Blog

  • Chấn thương cột sống cổ

    Chấn thương cột sống cổ

    Adam Flanders

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh và Trung tâm Chấn thương Tủy sống Khu vực Delaware Valley, Bệnh viện Đại học Thomas Jefferson, Philadelphia

    Ngày đăng

    Bài tổng quan này dựa trên bài trình bày của Adam Flanders và được Robin Smithuis biên soạn lại cho the Radiology Assistant.
    Khoảng 3% bệnh nhân nhập khoa cấp cứu do tai nạn giao thông hoặc té ngã có chấn thương cột sống cổ nghiêm trọng.
    10-20% bệnh nhân chấn thương đầu cũng có kèm theo chấn thương cột sống cổ.
    Tỷ lệ bỏ sót hoặc chẩn đoán muộn chấn thương cột sống cổ lên đến 17%, với nguy cơ thâm hụt thần kinh vĩnh viễn sau khi bỏ sót chẩn đoán là 29%.

    Phần lớn gãy cột sống cổ xảy ra chủ yếu ở hai tầng.
    Một phần ba số chấn thương xảy ra ở tầng C2, và một nửa số chấn thương xảy ra ở tầng C6 hoặc C7.

    Trong tổng quan này, chúng tôi sẽ thảo luận về các chấn thương cột sống cổ thường gặp nhất.

    Bạn có thể nhấp vào một số hình ảnh để xem ảnh phóng to.

    Giới thiệu


    Chấn thương tăng gấp cột sống cổ - Nhấp vào ảnh để xem phóng to.

    Chấn thương tăng gấp cột sống cổ – Nhấp vào ảnh để xem phóng to.

    Chấn thương gấp (Flexion)

    Cơ chế gãy xương phổ biến nhất trong chấn thương cột sống cổ là tăng gấp (hyperflexion).

    • Trật khớp trước (Anterior subluxation) xảy ra khi các dây chằng phía sau bị đứt.
      Do cột trước và cột giữa vẫn còn nguyên vẹn, loại gãy xương này được xem là ổn định.
    • Gãy xương hình nêm đơn giản (Simple wedge fracture) là kết quả của chấn thương gấp thuần túy. Các dây chằng phía sau vẫn còn nguyên vẹn. Biến dạng hình nêm phía trước từ 3mm trở lên gợi ý gãy xương. Tăng độ lõm kèm theo tăng tỷ trọng do chèn ép xương. Thường liên quan đến mâm đốt sống trên.
    • Gãy xương hình nêm không ổn định (Unstable wedge fracture) là chấn thương gấp không ổn định do tổn thương cả cột trước (gãy hình nêm phía trước) lẫn cột sau (dây chằng liên gai).
    • Trật khớp liên mấu một bên (Unilateral interfacet dislocation) xảy ra do kết hợp cả gấp và xoay.
    • Trật khớp liên mấu hai bên (Bilateral interfacet dislocation) là kết quả của tăng gấp cực độ. Trật khớp liên mấu hai bên không ổn định và có tỷ lệ cao gây tổn thương tủy sống.
    • Gãy xương kiểu giọt nước do gấp (Flexion teardrop fracture) là kết quả của tăng gấp cực độ kết hợp với tải trọng dọc trục. Loại này không ổn định và có tỷ lệ cao gây tổn thương tủy sống.
    • Trật khớp đội-trục phía trước (Anterior atlantoaxial dislocation)

    Chấn thương tăng duỗi cột sống cổ

    Chấn thương tăng duỗi cột sống cổ

    Chấn thương duỗi (Extension)

    • Gãy xương kiểu người bị treo cổ (Hangman’s fracture)
      Trượt đốt sống C2 do chấn thương.
    • Gãy xương kiểu giọt nước do duỗi (Extension teardrop fracture)
    • Tăng duỗi trên nền thoái hóa cột sống có sẵn (Hyperextension in preexisting spondylosis)
      Gãy xương kiểu ‘miệng mở’ (‘Open mouth fracture’).

    Chấn thương nén dọc trục (Axial compression)

    • Gãy xương Jefferson là gãy vỡ vòng C1 kèm di lệch sang bên của cả hai khối khớp.
    • Gãy vỡ (Burst fracture) ở tầng cột sống cổ thấp

    Tính ổn định

    Các gãy xương không ổn định:

    • Gấp (Flexion)

      • Trật khớp liên mấu hai bên
      • Gãy xương kiểu giọt nước do gấp
      • Gãy hình nêm kèm đứt dây chằng phía sau
    • Duỗi (Extension)

      • Gãy mỏm răng loại II
      • Gãy xương kiểu người bị treo cổ
      • Gãy xương kiểu giọt nước do duỗi
    • Nén dọc trục (Vertical compression)

      • Gãy vỡ, ví dụ: gãy xương Jefferson

    Tổn thương tủy sống không xuất huyết và có xuất huyết

    Tổn thương tủy sống không xuất huyết và có xuất huyết

    Tổn thương tủy sống

    Có hai loại tổn thương tủy sống:

    • Không xuất huyết, chỉ biểu hiện tăng tín hiệu trên MRI do phù nề.
    • Xuất huyết với các vùng giảm tín hiệu nằm trong vùng phù nề.

    Ảnh hưởng của xuất huyết tủy sống đến khả năng phục hồi vận động chi dưới tại thời điểm 12 tháng

    Ảnh hưởng của xuất huyết tủy sống đến khả năng phục hồi vận động chi dưới tại thời điểm 12 tháng

    Có mối tương quan chặt chẽ giữa chiều dài vùng phù nề tủy sống và kết cục lâm sàng.
    Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất là có hay không có xuất huyết, vì tổn thương tủy sống xuất huyết có tiên lượng cực kỳ xấu.
    Biểu đồ bên trái thể hiện tỷ lệ phục hồi vận động của bệnh nhân chỉ có phù nề (màu xanh) so với phù nề kèm xuất huyết tủy sống (màu đỏ).
    Tỷ lệ phục hồi vận động chỉ tính cho chi dưới.


    Tổn thương tủy sống trung tâm ở bệnh nhân chấn thương tăng duỗi trên nền thoái hóa và hẹp ống sống có sẵn.

    Tổn thương tủy sống trung tâm ở bệnh nhân chấn thương tăng duỗi trên nền thoái hóa và hẹp ống sống có sẵn.

    Các hội chứng tủy sống (2):

    1. Hội chứng tủy sống trung tâm (Central cord syndrome)

      • Hội chứng tủy không hoàn toàn phổ biến nhất.
      • Thường gặp ở người cao tuổi có thoái hóa cột sống nền hoặc người trẻ với chấn thương duỗi nặng (hình minh họa).
      • Thiếu hụt vận động chi trên nặng hơn chi dưới, do bó vỏ-gai chi dưới nằm ở phần bên của tủy sống.
    2. Hội chứng tủy sống trước (Anterior cord syndrome)

      • Gặp trong chấn thương gấp, ví dụ: gãy vỡ, gãy kiểu giọt nước do gấp và thoát vị đĩa đệm.
      • Biểu hiện liệt ngay lập tức, do bó vỏ-gai nằm ở phần trước của tủy sống.
    3. Hội chứng Brown-Séquard

      • Yếu vận động cùng bên và mất cảm giác đối bên do cắt ngang nửa tủy sống.
      • Hội chứng Brown-Séquard có thể do chấn thương xoay như gãy-trật khớp hoặc chấn thương xuyên thấu như vết thương đâm.
    4. Hội chứng tủy sống sau (Posterior cord syndrome)

      • Hội chứng hiếm gặp do chấn thương duỗi.
      • Mất cảm giác vị trí do tổn thương cột sau.
      • Tiên lượng tốt.
    5. Tổn thương tủy sống hoàn toàn (Complete spinal cord injury)

      • Mất hoàn toàn cảm giác và chức năng vận động phía dưới mức tổn thương.

    Hội chứng Brown-Séquard sau vết thương đâm bằng tua vít

    Hội chứng Brown-Séquard sau vết thương đâm bằng tua vít

    Hình ảnh bên trái thể hiện tổn thương tủy sống sau vết thương đâm bằng tua vít.
    Trường hợp này dẫn đến hội chứng Brown-Séquard do cắt ngang nửa tủy sống.

    Chấn thương tăng gấp (Hyperflexion)


    Hyperflexion sprain without fracture

    Bong gân tăng gấp không có gãy xương

    Bong gân tăng gấp (Hyperflexion Sprain)

    Bong gân tăng gấp là tổn thương mô mềm của cột sống mà không có gãy xương.
    Trên X-quang, chỉ có thể nghi ngờ khi có hiện tượng thành góc hoặc trượt (translation).
    MRI sẽ phát hiện các tổn thương mô mềm tinh tế.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân bị tai nạn xe hơi và than phiền đau cổ.
    X-quang bình thường và không có triệu chứng thần kinh.

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Phù nề ở mô mềm phía sau, gợi ý chấn thương tăng gấp
    • Phù nề ở các đốt sống vùng cột sống cổ thấp và cột sống ngực trên, gợi ý dập xương (bone bruise) do tải trọng dọc trục.

    Ở bệnh nhân này, có thể kết luận rằng có căng cơ tăng gấp mức độ nhẹ và chưa rõ liệu có cần điều trị đặc biệt hay không, vì đây là các phát hiện đơn độc trên MRI mà không có bằng chứng gãy xương hay bất thường về vị trí.
    Vẫn còn nhiều tranh luận về ý nghĩa của các bất thường mô mềm chỉ phát hiện được duy nhất trên MRI.
    Sự thay đổi tín hiệu không nhất thiết đồng nghĩa với sự phá vỡ cấu trúc.
    Các phát hiện này vẫn cần được xác nhận thêm.
    Tại các trung tâm chấn thương, có đến 25% bệnh nhân chấn thương cổ có bất thường tín hiệu trên MRI và ý nghĩa lâm sàng vẫn chưa được xác định.


    Hyperflexion sprain

    Bong gân tăng gấp

    Bong gân tăng gấp (2)
    Bên trái là hình ảnh của một phụ nữ 44 tuổi bị ngã trên băng.
    Sau đó bà bị ngã lần thứ hai vào sáng hôm sau, và sau đó mất hoàn toàn vận động và cảm giác.
    Khám thực thể cho thấy liệt hai chi dưới kèm yếu nhẹ chi trên bên phải.
    Ban đầu được đề xuất chẩn đoán tổn thương tủy trung tâm.
    X-quang bình thường.

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Các mảnh xương nhỏ tách ra từ mặt khớp trên và dưới
    • Khoang gian gai rộng ra tại C5-6
    • Sưng nề mô mềm ở mức này về phía sau
    • Hẹp nhẹ khoang đĩa đệm tại mức C5-6.

    Các dấu hiệu CT này rất tinh tế và dường như không tương xứng với vấn đề thần kinh.
    Trong trường hợp như vậy, MRI là bước tiếp theo cần thực hiện.

    Đầu tiên chúng tôi trình bày hình CT mặt phẳng coronal và axial với cửa sổ mô mềm.
    Có vật liệu tăng tỷ trọng ở phía sau khoang đĩa đệm, rất gợi ý thoát vị đĩa đệm do chấn thương.
    Tụ máu ngoài màng cứng cần được đưa vào chẩn đoán phân biệt, nhưng dấu hiệu này chỉ giới hạn ở vùng khoang đĩa đệm, khác với hình ảnh của khối máu tụ.

    Tiếp tục với hình MRI.


    Hyperflexion sprain with spinal cord injury

    Bong gân tăng gấp kèm tổn thương tủy sống

    Bong gân tăng gấp (3)
    MRI giải thích tình trạng thần kinh của bệnh nhân này.
    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu trên MRI bao gồm:

    • Tổn thương mô mềm nặng nề ở các cấu trúc cạnh sống phía sau, đặc biệt tại mức C5-6, nơi dây chằng gian gai và dây chằng vàng bị đứt
    • Rách đĩa đệm C5-6 với di lệch ra phía sau C5
    • Phù nề tủy sống lan rộng

    Tiếp tục với hình ảnh mặt cắt axial.


    Vertebral artery thrombosis: no flow void in the right vertebral artery

    Huyết khối động mạch đốt sống: không có khoảng trống dòng chảy ở động mạch đốt sống phải

    Hình ảnh axial cho thấy tổn thương tủy sống và ngoài ra còn có sự vắng mặt của khoảng trống dòng chảy (flow void) ở động mạch đốt sống phải.
    Điều này gợi ý huyết khối do bóc tách động mạch.

    Kết luận, bệnh nhân này không có gãy xương, nhưng có bong gân tăng gấp nặng kèm thoát vị đĩa đệm cấp tính, tổn thương tủy sống không xuất huyết và huyết khối động mạch đốt sống.


    Right vertebral artery thrombosis

    Huyết khối động mạch đốt sống phải

    Chụp mạch cộng hưởng từ (MRA) xác nhận tắc nghẽn động mạch đốt sống phải.

    Trật khớp mặt một bên (Unilateral interfacet dislocation)

    Trật khớp mặt một bên là do chấn thương tăng gấp kết hợp với xoay.
    Mặt khớp trên ở một bên trượt qua mặt khớp dưới và bị khóa lại.
    Điều này dẫn đến trật khớp ra trước của thân đốt sống phía trên khoảng 25% đường kính trước-sau của thân đốt.
    Trật khớp mặt một bên đơn thuần là một chấn thương vững.
    30% bệnh nhân có kèm theo thiếu hụt thần kinh.
    MRI đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán để xác định có thoát vị đĩa đệm gây chèn ép tủy hay không.

    Bên trái là hình ảnh của một nam giới 20 tuổi bị tai nạn xe cơ giới lật xe.

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu trên X-quang bao gồm:

    • Tăng gấp tại mức C4-C5 với khoang gian gai rộng ra
    • Trật khớp tại mức C4-C5 với khoảng trượt khoảng 25% (tức là di lệch ra trước 25% đường kính trước-sau của thân đốt sống)
    • Mất thẳng hàng của các mỏm gai trên phim thẳng (AP), chỉ có thể xảy ra do chấn thương xoay. Mỏm gai bị tổn thương hướng về phía bên bị tổn thương
    • Do xoay, các mỏm gai của C4 và C5 trông ngắn hơn trên phim nghiêng

    CT xác nhận trật khớp một bên.
    Khớp mặt bên đối diện chỉ bị giãn cách.


