác định là kích thước đầu-đuôi tối đa của tuyến thượng thận, đo trên mặt phẳng coronal hoặc sagittal.
    • Chiều rộng (w): Được xác định là độ dày tối đa của một trong các nhánh tuyến.

    Nguyên Nhân Gây Phì Đại Tuyến Thượng Thận

    • Tăng sản thượng thận bẩm sinh
    • Xuất huyết tuyến thượng thận
    • U nguyên bào thần kinh tuyến thượng thận

    Ruột thừa


    Adapted from reference 14

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 14

    Vật liệu và Phương pháp
    Một nghiên cứu siêu âm được thực hiện trên 146 bệnh nhân liên tiếp (62 bé trai và 84 bé gái; tuổi trung bình 7 tuổi; độ tuổi từ 2–15 tuổi).

    Tiêu chí loại trừ

    • Xơ nang tụy
    • Đau bụng cấp tính
    • Đã cắt ruột thừa trước đó
    • Tuổi <2 tuổi (do khó khăn trong việc thực hiện khảo sát)

    Ruột thừa được quan sát thành công ở 120 trẻ em.

    Các nguyên nhân gây phình to ruột thừa

    • Viêm ruột thừa cấp tính
    • Xơ nang tụy
    • Tăng sản mô bạch huyết (do suy giảm miễn dịch hoặc viêm ruột do virus)
    • Khí, chất nhầy hoặc phân trong lòng ruột thừa
    • Nang nhầy ruột thừa (Mucocele)

    Bàng quang


    Adapted from reference 17

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 17

    Thể tích bàng quang

    Vật liệu và Phương pháp
    Tổng cộng 3.376 trẻ em được đưa vào nghiên cứu siêu âm này.
    Lưu ý: Tổng số bệnh nhân được liệt kê trong các bảng kết quả có thể khác nhau, do không phải tất cả các phân nhóm tuổi đều được đại diện.

    Kỹ thuật Đo lường

    1. Chiều dài (L): Đo trên mặt cắt dọc từ cổ bàng quang đến đáy bàng quang.
    2. Chiều sâu (D): Đo vuông góc với mặt phẳng dọc tại vị trí có diện tích mặt cắt ngang lớn nhất, từ bề mặt niêm mạc thành trước đến thành sau theo đường giữa.
    3. Chiều rộng (W): Đo vuông góc với D tại điểm giữa của D.


    Tính toán Thể tích Bàng quang

    Thể tích bàng quang được tính theo công thức hình elipsoid:

    Thể tích (cm³) = L × D × W × 0,523


    Adapted from reference 17

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 17

    Độ dày thành bàng quang

    Vật liệu và Phương pháp
    Tổng cộng 3.376 trẻ em được đưa vào nghiên cứu.
    Độ dày thành bàng quang chỉ được đo khi thể tích bàng quang tồn dư sau tiểu <10% thể tích bàng quang trước khi tiểu.

    Kỹ thuật Đo lường
    Thành bàng quang được đánh giá trên hình ảnh mặt cắt ngang phóng to của bàng quang sau khi đã tiểu hết.
    Các phép đo được thực hiện tại ba vị trí:

    • Thành trước bên
    • Thành bên
    • Thành sau bên

    Giá trị trung bình của ba phép đo này được sử dụng để phân tích.

    Chỉ số Độ dày Thành – Thể tích Bàng quang (BVWTI)
    Độ dày thành bàng quang phụ thuộc vào mức độ đổ đầy và dung tích bàng quang.
    Do đó, giá trị này được biểu thị thông qua Chỉ số Độ dày Thành – Thể tích Bàng quang (BVWI).

    Chỉ số này giúp chuẩn hóa các phép đo thành bàng quang ở các mức độ căng giãn khác nhau và cải thiện độ chính xác chẩn đoán các bất thường đường tiết niệu dưới, đặc biệt ở trẻ em.

    Nguyên nhân gây dày thành bàng quang

    • Viêm bàng quang
    • Rối loạn chức năng đi tiểu
    • Van niệu đạo sau

    Ruột


    Adapted from reference 13

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 13

    Đối tượng và Phương pháp
    Dân số nghiên cứu gồm 128 bệnh nhân (57 nam và 71 nữ). Trong số đó, 86 cá nhân có độ tuổi từ 1 đến 19 tuổi (chỉ trình bày dữ liệu liên quan đến nhóm này).

    Độ dày thành ruột được đo trên các mặt cắt siêu âm theo trục ngang và bao gồm các lớp mô học sau: niêm mạc, lớp đệm niêm mạc, cơ niêm, dưới niêm mạc và cơ thành ruột.

    Ví dụ siêu âm
    Đo độ dày thành hồi tràng đoạn cuối ở bệnh nhân nam 12 tuổi mắc xơ nang.

    Các nguyên nhân thường gặp gây dày thành ruột non bao gồm:

    • Ban xuất huyết Henoch–Schönlein
    • Bệnh Crohn
    • U lympho

    Adapted from reference 13

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 13

    Trong cùng nghiên cứu, độ dày thành đại tràng cũng được đo đạc.

    Các nguyên nhân thường gặp gây dày thành đại tràng bao gồm:

    • Bệnh viêm ruột (IBD)
    • Hội chứng tan máu-urê huyết (HUS)
    • Viêm đại tràng giả mạc

    Ống Mật Chủ


    Adapted from reference 8

    Chuyển thể từ tài liệu tham khảo 8

    Vật liệu và Phương pháp

    Tổng cộng 173 bệnh nhi liên tiếp (100 bé trai và 73 bé gái) được chỉ định siêu âm bụng vì lý do không liên quan đến bệnh lý gan mật đã được đưa vào nghiên cứu. Độ tuổi dao động từ 1 ngày đến 13 tuổi (trung vị 5,0 tuổi).

    Ở tất cả các đối tượng, đường kính ống mật chủ đo được ≤ 3,3 mm.

    Hình ảnh
    Hình ảnh siêu âm cắt ngang ống mật chủ và các cấu trúc giải phẫu xung quanh.

    Túi Mật


    Adapted from reference 10

    Chuyển thể từ tài liệu tham khảo 10

    Vật liệu và Phương pháp
    Thể tích túi mật trên siêu âm được tính theo công thức hình elipsoid:
    Thể tích = chiều dài × chiều rộng × chiều cao × 0,52

    Nghiên cứu bao gồm 50 trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31,7 ± 2,5 tuần, cân nặng lúc sinh trung bình 1556 ± 441 g) và 46 trẻ sinh đủ tháng (tuổi thai trung bình 38,3 ± 1,2 tuần, cân nặng lúc sinh trung bình 3253 ± 440 g).

    Các số đo được thực hiện ngay sau khi sinh sau 6 giờ nhịn ăn, và lần tiếp theo vào ngày thứ 5–7 sau sinh sau các khoảng thời gian nhịn ăn 3 giờ và 6 giờ kể từ lần bú sữa thông thường.

    Các nguyên nhân thường gặp gây túi mật nhỏ bao gồm:

    • Teo đường mật
    • Co bóp sau ăn (sau bữa ăn nhiều chất béo)

    Khớp háng


    Adapted from reference 22

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 22

    Túi cùng khớp phía trước

    Vật liệu và Phương pháp
    Một nghiên cứu siêu âm được thực hiện trên 58 trẻ em khỏe mạnh và 105 trẻ em bị viêm màng hoạt dịch thoáng qua một bên, trong độ tuổi từ 1,7 đến 12,8 tuổi.


    Adapted from reference 22

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 22

    Tất cả các lần khám đều được thực hiện với bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa và hai khớp háng ở tư thế trung gian.

    Bao khớp phía trước được đo bao gồm cả lớp trước và lớp sau. Đường viền phía trước của bao khớp cũng được đánh giá.
    Không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và độ dày bao khớp phía trước.

    Sự chênh lệch lớn hơn 2 mm giữa hai bên hoặc tràn dịch >2 mm được coi là bất thường.

    Hình dạng đường viền của bao khớp phía trước

    Đường viền phía trước của bao khớp có thể được đánh giá.
    Đo bao khớp phía trước bằng siêu âm.
    Cả lớp trước (a) và lớp sau (p) đều có thể được xác định.

    Các nguyên nhân thường gặp gây tràn dịch khớp háng bao gồm:

    • Viêm màng hoạt dịch thoáng qua
    • Viêm khớp nhiễm khuẩn
    • Viêm khớp tự phát thiếu niên (JIA)

    Adapted from reference 23

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 23

    Loạn sản phát triển khớp háng (Phân loại Graf)

    • Loại I: Khớp háng trưởng thành, chỏm xương đúng tâm với mái ổ cối phát triển tốt và bờ xương góc cạnh hoặc hơi tù.
    • Loại II: Khớp háng chỏm xương đúng tâm với mái ổ cối kém phát triển và bờ xương tròn.
    • Loại III: Khớp háng chỏm xương lệch tâm với mái ổ cối phát triển kém và bờ xương dẹt.

    Nhấn vào đây để xem bài viết về Loạn sản phát triển khớp háng.

    Các thông số siêu âm:

    • Mặt cắt mặt phẳng vành của khớp háng
    • Đo góc α (alpha)

    Thận


    Adapted from reference 6

    Adapted from reference 6

    Trẻ sinh non và trẻ đủ tháng

    Vật liệu và Phương pháp
    Đánh giá siêu âm được thực hiện trên 261 trẻ sơ sinh khỏe mạnh.
    Kích thước đầu-đuôi của mỗi thận được đo bằng siêu âm tiêu chuẩn.

    Đo chiều dài thận sơ sinh trên siêu âm.

    Ở trẻ sơ sinh, nhu mô thận thường có độ hồi âm cao hơn nhu mô gan, đây là hình ảnh bình thường ở lứa tuổi này.


    Adapted from reference 16

    Adapted from reference 16

    Trẻ em

    Vật liệu và Phương pháp
    Nghiên cứu bao gồm 203 bệnh nhi. Tiêu chí loại trừ gồm: tiền sử ác tính, sử dụng corticosteroid, bất thường đường tiết niệu trên, trào ngược bàng quang-niệu quản (VUR) độ lớn hơn độ I, phẫu thuật tiết niệu, hoặc hình ảnh siêu âm thận bất thường.

    Trung bình, thận trái dài hơn thận phải 1,9 mm.

    Các nguyên nhân thường gặp gây to thận bao gồm:

    • Hệ thống thu thập nước tiểu đôi (thận đôi)
    • Viêm thận (nhiễm khuẩn và không nhiễm khuẩn)
    • Bạch cầu cấp hoặc u lympho
    • Bệnh thận đa nang di truyền lặn nhiễm sắc thể thường (ARPKD)

    Đo chiều dài thận trên siêu âm.


    Adapted from reference 17

    Adapted from reference 17

    Thể tích thận

    Vật liệu và Phương pháp
    Tổng cộng 3.376 trẻ em được đưa vào nghiên cứu siêu âm này.

    Thể tích thận được tính theo công thức hình elipsoid:
    Thể tích = Chiều dài × Chiều rộng × Chiều sâu × 0,523

    Tổng thể tích thận được xác định bằng cách cộng thể tích thận phải và thận trái.
    Các giá trị được báo cáo là trung bình của cả hai thận.


    Adapted from reference 18

    Adapted from reference 18

    Độ dày thành hệ thống thu thập nước tiểu

    Vật liệu và Phương pháp
    Siêu âm được thực hiện trên 48 hệ thống thu thập nước tiểu của 24 trẻ em khỏe mạnh (tuổi từ 3 ngày đến 12,6 tuổi).
    Thành hệ thống thu thập nước tiểu quan sát được ở tất cả các thận, với độ dày dao động từ 0 (không nhìn thấy) đến 0,8 mm.
    Độ dày thành ≥ 1 mm được coi là bất thường.

    Các nguyên nhân thường gặp gây dày thành hệ thống thu thập nước tiểu bao gồm:

    • Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (UTI)
    • Giãn đường tiết niệu từng đợt (ví dụ: trào ngược bàng quang-niệu quản)
    • Giãn đường tiết niệu gần đây hoặc đã hồi phục

    Gan

    Kích thước đầu-đuôi của gan được đo dọc theo đường trung đòn bằng siêu âm.

    Các nguyên nhân gây gan to bao gồm:

    • Bệnh bạch cầu (Leukemia)
    • Bệnh tích lũy (ví dụ: rối loạn tích lũy glycogen)
    • Viêm gan sơ sinh

    Adapted from reference 6

    Adapted from reference 6

    Trẻ sơ sinh

    Vật liệu và Phương pháp
    Ở trẻ sơ sinh (n = 261), kích thước đầu-đuôi của gan được đo dọc theo đường trung đòn bằng siêu âm.


    Adapted from reference 7

    Adapted from reference 7

    Trẻ em

    Vật liệu và Phương pháp
    Nghiên cứu siêu âm trên 307 trẻ em khỏe mạnh.

    Các thông số Doppler

    Vật liệu và Phương pháp
    Một nghiên cứu bổ sung trên 100 trẻ em khỏe mạnh (độ tuổi từ 0–17,9 tuổi, trung vị 7,8 tuổi) đã thiết lập các giá trị tham chiếu cho:

    • Vận tốc tâm thu đỉnh tĩnh mạch cửa
    • Vận tốc tâm thu đỉnh động mạch gan
    • Chỉ số kháng trở (RI) động mạch gan

    (tài liệu tham khảo).

    Kết quả:

    • Vận tốc tĩnh mạch cửa không độc lập với tuổi
    • Vận tốc động mạch gan và chỉ số RI giảm dần theo độ tuổi

    Hạch bạch huyết mạc treo


    Adapted from reference 15

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 15

    Vật liệu và Phương pháp
    Nghiên cứu hồi cứu này bao gồm 61 trẻ em (36 nam, 25 nữ; tuổi trung bình 10,7 năm, khoảng 1,1–17,3 năm) được chụp CT bụng không tiêm thuốc cản quang để đánh giá nghi ngờ hoặc xác nhận sỏi thận. Kích thước hạch bạch huyết được đánh giá trên các hình ảnh này, và các kết quả được ngoại suy thành các giá trị tham chiếu trên siêu âm.

    Kết quả:
    Hạch bạch huyết mạc treo to (đường kính trục ngắn > 5 mm) được ghi nhận ở 33 trong số 61 trẻ (54%), chủ yếu ở góc phần tư dưới phải (88%).
    Dựa trên các kết quả này, đường kính trục ngắn > 8 mm có thể là ngưỡng chính xác hơn để chẩn đoán hạch bạch huyết mạc treo to ở trẻ em.

    Tỷ lệ dương tính giả đối với hạch bạch huyết mạc treo to theo các ngưỡng kích thước hạch khác nhau được trình bày trong bảng.

    Các nguyên nhân bệnh lý thường gặp gây hạch bạch huyết mạc treo to bao gồm

    • U lympho ruột
    • Di căn theo đường bạch huyết
    • Viêm ruột nhiễm trùng đặc hiệu (ví dụ: lao)

    Buồng trứng


    Adapted from reference 20

    Chỉnh sửa từ tài liệu tham khảo 20

    Vật liệu và Phương pháp
    Đo thể tích tử cung và buồng trứng bằng siêu âm được thực hiện trên 178 bé gái khỏe mạnh.

    Các nguyên nhân thường gặp gây phì đại buồng trứng bao gồm:

    • Dậy thì sớm
    • Xoắn buồng trứng
    • Hội chứng buồng trứng đa nang
    • U quái hoặc nang bì

    Thể tích buồng trứng được tính theo công thức:

    • Chiều dài x Chiều rộng x Chiều cao x 0,523.

    Tụy


    Adapted from reference 12

    Chỉnh sửa từ tài liệu tham khảo 12

    Vật liệu và Phương pháp
    Nghiên cứu siêu âm hồi cứu này bao gồm 273 bệnh nhân nhi (phân bố giới tính không được ghi rõ).

    Đặc điểm hồi âm:

    • Giảm hồi âm trong 27 trường hợp (10%)
    • Đồng hồi âm trong 145 trường hợp (53%)
    • Tăng hồi âm trong 101 trường hợp (37%)

    Đường kính trước-sau (AP) lớn nhất của đầu, thân và đuôi tụy được đo trên các mặt cắt siêu âm ngang hoặc chếch.

    Các nguyên nhân thường gặp gây phì đại tụy bao gồm:

    • Viêm tụy do chấn thương
    • Viêm tụy do virus
    • Viêm tụy do thuốc

    Tĩnh mạch cửa


    Adapted from reference 9

    Phỏng theo tài liệu tham khảo số 9

    Vật liệu và Phương pháp
    Nghiên cứu được thực hiện trên 150 trẻ em trong độ tuổi từ 0–16 tuổi, không có bằng chứng lâm sàng về bệnh lý gan hoặc đường ruột, được thực hiện siêu âm ổ bụng.


    Measurement of portal vein diameter

    Đo đường kính tĩnh mạch cửa

    Tĩnh mạch cửa được khảo sát trên mặt phẳng dọc từ chỗ hợp lưu lách-mạc treo tràng đến rốn gan.
    Đường kính trước-sau tối đa được đo tại vị trí động mạch gan bắt chéo qua tĩnh mạch cửa.

    Lách


    Adapted from reference 6

    Tham khảo từ tài liệu số 6

    Trẻ sinh non và trẻ đủ tháng

    Vật liệu và phương pháp
    Nghiên cứu siêu âm trên 261 trẻ sơ sinh khỏe mạnh.
    Kích thước đầu-đuôi của lách được xác định bằng siêu âm.


    Adapted from reference 11

    Tham khảo từ tài liệu số 11

    Trẻ em

    Vật liệu và phương pháp
    Khảo sát siêu âm bao gồm 512 trẻ em khỏe mạnh (238 bé trai, 274 bé gái; độ tuổi từ 1 ngày đến 17 tuổi) và 96 trẻ sinh non (tuổi thai 25–35 tuần).
    Không có đối tượng nào mắc các bệnh lý ảnh hưởng đến kích thước lách.

    Các nguyên nhân thường gặp gây lách to bao gồm:

    • Tăng áp lực tĩnh mạch cửa
    • Bệnh bạch cầu (Leukemia)
    • Nhiễm trùng toàn thân (ví dụ: virus Epstein–Barr, cytomegalovirus)
    • Rối loạn huyết học (ví dụ: bệnh hồng cầu hình cầu, thalassemia)
    • Bệnh tích lũy (Storage diseases)

    Phương pháp đo
    Chiều dài lách được xác định là khoảng cách tối đa giữa điểm trên-trong nhất và điểm dưới-ngoài nhất trên mặt cắt dọc theo trục vành, lý tưởng nhất là qua rốn lách.

    Khoang dưới nhện


    Adapted from reference 5

    Adapted from reference 5

    Vật liệu và Phương pháp
    Đánh giá siêu âm khoang dưới nhện được thực hiện trên 278 trẻ sơ sinh đủ tháng khỏe mạnh người Trung Quốc.
    Các số đo được thực hiện trên mặt phẳng coronal tại mức lỗ Monro.

    Các giá trị trung bình được tính từ phương trình hồi quy, và khoảng tin cậy 95% được tính toán từ dữ liệu đã công bố.

    Các thông số siêu âm

    • SCW: Chiều rộng xoang-vỏ não (Sinu-cortical width)
    • CCW: Chiều rộng sọ-vỏ não (Cranio-cortical width)
    • IHW: Chiều rộng liên bán cầu (Interhemispheric width)


    Các nguyên nhân thường gặp gây giãn khoang dưới nhện bao gồm

    • Giãn lành tính khoang dưới nhện ở trẻ nhũ nhi (BESSI)
    • Teo não
    • Huyết khối xoang tĩnh mạch màng cứng

    Tinh hoàn


    Adapted from reference 19

    Tham khảo từ tài liệu số 19

    Vật liệu và Phương pháp
    Các số đo siêu âm được thu thập từ 344 bé trai thuộc nhiều dân tộc khác nhau.
    Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các dân tộc hoặc giữa tinh hoàn phải và trái.

    Các nguyên nhân thường gặp gây phì đại tinh hoàn bao gồm

    • Bệnh bạch cầu (Leukemia)
    • Dậy thì sớm
    • Xoắn tinh hoàn
    • Viêm mào tinh hoàn-tinh hoàn

    Thể tích tinh hoàn được tính theo công thức:
    Chiều dài × Chiều rộng × Chiều cao × 0,523

    Tuyến ức


    Adapted from reference 22

    Tham khảo từ tài liệu số 22

    Vật liệu và Phương pháp
    Siêu âm trung thất được thực hiện trên 151 trẻ sơ sinh khỏe mạnh (79 bé trai và 72 bé gái) không có các yếu tố liên quan đến stress ảnh hưởng đến kích thước tuyến ức.

    Các nguyên nhân thường gặp gây phì đại tuyến ức bao gồm:

    • Tăng sản tuyến ức phục hồi
    • U lympho tế bào T hoặc bệnh bạch cầu
    • U tuyến ức (Thymoma)
    • Bệnh mô bào Langerhans

    Các số đo bao gồm

    • Đường kính ngang lớn nhất
    • Đường kính trước-sau của thùy phải và thùy trái
    • Chiều dài đầu-đuôi (chiều dọc)

    Chỉ số tuyến ức được tính theo công thức:
    Đường kính ngang × diện tích mặt cắt dọc lớn nhất

    Tuyến giáp


    Adapted from reference 1-3

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 1-3

    Vật liệu và Phương pháp
    Đánh giá thể tích tuyến giáp bằng siêu âm được thực hiện trên:

    • 100 trẻ sơ sinh người Anh (trong tuần đầu tiên sau sinh)
    • Một nhóm trẻ em châu Âu đủ iốt (n = 5.709, độ tuổi 6–15 tuổi)
    • Một nhóm trẻ em người Đức (n = 252, độ tuổi 2–4 tuổi)

    Các nguyên nhân thường gặp gây phì đại tuyến giáp bao gồm

    • Viêm tuyến giáp Hashimoto
    • Bệnh Graves
    • Bướu giáp đa nhân

    Thể tích tuyến giáp được tính bằng tổng thể tích của cả hai thùy, không bao gồm eo tuyến giáp.
    Sử dụng công thức hình elipsoid:
    Thể tích = Chiều dài × Chiều rộng × Chiều cao × 0,52

    Tử cung


    Adapted from reference 20

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 20

    Vật liệu và Phương pháp
    Đo thể tích tử cung và buồng trứng bằng siêu âm được thực hiện trên 178 bé gái khỏe mạnh.

    Các nguyên nhân thường gặp gây phì đại tử cung bao gồm

    • Dậy thì sớm
    • Tràn dịch hoặc tràn máu tử cung-âm đạo

    Thể tích tử cung được tính theo công thức hình elipsoid:
    Chiều dài × Chiều rộng × Chiều cao × 0,523

    Não thất


    Adapted from reference 4

    Phỏng theo tài liệu tham khảo 4

    Vật liệu và Phương pháp
    Nghiên cứu siêu âm được thực hiện trên 1.483 trẻ sơ sinh (tuổi thai 25–42 tuần) được khám vào ngày thứ 3 sau sinh.
    Các trẻ có tiền sử ngạt chu sinh, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, xuất huyết nội sọ hoặc dị tật sọ-cột sống đã được loại trừ.

    Các nguyên nhân thường gặp gây giãn não thất bao gồm

    • Dị tật bẩm sinh (ví dụ: holoprosencephaly)
    • Não úng thủy tắc nghẽn
    • Não úng thủy thông thương
    • Teo não

    Các chỉ số đo

    • Chiều rộng sừng trước (AHW)
    • Tỷ số não thất-bán cầu (VHR)
      Được đo trên các lát cắt mặt phẳng coronal ở mức lỗ Monro.
  • Gãy xương mắt cá chân – Phân loại Weber và Lauge-Hansen

    Gãy xương mắt cá chân – Phân loại Weber và Lauge-Hansen

    Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Alrijne, Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Phân loại gãy xương mắt cá chân đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ tổn thương và sự vững chắc của khớp.
    Phân loại Weber tập trung vào tính toàn vẹn của xương mác và khớp chày mác (syndesmosis) – cấu trúc giữ vững khung mắt cá chân.
    Hệ thống phân loại Lauge-Hansen tập trung vào cơ chế chấn thương.
    Kết hợp các giai đoạn của Lauge-Hansen với hệ thống Weber sẽ giúp dự đoán tổn thương dây chằng và tình trạng mất vững khớp.
    Bài viết này sẽ giúp bạn phân giai đoạn chính xác các chấn thương mắt cá chân và phát hiện các đường gãy không rõ ràng ngay từ cái nhìn đầu tiên.

    Tổng quan ngắn gọn

    Về cơ bản, có ba loại gãy xương cổ chân chính.
    Weber phân loại chúng thành:

    • Loại A – dưới khớp chày mác (infrasyndesmotic)
    • Loại B – ngang khớp chày mác (transsyndesmotic)
    • Loại C – trên khớp chày mác (suprasyndesmotic)

    Các loại gãy xương này tương đồng với các loại gãy xương được Lauge-Hansen mô tả là sấp-khép (supination-adduction), sấp-xoay ngoài (supination-exorotation) và ngửa-xoay ngoài (pronation-exorotation).
    Chúng tôi sẽ trước tiên trình bày tổng quan ngắn gọn về các loại gãy xương này, sau đó thảo luận chi tiết hơn.

    Khi bạn hiểu được cơ chế chấn thương theo mô tả của Lauge-Hansen và trình tự các sự kiện xảy ra theo từng giai đoạn, bạn sẽ biết cần tìm kiếm gãy xương và tổn thương dây chằng ở đâu.


    Weber A

    Xảy ra dưới khớp chày mác, khớp này còn nguyên vẹn.
    Theo Lauge-Hansen, đây là kết quả của lực khép tác động lên bàn chân ở tư thế sấp.

    • Giai đoạn 1 – Lực căng lên các dây chằng bên ngoài dẫn đến đứt dây chằng
      hoặc gãy giật (avulsion) mắt cá ngoài ở dưới khớp chày mác.
    • Giai đoạn 2 – Gãy chéo mắt cá trong.

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Lưu ý rằng đường gãy xương mác có hướng ngang, vì đây là gãy giật (avulsion) hay gãy do lực kéo.
    Đường gãy xương chày có hướng thẳng đứng hoặc chéo, vì đây là gãy do lực đẩy.