    Inverted hamburger sign in unilateral interfacetal dislocation

    Dấu hiệu hamburger lật ngược trong trật khớp mặt một bên

    Trật khớp mặt một bên (2)
    Trên hình axial, khớp mặt bên trái bình thường và hình dạng có nét tương đồng với chiếc hamburger.
    Bên phải thấy dấu hiệu ‘hamburger lật ngược’ điển hình.
    Tiếp tục với hình ảnh MRI.


    Unilateral interfacetal dislocation

    Trật khớp mặt một bên

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh MRI.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu trên MRI bao gồm:

    • Tổn thương tủy sống, có thể mô tả là dập tủy, phù nề hoặc tổn thương tủy sống không xuất huyết.
    • Đứt dây chằng gai.
    • Đứt dây chằng vàng.
    • Rách đĩa đệm với di lệch chất nhân ra phía sau C4 và thậm chí ra phía trước C5.
      Khoang đĩa đệm luôn bị phá vỡ trong loại chấn thương này do xoay cực độ.

    Trật khớp mặt hai bên (Bilateral Interfacetal Dislocation)

    Trật khớp mặt hai bên (BID) là hậu quả của tăng gấp cực độ.
    Có sự trật khớp ra trước của các khối khớp kèm phá vỡ phức hợp dây chằng phía sau, dây chằng dọc sau, đĩa đệm và thường cả dây chằng dọc trước.
    Khi trật khớp hoàn toàn, đốt sống bị trật di lệch ra trước một nửa đường kính trước-sau của thân đốt sống.
    Do tổn thương mô mềm lan rộng và trật khớp mặt, BID là chấn thương không vững và có tỷ lệ cao tổn thương tủy sống kèm theo.


    Bilateral interfacetal dislocation

    Trật khớp mặt hai bên

    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Trật khớp mặt hai bên.
    • Di lệch ra trước 50% tại C5-C6 do trật khớp.
      Trong trật khớp một bên, mức độ di lệch ra trước thường chỉ là 25%.
    • Khoang gian gai giữa C5 và C6 rộng ra do đứt dây chằng.
    • Rách khoang đĩa đệm.

    Bên trái là hình CT của cùng bệnh nhân, xác nhận trật khớp hai bên.
    Gần một trong các khớp mặt có một mảnh xương nhỏ, nhưng không có gãy xương lớn, vì vậy về cơ bản đây chỉ là chấn thương mô mềm tăng gấp.


    Double inverted hamburger sign in bilateral facetal dislocation

    Chấn thương ưỡn cổ quá mức


    Gãy xương kiểu Hangman

    Gãy xương kiểu Hangman là loại gãy cột sống cổ thường gặp nhất.
    Về cơ chế kinh điển, đây là gãy xương do ưỡn quá mức, khi người hành quyết đặt nút thắt dưới cằm nhằm tạo ra lực ưỡn tối đa.
    Đó là lý do tại sao chúng ta thảo luận về gãy xương kiểu Hangman trong chương về chấn thương ưỡn cổ quá mức.
    Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tổn thương này cũng có thể là hậu quả của gấp cổ quá mức.

    Gãy xương kiểu Hangman thường gặp trong các tai nạn lặn đầu xuống nước.
    Mặc dù được xem là gãy xương không vững, loại gãy này hiếm khi kèm theo tổn thương tủy sống, do đường kính trước-sau của ống sống rộng nhất ở tầng này, và các cuống cung bị gãy cho phép giải ép.
    Khi kèm theo trật khớp diện khớp một bên hoặc hai bên ở tầng C2, loại gãy Hangman này không vững và có tỷ lệ biến chứng thần kinh cao.

    Phân loại gãy xương kiểu Hangman

    • Độ I (65%)
      • Đường gãy dạng tóc
      • Đĩa đệm C2-3 bình thường
    • Độ II (28%)
      • C2 di lệch
      • Đĩa đệm C2-3 bị tổn thương
      • Đứt dây chằng gây mất vững
      • Gãy lún góc trước-trên C3
    • Độ III (7%)
      • C2 di lệch
      • Trật khớp diện khớp hai bên C2-3
      • Mất vững nặng

    Hangman' s fracture type I

    Gãy xương kiểu Hangman độ I

    Hình ảnh bên trái là của một hành khách có thắt dây an toàn trong xe đang di chuyển với tốc độ khoảng 55 dặm/giờ.
    Bệnh nhân đâm vào cây vào khoảng 9 giờ tối hôm trước với tiền sử mất ý thức không rõ ràng.
    Bệnh nhân có đau khi ấn vùng cổ, nhưng tỉnh táo và không có bất thường thần kinh khi thăm khám.

    Trước tiên hãy quan sát kỹ các hình ảnh bên trái. Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Đường thấu quang mờ ở phía sau thân đốt sống C2 trên phim chụp tư thế nghiêng (mũi tên).
    • Gián đoạn nhẹ cung sau C2

    Tiếp tục xem các hình ảnh CT.

    Các hình ảnh CT xác nhận các đường gãy của gãy xương kiểu Hangman.
    Các đường gãy đi qua phần eo (pars interarticularis) gây ra tình trạng tiêu eo đốt sống do chấn thương.
    Trong trường hợp này không có thiếu hụt thần kinh, do ống sống được mở rộng tại vị trí gãy.


    Hangman' s fracture type I

    Gãy xương kiểu Hangman độ I

    Hình ảnh bên trái là của một bệnh nhân khác với gãy xương kiểu Hangman độ I.
    Có đường gãy dạng tóc và không có di lệch.

    Ưỡn cổ quá mức trên nền thoái hóa cột sống

    Hình ảnh bên trái là của một nam bệnh nhân 90 tuổi bị vấp ngã và ngã đập lưng và sau đầu xuống đất.
    Bệnh nhân xuất hiện liệt tứ chi ngay sau tai nạn mà không mất ý thức.

    Trước tiên hãy quan sát kỹ các hình ảnh bên trái.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Giãn rộng khoang đĩa đệm C5-C6 ở phía trước và hẹp ở phía sau.
    • Dấu hiệu này còn được gọi là ‘sách mở’ (open book).
    • Dấu hiệu này cho thấy có chấn thương ưỡn cổ quá mức.

    Tiếp tục xem các hình ảnh CT.

    Trên CT cũng thấy rõ hình ảnh của chấn thương ưỡn cổ quá mức.
    Các chấm đen nhỏ trong khoang đĩa đệm là kết quả của hiện tượng chân không (vacuum phenomena).
    Áp lực âm tạo ra hiện tượng chân không trong khoang đĩa đệm bị tổn thương.
    Ngoài ra còn có vùng tăng tỷ trọng ở phía sau C5-C6, có thể là thoát vị đĩa đệm hoặc thoái hóa đĩa đệm có sẵn từ trước.
    Ở bệnh nhân có thoái hóa cột sống gây hẹp ống sống, một chấn thương với lực tác động thấp cũng có thể gây tổn thương tủy sống.

    Tiếp tục xem các hình ảnh MRI.

    MRI cho thấy tăng tín hiệu nhẹ của tủy sống.
    Trong hầu hết các trường hợp, những bệnh nhân này bị tổn thương tủy trung tâm.
    Chỉ có phần trung tâm của tủy bị tổn thương và những bệnh nhân này có biểu hiện yếu tay không tương xứng trong khi sức mạnh chân vẫn bình thường.
    Những tổn thương này có thể rất nặng nề, mặc dù hiếm khi có tính chất xuất huyết.


    Hyperextension with superimposed spondylosis

    Ưỡn cổ quá mức trên nền thoái hóa cột sống

    Chấn thương ưỡn cổ quá mức (3)
    Bên trái là hai ví dụ khác về loại chấn thương ưỡn cổ quá mức này.
    Dễ dàng xác định đĩa đệm bị tổn thương vì đây là đĩa đệm có tín hiệu cao (mũi tên).
    Lưu ý phù nề phần mềm trước cột sống trong trường hợp bên phải.

    Gãy mảnh xương giọt lệ do ưỡn cổ quá mức

    Tương tự như gãy mảnh xương giọt lệ do gấp cổ quá mức, gãy mảnh xương giọt lệ do ưỡn cổ quá mức cũng biểu hiện bằng một mảnh xương góc trước-dưới bị di lệch (6).
    Loại gãy này xảy ra khi dây chằng dọc trước kéo bật một mảnh xương ra khỏi mặt dưới của thân đốt sống do ưỡn cổ đột ngột quá mức.
    Mảnh xương này là mảnh bong gân thực sự, khác với gãy mảnh xương giọt lệ do gấp cổ quá mức trong đó mảnh xương được tạo ra do lực nén ép.
    Loại gãy này thường gặp trong các tai nạn lặn đầu xuống nước và có xu hướng xảy ra ở các tầng cột sống cổ thấp hơn.
    Loại gãy này cũng có thể kèm theo hội chứng tủy trung tâm do dây chằng vàng bị gấp khúc vào trong ống sống trong giai đoạn ưỡn cổ quá mức của chấn thương.
    Tổn thương này vững khi gấp cổ nhưng rất không vững khi ưỡn cổ.

    Hình ảnh bên trái là của một nữ bệnh nhân 70 tuổi bị ngã xuống mười bậc thang, đập đầu gây tụ máu dưới da đầu với tiền sử mất ý thức có thể xảy ra.
    Không có thiếu hụt thần kinh.
    Lưu ý mảnh xương góc trước-dưới của C2.

    Tiếp tục xem các hình ảnh CT.

    CT xác nhận mảnh xương góc trước-dưới bị di lệch.
    Mảnh xương này là mảnh bong gân thực sự, khác với gãy mảnh xương giọt lệ do gấp cổ quá mức trong đó mảnh xương được tạo ra do lực nén ép vào mặt trước thân đốt sống khi gấp cổ quá mức.

    Tiếp tục xem các hình ảnh MRI.

    MRI cũng xác nhận đây không phải là chấn thương do gấp cổ, vì tổn thương phần mềm nằm ở phía trước.

    Gãy mảnh xương giọt lệ do ưỡn cổ quá mức (2)
    Bên trái là một trường hợp gãy mảnh xương giọt lệ do ưỡn cổ quá mức khác tại C2.

    Gãy xương do tải trọng dọc trục

    Gãy xương Jefferson

    Loại gãy xương này được gây ra bởi lực nén hướng xuống, truyền đều qua các lồi cầu chẩm đến các mặt khớp trên của các khối bên C1.
    Quá trình này đẩy các khối xương ra ngoài theo chiều ngang và gây ra gãy cung trước và cung sau, kèm theo khả năng tổn thương dây chằng ngang.
    Trên hình ảnh X-quang, gãy xương này được đặc trưng bởi sự dịch chuyển ra ngoài hai bên của các khối khớp C1.

    Các tổn thương khác

    Gãy mỏm răng (Odontoid)

    Gãy mỏm răng (odontoid) hay gãy mỏm nha (dens) là loại gãy xương rất phổ biến.
    Thường gặp ở người cao tuổi, nhưng cũng hay xảy ra ở trẻ em do tỷ lệ đầu-cột sống tương đối lớn.

    Phân loại

    • Loại I: Gãy giật (avulsion) đỉnh mỏm răng tại vị trí bám vào C1.
      Đây là loại gãy hiếm gặp.
      Vững vì đường gãy nằm trên dây chằng ngang.
    • Loại II: Gãy qua nền mỏm răng.
      Loại gãy phổ biến nhất.
      Luôn không vững và liền xương kém.
    • Loại III: Gãy qua thân đốt sống trục (axis) và đôi khi qua các mỏm khớp.
      Có thể không vững, nhưng tiên lượng tốt hơn loại II do khả năng liền xương tốt hơn vì đường gãy đi qua vùng xương xốp (metaphyseal bone) của thân C2.

    Odontoid fracture type II

    Gãy mỏm răng loại II

    Hình bên trái minh họa loại gãy mỏm răng phổ biến nhất, đó là loại II với đường gãy qua nền mỏm răng.
    Gãy loại II có xu hướng không liền xương (nonunion), xảy ra trong 64% trường hợp.


    Odontoid fracture type II

    Gãy mỏm răng loại II

    Hình bên trái là một trường hợp gãy mỏm răng loại II khác.
    Đôi khi các đường gãy này có thể khó nhận thấy.


    Prominent mach line mimicking an odontoid fracture

    Đường Mach nổi bật giả dạng gãy mỏm răng

    Có những hình ảnh giả gãy xương như các đường thấu quang do chồng hình (overprojection) hoặc đường Mach nổi bật (hình minh họa).

    Gãy mỏm răng (2)

    Hình bên trái là hình ảnh của một hành khách 26 tuổi không thắt dây an toàn trong vụ tai nạn giao thông, bị văng ra khỏi xe.
    Bệnh nhân có nhiều tổn thương bao gồm tụ máu dưới màng cứng, tràn máu màng phổi, chảy máu ngoài màng cứng tủy sống, gãy cột sống ngực, gãy mỏm ngang L3 trái và gãy xương đòn trái.
    Không có thiếu hụt thần kinh khi khám thực thể.
    Hãy nghiên cứu các hình ảnh trước, sau đó tiếp tục đọc.

    Các phát hiện bao gồm:

    • Gãy qua nền mỏm răng
    • Phù nề phần mềm trước cột sống
    • Đứt dây chằng gian gai C1-C2
    • Không quan sát được cột sống cổ thấp

    Xem các hình ảnh CT và sau đó tiếp tục đọc.


    Odontoid fracture type III

    Gãy mỏm răng loại III

    CT xác nhận các phát hiện trên X-quang và cho thấy thêm hai phát hiện bổ sung:

    • Hình ảnh qua phần bên của C2 cho thấy rõ ràng đường gãy đi qua thân C2, tức là gãy mỏm răng loại III.
    • Màng cứng phía sau ở vị trí bình thường, nhưng màng cứng phía trước bị di lệch (mũi tên).