    Weber B

    Đây là gãy xương ngang khớp chày mác, thường kèm theo đứt một phần – và ít gặp hơn là đứt hoàn toàn – khớp chày mác.
    Theo Lauge-Hansen, đây là kết quả của lực xoay ngoài tác động lên bàn chân ở tư thế sấp.

    • Giai đoạn 1 – Đứt khớp chày mác trước
    • Giai đoạn 2 – Gãy chéo xương mác (đây là gãy Weber B thực sự)
    • Giai đoạn 3 – Đứt khớp chày mác sau
      hoặc – gãy mắt cá sau
    • Giai đoạn 4 – Gãy giật mắt cá trong
      hoặc – đứt các bó dây chằng bên trong

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Lưu ý hướng chéo hoặc thẳng đứng của đường gãy xương mác do lực đẩy.


    Weber C

    Đây là gãy xương ở trên mức khớp chày mác. Thường có đứt hoàn toàn khớp chày mác kèm theo mất vững khớp cổ chân.
    Theo Lauge-Hansen, đây là kết quả của lực xoay ngoài tác động lên bàn chân ở tư thế ngửa.

    • Giai đoạn 1 – Gãy giật mắt cá trong
      hoặc – đứt dây chằng
    • Giai đoạn 2 – Đứt khớp chày mác trước
    • Giai đoạn 3 – Gãy xương mác ở trên mức khớp chày mác (đây là gãy Weber C thực sự)
    • Giai đoạn 4 – Gãy giật mắt cá sau
      hoặc – đứt khớp chày mác sau

    Cuộn qua các hình ảnh

    Chấn thương xoay ngoài

    Gãy xương Weber A thường không phức tạp.
    Weber B và C khó hơn và điều cần thiết là phải hiểu trình tự các sự kiện trong các chấn thương này, vốn đều là chấn thương xoay ngoài.
    Điều này cho thấy 75-80% chấn thương cổ chân là chấn thương xoay ngoài.

    Weber B bắt đầu từ phía trước-ngoài và trình tự là:

    1. Khớp chày mác trước
    2. Xương mác
    3. Khớp chày mác sau
    4. Mắt cá trong

    Weber C bắt đầu từ phía trong và trình tự là:

    1. Mắt cá trong
    2. Khớp chày mác trước
    3. Xương mác
    4. Khớp chày mác sau

    Đứt dây chằng hoặc Gãy giật

    Một điều quan trọng khác cần ghi nhớ là dây chằng có thể bị đứt hoặc gây ra gãy giật tại điểm bám.
    Mỗi trường hợp đứt dây chằng đều có thể có dạng tương đương là gãy giật xương.

    Tóm tắt phân loại Weber và Lauge-Hansen

    • Weber A = Dưới khớp chày mác (Infrasyndesmotic)

      1. Gãy giật mắt cá ngoài
      2. Gãy chéo mắt cá trong (ít gặp)
    • Weber B = Ngang khớp chày mác (Transsyndesmotic)

      1. Đứt khớp chày mác trước
      2. Gãy chéo xương mác
      3. Đứt khớp chày mác sau
        hoặc – gãy mắt cá sau
      4. Gãy giật mắt cá trong –
        hoặc – đứt các bó dây chằng bên trong
    • Weber C = Trên khớp chày mác (Suprasyndesmotic)

      1. Gãy giật mắt cá trong
        hoặc – đứt dây chằng
      2. Đứt khớp chày mác trước
      3. Gãy xương mác ở trên mức khớp chày mác
      4. Gãy giật mắt cá sau
        hoặc – đứt khớp chày mác sau

    Mất vững được ghi nhận trong:

    • Weber A giai đoạn 2
    • Weber B giai đoạn 3-4
    • Weber C giai đoạn 3-4

    Weber and Lauge-Hansen combined

    How does it work when we combine the Weber classification to the stages of Lauge-Hansen?

    Trong thực hành hàng ngày, hầu hết mọi người sử dụng hệ thống Weber, vốn dễ ghi nhớ, trong khi hệ thống Lauge-Hansen có vẻ khá phức tạp ngay từ cái nhìn đầu tiên.
    Kết hợp sự đơn giản của Weber với việc giải thích cơ chế chấn thương theo Lauge-Hansen có ưu điểm là bạn vẫn sử dụng một hệ thống đơn giản, nhưng nay bạn thực sự hiểu được những gì đang xảy ra.

    Ví dụ, nếu bạn thấy một gãy xương ở giai đoạn 2 trong hệ thống Lauge-Hansen, thì bạn biết rằng cũng có một tổn thương giai đoạn 1 và bạn sẽ nghiên cứu các phim X-quang với mức độ nghi ngờ cao về các dấu hiệu của giai đoạn 3 và 4.

    This can best be demonstrated by giving an example.


    Unstable ankle fracture

    Unstable ankle fracture
    • Ấn tượng ban đầu
      Các phim chụp X-quang cho thấy gãy mắt cá sau.
      Nếu bạn chỉ mô tả đơn thuần là – gãy mắt cá sau – thì bạn đã bỏ sót vấn đề chính.
      Đây có thể là gãy xương cổ chân không vững.
      Gãy mắt cá sau đơn thuần là một phát hiện rất hiếm gặp.
    • Nhìn vào hệ thống phân loại
      Khi chúng ta xem xét sơ đồ, chúng ta sẽ nhận thấy rằng gãy mắt cá sau trong hầu hết các trường hợp là một phần của gãy Weber B hoặc Weber C.
      Gãy xương thứ ba (tertius) thuộc Weber B giai đoạn 3
      hoặc – do Weber C giai đoạn 4 (mũi tên).
      Chúng ta cần xem lại phim để tìm các dấu hiệu bổ sung.
      Vì bây giờ chúng ta đã biết cần tìm ở đâu, việc phát hiện các dấu hiệu bổ sung sẽ dễ dàng hơn.

    PE stage 1

    PE stage 1
    • Tái khám
      Trên phim chụp cổ chân không có dấu hiệu gãy xương chéo của mắt cá ngoài, do đó chúng ta có thể loại trừ gãy xương Weber B.
      Vẫn còn khả năng gãy xương Weber C giai đoạn 4, tức là đứt hoặc bong gân phía trong, gãy xương mác cao và cuối cùng là gãy mắt cá sau.
      Khi tái khám, bạn nhận thấy hình ảnh bong điểm bám tinh tế của mắt cá trong (mũi tên đỏ), đây là giai đoạn 1.
      Cũng lưu ý tình trạng sưng nề phần mềm ở phía trong (mũi tên xanh)

    PE stage 3

    PE stage 3

    Các phim X-quang bổ sung của chi dưới được chỉ định và cho thấy gãy xương mác cao, tức là Weber C giai đoạn 3, còn được gọi là gãy xương Maisonneuve.


    • Final report

      Weber C fracture stage 4.

    This is un unstable ankle injury that needs surgical repair.

    Understanding the fracture mechanism and the stages according to Lauge-Hansen helps you to make the right diagnosis

    Đây là một trường hợp thường gặp hàng ngày.
    Điều tôi muốn nhấn mạnh là, khi bạn hiểu được trình tự các tổn thương ở mắt cá chân, thì bạn sẽ biết cần tìm kiếm gãy xương và sưng nề phần mềm chỉ điểm tổn thương dây chằng ở đâu.

    Weber A in detail

    Chúng ta sẽ thảo luận về phân loại Weber và bổ sung các giai đoạn của hệ thống Lauge-Hansen.

    Weber A chiếm 20-25% trong tổng số các gãy xương mắt cá chân.
    Việc chẩn đoán cũng như điều trị thường không gặp khó khăn.
    Theo Lauge-Hansen, gãy xương này xảy ra do lực khép tác động lên bàn chân ở tư thế ngửa.
    Mặt ngoài chịu lực căng cực độ kéo giãn các dây chằng, dẫn đến gãy xương do giật avulsion.
    Hầu như luôn luôn, gãy xương avulsion xuất hiện dưới dạng đường gãy ngang.
    Kiểu này được gọi là gãy xương kiểu kéo ra (pull off), trái ngược với kiểu đẩy ra (push off), vốn xuất hiện dưới dạng đường gãy chéo hoặc dọc.


    Weber-A stage I

    Weber-A stage I

    Stage 1

    Các hình ảnh cho thấy gãy xương loại Weber A điển hình.
    Tất cả đều là gãy xương giai đoạn 1.
    Giai đoạn 2 cực kỳ hiếm gặp.

    Chú ý hướng nằm ngang của các đường gãy.
    Đây là các gãy xương kiểu giật đứt do kết quả của sự bong gân giật.


    Weber A - stage 2

    Weber A – stage 2

    Stage 2

    Giai đoạn 2 không phổ biến và dễ phát hiện.
    Lực khép lớn hơn dẫn đến mắt cá trong bị đẩy ra theo chiều dọc hoặc chéo.
    Giai đoạn 2 không vững vì vòng cổ chân bị gãy ở hai vị trí.

    Lưu ý hướng nằm ngang của gãy mắt cá ngoài và hướng thẳng đứng của gãy mắt cá trong.
    Những lực cực lớn hẳn đã đẩy bật mắt cá trong ra.

    More on the ring of the ankle and instability

    Weber B in detail


    Stage 1: Rupture of anterior tibiofibular ligament - or avulsion fracture (Tilleaux)

    Stage 1: Rupture of anterior tibiofibular ligament – or avulsion fracture (Tilleaux)

    Stage 1-2

    Weber B là loại gãy xương mắt cá chân phổ biến nhất, chiếm khoảng 60%.
    Theo Lauge-Hansen, gãy xương này là kết quả của lực xoay ngoài tác động lên bàn chân ở tư thế sấp.

    Giai đoạn 1 thường không thể nhìn thấy trên phim X-quang.
    Điều chúng ta thường thấy là gãy xương chéo giai đoạn 2 qua khớp chày mác và chúng ta phải giả định rằng cũng có đứt dây chằng chày mác trước, tức là giai đoạn 1.
    Theo Lauge Hansen, tổn thương đầu tiên xảy ra ở phía ngoài, nơi đang chịu lực căng tối đa.
    Ở giai đoạn 2, xương sên tiếp tục xoay ngoài và do bàn chân đang ở tư thế sấp, mắt cá ngoài bị giữ chặt tại chỗ bởi các dây chằng bên ngoài.
    Mắt cá ngoài không thể di chuyển ra ngoài mà không bị gãy.
    Kết quả là sự xoay tiếp tục của xương sên sẽ gây gãy xương mác theo kiểu chéo hoặc xoắn ốc do mắt cá ngoài bị đẩy bật ra từ phía trước trong ra phía sau ngoài.

    Các hình ảnh cho thấy gãy xương Weber B.
    Đường gãy chéo là đặc trưng điển hình của Weber B và là kết quả của sự xoay ngoài của xương sên đẩy vào mắt cá ngoài cố định.
    Gãy xương mắt cá thường bắt đầu ở phía trong tại mức vòm xương sên, nhưng cũng có thể bắt đầu cao hơn mức này vài centimet.


    Weber B - stage 3 and 4

    Weber B – stage 3 and 4

    Stage 3-4

    Giai đoạn 3 Sự dịch chuyển ra sau nhiều hơn của mảnh mắt cá ngoài do xương sên gây ra lực căng lên khớp chày mác sau dẫn đến đứt hoặc bong điểm bám của mắt cá sau.

    Giai đoạn 4 Sự di chuyển ra sau thêm của xương sên sẽ gây ra căng thẳng cực độ ở phía trong và dây chằng delta sẽ hoặc bị đứt hoặc bị bứt ra khỏi mắt cá trong theo mặt phẳng ngang.

    Các giai đoạn trong gãy xương Weber B hoặc tổn thương xoay ngoài-sấp theo phân loại Lauge-Hansen diễn ra theo chiều kim đồng hồ:

    1. Rupture of the anterior tibiofibular ligament
    2. Oblique fracture of the distal fibula
    3. Avulsion của mắt cá sau hoặc đứt dây chằng chày mác sau
    4. Avulsion của mắt cá trong hoặc đứt dây chằng bên trong

    Ngay sau khi chấn thương, các phần bị tổn thương có thể tự sắp xếp lại vị trí, điều này có thể gây khó khăn trong việc phát hiện các tổn thương.


    Weber B fracture

    Weber B fracture

    Hình ảnh X-quang cho thấy một gãy xương Weber B điển hình.
    Hãy quan sát kỹ hình ảnh trước rồi tiếp tục đọc.
    Bạn có nhận ra đây là giai đoạn nào không?

    Đây là tổn thương Weber B giai đoạn 4.
    Lưu ý rằng cả 4 giai đoạn đều có thể nhìn thấy:

    1. Đứt dây chằng chày mác trước – biểu hiện bằng sự giãn rộng khoảng cách giữa đầu xa xương chày và xương mác (khoảng sáng bên ngoài).
    2. Gãy xương mác chéo ở mức khớp chày mác – tức là gãy kiểu Weber B.
    3. Gãy xương Tertius – thấy trên phim thẳng (mũi tên đỏ) và trên phim nghiêng (mũi tên vàng).
    4. Rupture của dây chằng bên trong – được thấy như sự mở rộng của khoảng cách giữa mắt cá chân trong và xương sên (khoảng sáng trong)

    Những hình ảnh này cho thấy một gãy xương Weber B điển hình giai đoạn 4.
    Có một đường gãy chéo của xương mác.
    Có một gãy giật bong mắt cá sau và một gãy giật bong mắt cá trong.