      Tiếp tục xem các hình ảnh MRI

    MRI cho thấy:

    • Gãy qua nền mỏm răng
    • Phù nề phần mềm trước cột sống
    • Đứt dây chằng gian gai
    • Tủy sống bị đẩy lệch bởi một khối dịch ngoài màng cứng (có thể là máu hoặc dịch não tủy do rách màng nhện)

    Hình bên trái là các lát cắt MRI ngang tại mức cột sống cổ và cột sống ngực.
    Lưu ý rằng ở mức cột sống ngực, cũng có một khối dịch ngoài màng cứng, nhưng nằm ở phía sau.
    Đây là hậu quả của gãy cột sống ngực.

    Tiếp tục xem các hình ảnh cắt ngang (axial).


    Type III odontoid fracture

    Gãy mỏm răng loại III

    Gãy mỏm răng (3)

    Hình bên trái là các lát cắt CT mặt phẳng coronal của một trường hợp gãy mỏm răng loại III khác.


    Unstable type II odontoid fracture

    Gãy mỏm răng loại II không vững

    Gãy mỏm răng (4)

    Hình bên trái là hình ảnh gãy mỏm răng loại II không vững.


    Unstable type III odontoid fracture

    Gãy mỏm răng loại III không vững

    Hình bên trái là một trường hợp gãy mỏm răng loại III không vững.


    Harris' measurement for AO-DissociationRule of twelves= distance from tip of dens to basion or from basion to posterior line should not exceed 12 mm in an adult.

    Đo lường Harris cho trật khớp chẩm-đội (AO): Quy tắc 12 = khoảng cách từ đỉnh mỏm răng đến basion hoặc từ basion đến đường sau không được vượt quá 12 mm ở người lớn.

    Trật khớp chẩm-đội (Atlanto-occipital dislocation)

    Trật khớp chẩm-đội là một tổn thương hiếm gặp, đặc trưng bởi sự đứt hoàn toàn tất cả các dây chằng giữa xương chẩm và đốt đội kèm theo bán trật hoặc trật hoàn toàn các diện khớp chẩm-đội.
    Biểu hiện phổ biến nhất là xương sọ trượt ra trước so với cột sống.
    Tử vong thường xảy ra ngay lập tức do căng giãn thân não, gây ngừng hô hấp.
    Được báo cáo xảy ra trong 31% các vụ tai nạn giao thông tử vong.
    Thường gặp hơn ở trẻ em do đầu to hơn tương đối.
    Đến 50% trường hợp trật khớp chẩm-đội bị bỏ sót ban đầu, có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc vì kéo giãn cột sống cổ có thể gây tử vong.

    Tỷ số Power đôi khi được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa nền sọ và cột sống, nhưng đo lường Harris cho trật khớp chẩm-đội có độ nhạy cao hơn (hình minh họa).

    Hình bên trái là hình ảnh của một hành khách không thắt dây an toàn, bị văng ra khỏi xe và được phát hiện trong tình trạng lú lẫn và kích động tại hiện trường.
    Bệnh nhân được đặt nội khí quản và chuyển đến bệnh viện, tại đây được xác định bị liệt tứ chi.

    Trên hình định vị (scout view), có thể thấy mối quan hệ bất thường giữa hộp sọ và cột sống cổ.
    Hình CT cắt ngang cho thấy máu bao quanh thân não.

    Trên các hình ảnh bên trái, lưu ý mối quan hệ bất thường giữa basion, opisthion, đỉnh mỏm răng và cung sau đốt đội.
    Khoang dưới nhện tăng tỷ trọng do xuất huyết (mũi tên).

    Hình bên trái là các hình ảnh MRI.
    Lưu ý tình trạng xuất huyết trước cột sống và sự chèn ép lên tủy sống.

    Phân loại Harris

    Tiêu chí NEXUS

    Tiêu chí NEXUS quy định rằng bệnh nhân nghi ngờ chấn thương cột sống cổ có thể được loại trừ tổn thương khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

    • Không có đau cột sống cổ tại đường giữa phía sau.
    • Không có bằng chứng về tình trạng ngộ độc/say rượu.
    • Bệnh nhân có mức độ tỉnh táo bình thường.
    • Không có dấu thần kinh khu trú.
    • Bệnh nhân không có chấn thương gây đau làm phân tán sự chú ý.

    Tư thế thẳng bên (Lateral)

    Tư thế thẳng bên là tư thế có giá trị chẩn đoán cao nhất. Khoảng 85-90% các chấn thương cột sống có thể được phát hiện trên tư thế này.

    Tiếp cận hệ thống:

    • Đánh giá sự thẳng hàng bằng cách theo dõi 3 đường viền:
      • Đường viền phía trước nối các bờ trước của các thân đốt sống.
      • Đường viền phía sau nối các bờ sau của các thân đốt sống.
      • Đường viền gai-bản sống nối các nền của các mỏm gai.
    • Trẻ nhỏ có thể có hình ảnh trượt đốt sống giả (pseudosubluxation) ở vùng cột sống cổ trên.
    • Khoang trước cột sống:
      • Tại C2 không vượt quá 7 mm.
      • Tại C3 và C4 không vượt quá 5 mm.
      • Tại C6 khoang này rộng hơn do thực quản và cơ nhẫn hầu, nhưng không được vượt quá 22 mm ở người lớn hoặc 14 mm ở trẻ em dưới 15 tuổi.
      • Ở trẻ em dưới 24 tháng tuổi, có thể có hiện tượng giãn rộng sinh lý của khoang trước cột sống trong thì thở ra gắng sức (ví dụ: khi khóc).
    • Giãn rộng khoảng cách giữa các mỏm gai gợi ý tổn thương đứt dây chằng.
  • Dị dạng Mạch máu của Động mạch Chủ, Mạch Phổi và Mạch Máu Hệ thống

    Các dị tật mạch máu của động mạch chủ, mạch phổi và hệ thống

    Marilyn J. Siegel và Robin Smithuis

    Viện X quang Mallinckrodt, Trường Y Đại học Washington ở St. Louis, Hoa Kỳ và Bệnh viện Rijnland ở Leiderdorp, Hà Lan

    Publicationdate

    Đánh giá này dựa trên bài trình bày của Marilyn Siegel và được điều chỉnh và minh họa choTrợ lý X quangby Robin Smithuis.
    Marilyn Siegel chuyên về nhi khoa và X quang ngực.
    Ấn bản thứ hai của cuốn sách của cô có tựa đề CT cơ thể trẻ em sẽ ra mắt vào tuần tới.

    Trong bài tổng quan này, chúng tôi sẽ thảo luận về các dị thường mạch máu phổ biến nhất của động mạch chủ, mạch phổi và tĩnh mạch hệ thống ở ngực.
    Hầu hết những bất thường này được phát hiện ở trẻ em, nhưng đôi khi chúng được phát hiện muộn hơn ở tuổi trưởng thành.
    Nhiều trong số những dị thường này là những tổn thương không có triệu chứng hoặc ‘để yên’, nhưng một số dị thường này có triệu chứng và cần được điều trị.
    Là một bác sĩ X quang, chúng ta phải làm quen với những bất thường này.

    Một cú nhấp chuột đơn giản vào một mục ở bên trái sẽ đưa bạn trực tiếp đến chủ đề này.

    Tổng quan về dị thường vòm

    1. Động mạch dưới đòn phải lạc chỗ
      Dị tật cung động mạch chủ thường gặp nhất.
      Không phải vòng thực sự.
      Thường không có triệu chứng.
      Đôi khi có chứng khó nuốt (dysphagia lusoria) khi động mạch dưới đòn giãn chèn ép thực quản ở phía sau.
    2. Hội chứng chèn ép động mạch cánh tay đầu
      Ở trẻ em, động mạch cánh tay đầu (innominate) nằm lệch sang trái nhiều hơn và có thể chèn ép khí quản ở phía trước.
    3. Cung động mạch phải hình ảnh soi gương
      Biến thể hình ảnh soi gương của cung động mạch chủ trái.
      Không có triệu chứng.
      Gặp trong 98% bệnh tim bẩm sinh đi kèm, chủ yếu là tứ chứng Fallot.
    4. Cung động mạch phải với động mạch dưới đòn trái lạc chỗ
      Động mạch dưới đòn trái là nhánh cuối cùng.
      Dị tật tắc nghẽn.
    5. Cung động mạch chủ đôi
      Vòng hoàn chỉnh bao quanh thực quản và khí quản.
      Dấu hiệu bốn mạch máu.
    6. Cung đôi với đoạn tịt
      Cung trái rất nhỏ và có đoạn sau tịt.
      Vẫn là dấu hiệu bốn mạch máu.

    Phôi thai học

    – Cung đôi:

    • Ở phôi thai, có sự hiện diện của một cung đôi với hai mạch máu cánh tay đầu ở mỗi bên.
    • Nếu cung động mạch chủ đôi tồn tại, nó sẽ tạo thành một vòng mạch máu bao quanh khí quản và thực quản.

    – Cung đôi với đoạn tịt:

    • Phần sau của cung trái bị tịt.
    • Di tích không thông nối này tồn tại dưới dạng một dải xơ neo cung trái phía trước vào động mạch chủ xuống.

    – Cung trái bình thường:

    • Phần sau của cung phải thoái triển.
    • Hai mạch máu cánh tay đầu bên phải tạo thành động mạch cánh tay đầu phải.

    – Cung phải với phân nhánh soi gương:

    • Hình ảnh soi gương của cung trái bình thường.
    • Phần sau của cung trái thoái triển.
    • Hai mạch máu cánh tay đầu bên trái tạo thành động mạch cánh tay đầu trái.

    – Cung trái với động mạch dưới đòn phải lạc chỗ:

    • Cung phải giữa động mạch dưới đòn phải và động mạch cảnh chung phải thoái triển.
    • Nhánh đầu tiên là động mạch cảnh chung phải, tiếp theo là động mạch cảnh trái và động mạch dưới đòn trái. Nhánh cuối cùng là động mạch dưới đòn phải lạc chỗ.

    – Cung phải với động mạch dưới đòn trái lạc chỗ:

    • Hình ảnh soi gương của cung trái với động mạch dưới đòn phải lạc chỗ.
    • Cung trái giữa động mạch dưới đòn trái và động mạch cảnh chung trái thoái triển.
    • Nhánh đầu tiên là động mạch cảnh chung trái, tiếp theo là động mạch cảnh phải và động mạch dưới đòn phải. Nhánh cuối cùng là động mạch dưới đòn trái lạc chỗ.

    Khi xem các hình minh họa này, bạn cần nhận ra rằng đây là các góc nhìn từ trên xuống, trong khi hình ảnh CT có ‘góc nhìn từ dưới chân’.
    Trên hình ảnh CT, động mạch chủ lên sẽ ở phần trên của hình ảnh và động mạch chủ xuống sẽ ở phần dưới.

    Các dị tật cung động mạch chủ


    Axial image and volume rendering posterior view

    Hình ảnh cắt ngang và dựng hình thể tích nhìn từ phía sau

    Cung động mạch phải hình ảnh soi gương

    Đây là biến thể hình ảnh soi gương của cung trái.

    Bên trái là một bé gái 2 tuổi bị thở khò khè và ho.
    Hãy nghiên cứu các hình ảnh và sau đó tiếp tục.
    Bạn cần nhận ra rằng, hình ảnh CT cắt ngang được nhìn từ dưới chân lên, trong khi các hình minh họa ở trên được nhìn từ trên xuống

    Trên hình ảnh cắt ngang có một cung phải
    Trên hình ảnh dựng hình thể tích có phân nhánh soi gương của các động mạch cánh tay đầu, không có động mạch dưới đòn lạc chỗ, vì vậy đây là cung phải hình ảnh soi gương.


    Mirror image aortic arch (yellow arrow) and a VSD (red arrow)

    Cung động mạch chủ hình ảnh soi gương (mũi tên vàng) và thông liên thất (mũi tên đỏ)

    Dị tật này không có triệu chứng, bởi vì không có vòng gây tắc nghẽn.
    Tuy nhiên, hầu như tất cả những bệnh nhân này đều được chúng ta chú ý vì họ có bệnh tim bẩm sinh đi kèm trong 98% các trường hợp.
    Bệnh nhân này có cung động mạch chủ hình ảnh soi gương và thông liên thất.


    Mirror image aortic arch in patient operated for tetralogy of Fallot.

    Cung động mạch chủ hình ảnh soi gương ở bệnh nhân đã phẫu thuật tứ chứng Fallot.

    Bên trái là một người lớn đã được phẫu thuật tứ chứng Fallot (hẹp động mạch phổi, phì đại thất phải, thông liên thất, động mạch chủ cưỡi ngựa) khi còn nhỏ.
    Trong phẫu thuật, thông liên thất đã được vá và đường ra thất phải được mở rộng.
    Lưu ý rằng cũng có một cung phải.

    Tại Hoa Kỳ hiện có hơn một triệu người lớn đã sống sót sau bệnh tim bẩm sinh của họ.
    Trong phòng cấp cứu, bạn sẽ gặp những bệnh nhân này vì họ già đi và bị đau ngực như nhiều người lớn khác, do đó bạn sẽ thấy những dị tật này thường xuyên hơn.


    View from anterior

    Nhìn từ phía trước

    Cung động mạch phải với động mạch dưới đòn trái lạc chỗ

    Cung động mạch chủ phải với động mạch dưới đòn trái lạc chỗ là một dị tật cung gây tắc nghẽn.
    Nhánh đầu tiên của động mạch chủ là động mạch cảnh chung trái, tiếp theo là động mạch dưới đòn phải và động mạch cảnh chung trái.
    Đây cũng là một vòng thực sự.
    Dây chằng động mạch (ligamentum ductus arteriosus) giữa cung ở mức động mạch dưới đòn trái và động mạch phổi trái hoàn thành vòng này.
    Nếu dây chằng này rất ngắn, sẽ có chèn ép rất nhiều.


    Cung động mạch phải với động mạch dưới đòn trái lạc chỗ

    Bên trái là một bệnh nhân có cung phải với động mạch dưới đòn trái lạc chỗ (được chỉ định bởi mũi tên vàng).
    Cuộn qua các hình ảnh bên trái.
    Một lần nữa bạn phải nhận ra rằng hình ảnh CT cắt ngang có ‘góc nhìn từ dưới chân’.