    Đây là một trường hợp điển hình khác của gãy xương Weber B giai đoạn 4.
    Đầu tiên, hãy chú ý đến đường gãy xương mác chéo, được thấy rõ nhất trên hình chiếu nghiêng.
    Đây là giai đoạn 2 và chúng ta phải giả định rằng dây chằng khớp chày mác trước đã bị đứt.
    Trên hình chiếu nghiêng, có thể thấy một mảnh vỡ nhỏ của cơ mác thứ ba, cho thấy giai đoạn 3.
    Bây giờ bạn bắt đầu tìm kiếm giai đoạn 4 và sẽ nhận thấy vùng thấu quang mờ ở mắt cá trong trên hình chiếu thẳng (mũi tên xanh lá).
    Dựa vào hiểu biết về các giai đoạn của Lauge Hansen, đây chắc chắn phải là một đường gãy xương.

    Đây là một trường hợp tinh tế hơn.
    Ấn tượng đầu tiên là gãy xương Weber B giai đoạn 2.
    Bây giờ chúng ta bắt đầu tìm kiếm giai đoạn 3, đó là gãy xương tertius.
    Đường cản quang tuyến tính nhỏ trên phim chụp AP là đủ để chẩn đoán gãy xương tertius.
    Sưng nề phần mềm ở phía trong có thể là do đứt dây chằng bên trong, tức là giai đoạn 4.

    Weber C in detail

    Stage 1

    Weber C gặp trong khoảng 20% các gãy xương mắt cá chân.
    Đây là loại gãy xương khó chẩn đoán nhất và hệ thống phân loại Lauge-Hansen sẽ giúp bạn hiểu cơ chế gãy xương, điều này sẽ là một trợ giúp vô cùng lớn.
    Theo Lauge-Hansen, gãy xương này là kết quả của lực xoay ngoài tác động lên bàn chân ở tư thế sấp.

    Giai đoạn 1 Tổn thương đầu tiên xảy ra ở phía trong, nơi chịu lực căng tối đa do sự sấp bàn chân.
    Nó sẽ dẫn đến đứt dây chằng bên trong hoặc bong điểm bám của mắt cá trong.

    Lúc này tổn thương có thể dừng lại và chỉ có đứt dây chằng bên trong hoặc bong điểm bám của mắt cá trong.
    Lauge Hansen gọi đây là giai đoạn PE 1.
    Chúng ta không thể phân loại trường hợp này theo phân loại Weber, vì không có gãy xương mác.
    Trong nhiều trường hợp, tổn thương tiến triển lên giai đoạn cao hơn.

    Stage 2-3

    Xương sên xoay ra ngoài và di chuyển sang bên do không còn bị ràng buộc bởi phần bám vào phía trong.
    Do sự sấp, các dây chằng bên ngoài không còn chịu lực căng và xương mác có thể di chuyển ra xa xương chày.
    Điều này gây ra đứt khớp chày mác trước. Đây là giai đoạn 2.

    Lực liên tục sẽ xoắn xương mác và di lệch nó về phía xa, trong khi ở phía gần nó được cố định vào xương chày.
    Cuối cùng màng gian cốt sẽ rách đến điểm mà thân xương mác bị gãy. Đây là giai đoạn 3.
    Vị trí này luôn ở trên mức của khớp chày mác xa.
    Trong nhiều trường hợp có thể thấy trên phim X-quang cổ chân, nhưng trong một số trường hợp vị trí gãy xương nằm cao và chỉ có thể thấy trên phim X-quang cẳng chân.
    Loại gãy xương sau này còn được gọi là gãy xương Maisonneuve.


    Here we see the different stages in the axial plane.

    1. Medial avulsion fracture or rupture of the collateral band
    2. Rupture of the anterior syndesmosis
    3. Suprasyndesmotic rupture of the fibula due to rotation
    4. Gãy mắt cá sau hoặc đứt dây chằng chày mác sau

    Scroll through the images.


    Weber C fracture - stage 3

    Weber C fracture – stage 3

    Phim X-quang cho thấy gãy xương Weber C.
    Có gãy xương giật (avulsion) của mắt cá trong và gãy xương mác ở trên mức khớp chày mác xa (syndesmosis).
    Theo phân loại Lauge-Hansen, đây là tổn thương xoay ngoài-sấp (pronation exorotation) giai đoạn 3, do đó dây chằng chày mác xa trước (anterior syndesmosis) (giai đoạn 2) cũng phải bị đứt.

    Chúng tôi không thấy gãy xương tertius, vốn là dấu hiệu của giai đoạn 4, nhưng có thể có rách khớp chày mác sau.


    Weber C fracture - at least stage 3

    Weber C fracture – at least stage 3

    Đây là một ví dụ về gãy xương Weber C kèm theo gãy xương mác đoạn gần.
    Lưu ý rằng trên phim X-quang cổ chân không thấy đường gãy xương.
    Bạn có thể chẩn đoán nhầm đây chỉ là sưng nề phần mềm đơn thuần.
    Thực tế đây là gãy xương cổ chân không vững, vì chắc chắn phải có kèm theo đứt dây chằng bên trong (giai đoạn 1), do đó vòng xương bị phá vỡ ở hai vị trí dẫn đến mất vững.

    According to Lauge Hansen we are probably dealing with:

    1. Medial collateral band rupture
    2. Rupture of the anterior syndesmosis
    3. High fibula fracture
    4. and possibly a rupture of the posterior syndesmosis

    Stage 4

    Cuối cùng dây chằng chày mác sau bị đứt, hoặc có sự bong gân của mắt cá sau, còn được gọi là gãy mắt cá sau (mũi tên đỏ).

    Khoang sáng phía trong chỉ giãn rộng nhẹ, nhưng dựa trên các giai đoạn của Lauge Hansen, chắc chắn phải có đứt dây chằng bên.

    Diễn Giải và Báo Cáo

    Bắt đầu với ấn tượng ban đầu và tìm kiếm các gãy xương cũng như dấu hiệu đứt dây chằng.
    Ấn tượng này sẽ định hướng bạn đến cả phân loại Weber lẫn phân loại Lauge-Hansen.
    Phân loại Lauge-Hansen sẽ cho bạn biết cơ chế gãy xương và giai đoạn sơ bộ của chấn thương cổ chân.

    Bây giờ hãy xem lại phim để đảm bảo rằng bạn không bỏ sót một chấn thương cổ chân ở mức độ cao hơn.
    Sau khi xem lại, bạn có thể đưa ra báo cáo cuối cùng.

    Trong báo cáo cuối cùng, gãy xương được mô tả theo phân loại Weber và/hoặc Lauge-Hansen.
    Mô tả số lượng mắt cá chân liên quan và liệu có dấu hiệu mất vững hoặc trật khớp hay không.


    Click to enlarge

    Nhấp để phóng to

    Ví dụ 1

    • Diễn giải cơ bản
      Có gãy xương mắt cá trong.
      Bạn diễn giải đây là gãy xương kiểu giật (avulsion fracture).
    • Phân loại
      Không thể phân loại theo Weber, nhưng theo Lauge-Hansen, gãy xương giật mắt cá trong cho thấy bàn chân có thể đang ở tư thế sấp (pronation) tại thời điểm chấn thương.
      Do đó, chấn thương này có thể là chấn thương sấp-xoay ngoài (PER) giai đoạn 1 hoặc cao hơn.
    • Xem lại phim
      Bạn xem lại phim X-quang để tìm kiếm giai đoạn 2 (đứt hoặc gãy giật khớp chày mác trước), giai đoạn 3 (gãy xương mác cao = Weber C) hoặc thậm chí giai đoạn 4 (đứt hoặc gãy giật khớp chày mác sau).
      Vì vậy, khi xem lại lần hai, bạn nhận thấy sự giãn rộng nhẹ của khoang sáng bên ngoài trên phim gốc, điều này có thể gợi ý nhưng chắc chắn chưa phải bằng chứng của đứt khớp chày mác.
      Mặc dù bệnh nhân đã được bó bột, bạn vẫn chỉ định chụp thêm phim để tìm kiếm giai đoạn 3 có thể có.
      Các phim này cho thấy gãy xương mác cao và gãy giật mắt cá sau nhẹ.
    • Báo cáo cuối cùng
      Gãy xương Weber C hoặc PER giai đoạn 4 theo Lauge-Hansen. Đây là gãy xương không vững cần phẫu thuật sửa chữa.
      Vòng cổ chân bị gián đoạn ở hai vị trí, tức là mắt cá trong và khớp chày mác.
      Một vít khớp chày mác đã được đặt vào.

    Ví dụ 2

    • Diễn giải cơ bản
      Gãy xương mắt cá ngoài theo chiều ngang.

    • Phân loại

      Weber A và Sấp-Khép (Supination Adduction) giai đoạn 1.

    • Xem lại phim

      Không có dấu hiệu của SA giai đoạn 2 (gãy xương mắt cá trong)
    • Báo cáo cuối cùng
      Gãy xương Weber A hoặc SA giai đoạn 1 ổn định.
      Bệnh nhân sẽ được điều trị bảo tồn.

    Ví dụ 3

    • Diễn giải cơ bản
      Gãy xương hai mắt cá có trật khớp. Gãy giật xương mắt cá trong.
      Mắt cá ngoài bị ‘đẩy ra’ từ trước ra sau.
    • Phân loại
      Đường gãy bắt đầu ở mức khớp cổ chân và lan lên trên, tức là gãy xương Weber B.
      Theo Lauge-Hansen, gãy xương mác chéo cho thấy đây là chấn thương Ngửa-Xoay ngoài (Supination Exorotation) giai đoạn 2 hoặc cao hơn.
    • Xem lại phim
      Tìm kiếm giai đoạn 3 (đứt khớp chày mác sau hoặc gãy giật mắt cá sau) và giai đoạn 4 (đứt dây chằng delta hoặc gãy giật mắt cá trong).
      Chỉ đến lúc này bạn mới nhận thấy gãy xương mắt cá sau trên phim nghiêng.
    • Báo cáo cuối cùng
      Gãy xương ba mắt cá. Weber B. SER giai đoạn 4 (Lauge-Hansen).
      Đây là gãy xương không vững có trật khớp cần phẫu thuật sửa chữa.
      Kích thước mảnh gãy mắt cá sau có thể nhỏ hơn 25% đường kính khớp theo chiều trước-sau và có thể không cần sửa chữa riêng.
      Đôi khi cần chụp CT để đánh giá tốt hơn kích thước mảnh gãy của mắt cá sau.

    Click to enlarge

    Nhấp để phóng to

    Ví dụ 4

    • Diễn giải cơ bản
      Gãy xương mắt cá ngoài bắt đầu ở phía trước tại mức khớp và lan lên trên ra phía sau.
    • Phân loại
      Gãy xương được phân loại theo Weber là gãy xương loại B.

      Theo Lauge-Hansen, gãy xương mác chéo cho thấy đây là chấn thương Ngửa-Xoay ngoài (Supination Exorotation) giai đoạn 2 hoặc cao hơn.

    • Xem lại phim
      Tìm kiếm giai đoạn 3 và giai đoạn 4.
      Có những dấu hiệu nhỏ cho thấy gãy xương mắt cá sau. Thông thường bạn có thể sẽ không nhận thấy những dấu hiệu này.
      Trên phim nghiêng, vỏ xương phía sau của xương chày bị gián đoạn cho thấy có gãy xương (mũi tên xanh).
      Ngay cả trên phim thẳng cũng có những dấu hiệu nhỏ cho thấy gãy xương (mũi tên đỏ).
      Khoang sáng phía trong bị giãn rộng, cho thấy đứt dây chằng bên trong, tức là giai đoạn 4.
    • Báo cáo cuối cùng
      Gãy xương Weber B. Theo Lauge-Hansen đây là SER giai đoạn 4.
      Đây là gãy xương không vững có trật khớp cần phẫu thuật sửa chữa.


    Từ thiện

    Toàn bộ lợi nhuận từ Radiology Assistant được chuyển đến tổ chức Medical Action Myanmar do Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis (cấp cao) điều hành, người là giáo sư tại Đại học Oxford và tình cờ là anh trai của Robin Smithuis.

    Nhấp vào đây hoặc vào hình ảnh bên dưới để xem video về Medical Action Myanmar và nếu bạn thấy Radiology Assistant hữu ích, hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Thoát vị đĩa đệm thắt lưng

    Thoát Vị Đĩa Đệm Thắt Lưng

    và các nguyên nhân khác gây chèn ép rễ thần kinh

    Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Bài viết này trình bày một phương pháp tiếp cận có hệ thống đối với bệnh nhân bị chèn ép rễ thần kinh vùng thắt lưng.

    Chúng tôi sẽ thảo luận về thoát vị đĩa đệm, thoái hóa khớp mặt, nang hoạt dịch, trượt đốt sống và lipomatosis ngoài màng cứng.