    Các mạch máu nào được chỉ định bởi mũi tên vàng và xanh lá cây?

    Có một cung phải và động mạch dưới đòn trái là nhánh cuối cùng của cung động mạch chủ, cho thấy đây là một động mạch dưới đòn trái lạc chỗ.
    Nằm trong hơn so với động mạch dưới đòn trái, chúng ta thấy động mạch cảnh chung trái, bắt nguồn từ bên phải và có đường đi xiên sang trái.
    Mũi tên vàng chỉ định tĩnh mạch đơn (azygos vein).
    Mũi tên xanh lá cây chỉ định tĩnh mạch gian sườn trên trái, một biến thể bình thường, mà chúng ta sẽ thảo luận sau.


    Posterior oblique view: Right Arch with Aberrant left subclavian (yellow arrow)

    Góc nhìn chếch sau: Cung phải với động mạch dưới đòn trái lạc chỗ (mũi tên vàng)

    Cùng một bệnh nhân.
    Góc nhìn chếch sau của hình ảnh dựng hình thể tích để cho thấy động mạch dưới đòn trái lạc chỗ.
    Trong cung phải kiểu soi gương, động mạch dưới đòn trái là nhánh đầu tiên và tạo thành động mạch cánh tay đầu trái cùng với động mạch cảnh chung trái.


    Right Arch with Aberrant left subclavian

    Cung động mạch phải với động mạch dưới đòn trái lạc chỗ

    Bên trái là hình ảnh của một đứa trẻ có triệu chứng.
    Trên hình ảnh cắt ngang có một cung phải với động mạch dưới đòn trái xuất phát từ phía sau và chạy sau khí quản và thực quản.
    Sự chèn ép khí quản được chứng minh trên góc nhìn dựng hình thể tích.

    Cung động mạch chủ đôi

    Bên trái là phim X-quang ngực của một bé trai 6 tháng tuổi bị thở rít và ho.
    Khí quản bị lệch sang trái, ngoài ra phim ngực bình thường.
    Vì vậy, có một số hiệu ứng khối ở bên phải.

    Bên trái là các hình ảnh tái tạo chứng minh một cung động mạch chủ đôi.
    Có các nhánh xuất phát từ cung phải và các nhánh xuất phát từ cung trái.


    Double Aortic Arch

    Cung động mạch chủ đôi

    Cung phải thường lớn hơn và cao hơn cung trái.
    Có một vòng hoàn chỉnh bao quanh thực quản và khí quản và thường có biểu hiện thở rít hoặc khó nuốt.
    Two brachiocephalic arteries arise on each side separately (four vessel sign).

    On the left a chest film of a young adult with a cough.
    There is a right paratracheal mass.
    The differential diagnosis is tumor, adenopathy or vessel (right arch, dilated azygos vein, dilated aberrant right subclavian artery).

    On the left axial images and posterior view of volume rendered reconstruction.
    Describe the findings and then continue.

    The findings are:

    1. four vessel sign
    2. double arch
    3. right arch higher and larger
    4. esophagus and trachea are completely encircled

    The narrowing of the trachea is seen on the axial images, but better appreciated on the MPR and Volume Rendered image.


    Pre- and post-operative reconstructions of a double aortic archImage courtesy of Dr. W. Chu (4)

    Pre- and post-operative reconstructions of a double aortic archImage courtesy of Dr. W. Chu (4)

    On the left preoperative and postoperative MDCT studies of a 2-month-old female infant with double aortic arch presenting with stridor and repeated apnea.
    The smaller left arch is partially resected.

    Double Arch with Atretic Segment
    Occasionally the double arch can have an atretic segment.
    You should not confuse it for a right arch.
    The left arch is just very small and there is still a four vessel sign.


    Double Arch with Atretic Segment

    Double Arch with Atretic Segment

    On the left a dominant right arch and a small left arch.
    The atretic segment is marked by the arrow.
    Notice the four vessel sign.

    On a posterior view the interruption is nicely demonstrated.
    Remember that there is still a ring, so there is still obstruction.

    Another case on the left.
    Do not call this a right arch.
    It still is a double arch and there is a atretic fibrotic segment on the posterior side of the left arch, that completes the ring.
    Notice the four vessel sign.

    Same patient.
    Always look at the airways.
    On the recoonstruction the impression on the trachea is better appreciated.


    Aberrant Right SCA, no compression of the trachea

    Aberrant Right SCA, no compression of the trachea

    Left Arch Aberrant Right SCA

    • Also known as arteria lusoria.
    • Most common arch anomaly.
    • Not a true ring
    • Usually asymptomatic.

    On the left a young patient, who has a CT for another reason.
    Study the images and then continue.
    Notice that there is a left arch, but the right subclavian artery is the last brachiocephalic artery to branch off the arch.


    Dysphagia lusoria in patient with dilated aberrant right subclavian artery.

    Dysphagia lusoria in patient with dilated aberrant right subclavian artery.

    Only rarely these patients become dysphagic (dysphagia lusoria) , when the origin of the right subclavian artery becomes dilated.
    On a barium study of the esophagus you will see a posterior impression with an oblique course directed towards the right shoulder.

    On the left a 78 year old woman with dysphagia.
    There is consolidation in the right upper lobe, maybe due to aspiration.
    There is a dilated vessel that compresses the esophagus and it originates from the left-sided aorta, i.e. an aberrant right subclavian artery.

    On the left the same patient with dilated aberrant right subclavian artery.
    Coronal reconstruction.


    Left Arch-Aberrant Right subclavian artery. Scroll through the images.

    On the left another patient with an aberrant right subclavian.
    Scroll through the images.
    When you follow the artery from inferior to superior, it starts on the left side of the arch and travels obliquely behind the esophagus to go to the right.


    Innominate artery compression syndrome with compression of the trachea

    Innominate artery compression syndrome with compression of the trachea

    Innominate artery compression syndrome

    On the left a sagittal scanogram, axial image and sagittal reconstruction of a 5 year old girl with noisy breathing and occasional episodes of cyanosis.
    First look at the images then continue.

    The findings are:

    1. anterior compression of the trachea
    2. brachiocephalic (innominate) artery is located more to the left and compresses the trachea

    The diagnosis is the innominate artery compression syndrome.
    In infants the innominate artery arises more to the left than in adults, so it’s got to go in front of the trachea. It may compress the trachea, leading to stridor, cough and dyspnea. This compression decreases with age and these patients will outgrow it.

    The compression in the innominate artery compression syndrome is located on the right anterior side and at the level of the thoracic inlet.
    This is much higher than in the double arch or Right Aortic Arch with Aberrant left subclavian

    On the left another case with mild compression on the trachea.

    Aortic Coarctation

    • Narrowing at level of distal arch / descending aorta.
    • Chest film: ‘figure 3’ sign, inferior rib notching.
    • Intervention when gradient > 20 mm Hg.
    • Associated with bicuspid aortic valve (75%), cerebral aneurysms (5-10%) and Turner syndrome (20% have coarctation)

    On the left a 2 month old boy with heart failure.
    First study the image, then continue

    The findings are:

    • Large thymus which is normal for a 2 month old.
    • Striking discrepancy between diameter of ascending and descending aorta.

    The diagnosis is coarctation, which is nicely demonstrated on the posterior view of the reconstruction.

    There are two types of coarctation.
    The type we usually see is the post-ductal type, which is distal to the left subclavian artery.
    The uncommon pre-ductal type is seen in neonates.
    They present with severe heart failure, mostly within the first week of life, usually on the first day.
    The occlusion is in front of the left subclavian.

    First study the axial image followed by the sagittal reconstruction, then continue.

    The findings are:

    • Big internal mammarian arteries on the axial image due to a high grade stenosis as a result of a coarctation. Probably could not make the diagnosis based on the axial images alone.
    • Post-ductal coartation only seen on sagittal reconstruction.
    • Intercostal collaterals.

    Intercostal collaterals in aortic coarctation

    Intercostal collaterals in aortic coarctation

    The intercostal collaterals typically occur between the 3rd and the 8th rib.


    Pre-ductal type of coarctation

    Pre-ductal type of coarctation

    On the left two neonates with the pre-ductal type of coarctation.
    The stenosis is in front of the left subclavia and there is arch hypoplasia.
    Collaterals do not occur, probably because they don’t have time to develop.


    Coarctation treated with angioplasty (left) and stent placement (right)

    Coarctation treated with angioplasty (left) and stent placement (right)

    Coarctation is treated with angioplasty, stent placement or patch aortoplasty.
    The image on the far left is the result after angioplasty.
    Next to it a patient who was treated with a stent.
    Notice that the stent is obstructing the orfice of the left subclavian artery.


    Pseudo-aneurysm in coarctation treated with stent-placement

    Pseudo-aneurysm in coarctation treated with stent-placement

    On the far left a patient who was treated with a stent.
    The stent ruptured causing restenosis.
    Next to it two patients with pseudo-aneurysm.
    One after angioplasty and another who developed a pseudo-aneurysm after stent placement.
    They have to be repaired because they will rupture.

    Pseudo-aneurysms are seen in

    • 10% after angioplasty.
    • 30% after patch aortoplasty.

    Pulmonary arterial anomalies

    They most common anomalies of the pulmonary arteries are listed in the table on the left.


    Pulmonary agenesis on the right side

    Pulmonary agenesis on the right side

    Pulmonary agenesis

    • Also called congenital interruption of the pulmonary artery.
    • Unilateral absence of the pulmonary artery.
    • Small lung and hilum.
    • Compensatory hyperinflation of contralateral lung with herniation.

    On the left a young adult, who had cyanotic spells as a child.
    She is now in good health and comes in for another reason.
    On the chest film the differential is atelectasis, pneumonia or maybe a tumor.
    The CT shows, that he right lung is not developed and the space around the atresic pulmonary artery is filled with fibrofatty tissue with collaterals.
    So this is pulmonary agenesis.
    If many collaterals develop there will also be some development of the lung.


    Pulmonary agenesis on the left side

    Pulmonary agenesis on the left side

    On the left another case of absent pulmonary artery with absence of lung development.
    On the CT the left lung is absent.
    These patients may be totally asymptomatic.


    Pulmonary Sling

    Pulmonary Sling

    Pulmonary Sling

    On the left a 4 month old girl with abnormal echo, benign heart murmur and no respiratory or feeding difficulties.
    The sagittal reconstruction shows an anomalous vessel on the posterior side of the trachea.
    There is a little mass effect on the trachea.


    Pulmonary Sling

    Pulmonary Sling

    In pulmonary sling the left PA originates from the right PA and courses between the esophagus and the trachea, where it compresses the right main bronchus.
    Pulmonary sling is seen more frequent in children as it is more symptomatic than in adults, because the chest is smaller, but you can also encounter it in adults.


    Pulmonary Sling with long segment stenosis of the trachea. (Courtesy J. Schoef)

    Pulmonary Sling with long segment stenosis of the trachea. (Courtesy J. Schoef)

    On the left images of a child with wheezing and dyspnea.
    The left PA comes off the right PA and runs between the esophagus (with nasogastric tube) and the trachea.
    Some of these patients also have long segment stenosis in the trachea because of cartilagenous rings.


    Patent Ductus Arteriosus

    Patent Ductus Arteriosus

    Patent Ductus Arteriosus

    On the left an adolescent with a murmur.
    On axial image and reconstruction the patent ductus arteriosus is seen.

    The ductus arteriosus is the communication between the pulmonary artery and the proximal descending aorta.
    It shunts blood in utero from the right ventricle to the aorta to bypass the non-functioning lungs.
    On the first day of life there is a functional closure and an anatomic closure with fibrosis in the first two weeks.
    If it does not close these patients come to attention either with a murmur or later with pulmonary hypertension.

    On the left a young adult with a murmur.
    The cardiologists are not interested in the flow direction, but just want to confirm the diagnosis.

    Notice the connection between the pulmonary artery and the descending aorta.

    When the duct closes it may also calcify.
    This a normal variant.

    Pulmonary venous anomalies

    Partial Anomalous Venous Return

    The most common features of Partial Anomalous Venous Return are listed in the table on the left.

    The anomalous veins drain into the following structures:

    • RUL: SVC association with sinus venosus-type ASD.
    • RLL: IVC (usually), sometimes Portal or Hepatic vein.
      Can be isolated finding or combined with pulmonary hypoplasia (Scimitar syndrome).
    • LUL: Brachiocephalic vein (isolated finding).
    • LLL: rare (if you find a case publish it).


    Right upper lobe anomalous vein drains into the superior vena cava.

    Right upper lobe anomalous vein drains into the superior vena cava.

    Right upper lobe anomalous venous return
    On the left a 2 month old, who is asymptomatic but has a murmur on physical examination.
    There is a connection between the SVC and a pulmonary vein, so this is an anomalous venous return.


    Pulmonary hypertension in a patient with partially anomalous pulmonary venous return.

    Pulmonary hypertension in a patient with partially anomalous pulmonary venous return.

    All these partially anomalous pulmonary venous returns are left to right shunts, but when small, they are clinically insignificant.
    When there is a significant shunt, they may cause (late) pulmonary hypertension as seen in the case on the left.

    The chest film in this adult shows large pulmonary arteries and a large right atrium and ventricle as a result of pulmonary hypertension.

    Right upper lobe anomalous return (2)

    On the left a patient with a murmur.
    Study the images and then continue.

    • There is an anomalous return of the right upper lobe to the SVC.
    • At a slightly inferior level there is also an ASD.
    • Contrast is seen going almost immediately into the left atrium.
    • This type of ASD is called the sinus venosus-type ASD.

    On the left a similar case.
    Notice the anomalous return of the right upper lobe vein into the VCS and the additional ASD at a lower level.

    Right lower lobe anomalous return

    On the left a right lower lobe anomalous return.
    The vein drains into the IVC.
    The anomalous vein gently curves to the right cardiophrenic angle and is shaped like a Turkish sword (‘Scimitar’)


    Right lower lobe anomalous venous return into the azygos vein.

    Right lower lobe anomalous venous return into the azygos vein.

    On the left another right lower lobe anomalous return.
    The vein drains into the azygos vein.
    Upper lobe veins may also drain into the azygos vein.

    On the left a 10 year old girl suspected of having pneumonia.
    Study the images carefully, because there are three findings and then continue reading.

    The findings are:

    • Small right lung due to hypoplasia
    • Anomalous venous return
    • Right aortic arch

    This patient has a scimitar syndrome and also a right arch.
    So the lesson is, that when you see one anomaly, look for another one.

    Scimitar syndrome

    The features in scimitar syndrome are listed in the table on the left.


    Scimitar syndrome with a hypoplastic right lung.

    Scimitar syndrome with a hypoplastic right lung.

    On the left another patient with a scimitar syndrome.
    Có thiểu sản phổi phải với trung thất lệch và có hồi lưu tĩnh mạch bất thường.
    Lưu ý rằng trên hình MIP đứng ngang, bạn có thể thấy rõ sự khác biệt về mạch máu của phổi với tình trạng giảm tưới máu ở bên phải.


    Hồi lưu tĩnh mạch thùy trên phổi trái bất thường đổ vào tĩnh mạch thân tay đầu.

    Cuộn qua các hình ảnh ở bên trái.
    Lưu ý cách tĩnh mạch thùy trên trái chạy từ rốn phổi hướng lên sọ vào tĩnh mạch thân tay đầu.

    Chẩn đoán phân biệt của hồi lưu tĩnh mạch thùy trên phổi trái bất thường vào tĩnh mạch thân tay đầu là tĩnh mạch chủ trên (SVC) trái.
    Tuy nhiên, SVC trái đổ vào xoang vành.

    Tĩnh mạch hệ thống

    Tĩnh mạch chủ trên trái

    • Thể hiện tĩnh mạch chính chung bên trái tồn tại dai dẳng
    • Đi phía trước phế quản chính trái và đổ vào xoang vành giãn
    • 0,5% dân số chung và 5% bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh
    • SVC phải nhỏ trong 90% trường hợp


    Mô tả các hình ảnh bên trái và sau đó tiếp tục đọc.

    Ở bên trái có một cấu trúc mạch máu, chạy xuống phía dưới mức rốn phổi trái và đi vào xoang vành giãn.
    Chẩn đoán là tĩnh mạch chủ trên trái hoặc tĩnh mạch chủ trên đôi.


    Left Superior Intercostal Vein

    Tĩnh mạch gian sườn trên trái

    Tĩnh mạch gian sườn trên trái.

    Đây là một vòng nối giữa tĩnh mạch bán đơn phụ và tĩnh mạch thân tay đầu trái.
    Nó chạy dọc theo bờ ngoài của cung động mạch chủ (‘núm động mạch chủ’).
    Đó là một biến thể bình thường và nếu bạn tìm kiếm cấu trúc này, bạn sẽ thường xuyên nhận thấy nó.
    Ống thông hoặc dây dẫn máy tạo nhịp tim có thể chạy dọc theo bên trái của trung thất.

    Ở bên trái là một bệnh nhân có tĩnh mạch gian sườn trên trái.
    Chú ý ‘dấu hiệu núm động mạch chủ’.


    Left Superior Intercostal Vein

    Tĩnh mạch gian sườn trên trái

    Ở bên trái là một ví dụ khác về tĩnh mạch gian sườn trên trái.
    Nó chạy dọc theo bờ ngoài của cung động mạch chủ từ tĩnh mạch bán đơn phụ đến tĩnh mạch thân tay đầu trái.

    Tóm tắt các cấu trúc cạnh trung thất trái

    1. VCS trái:
      • từ tĩnh mạch dưới đòn đến xoang vành
    2. Tĩnh mạch phổi thùy trên trái bất thường:
      • từ rốn phổi trái đến tĩnh mạch thân tay đầu.
    3. Tĩnh mạch gian sườn trên trái:
      • từ tĩnh mạch bán đơn phụ đến tĩnh mạch thân tay đầu trái.

    Sự liên tục tĩnh mạch đơn của IVC

    • Không có đoạn gan của IVC với sự liên tục tĩnh mạch đơn.
    • IVC bị gián đoạn phía trên mức các tĩnh mạch thận.
    • Liên quan đến bệnh tim bẩm sinh và hội chứng đa lách.

    Kỹ thuật và phác đồ

    Lý tưởng nhất là sử dụng máy quét 64 lát cắt, nhưng ngay cả máy quét 4 lát cắt cũng đủ để nghiên cứu các bất thường mạch máu.
    Kỹ thuật đối với các bất thường này ở ngực cũng giống như kỹ thuật chúng ta sử dụng để phát hiện thuyên tắc phổi.
    Sự chuẩn trực mỏng được sử dụng kết hợp với tốc độ bàn nhanh để có được độ phân giải cao nhất với mức phơi nhiễm tia xạ thấp nhất.
    Thông thường sử dụng pitch 1,5.
    Ở trẻ em, chúng tôi ưu tiên không sử dụng chuẩn trực mỏng do phơi nhiễm tia xạ cao hơn, nhưng những bất thường này có thể rất nhỏ, vì vậy cần phải có chuẩn trực mỏng.

    mAs và kVp
    Ở trẻ có cân nặng dưới 10kg, 40mAs sẽ hiệu quả ở ngực.
    Ở trẻ em có cân nặng hơn 45kg, phác đồ người lớn được sử dụng với 100 mAs trở lên.
    Ở trẻ nhỏ dưới 50 kg, bạn có thể giảm kVp xuống 80 và điều đó hoạt động rất tốt ở vùng ngực.
    Hãy nhớ ở ngực có độ tương phản vốn có từ phổi và bằng cách giảm kVp, bạn tăng cường độ tương phản này.

    Ở bên trái là một bé 3 tuổi.

    Hình ảnh không nín thở với 50mAs và 80 kVp trên máy dò 16 dãy. Mặc dù các hình ảnh cắt ngang hơi nhiễu, nhưng các hình ảnh tái tạo lại vẫn ổn định.

    Những bệnh nhân này có cần an thần không? Chà, hầu hết thời gian thì không.
    Nếu bạn có thể đưa bệnh nhân lên bàn và họ tương đối yên tĩnh, ngay cả khi họ đang thở, bạn sẽ có được những hình ảnh chụp tốt.
    Nếu bạn không thể đưa bệnh nhân lên bàn, vì họ thích sàn nhà, bạn phải gây an thần.
    Trong khoảng 20-25% các nghiên cứu nhi khoa, chúng tôi sử dụng an thần.

    Nếu ống thông không nằm trong tĩnh mạch trước khuỷu, tiêm bằng tay được ưu tiên hơn.

    Thời điểm Bắt đầu Quét
    Theo dõi bolus được sử dụng và mức kích hoạt được đặt ở 120 HU.
    Điều này có thể không phải lúc nào cũng hiệu quả, bởi vì ở trẻ nhỏ lượng thuốc cản quang có thể quá nhỏ để kích hoạt hoặc do nhịp thở con trỏ có thể rơi vào phổi.
    Nếu theo dõi bolus không kích hoạt, hãy bắt đầu quét ở 15 giây.

    Định vị vùng quan tâm (ROI)

    • Động mạch chủ lên cho động mạch chủ và tĩnh mạch chủ trên
    • Động mạch phổi chính cho các động mạch phổi
    • Nhĩ trái cho các tĩnh mạch phổi

    Coronal MPR (left), external volume rendering (middle) and internal volume rendering.

    MPR đứng ngang (trái), kết xuất thể tích ngoài (giữa) và kết xuất thể tích trong.

    Xử lý sau
    Tái tạo đa mặt phẳng (MPR), kỹ thuật kết xuất thể tích (VRT) và chiếu cường độ tối đa (MIP) rất hữu ích.
    Không có vai trò cho bề mặt bóng hoặc mini-IP.
    Ở bên trái là kết xuất bên ngoài và bên trong cung cấp thông tin 3D thực so với MPR.
    Trong kết xuất thể tích, góc nhìn phía sau được ưu tiên để quan sát tốt cung và động mạch chủ xuống.


    Thick slab maximal intensity projection to study the pulmonary vasculature.

    Chiếu cường độ tối đa tấm dày để nghiên cứu hệ thống mạch máu phổi.

    Nếu bạn muốn nghiên cứu các mạch máu ngoại vi, bạn sẽ cần chiếu cường độ tối đa tấm dày.
    Ví dụ nếu bạn nghiên cứu dị dạng động tĩnh mạch hoặc sự khác biệt trong lưu lượng phổi.


    Thick slab coronal maximal intensity projection image in patient with scimitar syndrome.

    Hình ảnh chiếu cường độ tối đa đứng ngang tấm dày ở bệnh nhân mắc hội chứng Scimitar.

    Lưu ý rằng trên hình MIP đứng ngang, bạn có thể thấy rõ sự khác biệt về mạch máu của phổi với tình trạng giảm tưới máu ở bên phải ở bệnh nhân mắc hội chứng Scimitar.


    High grade coarctation of aorta not seen on axial images but clearly visualized on sagittal MPR.

    Hẹp eo động mạch chủ mức độ cao không thấy trên hình ảnh cắt ngang nhưng được hình dung rõ ràng trên hình MPR đứng dọc.

    Tái tạo 3D rất hữu ích khi có các tổn thương khu trú ngắn như hẹp eo hoặc khi các mạch máu chạy xiên (hình).
    Thêm các hình ảnh tái tạo 3D vào hình ảnh cắt ngang sẽ làm tăng độ nhạy từ 90% lên 100% (Lee, Siegel AJR 182: 777-784 )
    Bên trái là bé trai 17 ngày tuổi bị tím tái tối thiểu, suy tim nhẹ và tăng huyết áp chi trên.
    Trên hình ảnh cắt ngang, bạn sẽ gặp khó khăn trong việc chẩn đoán hẹp eo, vì nó khu trú và nằm trong cùng một mặt phẳng với hình cắt ngang.

    Nếu bạn muốn đọc thêm về CT toàn thân nhi khoa, hãy mua:
    Pediatric Body CT, ấn bản lần 2. Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia. 2008 (3) bởi Marilyn Siegel.

  • Mất vững cổ tay

    Mất vững cổ tay

    Louis A. Gilula và Ileana Chesaru

    Viện Hình ảnh Y khoa Mallinckrodt, Đại học Washington, St. Louis, Missouri, Hoa Kỳ và Bệnh viện Westeinde, The Hague, Hà Lan.

    Ngày đăng

    Bài viết này được dựa trên bài thuyết trình của Louis Gilula và được Ileana Chesaru biên soạn lại cho Trợ lý Chẩn đoán Hình ảnh.
    Đầu tiên, một phương pháp phân tích hệ thống cổ tay được trình bày nhằm tìm kiếm tình trạng mất vững xương cổ tay và trật khớp kèm gãy xương.
    Tiếp theo, các ca lâm sàng được trình bày như những ví dụ minh họa trong phần đánh giá hệ thống và chẩn đoán.

    Phân tích cổ tay

    Khi phân tích cổ tay để tìm kiếm tình trạng mất vững xương cổ tay và trật khớp kèm gãy xương, cần đặt ra các câu hỏi sau:
    – Tư thế của bệnh nhân có đúng không? Đây là yếu tố thiết yếu để có thể nhận định về sự sắp xếp không đúng trục hoặc trục bất thường của các xương cổ tay.
    – Sự thẳng hàng giữa các xương cổ tay có bình thường không? Các xương cổ tay phải song song khi nhìn theo mặt phẳng nghiêng. Bất kỳ sự chồng lấp nào đều cho thấy tình trạng nghiêng bất thường, trật khớp hoặc gãy xương.
    – Có sự gián đoạn nào của ba cung xương cổ tay không? Sự gián đoạn cho thấy đứt dây chằng hoặc gãy xương.
    – Hình dạng và trục của các xương cổ tay như thế nào? Cần đặc biệt chú ý đến xương nguyệt, xương thuyền và xương đầu. Hình dạng bất thường cho thấy tình trạng nghiêng bất thường có hoặc không kèm trật khớp.
    Việc trả lời các câu hỏi này sẽ giúp phát hiện các dấu hiệu gợi ý tình trạng mất vững xương cổ tay, trật khớp và gãy xương.

    X-quang

    Tư thế chụp
    Tư thế PAcần được thực hiện với cổ tay và khuỷu tay ngang tầm vai. Chỉ ở tư thế này, xương quay và xương trụ mới song song với nhau. Hạ tay xuống sẽ khiến xương quay bắt chéo xương trụ và trở nên tương đối ngắn hơn. Do đó, sẽ không thể đánh giá chính xác chiều dài của xương trụ (biến thể dương hay âm).
    Tư thế nghiêngđược thực hiện với khuỷu tay khép sát vào thân người. Vai, khuỷu và cổ tay cùng nằm trên một mặt phẳng. Tư thế này giúp hình ảnh nghiêng vuông góc hoàn toàn với hình ảnh PA.


    Extensor carpi ulnaris groove (yellow arrow) seen radial to the midportion of the ulnar styloid.

    Rãnh cơ duỗi cổ tay trụ (mũi tên vàng) nằm ở phía quay so với phần giữa mỏm trâm trụ.

    Tư thế PA
    Trên hình PA đúng tư thế, rãnh cơ duỗi cổ tay trụ sẽ hiện ra ở phía quay so với phần giữa mỏm trâm trụ.
    Hình PA và hình nghiêng có giá trị ngang nhau và do đó cần được phân tích cẩn thận.
    Hình PA thường cho thấy bất thường là gì, còn hình nghiêng cho thấy hướng di lệch của các xương.
    Đôi khi hình chếch cũng được thực hiện, đặc biệt khi cần quan sát khớp thang-thê theo hướng thẳng.

    Tư thế nghiêng
    Chỉ trên hình nghiêng đúng tư thế mới có thể thấy riêng biệt và thẳng hàng các bờ gan tay của xương thuyền, xương đậu và xương đầu như minh họa bên trái.
    Xương nguyệt là xương hình bán nguyệt khớp với đầu xa xương quay. Nhìn xuyên qua đó, có thể thấy mặt lồi của xương thuyền.
    Phía xa xương thuyền là xương thang. Xương có hình góc cạnh nhìn thấy ở phía lưng là xương tháp.
    Xương vuông bắc cầu giữa nửa gần và nửa xa của cổ tay là xương đậu.
    Xương đầu là xương tròn khớp vào mặt xa của xương nguyệt.
    Ở phía xa, giữa các xương đốt bàn tay, có thể nhận ra móc xương móc.