    Có thể phóng to hình ảnh bằng cách nhấp vào chúng.

    Tiếp cận hệ thống

    Bốn mức độ chèn ép thần kinh

    Ở bệnh nhân có triệu chứng chèn ép rễ thần kinh, có bốn mức độ cần được khảo sát:

    1. Mức độ đĩa đệm.
      Đây là vị trí phổ biến nhất gây chèn ép thần kinh.
      Chủ yếu do thoát vị đĩa đệm và ít thường gặp hơn do hẹp ống sống.
    2. Mức độ ngách bên.
      Đây là vùng nằm phía dưới đĩa đệm, nơi rễ thần kinh đi theo hướng bên hơn về phía lỗ liên hợp.
      Hẹp ngách bên được gây ra bởi thoái hóa khớp mỏm khớp, thường kết hợp với phì đại dây chằng vàng và phồng đĩa đệm.
    3. Lỗ liên hợp.
      Đây là vùng nằm giữa hai cuống sống, nơi rễ thần kinh thoát ra khỏi ống sống.
      Hẹp lỗ liên hợp được gặp trong thoái hóa khớp mỏm khớp, trượt đốt sống và thoát vị đĩa đệm trong lỗ liên hợp – thường là đĩa đệm di trú từ tầng thấp hơn.
    4. Ngoài lỗ liên hợp.
      Đây là vùng nằm bên ngoài lỗ liên hợp.
      Chèn ép thần kinh tại vùng này không phổ biến, nhưng đôi khi do thoát vị đĩa đệm sang bên gây ra.

    Tại bốn mức độ này, có thể có sự chồng lấp đáng kể của các bệnh lý.
    Ví dụ, thoát vị đĩa đệm có thể gây chèn ép thần kinh tại mức độ đĩa đệm, nhưng cũng có thể gây chèn ép tại mức độ lỗ liên hợp hoặc ngoài lỗ liên hợp khi đĩa đệm bị di trú.

    Khi tìm kiếm tình trạng chèn ép thần kinh, cần phải khảo sát tất cả các mức độ này.


    Cuộn qua các hình ảnh để quan sát đường đi của các rễ thần kinh tại mức độ đĩa đệm, ngách bên, lỗ liên hợp và ngoài lỗ liên hợp.

    Tại mỗi mức độ có thể thấy các bệnh lý đặc trưng, nhưng có sự chồng lấp đáng kể.
    Ví dụ, đĩa đệm có thể thoát vị và gây chèn ép thần kinh tại mức độ đĩa đệm, nhưng cũng có thể di trú xuống tầng thấp hơn và chèn ép rễ thần kinh trong ngách bên, hoặc di chuyển lên trên và gây chèn ép tại mức độ lỗ liên hợp hay ngoài lỗ liên hợp.
    Ở bệnh nhân thoái hóa khớp mỏm khớp, các gai xương có thể phát triển vào trong và làm hẹp ngách bên, hoặc phát triển lên trên và làm hẹp lỗ liên hợp.
    Khi thoái hóa khớp mỏm khớp nặng xảy ra hai bên, có thể gây hẹp ống sống và chèn ép tất cả các rễ thần kinh tại tầng đó.

    Giải phẫu

    Hình minh họa thể hiện các cấu trúc bao quanh các rễ thần kinh bên trong ống sống.

    Dây chằng vàng
    Dây chằng vàng là một dây chằng chắc khỏe nằm ở mặt sau trong của ống sống, kết nối các mảnh cung sau của các đốt sống liền kề.
    Do quá trình lão hóa và mất vững cột sống liên quan đến thoái hóa khớp mỏm khớp, dây chằng vàng sẽ chịu nhiều áp lực hơn, dẫn đến phì đại và xơ hóa.

    Phì đại dây chằng vàng thường được gặp kết hợp với thoái hóa khớp mỏm khớp, và cả hai đều dẫn đến hẹp ngách bên hoặc, khi xảy ra hai bên, gây hẹp ống sống.

    Mỡ ngoài màng cứng
    Đây là lớp mỡ bao quanh túi màng cứng chứa các rễ thần kinh.
    Tình trạng tích tụ mỡ nhiều có thể gặp trong liệu pháp corticosteroid, béo phì nặng và hiếm gặp hơn là vô căn.
    Tích tụ mỡ ngoài màng cứng nhiều có thể góp phần gây hẹp ống sống.

    Quy trình chụp MRI

    Quy trình chụp MRI khảo sát cột sống thắt lưng ở bệnh nhân có triệu chứng chèn ép thần kinh khá đơn giản.

    Về cơ bản, chúng ta dựa vào các hình ảnh mặt phẳng đứng dọc chuỗi xung T1W và T2W, sau đó đối chiếu các phát hiện với hình ảnh mặt phẳng ngang chuỗi xung T2W tại các tầng nghi ngờ có bệnh lý.

    Không sử dụng dải bão hòa ở phía trước hoặc trường nhìn hình chữ nhật (RFOV), vì cần khảo sát cả phần mô mềm trước cột sống.

    Đặc biệt cần chú ý tìm kiếm phình động mạch chủ bụng, vì đây cũng có thể là nguyên nhân gây đau thắt lưng.
    Đôi khi trên lâm sàng rất khó phân biệt đau cách hồi nguồn gốc thần kinh – do hẹp ống sống – với đau cách hồi nguồn gốc mạch máu – do hẹp động mạch.

    Hướng mã hóa tần số nên đặt theo chiều trước-sau (AP) và do đó hướng mã hóa pha sẽ theo chiều chân-đầu.

    Cách thiết lập này có một số ưu điểm:

    1. Độ phân giải cao nhất theo hướng mã hóa tần số.
      Chúng ta cần độ phân giải cao nhất theo chiều trước-sau để phát hiện các thoát vị nhỏ và xác định rõ ranh giới các rễ thần kinh.
    2. Khi đặt mã hóa pha theo chiều trước-sau, sẽ xuất hiện xảo ảnh do chuyển động hô hấp. Đó là lý do một số người sử dụng dải bão hòa hoặc RFOV.
      Khi đặt mã hóa tần số theo chiều trước-sau, các vấn đề này sẽ không xảy ra và không cần sử dụng dải bão hòa.
    3. Mã hóa tần số theo chiều chân-đầu có thể dẫn đến hiển thị kém các mâm đốt sống do xảo ảnh dịch chuyển hóa học tại vị trí tiếp giáp giữa mỡ trong thân đốt sống và nước trong đĩa đệm.
      Đây là lý do thêm để sử dụng mã hóa pha theo chiều chân-đầu và mã hóa tần số theo chiều trước-sau.

    Tốt hơn nên sử dụng các lát cắt liên tục với cùng một góc nghiêng, song song với tầng nghi ngờ có chèn ép thần kinh.
    Cách này có ưu điểm là cho phép theo dõi toàn bộ đường đi của rễ thần kinh liên quan qua bốn tầng có thể xảy ra chèn ép.

    Khi khảo sát nhiều tầng với các góc nghiêng khác nhau như trong ví dụ bên phải, sẽ không thể theo dõi toàn bộ đường đi của rễ thần kinh và không có được cái nhìn tổng thể.

    Diễn giải hình ảnh

    Các hình ảnh cắt dọc chuỗi xung T1W cung cấp nhiều thông tin chẩn đoán nhất.
    Trước khi bắt đầu tìm kiếm bất kỳ thoát vị nào, hãy quan sát kỹ các mô trước cột sống và tủy xương.

    Khi đã phát hiện bất thường, hãy đối chiếu các phát hiện này với hình ảnh chuỗi xung T2W (hình).

    Sử dụng điểm đánh dấu
    Khi phát hiện một bất thường, việc sử dụng điểm đánh dấu tương ứng với cùng một vị trí trên các chuỗi xung khác có thể rất hữu ích.
    Nếu phóng to hình ảnh, bạn sẽ thấy dấu thập màu vàng nhỏ, cho biết bạn đang quan sát đúng vị trí đó trên chuỗi xung khác.

    Trong trường hợp này, rễ thần kinh L5 bên phải bị chèn ép bởi một nang hoạt dịch (synovial cyst), là hệ quả của thoái hóa khớp mỏm khớp kèm tràn dịch trong các khớp gian đốt sống.

    Các mô trước cột sống

    Đây là bệnh nhân 25 tuổi nhập viện vì đau thắt lưng.
    Lưu ý nhiều khối nhỏ trong ổ bụng bao quanh các mạch máu mạc treo và tín hiệu tủy xương giảm bất thường.
    Tín hiệu của đĩa đệm cao hơn một chút so với tủy xương (dấu hiệu đĩa đệm sáng – bright discus sign).

    Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy bất thường ở bệnh nhân này.
    Kết quả cho thấy đây là di căn xương và hạch bạch huyết từ ung thư đại tràng.

    Đây là một bệnh nhân khác với hình ảnh nổi hạch bạch huyết lan rộng tại mạc treo ruột và sau phúc mạc.

    Đây là bệnh nhân nhập viện vì đau thắt lưng dữ dội.
    Lưu ý hình ảnh bóc tách động mạch chủ.

    Đôi khi các bất thường động mạch chủ này là những phát hiện tình cờ.

    Thoát vị đĩa đệm

    Thoát vị đĩa đệm là sự dịch chuyển của các thành phần đĩa đệm như nhân nhầy, các phần của vòng sợi và sụn, vượt ra ngoài giới hạn của khoang gian đốt sống.

    Thoát vị có thể khu trú (< 90º), diện rộng (90º-180º) hoặc do phình đĩa đệm (> 180º).

    Lồi đĩa đệm (Protrusion) được xác định khi khoảng cách giữa các bờ của khối thoát vị nhỏ hơn khoảng cách giữa các bờ của nền.

    Thoát vị thực sự (Extrusion) được xác định khi khoảng cách giữa các bờ của khối thoát vị lớn hơn khoảng cách tại nền.

    Đọc Cột sống – Danh pháp Đĩa đệm để biết thêm thông tin về danh pháp thoát vị đĩa đệm.

    Hình ảnh lồi đĩa đệm khu trú tại mức L5S1.
    Rễ thần kinh S1 bị chèn ép (mũi tên).


    Hãy cuộn qua các hình ảnh và mô tả các dấu hiệu tìm thấy.

    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu tại các mức 1-4 như sau:

    1. Tại mức đĩa đệm, có hẹp ống sống tối thiểu do phình đĩa đệm và thoái hóa khớp mỏm khớp.
    2. Tại mức này, có hẹp ống sống nặng do phình đĩa đệm và thoái hóa khớp mỏm khớp.
      Ngoài ra còn có rách vòng sợi (tăng tín hiệu) là nơi đĩa đệm thoát vị qua (mũi tên vàng).
    3. Tại mức ngách bên, có thoát vị khu trú của chất đĩa đệm gây chèn ép rễ thần kinh L5 (mũi tên vàng).
      Đây được gọi là thoát vị thực sự (extrusion), vì khoảng cách giữa các bờ của khối thoát vị lớn hơn khoảng cách tại nền.
    4. Rễ thần kinh L5 bị chèn ép (mũi tên xanh dương) trong ngách bên.
      Đĩa đệm thoát vị đã di trú xuống phía dưới và được thấy như một cấu trúc hình bầu dục nằm phía trước rễ thần kinh.
      Đĩa đệm thoát vị không được bao bọc, tức là không được che phủ bởi các sợi của vòng sợi.

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh.

    Nhấp để phóng to.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Thoát vị đĩa đệm L3L4.
    • Di trú lên phía trên.
    • Chèn ép rễ thần kinh L3 trong lỗ liên hợp.

    Click to enlarge

    Nhấp để phóng to

    Cường độ tín hiệu của thoát vị đĩa đệm trên chuỗi xung T1W thường ở mức trung gian, trong khi trên chuỗi xung T2W có thể tăng tín hiệu trong trường hợp nhân nhầy thoát vị mới hoặc giảm tín hiệu trong trường hợp thoát vị cũ hơn.

    Hình ảnh thoát vị tăng tín hiệu (mũi tên vàng trên ảnh cắt ngang) trượt qua vết rách vòng sợi và chèn ép rễ thần kinh L5 bên trái (mũi tên xanh dương).

    Hình ảnh chuỗi xung T1W mặt phẳng đứng dọc cho thấy một cấu trúc giảm tín hiệu rất thấp tại mức L4L5 (mũi tên) và tại mức L5S1.

    Tiếp tục xem các hình ảnh chuỗi xung T2W.


    T2W-images

    Chuỗi xung T2W

    Trên chuỗi xung T2W, cường độ tín hiệu cũng rất thấp.

    Chụp CT được thực hiện để xác định liệu đây có phải là đĩa đệm thoát vị bị vôi hóa hay một xảo ảnh nào đó.

    Tiếp tục xem các hình ảnh CT.

    Tín hiệu thấp cuối cùng được giải thích là do hiện tượng chân không (vacuum phenomenon) gây ra bởi khí nitơ trong đĩa đệm thoát vị tại cả mức L4L5 (mũi tên đỏ) và mức L5S1 (mũi tên xanh dương).


    Trước tiên hãy cuộn qua các hình ảnh chuỗi xung T1W mặt phẳng đứng dọc này.
    Các dấu hiệu là gì?

    Sau đó tiếp tục xem chuỗi ảnh tiếp theo.


  • TI-RADS – Hệ thống Báo cáo và Dữ liệu Hình ảnh Tuyến giáp

    TI-RADS – Thyroid Imaging Reporting and Data System

    Habib Ahmad and Aad van der Lugt

    Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Trung tâm Y tế Erasmus tại Rotterdam

    Lên đến 67% cá nhân được đánh giá bằng siêu âm được phát hiện có nhân tuyến giáp tình cờ.

    Tỷ lệ cao của nhân tuyến giáp, kết hợp với sự tiến triển thường chậm chạp của ung thư tuyến giáp, đặt ra một thách thức đáng kể trong việc tối ưu hóa quản lý bệnh nhân.

    Hệ thống Báo cáo và Dữ liệu Hình ảnh Tuyến giáp (TI-RADS) của Trường Cao đẳng X quang Hoa Kỳ (ACR), được giới thiệu vào năm 2017, được phát triển nhằm giảm thiểu các sinh thiết không cần thiết đối với các nhân lành tính và nâng cao độ chính xác chẩn đoán.

    TI-RADS categories


    Click to enlarge

    Click to enlarge

    TI-RADS đánh giá các nốt tuyến giáp dựa trên năm đặc điểm siêu âm:

    • composition
    • echogenicity
    • shape
    • margin
    • punctate echogenic foci.

    Mỗi đặc điểm được gán một giá trị điểm cụ thể.
    Tổng điểm từ tất cả các danh mục xác định mức TI-RADS, tương ứng với khuyến nghị xử trí.
    Các nhân tuyến giáp có kích thước nhỏ hơn 5 mm không cần theo dõi, ngay cả khi được phân loại TI-RADS 5, do khả năng xảy ra ác tính có ý nghĩa lâm sàng ở kích thước này là cực kỳ thấp.

    Ngưỡng 2,5 cm để thực hiện chọc hút bằng kim nhỏ (FNA) đối với các tổn thương nghi ngờ nhẹ (TR3) được hỗ trợ bởi bằng chứng cho thấy tỷ lệ sống sót trong ung thư tuyến giáp không bị ảnh hưởng cho đến khi khối u đạt kích thước này.

    Các nghiên cứu quy mô lớn đã chứng minh mối tương quan chặt chẽ giữa phân loại ACR-TI-RADS và nguy cơ ác tính.

    The risk of malignancy is:

    • TR1: 0.3%
    • TR2: 1.5%
    • TR3: 4.8%
    • TR4: 9.1%
    • TR5: 35%

    Bảng này trình bày phiên bản ngang của phân loại TI-RADS.
    Để xem chi tiết hơn, hãy nhấp vào để phóng to hình ảnh.


    Các ngoại lệ của TI-RADS
    Hệ thống TI-RADS không áp dụng được trong một số tình huống lâm sàng, mỗi tình huống trong số đó có nguy cơ ung thư tuyến giáp cao hơn so với dân số người lớn nói chung:

    • Pediatric patients
    • FDG-PET-avid thyroid nodules
    • Presence of lymphadenopathy
    • Các yếu tố nguy cơ đã biết của ác tính tuyến giáp, chẳng hạn như Đa u tuyến nội tiết (MEN) type 2

    Composition

    Tổn thương dạng nang, hoặc những tổn thương gần như hoàn toàn là nang, được coi là lành tính và được phân loại là TI-RADS 1.
    Không có điểm bổ sung nào được tính thêm. Điều này cũng áp dụng cho các nhân dạng xốp, vốn có bản chất lành tính và không cần đánh giá thêm bằng siêu âm.

    Cyst

    Hình ảnh mô tả một nang tuyến giáp điển hình.
    Không cần đánh giá thêm.

    Spongiform nodules

    Nốt dạng bọt biển có hình dạng giống miếng bọt biển, với ít nhất 50% thành phần cấu tạo bao gồm các thành phần nang nhỏ.
    Không cần thêm đặc điểm mô tả siêu âm.

    Mixed cystic/solid lesions

    Trong các tổn thương hỗn hợp dạng nang/đặc, tỷ lệ giữa thành phần nang và thành phần đặc không phải là yếu tố quyết định.
    Các tổn thương này được tính 1 điểm cho thành phần hỗn hợp dạng nang/đặc của chúng.

    Solid lesions

    • Tổn thương A: Tổn thương này gần như hoàn toàn đặc. Mặc dù có các vùng nang nhỏ, nhưng không đáp ứng tiêu chí của nốt dạng xốp, vì thành phần nang chiếm ít hơn nhiều so với 50% tổng thể tích nốt.
    • Lesion B: This lesion is completely solid.

    Để một tổn thương được phân loại là đặc, ít nhất 95% thành phần của nó phải là đặc. Việc xác định này dựa trên ước tính trực quan; không cần tính toán chính xác.

    Echogenicity

    Tổn Thương Trống Âm
    Tổn thương trống âm phải xuất hiện hoàn toàn màu đen trên siêu âm, cho thấy bản chất dạng nang.
    Không cần thêm đặc điểm mô tả siêu âm nào khác.


    Tổn thương tăng âm và đồng âm
    Cả tổn thương tăng âm và đồng âm đều được tính 1 điểm trong hệ thống phân loại TI-RADS. Về mặt tính điểm, không có sự phân biệt giữa hai loại này.
    Độ hồi âm được đánh giá so với nhu mô tuyến giáp bình thường.

    Tổn thương giảm âm
    Tổn thương giảm âm có độ hồi âm thấp hơn so với nhu mô tuyến giáp bình thường xung quanh.
    Nếu không thể đánh giá chính xác độ hồi âm (ví dụ: do sự hiện diện của các vôi hóa), mặc định sẽ được tính 1 điểm.


    Very hypoechoic , i.e. 3 points in TI-RADS.

    Very hypoechoic , i.e. 3 points in TI-RADS.

    Tổn Thương Giảm Âm Rõ Rệt
    Tổn thương giảm âm rõ rệt có độ hồi âm thấp hơn so với mô cơ bình thường.
    Lưu ý rằng, trong hình ảnh được cung cấp, tổn thương có độ giảm âm cao hơn so với các cơ dải (được chỉ bởi các mũi tên).

    Shape

    Hình dạng nên được đánh giá trên mặt phẳng trục.
    Hình dạng cao hơn rộng là yếu tố dự báo mạnh cho ác tính, và do đó được tính 3 điểm.

    Margin

    Đánh giá Bờ Nhân Tuyến Giáp
    Bờ của nhân tuyến giáp thường được đánh giá tốt nhất ở mặt trước.

    • Smooth: The margin is entirely smooth.
    • Không rõ ràng: Ranh giới của nhân tuyến giáp không thể phân biệt rõ ràng với nhu mô tuyến giáp xung quanh. Đây được coi là đặc điểm lành tính và không nên nhầm lẫn với bờ không đều.
    • Thùy hoặc Không đều: Bờ có dạng thùy, tua gai, không đều hoặc góc cạnh.
    • Xâm lấn ngoài tuyến giáp: Đây là đặc điểm khó đánh giá trên siêu âm. Phải có bằng chứng rõ ràng về sự xâm lấn vào các cấu trúc lân cận; chỉ đơn thuần phồng lồi vào các cấu trúc lân cận là không đủ để phân loại là xâm lấn ngoài tuyến giáp.

    Nốt Không Rõ Ranh Giới
    Trong hình ảnh được cung cấp, chỉ có các đoạn nhỏ của bờ nốt là có thể nhận thấy được (được chỉ ra bởi các mũi tên).
    Phần lớn bờ nốt không phân biệt được với nhu mô tuyến giáp.
    Điểm TI-RADS: 0 điểm.

    Nốt với Bờ Không Đều, Góc Cạnh
    Nốt này có bờ không đều, góc cạnh.
    Điểm TI-RADS: 2 điểm.

    Nốt với Bờ Không Đều, Có Múi
    Hình ảnh cho thấy bờ không đều, có múi ở mặt trước của nốt.
    Điểm TI-RADS: 2 điểm.


    Exophytic growth but no frank invasion.

    Exophytic growth but no frank invasion.

    Nốt với Sự Phát Triển Ngoại Sinh
    Nốt này cho thấy sự phát triển ngoại sinh với sự chèn ép các cấu trúc lân cận.
    Tuy nhiên, không có bằng chứng rõ ràng về sự xâm lấn thực sự, và do đó, không đủ tiêu chuẩn để xác định là xâm lấn ngoài tuyến giáp.

    Echogenic foci

    Comet Tail Artifact and Echogenic Foci

    Danh mục tiêu điểm tăng âm có đặc điểm riêng là có thể có nhiều đặc điểm áp dụng đồng thời, và tất cả các tùy chọn liên quan đều phải được chọn.
    Điểm của mỗi đặc điểm áp dụng được cộng vào tổng điểm TI-RADS.

    Ví dụ, nếu cả các ổ tăng âm dạng chấmvôi hóa viền cùng hiện diện, tổng điểm TI-RADS sẽ là 3 + 2 = 5 điểm.

    0 Points is assigned for:

    • Absence of echogenic foci.
    • Các artifact đuôi sao chổi lớn (>1 mm), như minh họa trong hình.

    Macrocalcification

    Nốt này có các vôi hóa lớn kèm theo bóng lưng âm học.
    Điểm TI-RADS: 1 điểm.

    Rim calcification

    Vôi hóa viền ngoại vi có thể hoàn toàn hoặc không hoàn toàn.
    Điểm TI-RADS: 2 điểm.

    Microcalcifications

    Các ổ tăng âm dạng chấm, còn được gọi là vi vôi hóa, là yếu tố dự báo mạnh cho ác tính và được tính 3 điểm trong hệ thống TI-RADS.

    Từ điển thuật ngữ của Hiệp hội Điện quang Hoa Kỳ (ACR) phân loại chi tiết hơn về nhóm này, vì các tiêu điểm tăng âm cũng có thể xuất hiện trong mô tuyến giáp bình thường.
    Các tiêu điểm tăng âm dạng chấm chỉ nên được phân loại như vậy khi chúng có thể xác định rõ ràng và nằm hoàn toàn trong phạm vi nhân.

    Ngoài ra, các hiện tượng đuôi sao chổi nhỏ có chiều dài dưới 1 mm cũng được xếp vào nhóm vi vôi hóa.
    Điểm TI-RADS: 3 điểm.

    Growth

    Nodule Growth According to TI-RADS and ATA Guidelines

    Sự phát triển của nhân tuyến giáp, theo định nghĩa của TI-RADS, phù hợp với hướng dẫn của Hiệp hội Tuyến giáp Hoa Kỳ (ATA). Sự phát triển đáng kể được xác định khi có một trong các tiêu chí sau:

    • Tăng ≥20% trong ít nhất hai chiều của nốt, với mức tăng tối thiểu 2 mm, hoặc
    • A ≥50% increase in volume.

    Nếu một nốt không thay đổi kích thước trong khoảng thời gian 5 năm, nốt đó có thể được coi là lành tính về mặt hành vi, và không cần theo dõi thêm. So sánh kích thước nên được thực hiện với hình ảnh cũ nhất hiện có, không chỉ với hình ảnh gần nhất. Nếu có sự tăng trưởng trong khoảng thời gian theo dõi nhưng chưa đáp ứng tiêu chí chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA), lần theo dõi tiếp theo nên được lên lịch sau 1 năm, bất kể phân loại TI-RADS là gì.

    Multiple Nodules

    Management of Multiple Nodules

    Khi có nhiều nốt, không nên phân loại quá bốn nốt, và không khuyến cáo thực hiện FNA cho quá hai nốt.
    Trong trường hợp có nhiều nốt, nốt đáp ứng tiêu chí FNA theo TI-RADS nên được lấy mẫu, không nhất thiết phải là nốt chiếm ưu thế hoặc nốt lớn nhất.

    Overdiagnosis and Overtreatment

    Clinical Significance of Thyroid Nodules

    Khi một nhân tuyến giáp được phát hiện, câu hỏi chẩn đoán chính là liệu nó là lành tính hay ác tính.
    Tùy thuộc vào các nghiên cứu được tham chiếu, 6%–13% nhân tuyến giáp được chọn để chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) sẽ được chứng minh là ác tính.
    Phần lớn các ung thư tuyến giáp được phát hiện tình cờ có nguồn gốc từ thể nhú, loại này, không giống như ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa (chịu trách nhiệm cho hơn một nửa số ca tử vong do ung thư tuyến giáp mặc dù chỉ chiếm 1%–2% các trường hợp), thường có diễn tiến chậm.

    Do ung thư tuyến giáp thể nhú là phân nhóm phổ biến nhất và biệt hóa tốt, tiên lượng của loại ung thư này rất tốt, với tỷ lệ sống sót sau 30 năm đạt 95%.
    Tuy nhiên, nhiều trường hợp ung thư trong số này có thể sẽ không có triệu chứng trong suốt cuộc đời của bệnh nhân, làm dấy lên lo ngại về tình trạng chẩn đoán quá mức.
    Các nỗ lực nghiên cứu cần tập trung vào việc xác định nhóm nhỏ các ung thư tuyến giáp có tính chất xâm lấn và ảnh hưởng đến khả năng sống sót.