    Same projection of ulna and ulnar styloid on PA and lateral view due to malpositioning in a patient with a perilunate fracture dislocation.

    Hình ảnh xương trụ và mỏm trâm trụ giống nhau trên cả tư thế PA và nghiêng do tư thế chụp không đúng ở bệnh nhân trật khớp gãy xương quanh nguyệt.

    Tư thế chụp không đúng có thể dẫn đến hình ảnh xương trụ giống nhau trên cả tư thế PA và nghiêng như minh họa trong trường hợp bên trái. Không ở vị trí nào trên cơ thể mà người ta chấp nhận hai tư thế chụp cho cùng một hình ảnh của một xương.


    Normal oblique radiograph of the wrist and schematic representation

    X-quang chếch cổ tay bình thường và hình minh họa sơ đồ tương ứng

    Tư thế chếch
    Tư thế chếch không được thực hiện thường quy. Tuy nhiên, đây là tư thế duy nhất cho phép quan sát khớp thang-thê.

    Khoang khớp: tính song song và đối xứng

    Khoang khớp cổ tay có chiều rộng từ 2 mm trở xuống. Chỉ riêng khớp quay-cổ tay là rộng hơn một chút. Các khớp cổ tay-bàn tay hẹp hơn một chút so với các khớp giữa cổ tay.
    Khớp đầu-nguyệt được xem là khoang khớp cơ sở để so sánh với các khoang khớp khác. Cần đánh giá tất cả các khoang khớp: khớp quay-cổ tay, khớp gian cổ tay hàng gần, khớp giữa cổ tay, khớp gian cổ tay hàng xa và các khớp cổ tay-bàn tay.


    Study the carpal bones as pieces of a jigsaw puzzleLEFT: Schematic representation of the wrist with the outlines tracing the outer margins of the bonesRIGHT: Schematic representation of the wrist with the lines tracing the carpal bones as pieces of a jigsaw puzzle

    Quan sát các xương cổ tay như những mảnh ghép của trò chơi xếp hình — TRÁI: Hình minh họa sơ đồ cổ tay với các đường viền theo dõi bờ ngoài của các xương — PHẢI: Hình minh họa sơ đồ cổ tay với các đường theo dõi các xương cổ tay như những mảnh ghép xếp hình

    Các khớp cổ tay cần có tính đối xứng. Hơn nữa, khi quan sát theo chiều tiếp tuyến (nhìn nghiêng), các bờ vỏ xương của các xương tạo nên khớp đó phải song song với nhau. Các bờ xương không được quan sát theo chiều tiếp tuyến sẽ không thể hiện tính song song này, ví dụ như phần xa của xương thuyền khớp với xương đầu.
    Việc đánh giá tính song song này sẽ dễ dàng hơn khi xem các xương cổ tay như những mảnh ghép của trò chơixếp hìnhkhớp với nhau, thay vì theo dõi các xương cổ tay theo bờ vỏ xương ngoài tạo thành các đường viền (hình minh họa).
    Khi một xương không song song với các xương còn lại, xương đó đã bị lệch khỏi vị trí. Nếu các xương còn lại vẫn song song với nhau, chúng vẫn giữ nguyên vị trí cùng nhau.


    PA radiograph and schematic representation of the wrist, with dislocation of the lunate

    Phim X-quang tư thế thẳng (PA) và hình minh họa sơ đồ cổ tay, cho thấy trật khớp xương nguyệt

    Hình ảnh bên trái cho thấy sự chồng lấp bất thường của xương nguyệt lên xương đầu, xương móc và xương tháp. Chúng ta cũng thấy bề mặt tiếp tuyến phía trong của xương thuyền, nhưng không có xương nào song song với nó. Ngoài ra còn có sự giãn rộng bất thường của khoang khớp quay-nguyệt. Các khớp còn lại vẫn song song và đối xứng tốt. Điều này dẫn đến kết luận rằng xương nguyệt đã bị di lệch trong khi các xương còn lại vẫn giữ nguyên vị trí cùng nhau.

    Các cung cổ tay


    PA radiograph of the wrist. The three normal carpal arcs

    Phim X-quang cổ tay tư thế thẳng (PA). Ba cung cổ tay bình thường

    Bước tiếp theo là quan sát ba cung cổ tay: các đường cong trơn nối liền các bề mặt của các xương cổ tay như được minh họa ở hình bên trái.
    Cung thứ nhất là một đường cong trơn phác thảo các mặt lồi phía gần của xương thuyền, xương nguyệt và xương tháp.
    Cung thứ hai đi theo các bề mặt lõm phía xa của các xương tương tự, và cung thứ ba đi theo các đường cong phía gần chính của xương đầu và xương móc.


    PA radiograph of the wrist and schematic representation showing disruption of the first carpal arc

    Phim X-quang cổ tay tư thế thẳng (PA) và hình minh họa sơ đồ cho thấy sự gián đoạn của cung cổ tay thứ nhất

    Gián đoạn các cung cổ tay
    Một cung được coi là gián đoạn khi không thể vẽ theo một đường cong trơn liên tục. Sự gián đoạn của một trong các cung cho thấy có gãy xương hoặc đứt dây chằng dẫn đến bán trật khớp hoặc trật khớp.
    Ở hình bên trái, có thể nhận thấy sự gián đoạn của cung I tại khớp nguyệt-tháp.


    Disruption of the second carpal arc

    Gián đoạn cung cổ tay thứ hai

    Hình bên trái cho thấy sự gián đoạn của cung cổ tay thứ hai tại khớp thuyền-nguyệt và khớp nguyệt-tháp. Mặc dù có một khoảng hở ở cung thứ nhất, nhưng vẫn có thể vẽ theo một đường cong trơn liên tục, do đó cung I được coi là còn nguyên vẹn.


    Disruption of the third carpal arc at the capitohamate joint

    Gián đoạn cung cổ tay thứ ba tại khớp đầu-móc

    Sự gián đoạn của cung cổ tay thứ ba được minh họa trong trường hợp tiếp theo ở hình bên trái. Có hiện tượng bậc thang bất thường tại khớp đầu-móc.

    Hình dạng các xương cổ tay


    Schematic representation of the lunate shape in different positions

    Hình minh họa sơ đồ hình dạng xương nguyệt ở các tư thế khác nhau

    Hình dạng xương nguyệt

    Xương nguyệt có hình thang, với các cạnh bên hội tụ từ mặt gần đến mặt xa, hai mặt này về cơ bản song song với nhau. Khi xương nguyệt bị nghiêng, hình dạng của nó trở nên tam giác. Nhận thức được điều này giúp tránh nhầm lẫn khi cho rằng xương nguyệt có thể bị trật khớp chỉ dựa trên hình dạng bên ngoài, vốn thay đổi theo tư thế của xương.
    Do đó, xương nguyệt có thể bị trật khớp kèm theo nghiêng hoặc chỉ đơn thuần bị nghiêng mà thôi.


    LEFT: Lunate dislocation: capitate is centered over the radius and lunate is tilted out.RIGHT: Perilunate dislocation: lunate is centered over the radius and capitate is tilted out dorsally.

    TRÁI: Trật khớp xương nguyệt: xương đầu nằm trung tâm trên xương quay và xương nguyệt bị nghiêng ra ngoài. PHẢI: Trật khớp quanh xương nguyệt: xương nguyệt nằm trung tâm trên xương quay và xương đầu bị nghiêng ra phía sau.

    Trật khớp xương nguyệt và trật khớp quanh xương nguyệt

    Các trật khớp cổ tay thường gặp bao gồm trật khớp xương nguyệt và trật khớp quanh xương nguyệt. Điểm mấu chốt để phân biệt hai loại này là xác định xương nào nằm trung tâm trên xương quay. Nếu xương đầu nằm trung tâm trên xương quay và xương nguyệt bị nghiêng ra ngoài, đó là trật khớp xương nguyệt. Ngược lại, nếu xương nguyệt nằm trung tâm trên đầu xa xương quay và xương đầu nằm ở phía lưng, chúng ta đang đối mặt với trật khớp quanh xương nguyệt (hình minh họa).


    LEFT: Lateral radiograph of the wrist in extention showing scaphoid elongationRIGHT: PA radiograph of the wrist in ulnar deviation showing elongation of the scaphoid

    TRÁI: X-quang cổ tay tư thế nghiêng ở tư thế duỗi cho thấy xương thuyền bị kéo dài. PHẢI: X-quang cổ tay tư thế thẳng sau-trước ở tư thế lệch trụ cho thấy xương thuyền bị kéo dài

    Hình dạng xương thuyền

    Hình dạng xương thuyền thay đổi theo chuyển động của cổ tay. Khi lệch trụ hoặc duỗi cổ tay, xương thuyền kéo dài ra để lấp đầy khoảng trống giữa mỏm trâm quay và nền ngón cái (xương thang).


    LEFT: PA radiograph of the wrist in radial deviation showing foreshortening of the scaphoid: signet ring signRIGHT: Schematic representation of the wrist in flexion showing tilting of the scaphoid towards the palm

    TRÁI: X-quang cổ tay tư thế thẳng sau-trước ở tư thế lệch quay cho thấy xương thuyền bị ngắn lại: dấu hiệu nhẫn đeo tay. PHẢI: Hình minh họa sơ đồ cổ tay ở tư thế gấp cho thấy xương thuyền nghiêng về phía lòng bàn tay

    Cả khi lệch quay lẫn khi gấp cổ tay, khoảng trống giữa mỏm trâm quay và xương thang đều bị thu hẹp. Do xương thuyền lấp đầy khoảng trống này, nó sẽ bị ngắn lại và nghiêng về phía lòng bàn tay. Điều này tạo ra hình ảnh xương thuyền có dạng nhẫn đeo tay (hình minh họa).

    Trục của các xương cổ tay

    Vẽ các trục dọc của một số xương cổ tay trên phim chụp X-quang tư thế nghiêng và đo các góc giữa chúng là một phương pháp tốt để xác định mối quan hệ không gian giữa các xương cổ tay. Ba trục quan trọng nhất là các trục đi qua xương thuyền, xương nguyệt và xương đầu, được vẽ trên phim X-quang tư thế nghiêng.

    Trục xương thuyền

    Trục thực sự của xương thuyền là đường thẳng đi qua điểm giữa của cực gần và cực xa. Do điểm giữa của cực gần thường khó xác định, có thể sử dụng một đường gần song song được vẽ dọc theo các điểm mặt gan tay nhất của cực gần và cực xa của xương (hình minh họa).


    TRÁI: Trục xương nguyệt được vẽ vuông góc với đường nối bờ gan tay xa và bờ mu tayPHẢI: Phim X-quang với trục xương nguyệt và xương thuyền được vẽ.

    TRÁI: Trục xương nguyệt được vẽ vuông góc với đường nối bờ gan tay xa và bờ mu tayPHẢI: Phim X-quang với trục xương nguyệt và xương thuyền được vẽ.

    Trục xương nguyệt

    Trục của xương nguyệt đi qua điểm giữa của diện khớp lồi ở phía gần và diện khớp lõm ở phía xa, và được xác định tốt nhất bằng cách tìm đường vuông góc với đường nối bờ gan tay xa và bờ mu tay của xương như minh họa ở hình bên trái.

    Góc thuyền-nguyệt
    Bình thường: 30 – 60°
    Nghi ngờ bất thường: 60 – 80°
    Bất thường: > 80°
    Điều này cho thấy mất vững cổ tay.


    TRÁI: Trục xương đầuPHẢI: Phim X-quang với trục xương nguyệt và xương đầu được vẽ.

    TRÁI: Trục xương đầuPHẢI: Phim X-quang với trục xương nguyệt và xương đầu được vẽ.

    Trục xương đầu

    Trục xương đầu nối điểm giữa của phần lồi gần của xương đốt bàn tay thứ ba với điểm giữa của mặt gần xương đầu.

    Góc đầu-nguyệt
    Bình thường: < 30°
    Bất thường: > 30°.
    Điều này cho thấy mất vững cổ tay.

    DISI hay mất vững gấp mu tay

    DISI là viết tắt của Dorsal Intercalated Segmental Instability (mất vững đoạn xen kẽ phía mu tay).
    Đoạn xen kẽ là hàng xương cổ tay gần được đại diện bởi xương nguyệt. Thuật ngữ ‘đoạn xen kẽ’ đề cập đến vị trí của nó nằm giữa đoạn gần của cổ tay bao gồm xương quay và xương trụ, và đoạn xa được đại diện bởi hàng xương cổ tay xa và các xương đốt bàn tay.
    Như vậy, tất cả những điều này có nghĩa là trong DISI hay mất vững gấp mu tay, xương nguyệt bị nghiêng về phía mu tay.
    Nếu bạn nhận thấy xương nguyệt bị nghiêng, hãy đo góc thuyền-nguyệt (30-60° là bình thường, 60-80° là nghi ngờ bất thường, >80° là bất thường) và góc đầu-nguyệt (bất thường khi >30°).
    Trong hình bên trái, góc thuyền-nguyệt được đo là 105 độ. Như đã đề cập, góc này được coi là bất thường khi lớn hơn 80 độ.


    TRÁI: Xương nguyệt nghiêng về phía gan tay trong VISIPH ẢI: Góc thuyền-nguyệt

    TRÁI: Xương nguyệt nghiêng về phía gan tay trong VISIPH ẢI: Góc thuyền-nguyệt

    VISI hay mất vững gấp gan tay

    Mất vững đoạn xen kẽ phía gan tay (Volar Intercalated Segmental Instability – VISI) hay mất vững gấp lòng bàn tay là tình trạng xương nguyệt bị nghiêng quá mức về phía gan tay.
    Trong khi hầu hết các trường hợp DISI đều là bệnh lý, thì trong nhiều trường hợp VISI là một biến thể bình thường, đặc biệt khi cổ tay có độ lỏng lẻo cao.