    Examples


    Composition

    Case 1

    Kiểm tra hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.
    Nốt này có thành phần hỗn hợp, với thành phần nang nằm ở trung tâm.


    Trường hợp 2
    Quan sát hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.


    Trường hợp 3
    Quan sát hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.


    Trường hợp 4
    Quan sát hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.

    Nốt này có thành phần đặc chủ yếu.
    Thành phần nang tối thiểu, tương ứng 2 điểm cho cấu trúc.

    Echogenicity

    Trường hợp 1
    Đầu tiên, hãy quan sát hình ảnh siêu âm.
    Tiến hành phân tích bên dưới.

    Có hiện tượng tăng âm phía sau, gợi ý rằng tổn thương này có thể có bản chất dạng nang.
    Trong những trường hợp như vậy, siêu âm Doppler màu có thể hữu ích để đánh giá thêm; tuy nhiên, kỹ thuật này không được thực hiện trong trường hợp này.


    Trường hợp 2
    Quan sát hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.

    Nốt này giảm âm so với mô tuyến giáp bình thường có thể nhìn thấy ở mặt bụng của nốt.
    Điểm TI-RADS: 2 điểm cho độ hồi âm giảm âm.


    Trường hợp 3
    Quan sát hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.

    Đây là một nốt tăng âm.
    Điểm TI-RADS: 1 điểm cho độ hồi âm.


    Shape

    Ca lâm sàng
    Quan sát hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.

    TI-RADS Score3 points for a taller-than-wide shape.


    Margin

    Trường hợp 1
    Quan sát hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.


    Kiểm tra hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.
    Tiến hành phân tích bên dưới.

    Mặc dù bờ không rõ ràng ở mặt颅, điều này vẫn cho kết quả 0 điểm cho bờ u.


    Echogenic foci

    Trường hợp 1
    Quan sát hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.


    Ca 2
    Xem hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.
    Tiến hành phân tích bên dưới.

    Điểm TI-RADS: 1 điểm cho sự hiện diện của vôi hóa thô.
    Tổn thương này được phân loại TI-RADS 5, chủ yếu do tính chất giảm âm rõ rệt.
    Nếu tổn thương có chiều cao lớn hơn chiều rộng, điều này sẽ cộng thêm 3 điểm.


    Trường hợp 3
    Quan sát hình ảnh và xác định điểm TI-RADS.
    Cuộn hình ảnh để xem điểm TI-RADS.

    Lưu ý các tiêu điểm tăng âm nhỏ hiện diện.
    Tổng cộng 6 điểm tương ứng với điểm TI-RADS là 4.

  • Lộ trình đánh giá nang buồng trứng

    Lộ trình đánh giá nang buồng trứng.

    Wouter Veldhuis, Robin Smithuis, Oguz Akin và Hedvig Hricak

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht, Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan và Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Ung thư Memorial Sloan-Kettering, New York, Hoa Kỳ

    Ngày đăng

    Ung thư buồng trứng là loại ác tính phụ khoa phổ biến thứ hai trong tất cả các bệnh lý ác tính phụ khoa. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong nhóm bệnh này, thường biểu hiện dưới dạng một khối nang phức tạp.

    Phát hiện nang phần phụ gây ra lo lắng đáng kể cho phụ nữ do lo ngại về khả năng ác tính. Tuy nhiên, phần lớn các nang phần phụ – kể cả ở phụ nữ sau mãn kinh – đều là lành tính.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung vào các đặc điểm đặc trưng của nang buồng trứng giúp ích trong việc chẩn đoán phân biệt. Chúng tôi sẽ trình bày một lộ trình chẩn đoán và xử trí các khối nang buồng trứng, dựa trên các kết quả siêu âm và MRI.

    Trong Khối Nang Buồng Trứng II, các đặc điểm hình ảnh của buồng trứng bình thường và các khối nang buồng trứng thường gặp nhất sẽ được trình bày, cùng với một số tổn thương nang ít gặp hơn.

    Quy trình chẩn đoán

    • Bước 1
      Khi phát hiện một khối vùng chậu dạng nang, bước đầu tiên là xác định nguồn gốc của khối đó là từ buồng trứng hay từ cơ quan khác.
    • Bước 2
      Bước tiếp theo là xác định xem tổn thương có thể được phân loại vào một trong các nhóm khối buồng trứng lành tính thường gặp hay không (nang đơn thuần, nang xuất huyết, lạc nội mạc tử cung dạng nang hoặc u quái dạng nang trưởng thành), hay thuộc nhóm chưa xác định được bản chất.
    • Bước 3
      Để hỗ trợ lựa chọn phương pháp xử trí phù hợp, bước cuối cùng là xác định bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp (tức là phụ nữ tiền mãn kinh không có các yếu tố nguy cơ bổ sung) hay nhóm nguy cơ cao (tức là phụ nữ sau mãn kinh hoặc tiền mãn kinh có các yếu tố nguy cơ bổ sung).

    Dựa trên các bước này, chúng ta có thể xác định hướng xử trí tiếp theo: theo dõi, tái khám bằng siêu âm, đánh giá thêm bằng MRI hoặc phẫu thuật cắt bỏ.

    Vai trò của chẩn đoán hình ảnh

    Vai trò của Siêu âm
    Trong việc đánh giá đặc điểm các khối buồng trứng, siêu âm thường là phương pháp lựa chọn hàng đầu, đặc biệt trong việc phân biệt tổn thương dạng nang với tổn thương dạng nang-đặc phức tạp và tổn thương đặc.

    Vai trò của CT
    CT có giá trị trong việc đánh giá giai đoạn hạch (N) và di căn xa (M) đối với các tổn thương ác tính đã được xác định.

    Vai trò của MRI
    Đối với các tổn thương phức tạp, đánh giá ban đầu bằng siêu âm thường được tiếp nối bằng đánh giá chuyên sâu hơn với MRI.

    Ngay cả với MRI, việc chẩn đoán chính xác phân nhóm mô bệnh học của khối u thường vẫn không thể thực hiện được.

    Việc sử dụng MRI như một phương tiện bổ trợ cho siêu âm giúp tránh trì hoãn điều trị đối với các tổn thương buồng trứng có khả năng ác tính.
    Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho một số ít phụ nữ thực sự mắc ung thư buồng trứng, mà còn là một phương pháp tiếp cận đã được chứng minh là hiệu quả về mặt chi phí trong xử trí các tổn thương phần phụ chưa xác định được bản chất qua siêu âm.

    Nguồn gốc buồng trứng hay ngoài buồng trứng

    Khi phát hiện một khối phần phụ dạng nang và nghi ngờ có nguồn gốc từ buồng trứng, bước đầu tiên cần thực hiện là cố gắng xác định vị trí của hai buồng trứng.

    Nếu các mạch máu sinh dục dẫn đến tổn thương mà không thể xác định được buồng trứng bình thường riêng biệt, thì nhiều khả năng đây là tổn thương có nguồn gốc từ buồng trứng.
    Nếu cả hai buồng trứng đều có thể được xác định riêng biệt với tổn thương, thì đây là tổn thương dạng nang ngoài buồng trứng, hoặc một tổn thương giả dạng khối nang.

    Bước tiếp theo là xác định tổn thương một bên hay hai bên, đồng thời tìm kiếm các thành phần đặc có thể gợi ý ác tính.
    Cũng cần tìm kiếm các dấu hiệu thứ phát như cổ trướng, hạch bạch huyết to và các ổ cấy ghép phúc mạc.

    Bảng dưới đây trình bày chẩn đoán phân biệt các khối nang buồng trứng có thể gặp.


    Cuộn qua các hình ảnh

    Một phương pháp hữu ích để xác định buồng trứng là theo dõi tĩnh mạch buồng trứng theo hướng đuôi.
    Hãy cuộn qua các hình ảnh CT và theo dõi tĩnh mạch buồng trứng phải từ vị trí đổ vào tĩnh mạch chủ dưới, và tĩnh mạch buồng trứng trái từ vị trí đổ vào tĩnh mạch thận trái, cho đến khi xác định được buồng trứng.

    Nhận diện hình thái trên siêu âm

    Nhận diện hình thái trên siêu âm thường cho phép chẩn đoán khá chắc chắn các khối buồng trứng dạng nang phổ biến.
    Điều này có nghĩa là trong nhiều trường hợp, quy trình chẩn đoán dựa trên việc xác định xác suất tổn thương thuộc một trong các nhóm: nang đơn giản, nang xuất huyết, lạc nội mạc tử cung dạng nang (endometrioma) hoặc u quái dạng nang trưởng thành (thường gọi là nang bì – dermoid cyst).
    Hầu hết các tổn thương dạng nang còn lại đều không xác định được bản chất và do đó có khả năng ác tính. Những trường hợp này cần được đánh giá thêm bằng MRI hoặc phẫu thuật cắt bỏ.

    Nang đơn giản

    Các dấu hiệu siêu âm cho phép chẩn đoán chắc chắn nang buồng trứng đơn giản bao gồm:

    • Tổn thương không có hồi âm với tăng âm phía sau
    • Một ngăn (unilocular)
    • Thành mỏng, nhẵn
    • Không có thành phần đặc hoặc thành phần có mạch máu

    Hình ảnh siêu âm cho thấy hai nang đơn giản ở buồng trứng phải với mô đệm buồng trứng ở giữa.
    Các mạch máu xung quanh bình thường và không có vách ngăn có mạch máu.
    Đây là các nang nang trứng đơn giản ở phụ nữ tiền mãn kinh.

    Chẩn đoán phân biệt
    Hầu hết các nang đơn giản là nang chức năng, thường là nang nang trứng.
    Chúng thường gặp ở phụ nữ tiền mãn kinh, nhưng nang chức năng vẫn có thể xuất hiện ở phụ nữ sau mãn kinh.
    Một số nang đơn giản có thể là nang cạnh buồng trứng hoặc nang cạnh vòi trứng.
    Ứ dịch vòi trứng (hydrosalpinx) cũng có thể bắt chước hình ảnh nang buồng trứng.
    U nang tuyến (cystadenoma) cũng có thể biểu hiện như nang đơn giản, nhưng thường biểu hiện là nang lớn ở phụ nữ sau mãn kinh.

    Trong một nghiên cứu sàng lọc ung thư quy mô lớn từ năm 1987 đến 2002 bao gồm 15.106 phụ nữ từ 50 tuổi trở lên, 2.763 phụ nữ (18%) được chẩn đoán có nang buồng trứng một ngăn.
    Không có nang một ngăn đơn độc nào trong số này được xác định là ung thư buồng trứng (4).

    Ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, các nang có kích thước đến 3 cm là phát hiện sinh lý bình thường.
    Các nang sinh lý đơn giản này không cần mô tả trong báo cáo hình ảnh và không cần theo dõi (1).

    Các nang có kích thước đến 7 cm ở cả phụ nữ tiền mãn kinh và sau mãn kinh hầu như chắc chắn là lành tính.

    Các nang lớn hơn 7 cm có thể khó đánh giá toàn diện bằng siêu âm, do đó cần cân nhắc chụp MRI hoặc đánh giá phẫu thuật.

    Buồng trứng bình thường

    Nang chức năng


    Hemorrhagic cyst

    Nang xuất huyết

    Nang buồng trứng xuất huyết – HOC

    Khi nang Graaf hoặc nang nang trứng bị chảy máu, một nang buồng trứng xuất huyết phức tạp (HOC) được hình thành.

    Các dấu hiệu siêu âm cho phép chẩn đoán chắc chắn nang buồng trứng xuất huyết bao gồm:

    • Bệnh nhân nguy cơ thấp
    • Khối dạng nang
      Nang có thể chứa vùng có hình ảnh đặc với tăng âm phía sau tốt, không có dòng chảy nội tại trên Doppler màu, và điển hình có bờ lõm, phù hợp với cục máu đông

    Ở phụ nữ tiền mãn kinh, khuyến cáo theo dõi ngắn hạn đối với nang xuất huyết > 5 cm.
    Khuyến cáo theo dõi tương tự áp dụng cho phụ nữ mãn kinh sớm có nang mang đầy đủ đặc điểm của HOC.
    Nang xuất huyết lớn hơn ở giai đoạn mãn kinh sớm và bất kỳ nang xuất huyết nào ở giai đoạn mãn kinh muộn cần được coi là có khả năng tân sinh và nên cân nhắc MRI hoặc đánh giá phẫu thuật.


    Hemorrhagic cyst with a clot mimicking a neoplasm. Notice absence of flow and good through-transmission (arrow)

    Nang xuất huyết với cục máu đông bắt chước hình ảnh u tân sinh. Lưu ý không có dòng chảy và tăng âm phía sau tốt (mũi tên)

    Chẩn đoán phân biệt
    Khi nang xuất huyết biểu hiện với hồi âm mức độ thấp lan tỏa, hình ảnh của chúng có thể tương tự như lạc nội mạc tử cung dạng nang.
    Trong giai đoạn cấp tính, nang xuất huyết có thể chứa đầy hồi âm mức độ thấp, mô phỏng khối đặc (5).
    Cục máu đông trong nang xuất huyết đôi khi có thể bắt chước nốt đặc trong u tân sinh. Tuy nhiên, cục máu đông thường có bờ lõm do co rút, trong khi nốt thành thực sự có bờ lồi ra ngoài.
    Trong cả hai trường hợp, sẽ không có dòng chảy nội tại trên siêu âm Doppler và có tăng âm phía sau tốt.
    Nang xuất huyết thường tự thoái triển trong vòng 8 tuần.

    Hình ảnh siêu âm cho thấy nhiều nang đơn giản và một nang phức tạp ở buồng trứng phải, với hồi âm mức độ thấp lan tỏa và không có dòng chảy trên siêu âm Doppler.
    Lưu ý có tăng âm phía sau tốt, kể cả qua nang phức tạp (mũi tên xanh).
    Trên chuỗi xung T1W có ức chế mỡ, tổn thương vẫn tăng tín hiệu, loại trừ tổn thương chứa mỡ.
    Sau khi tiêm Gadolinium không có ngấm thuốc, xác nhận đây là tổn thương nang xuất huyết, nhiều khả năng nhất là nang buồng trứng xuất huyết, mặc dù chẩn đoán phân biệt có thể bao gồm lạc nội mạc tử cung dạng nang.

    Nang buồng trứng xuất huyết

    Lạc nội mạc tử cung dạng nang (Endometrioma)

    Các dấu hiệu siêu âm cho phép chẩn đoán chắc chắn lạc nội mạc tử cung dạng nang bao gồm:

    • Khối giảm âm đồng nhất
    • Hồi âm mức độ thấp lan tỏa (hình ảnh kính mờ – ground-glass)
    • Không có dòng chảy nội tại trên Doppler màu
    • Không có nốt hoặc khối đặc có ngấm thuốc
    • Trong 30% trường hợp có thể thấy các ổ tăng âm trong thành nang

    Ở phụ nữ ở mọi lứa tuổi, các trường hợp nghi ngờ lạc nội mạc tử cung dạng nang cần được theo dõi ban đầu sau 6-12 tuần để loại trừ nang xuất huyết.
    Cho đến khi được phẫu thuật cắt bỏ, lạc nội mạc tử cung dạng nang cần được theo dõi bằng siêu âm, ví dụ hàng năm.

    Hình ảnh siêu âm qua đường âm đạo này cho thấy một tổn thương dạng nang giảm âm lớn với hồi âm mức độ thấp lan tỏa và hai ổ tăng âm nhỏ.
    Các ổ này được cho là lắng đọng cholesterol, nhưng cũng có thể là cục máu đông nhỏ hoặc mảnh vụn.
    Điều quan trọng là phân biệt các ổ tăng âm này với nốt thành thực sự.
    Phát hiện các ổ tăng âm này làm cho chẩn đoán lạc nội mạc tử cung dạng nang rất có khả năng.

    Lạc nội mạc tử cung dạng nang

    U quái dạng nang trưởng thành

    Các dấu hiệu siêu âm đặc trưng của u quái dạng nang trưởng thành bao gồm:

    • Khối giảm âm với nốt tăng âm (nốt Rokitansky hoặc nút bì)
    • Thường một ngăn (90%)
    • Có thể chứa vôi hóa (30%)
    • Có thể chứa các đường tăng âm do tóc nổi
    • Có thể có mức mỡ-dịch, tức là mỡ nổi trên dịch

    Hình ảnh siêu âm qua đường âm đạo của hai bệnh nhân cho thấy dấu hiệu ‘đỉnh tảng băng’ (tip-of-the-iceberg): bóng cản âm từ phần tăng âm của nang bì (mũi tên).
    Khi bị nhầm lẫn với hơi ruột, tổn thương có thể bị bỏ sót.

    U quái dạng nang trưởng thành

    Các nang khác – có khả năng tân sinh

    Tất cả các tổn thương dạng nang còn lại đều được coi là có khả năng tân sinh và do đó có khả năng ác tính.
    Cần phẫu thuật cắt bỏ bởi bác sĩ phụ khoa ung bướu, người có thể yêu cầu phân giai đoạn dựa trên hình ảnh học trước đó.

    Các dấu hiệu gợi ý khả năng tân sinh:

    • Kích thước lớn
      Mặc dù các tổn thương lành tính có thể rất lớn, khả năng tổn thương là tân sinh tăng theo kích thước.
      Ngoài ra, khả năng tổn thương tân sinh là ác tính cũng tăng theo kích thước tổn thương.
    • Vách ngăn có mạch máu
      Sự hiện diện của vách ngăn gợi ý khả năng tân sinh. Khi vách ngăn có độ dày hơn 3mm và có mạch máu rõ – mặc dù không đặc hiệu – cả hai đặc điểm này đều làm tăng khả năng tổn thương tân sinh là ác tính.
    • Thành phần đặc có mạch máu
      Các nốt có mạch máu, nhú nhô vào lòng nang, hoặc khối đặc thực sự đều làm tăng khả năng bản chất tân sinh.
    • Thành dày, không đều có mạch máu
      Các tổn thương có thành mỏng thường lành tính hơn và các tổn thương có thành d

      Nguy cơ thấp hay Nguy cơ cao

      Sau khi đã xác định tổn thương buồng trứng dạng nang là nang đơn thuần có thể, nang xuất huyết, lạc nội mạc tử cung dạng nang (endometrioma), u quái trưởng thành dạng nang (mature cystic teratoma), hoặc chưa xác định được bản chất, bước tiếp theo là phân loại bệnh nhân vào nhóm nguy cơ thấp hoặc nguy cơ cao (xem bảng).

      Quyết định cuối cùng về việc theo dõi, bỏ qua hay phẫu thuật cắt bỏ tổn thương buồng trứng dạng nang dựa trên:

      • Hình thái học của tổn thương trên siêu âm, CT hoặc MRI
      • Nhóm nguy cơ (thấp so với cao)
      • Tổn thương có triệu chứng hay phát hiện tình cờ
      • Các dấu hiệu kèm theo như cổ trướng, hạch bạch huyết to hoặc tổn thương cấy ghép phúc mạc

      Tuy nhiên, đại đa số các tổn thương buồng trứng dạng nang là lành tính.
      Mặc dù nguy cơ ác tính tăng theo tuổi, ngay cả ở phụ nữ sau mãn kinh, nguy cơ ác tính trong một nang buồng trứng đơn thuần vẫn còn thấp. Mặc dù các nang buồng trứng phức tạp ở phụ nữ sau mãn kinh cũng thường là lành tính, chúng vẫn cần được đánh giá thêm do khả năng ác tính.

      ‘Lộ trình’ Chẩn đoán

      Diễn tiến tự nhiên của các khối vùng chậu được phát hiện tình cờ với hình thái lành tính trên siêu âm vẫn chưa được biết rõ, do đó phương pháp xử trí tối ưu cũng chưa được xác định.

      Lộ trình chẩn đoán này được xây dựng dựa trên Hướng dẫn Đồng thuận năm 2010 được công bố trong tài liệu (1) và (2), cùng với các kết quả nghiên cứu trong tài liệu (3) và (4).
      Các ngưỡng kích thước và tần suất theo dõi được đề cập là những thực hành được chấp nhận rộng rãi, nhưng không phải là quy tắc cứng nhắc.
      Hướng dẫn tại từng cơ sở có thể khác nhau tùy theo bối cảnh lâm sàng và thực hành của từng đơn vị.

      Nhiều tiêu chí hình ảnh được mô tả trong bài viết này áp dụng tương tự cho siêu âm, CT và MRI, mặc dù không phải mọi đặc điểm đều có thể phát hiện như nhau trên tất cả các phương thức chẩn đoán hình ảnh.

      Các yếu tố nguy cơ
      Tuổi tác là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với tất cả phụ nữ.
      Các tổn thương ở phụ nữ tiền mãn kinh và hậu mãn kinh được xử trí theo các phác đồ khác nhau.
      Một số yếu tố khác (xem bảng) có thể xếp bệnh nhân vào nhóm nguy cơ cao hơn.
      Tương ứng, lộ trình chẩn đoán thể hiện hai hướng xử trí: một cho bệnh nhân nguy cơ thấp và một cho bệnh nhân nguy cơ cao.

      Giao thức MRI – các chuỗi xung và lý do lựa chọn

      Giao thức MRI
      Có nhiều giao thức ‘Khối vùng chậu/Buồng trứng’ khả dụng.

      Các thành phần cơ bản rất đơn giản và đồng nhất giữa các giao thức:

      • Chuỗi xung T2W độ phân giải cao không kèm kỹ thuật xóa mỡ (fatsat), tối thiểu trên 2 mặt phẳng -> đánh giá giải phẫu
      • Chuỗi xung T1W không kèm kỹ thuật xóa mỡ, hoặc ưu tiên chuỗi xung T1W pha đối nghịch (opposed-phase) -> phát hiện thành phần mỡ trong u quái (teratoma)
      • Chuỗi xung T1W kèm kỹ thuật xóa mỡ -> chủ yếu để nhận diện các sản phẩm của máu và đối chiếu với hình ảnh T1W sau tiêm thuốc tương phản từ
      • Chuỗi xung Proton-Density hoặc T1W trải rộng lên vùng bụng trên -> đánh giá tổn thương hạch bạch huyết. Một số cơ sở có thể bỏ qua chuỗi xung này và thay thế bằng CT phân giai đoạn hoặc PET/CT.
      • Chuỗi xung T1W kèm kỹ thuật xóa mỡ sau tiêm Gadolinium -> đánh giá sự ngấm thuốc của các tổn thương đặc hoặc thành phần đặc trong tổn thương.
      • Chuỗi xung khuếch tán (DWI) với giá trị b cao nhất từ 500–1000 s/mm² -> phát hiện (không phân giai đoạn) hạch bạch huyết và các ổ di căn phúc mạc.

      Một giao thức rút gọn có thể chỉ bao gồm chuỗi xung 1, 2 và 3 (ví dụ: khi yêu cầu lâm sàng là ‘loại trừ khối buồng trứng’).
      Nhiều bác sĩ chẩn đoán hình ảnh ưu tiên giao thức toàn diện hơn, bổ sung thêm chuỗi xung 4 và thường cả chuỗi xung 5.
      Khi bối cảnh lâm sàng là phân loại đặc điểm hoặc phân giai đoạn một tổn thương buồng trứng đã biết, chuỗi xung 4 (hoặc CT) và 5 cần được thực hiện bắt buộc.

      Vai trò của MRI khuếch tán (DWI) vẫn đang được xác định, tuy nhiên DWI là công cụ hỗ trợ hữu ích trong việc phát hiện hạch bạch huyết, khối u và các ổ di căn phúc mạc.
      Nhằm mục đích phát hiện tổn thương, hình ảnh DWI đôi khi được hợp nhất (chồng lên) với hình ảnh giải phẫu T2W.
      DWI không có khả năng phân biệt hạch bạch huyết lành tính với hạch di căn.

      Các biến thể khác trong giao thức đều xuất phát từ những điều chỉnh trên nền tảng cơ bản này.
      Ví dụ:

      • Chuỗi xung T2W trên nhiều hơn 2 mặt phẳng, hoặc nghiêng góc vuông góc với cấu trúc giải phẫu cần khảo sát, thường hữu ích trong các bệnh lý cổ tử cung hoặc thân tử cung.
      • Điều chỉnh trường nhìn (FOV), với FOV lớn hơn để bao phủ toàn bộ vùng chậu và FOV nhỏ hơn tập trung vào tổn thương cần khảo sát.
      • Hình ảnh sau tiêm thuốc tương phản từ trên 2 hoặc thậm chí 3 mặt phẳng.
      • Chuỗi xung cine T2W mặt phẳng đứng dọc để ghi nhận các cơn co thành tử cung.

      Chụp MRI là phương tiện bổ sung có giá trị cho siêu âm, vì cho phép nhận diện các sản phẩm của máu trong các khối xuất huyết — những khối này có thể bắt chước hình ảnh khối u đặc trên siêu âm.
      Hình ảnh MRI chuỗi xung T1W kèm kỹ thuật xóa mỡ có thể phát hiện lượng nhỏ thành phần mỡ, từ đó cho phép chẩn đoán u quái trưởng thành (‘dermoid’).
      Chụp MRI chuỗi xung T1W sau tiêm thuốc tương phản từ thể hiện các đặc điểm ác tính như các nốt thành ngấm thuốc và/hoặc các vùng đặc ngấm thuốc có hoặc không kèm hoại tử (3).

      Các hình ảnh MRI này cho thấy một tổn thương tăng tín hiệu trên chuỗi xung T1W.
      Điều này gợi ý thành phần máu, protein nồng độ cao hoặc mỡ.

      Trên hình ảnh kèm kỹ thuật xóa mỡ, tín hiệu bị triệt tiêu.
      Điều này có nghĩa là chúng ta đang đối diện với một tổn thương chứa mỡ, tức là u quái dạng nang trưởng thành.

      Hình ảnh siêu âm cho thấy một tổn thương tăng âm.
      Tổn thương tương ứng có tín hiệu cao trên hình ảnh MRI chuỗi xung T1W.
      Điều này gợi ý thành phần máu, protein nồng độ cao hoặc mỡ.
      Trên hình ảnh kèm kỹ thuật xóa mỡ, tín hiệu không bị triệt tiêu.
      Điều này có nghĩa là chúng ta đang đối diện với một tổn thương chứa máu, nhiều khả năng là nang xuất huyết.