    Đánh giá hệ thống và chẩn đoán

    Trong các ca lâm sàng tiếp theo, chúng tôi khuyến nghị bạn hãy quan sát các hình ảnh ở bên trái trước và mô tả đầy đủ các phim chụp X-quang.
    Hãy tìm kiếm sự đối xứng, tính song song, cũng như hình dạng và trục của các xương cổ tay. Xác định xem có gãy xương hay không, sau đó cố gắng đưa ra chẩn đoán.
    Sau đó đọc phần văn bản ở bên phải để kiểm tra xem bạn có đúng không.


    PA and lateral view of the wrist

    Tư thế thẳng (PA) và tư thế nghiêng của cổ tay

    Ca lâm sàng 1
    Phân tích hệ thống ca lâm sàng bên trái cho thấy những điểm sau:
    1. Trên tư thế PA, tất cả các xương cổ tay đều song song với nhau, ngoại trừ xương nguyệt.
    2. Cung cổ tay I và II bị gián đoạn tại khớp LT (nguyệt-tháp) và khớp SL (thuyền-nguyệt).
    3. Xương nguyệt có hình tam giác.
    Vì vậy, chỉ dựa vào tư thế PA, chúng ta đã có thể chẩn đoán trật khớp xương nguyệt.

    Ca lâm sàng 2
    Phân tích:
    1. Mất tính song song tại khớp TL (tháp-nguyệt) do xương tháp và xương nguyệt chồng lên nhau.
    2. Xương móc và xương nguyệt cũng chồng lên nhau.
    3. Có sự song song giữa xương quay, xương nguyệt, cực gần xương thuyền và cực gần xương đầu. Như vậy, các xương này tạo thành một khối thống nhất.
    4. Cũng có sự song song giữa xương tháp, xương móc, cực xa xương đầu, xương thang và cực xa xương thuyền.
    5. Gãy xương đầu và xương thuyền.
    Các dấu hiệu này cho thấy đây là trật khớp quanh nguyệt kèm gãy xương thuyền và xương đầu (transscaphoid, transcapitate perilunate fracture-dislocation).

    Bên trái là cùng một ca lâm sàng với đường kẻ chỉ ra đường gãy-trật khớp.

    Cùng ca lâm sàng với tư thế chếch và tư thế nghiêng bổ sung, cho thấy tình trạng trật khớp ra phía sau (dorsal dislocation).

    Ca lâm sàng 3
    Phân tích:
    1. Gãy xương thuyền và mỏm trâm trụ.
    2. Cung I và II bị gián đoạn tại khớp LT (nguyệt-tháp).
    3. Có sự song song giữa xương nguyệt và cực gần xương thuyền với xương quay.
    4. Xương thuyền bị ngắn lại (foreshortened), cho thấy nó đang nghiêng và di chuyển về phía lòng bàn tay.
    5. Tất cả các xương cổ tay còn lại đều có tính song song, ngoại trừ xương nguyệt, cực gần xương thuyền và xương quay.
    Mặc dù đây có thể là trật khớp quanh nguyệt, nhưng chỉ dựa vào tư thế PA rất khó để phân biệt đây là trật khớp xương nguyệt hay trật khớp quanh nguyệt. Hình dạng tam giác của xương nguyệt có thể là kết quả của việc chỉ nghiêng đơn thuần hoặc trật khớp kèm nghiêng.


    Perilunate dislocation with fracture of scaphoid and ulnar styloid processThe volar tip of lunate is also broken (see circle).

    Trật khớp quanh nguyệt kèm gãy xương thuyền và mỏm trâm trụ. Đầu mặt lòng của xương nguyệt cũng bị gãy (xem vòng tròn).

    Cùng ca lâm sàng với tư thế nghiêng được hiển thị thêm.
    Bây giờ chúng ta thấy rõ ràng đây là trật khớp quanh nguyệt.
    Vì vậy, hình dạng tam giác của xương nguyệt là kết quả của việc nghiêng đơn thuần.
    Trên tư thế nghiêng, quan sát thấy gãy đầu mặt lòng của xương nguyệt. Do đó, bệnh nhân này có nguy cơ trật khớp tái phát.

    Ca lâm sàng 4
    Phân tích:
    Ca lâm sàng bên trái cho thấy thoái hóa khớp nặng tại khớp STT (thuyền-thang-thê) và khớp CMC1 (cổ tay-bàn tay ngón 1) kèm bán trật khớp. Các cung cổ tay bình thường và có tính song song bình thường. Xương thuyền bị kéo dài, cho thấy nó đang nghiêng ra phía sau (dorsally tilted).
    Trên tư thế nghiêng, chúng ta có thể thấy xương nguyệt cũng nghiêng ra phía sau. Hàng cổ tay gần di chuyển như một khối thống nhất, do đó không có sự phân ly.
    Chẩn đoán cuối cùng: DISI không phân ly (non-dissociated DISI) kèm thoái hóa khớp và bán trật khớp STT.

    Ca lâm sàng 5
    Phân tích:
    1. Mất tính song song tại khớp LT (nguyệt-tháp) dẫn đến gián đoạn cung I và II.
    2. Xương nguyệt và xương thuyền song song với nhau nhưng không song song với các xương cổ tay còn lại.
    3. Xương thuyền bị ngắn lại do nghiêng về phía lòng bàn tay (palmar tilting).
    4. Xương nguyệt song song với xương thuyền. Vì vậy, hình dạng tam giác phải là kết quả của việc nghiêng về phía lòng bàn tay.
    5. Hàng cổ tay gần không phải là một khối thống nhất vì cung I bị gián đoạn.


    Lateral view demonstrates the volar tilting of lunate which was already suspected on the PA view.

    Tư thế nghiêng cho thấy sự nghiêng về phía lòng bàn tay của xương nguyệt, điều đã được nghi ngờ trên tư thế PA.

    Chẩn đoán cuối cùng:
    VISI kèm phân ly tại khớp LT (nguyệt-tháp).

    Ca lâm sàng 6
    Phân tích:
    1. Các khớp giãn rộng và hẹp lại, nhưng tính song song bình thường, do đó không có trật khớp.
    2. Phân ly thuyền-nguyệt với giãn rộng khớp SL và xương thuyền bị ngắn lại do nghiêng về phía lòng bàn tay.
    3. Thoái hóa khớp quay-thuyền và khớp đầu-nguyệt do các chuyển động bất thường của xương thuyền và xương nguyệt.
    4. Xương nguyệt nghiêng ra phía sau, biểu hiện DISI.
    Tình trạng này được gọi là SLAC. Trong trường hợp này, nguyên nhân là do chấn thương gây đứt dây chằng SL (thuyền-nguyệt).

    SLAC(sụp đổ tiến triển thuyền-nguyệt – scapholunate advanced collapse) đề cập đến một dạng thoái hóa khớp và bán trật khớp đặc trưng, là hậu quả của phân ly thuyền-nguyệt mạn tính không được điều trị hoặc của tình trạng không liền xương thuyền mạn tính.
    Các thay đổi thoái hóa xảy ra ở các vùng chịu tải bất thường, đó là khớp quay-thuyền, tiếp theo là thoái hóa tại khớp nguyệt-đầu không vững, khi xương đầu bán trật ra phía sau trên xương nguyệt.


    SLAC of CPPD TYPE

    SLAC thể CPPD

    Bên trái là một ca SLAC khác. Ca này do bệnh lý lắng đọng calci pyrophosphate (CPPD).
    Các đặc điểm của CPPD kèm SLAC bao gồm:
    – Giảm kích thước cực gần xương thuyền do bào mòn và tiêu xương.
    – Bào mòn hố khớp thuyền (scaphoid fossa)

  • Đặc điểm tổn thương tuyến thượng thận

    Đặc điểm chẩn đoán hình ảnh các tổn thương tuyến thượng thận

    Nanda Krak và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Waikato, Hamilton, New Zealand và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Bản cập nhật của bài viết này với các ngưỡng giá trị mới sẽ sớm được công bố.

    Các tổn thương tuyến thượng thận rất phổ biến.
    Nhiều tổn thương trong số này được phát hiện tình cờ và được gọi là u tình cờ (incidentaloma).
    U tình cờ tuyến thượng thận được định nghĩa là một khối > 1 cm được phát hiện trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh không được thực hiện vì nghi ngờ bệnh lý tuyến thượng thận.

    Hầu hết các u tình cờ này là u tuyến lành tính không hoạt động chức năng, ngay cả ở những bệnh nhân có bệnh ác tính đã biết trước đó.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về việc đánh giá và xử trí các khối tuyến thượng thận bằng cách phân chia chúng thành:

    • Các tổn thương có đặc điểm hình ảnh lành tính
    • Các tổn thương chưa xác định từ 1-4 cm
    • Các tổn thương chưa xác định > 4 cm

    Tiếp Cận Có Hệ Thống

    U tuyến thượng thận tình cờ (incidentaloma) là tổn thương thường gặp, xuất hiện trong khoảng 3% các ca chụp CT bụng, tỷ lệ này tăng lên đến 10% ở bệnh nhân cao tuổi [1,2,3].

    Vấn đề đặt ra là cần phân biệt các khối u tuyến thượng thận lành tính với di căn hoặc khối ác tính nguyên phát, mà không gây gánh nặng không cần thiết cho đa số bệnh nhân bởi các quy trình đánh giá lâm sàng, can thiệp và theo dõi hình ảnh.

    Trước tiên, cần xác định xem tổn thương có đặc điểm hình ảnh điển hình của lành tính hay là không xác định.
    Nếu không xác định, thực hiện CT đánh giá washout hoặc MRI để xem liệu đó có phải là u tuyến nghèo lipid hay không.
    Nếu không phải u tuyến, cần lựa chọn giữa các phương án: theo dõi, PET-CT, sinh thiết hoặc phẫu thuật cắt bỏ.

    Khi phát hiện u tuyến thượng thận tình cờ, áp dụng các bước sau:

    1. Nếu tổn thương có đặc điểm hình ảnh điển hình của lành tính, không cần theo dõi.
      Điều này bao gồm các tổn thương ổn định lâu dài khi so sánh với hình ảnh trước đó.

    2. Nếu tổn thương không xác định và có đường kính 1-4 cm:
      • Các tổn thương 1-2 cm ở bệnh nhân không có tiền sử ung thư có khả năng lành tính. Có thể cân nhắc theo dõi sau 12 tháng.
      • Đối với tất cả các tổn thương không xác định còn lại, thực hiện CT tuyến thượng thận chuyên biệt hoặc MRI để chẩn đoán u tuyến nghèo lipid.
        Các tổn thương này không cần theo dõi thêm.
      • Nếu tổn thương không phải u tuyến nghèo lipid, bước tiếp theo phụ thuộc vào bối cảnh lâm sàng. Nếu bệnh nhân có tiền sử ung thư, cân nhắc PET hoặc sinh thiết.
        Nếu không, cân nhắc theo dõi hoặc phẫu thuật cắt bỏ.
    3. Nếu tổn thương không xác định và có đường kính ≥ 4 cm:
    • Không có tiền sử ung thư, cân nhắc phẫu thuật cắt bỏ do khả năng là ung thư vỏ thượng thận. Không sinh thiết.
    • Nếu có tiền sử ung thư, cân nhắc PET hoặc sinh thiết.

    Chúng tôi sẽ lần lượt thảo luận từng khả năng này.

    Các tổn thương thường gặp lành tính

    Nhiều tổn thương tuyến thượng thận có thể được phân loại là thường gặp lành tính và không cần theo dõi (bảng):

    • U tuyến giàu lipid
    • U tủy mỡ (Myelolipoma)
    • Nang
    • Xuất huyết (có tiền sử phù hợp, ví dụ: chấn thương hoặc bệnh nặng)
    • Các tổn thương có vôi hóa lành tính
    • Các tổn thương không thay đổi trong thời gian dài (> 6-12 tháng) (+ không có tiền sử ung thư)
    • Các tổn thương không ngấm thuốc

    ‘Không ngấm thuốc’ được định nghĩa là sự chênh lệch nhỏ hơn 10HU giữa CT không tiêm và CT có tiêm thuốc cản quang.

    Dưới đây là một số ví dụ về các tổn thương thường gặp lành tính.

    U tuyến giàu lipid

    70% u tuyến chứa nhiều mỡ nội bào và sẽ có tỷ trọng thấp trên CT không tiêm thuốc cản quang [4,5].

    Tỷ trọng bằng hoặc dưới 10 HU được coi là tiêu chuẩn chẩn đoán u tuyến giàu lipid.
    Sử dụng ngưỡng an toàn 10HU trên CT không tiêm thuốc cho độ nhạy 70-79% và độ đặc hiệu cao 96-98% trong chẩn đoán u tuyến [5-7].


    U tuyến nghèo lipid

    30% u tuyến thượng thận không chứa đủ lipid nội bào để có tỷ trọng dưới 10 HU và không thể phân biệt với các tổn thương không phải u tuyến trên CT không tiêm thuốc cản quang.
    Các u tuyến này được gọi là u tuyến nghèo lipid.

    Chúng có thể được chẩn đoán bằng CT tuyến thượng thận chuyên biệt để đánh giá tốc độ thải thuốc nhanh.
    Các u tuyến nghèo lipid này sẽ được thảo luận trongchươngvề các tổn thương chưa xác định.

    Các hình ảnh cho thấy u tình cờ tuyến thượng thận hai bên được phát hiện ở bệnh nhân 64 tuổi được chụp CT để phân tích phình động mạch chủ bụng.
    Hình chụp pha động mạch cho thấy các tổn thương hai bên với tỷ trọng 50 HU.
    Trên CT không tiêm thuốc thực hiện vài ngày sau, tỷ trọng ở cả hai tuyến thượng thận đều dưới 10 HU, xác nhận đây là các u tuyến giàu lipid.

    Nang

    Nang đơn thuần là tổn thương bờ rõ, tỷ trọng nước và không ngấm thuốc cản quang.
    Nang có thành mỏng và có thể có các vách mỏng.

    Có thể là nang nội mô hoặc giả nang, đây là các loại phổ biến nhất, hoặc nang biểu mô thực sự hay nang ký sinh trùng (cả hai đều hiếm gặp) [5].
    Giả nang có thể có thành dày hơn.

    Xuất huyết hoặc mảnh vụn có thể làm tăng tỷ trọng bên trong.

    Cả khối u lành tính và ác tính đều có thể có thoái hóa dạng nang và hoại tử.
    Trong những trường hợp đó, các phép đo tỷ trọng không đáng tin cậy.
    Các đặc điểm gợi ý khối u nền có thể là thành không đều dày từ 5 mm trở lên và ngấm thuốc ở thành, vách hoặc thành phần đặc [5].


    Lesions with benign calcifications

    Các tổn thương có vôi hóa lành tính

    Các tổn thương có vôi hóa lành tính

    Vôi hóa thô, dạng tròn, ngoại vi hoặc theo vách thường gặp trong lành tính và có thể thấy trong:

    • U tuyến
    • U tủy mỡ (Myelolipoma)
    • Chấn thương
    • Nhiễm trùng u hạt

    Vôi hóa hai bên cũng gợi ý nguồn gốc lành tính.

    Vôi hóa dạng chấm, loạn dưỡng và không đều không phải là đặc điểm thường gặp lành tính và có thể thấy trong:

    • Ung thư vỏ thượng thận
    • Di căn tuyến thượng thận

    U tủy mỡ (Myelolipoma)

    U tủy mỡ là các khối u lành tính cấu thành từ các thành phần tủy xương.
    Thông thường chúng dễ nhận biết trên CT hoặc MRI vì chứa các vùng mỡ đại thể.
    Vôi hóa gặp trong 24% các trường hợp.

    Khối tuyến thượng thận thấy trên CT ở đây chứa mỡ đại thể, đặc hiệu cho chẩn đoán u tủy mỡ.
    Bên phải là một trường hợp khác với tăng tín hiệu trên chuỗi xung T1W cho thấy mỡ đại thể trong u tủy mỡ.

    Hình ảnh CT của một khối tuyến thượng thận khác chủ yếu cấu thành từ mỡ đại thể.

    Chẩn đoán: u tủy mỡ.

    Tổn thương chưa xác định 1-4 cm

    Nhiều tổn thương tuyến thượng thận không thể được chẩn đoán chắc chắn là u tuyến giàu lipid hay một thực thể lành tính khác, do tỷ trọng quá cao trên CT không tiêm thuốc cản quang, hoặc do chỉ có hình ảnh CT có tiêm thuốc cản quang để đánh giá.
    Các tổn thương này được gọi là tổn thương chưa xác định.

    Nhóm này bao gồm 30% u tuyến nghèo lipid.
    Để xác định một tổn thương có phải là u tuyến nghèo lipid hay không, có thể thực hiện CT đánh giá độ thải thuốc (washout) và tìm kiếm dấu hiệu thải thuốc nhanh, hoặc chụp MRI và tìm kiếm sự giảm tín hiệu trên chuỗi xung đảo pha (out-of-phase).

    Độ thải thuốc tuyến thượng thận (Adrenal Washout)

    U tuyến, cả loại giàu lipid lẫn nghèo lipid, đều thải thuốc cản quang nhanh chóng.
    Các tổn thương không phải u tuyến, ví dụ như di căn, thường ngấm thuốc nhanh nhưng thải thuốc chậm hơn.

    Độ thải thuốc tuyệt đối
    Quy trình CT đánh giá độ thải thuốc tuyến thượng thận chuyên biệt bao gồm: pha không tiêm thuốc, pha tiêm thuốc cản quang với thì chụp muộn 60-90 giây, và pha chụp muộn tại thời điểm 15 phút.
    Vùng quan tâm (ROI) cần bao phủ ít nhất 2/3 diện tích tổn thương để đảm bảo tính đại diện trong đánh giá.
    Độ thải thuốc tuyệt đối ⩾ 60% là bằng chứng xác định u tuyến [5,6,8].

    Độ thải thuốc tương đối
    Nếu tổn thương tuyến thượng thận được phát hiện trên pha tiêm thuốc cản quang trong khi bệnh nhân vẫn còn trên bàn chụp, có thể thực hiện thêm một lần chụp tuyến thượng thận tại thời điểm 15 phút sau khi tiêm thuốc và tính toán độ thải thuốc tương đối.
    Độ thải thuốc tương đối ⩾ 40% là bằng chứng xác định u tuyến [5,6,8].

    Những lưu ý khi đánh giá độ thải thuốc tuyến thượng thận
    Các ngoại lệ quan trọng của quy tắc thải thuốc là do các khối u có tỷ lệ phần trăm thải thuốc tuyệt đối và tương đối nằm trong ngưỡng của u tuyến, theo thứ tự giảm dần về tần suất gặp:

    • Di căn tuyến thượng thận từ các khối u nguyên phát tăng sinh mạch như ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) và ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) [17]
    • U tủy thượng thận (Pheochromocytoma)
    • Ung thư biểu mô vỏ thượng thận [10]

    U tuyến nghèo lipid

    Các hình ảnh cho thấy một tổn thương chưa xác định trên CT không tiêm thuốc cản quang (tỷ trọng 24 HU).

    Độ thải thuốc tuyệt đối ở bệnh nhân này là 62%.
    Điều này có nghĩa là tổn thương là u tuyến nghèo lipid.

    Thông thường, u tuyến có đặc điểm ngấm thuốc khác với các tổn thương ác tính.
    Trên CT tiêm thuốc cản quang ở thì 60 giây, hầu hết u tuyến ngấm thuốc nhẹ, trong khi các khối u ác tính và u tủy thượng thận ngấm thuốc mạnh.
    Tuy nhiên, sự chồng lấp quá nhiều về mức độ ngấm thuốc không cho phép phân biệt chính xác giữa các tổn thương này, và đó là lý do tại sao chúng ta cần thực hiện CT đánh giá độ thải thuốc.

    MRI chuỗi xung đảo pha (Out-of-phase imaging)

    U tuyến nghèo lipid cũng có thể được chẩn đoán bằng chuỗi xung đảo pha.
    Các u này chứa đủ lượng mỡ vi thể để gây ra sự giảm tín hiệu trên ảnh đảo pha so với ảnh đồng pha, do xảo ảnh dịch chuyển hóa học.

    Đây là hình ảnh của bệnh nhân nữ 65 tuổi, phát hiện tình cờ khối tuyến thượng thận phải trên siêu âm ổ bụng được thực hiện vì sỏi thận.
    Sự hiện diện của mỡ vi thể được chứng minh bởi sự giảm tín hiệu trên ảnh đảo pha.
    Bệnh nhân được theo dõi trong 2 năm do tổn thương hơi không đồng nhất và có kích thước 5,2 cm.
    Tổn thương không thay đổi kích thước và không có hoạt động nội tiết.
    Tổn thương được chẩn đoán là u tuyến nghèo lipid.

    MRI được thực hiện cho tổn thương tình cờ tuyến thượng thận trái phát hiện trên CT không tiêm thuốc và pha động mạch ở bệnh nhân nam 61 tuổi có phình động mạch chủ bụng.
    Trên CT không tiêm thuốc, tỷ trọng là 18 HU.
    Ảnh T1 đảo pha cho thấy sự giảm tín hiệu không đồng nhất kín đáo so với ảnh đồng pha.
    Lưu ý rằng chuỗi xung T1 có xóa mỡ không có giá trị trong việc phát hiện mỡ nội bào vi thể.

    Tiếp tục xem các hình ảnh tiếp theo.

    Vùng tăng tín hiệu trung tâm kín đáo trên chuỗi xung T1 xóa mỡ cũng tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W và không ngấm thuốc tương phản từ trên ảnh sau tiêm.
    Sau khi so sánh với các hình ảnh CT trước đó từ nhiều năm trước, tổn thương được xác định là u tuyến phát triển chậm với xuất huyết nội u mới xảy ra.

    Tổn thương không xác định > 4 cm

    Đường kính lớn nhất của khối tuyến thượng thận có giá trị tiên lượng ác tính.
    Đặc biệt, các tổn thương > 4 cm có khả năng cao là di căn hoặc ung thư biểu mô vỏ thượng thận.

    Kích thước khối tuyến thượng thận còn quan trọng vì hai lý do khác.
    Tiên lượng chung tốt hơn đối với ung thư biểu mô vỏ thượng thận kích thước nhỏ, và các khối u nhỏ hơn cũng dễ cắt bỏ hơn bằng các kỹ thuật phẫu thuật xâm lấn tối thiểu.

    Do đó, khuyến cáo đối với khối tuyến thượng thận không xác định có kích thước > 4 cm và không có tiền sử ung thư là phẫu thuật cắt bỏ – trong hầu hết các trường hợp không cần sinh thiết – nhằm điều trị kịp thời ung thư biểu mô vỏ thượng thận nguyên phát có thể xảy ra [3,9].

    Các trường hợp tiếp theo là ví dụ về các tổn thương không xác định > 4 cm.
    Tất cả đều được phát hiện tình cờ ở những bệnh nhân không có tiền sử ung thư.
    Tất cả các chẩn đoán đều được xác nhận bằng mô bệnh học và cho thấy sự đa dạng của cả khối u lành tính lẫn ác tính.


    Metastasis of an adenocarcinoma

    Di căn của ung thư biểu mô tuyến

    Hình ảnh cho thấy một khối không đồng nhất, bờ không rõ, kích thước lớn hơn 4 cm.
    Có vùng trung tâm ngấm thuốc kém, nhiều khả năng là do hoại tử trung tâm.
    Trong trường hợp cụ thể này, sinh thiết đã được thực hiện và cho thấy ung thư biểu mô tuyến, có thể xuất phát từ ung thư phổi nguyên phát.
    Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là phân tích hình ảnh toàn diện, bao gồm cả FDG PET-CT, không phát hiện được khối u nguyên phát.


    Adrenocortical carcinoma

    Ung thư biểu mô vỏ thượng thận

    Hình ảnh cho thấy một tổn thương ngấm thuốc không đồng nhất, bờ tương đối rõ, kích thước 67 mm.

    Sau phẫu thuật cắt bỏ, tổn thương được xác định là ung thư biểu mô vỏ thượng thận.


    Adrenal leiomyoma

    U cơ trơn tuyến thượng thận

    Hình ảnh cho thấy một tổn thương không xác định kích thước lớn với tỷ trọng không đồng nhất và vỏ vôi hóa một phần.
    Sinh thiết cho thấy u cơ trơn tuyến thượng thận.

    Tổn thương đã được phẫu thuật cắt bỏ.


    Pheochromocytoma

    U tủy thượng thận (Pheochromocytoma)

    Đây là tổn thương không xác định, ngấm thuốc không đồng nhất, bờ tương đối rõ.

    Tổn thương được xác định là u tủy thượng thận (pheochromocytoma).


    Atypical adenoma

    U tuyến không điển hình

    Tổn thương tuyến thượng thận ngấm thuốc mạnh kích thước 7 cm với các ổ nang nhỏ.
    Tổn thương được phẫu thuật cắt bỏ do kích thước lớn và đặc điểm hình ảnh không xác định.

    Kết quả mô bệnh học xác định đây là u tuyến (adenoma).

    Các khối u tuyến thượng thận đặc hiệu


    Pheochromocytomas: strong enhancement in all 4 cases, even in the smaller tumors

    U tủy thượng thận (Pheochromocytoma): ngấm thuốc mạnh trong cả 4 trường hợp, kể cả các khối u nhỏ hơn

    U tủy thượng thận (Pheochromocytoma)

    U tủy thượng thận là các khối u hiếm gặp, có nguồn gốc từ tủy thượng thận.
    Thông thường, các khối u có kích thước lớn hơn 3 cm khi được phát hiện.
    Các khối u không chức năng thường có kích thước lớn hơn các khối u có chức năng.

    Một u tủy thượng thận điển hình sẽ có tỷ trọng trên CT không tiêm thuốc >10 HU, hoặc cao hơn trong trường hợp có xuất huyết.
    Khối u có tính chất giàu mạch máu, dẫn đến ngấm thuốc mạnh, nhưng khác với u tuyến (adenoma), chúng thường có thải trừ thuốc chậm [4,5].


    Pheochromocytoma with small cyst

    U tủy thượng thận kèm nang nhỏ

    Trong 10% trường hợp, u tủy thượng thận có vôi hóa và thường có nhiều nang (mũi tên vàng).

    Hình ảnh này cho thấy một trường hợp u tủy thượng thận khác với nhiều nang.

    Các khối u lớn hơn có xu hướng xuất huyết và hoại tử, ngay cả khi chúng là lành tính.
    U tủy thượng thận được mệnh danh là “tắc kè hoa trên hình ảnh học” vì nhiều đặc điểm hình ảnh chồng lấp với các khối u khác [5].

    Dấu hiệu kinh điển được gọi là “dấu bóng đèn” (light bulb sign), biểu hiện bằng tín hiệu cao đồng nhất trên chuỗi xung T2W, được ghi nhận trong 65% trường hợp [4].

    Những bẫy hình ảnh (Imaging pitfalls)

    • Tỷ trọng < 10 HU trên CT không tiêm thuốc chỉ được mô tả trong các báo cáo ca lâm sàng đơn lẻ.
    • Cả thành phần mỡ vi thể và đại thể đều đã được ghi nhận.
    • Một số ít u tủy thượng thận có thể bị chẩn đoán nhầm là u tuyến nghèo lipid do có tỷ lệ thải trừ thuốc tương đối và tuyệt đối tương tự.
    • Lên đến 30% u tủy thượng thận có thể biểu hiện tín hiệu T2 thấp.

    Do những bẫy hình ảnh này, chẩn đoán u tủy thượng thận dựa trên sự kết hợp các đặc điểm hình ảnh và thường được bổ sung bằng kết quả hình ảnh y học hạt nhân cùng xác nhận sinh hóa.

    Khối u “10%”?

    U tủy thượng thận từng được gọi là “khối u 10%” vì người ta cho rằng 10% là ác tính, 10% hai bên, 10% có tính gia đình, 10% ngoài tuyến thượng thận và 10% xảy ra ở trẻ em.

    Tuy nhiên, hiện nay đã rõ ràng rằng thực tế có hơn 30% u tủy thượng thận và u cận hạch (paraganglioma) là di truyền [18].
    Hơn nữa, tỷ lệ các khối u hai bên, ngoài tuyến thượng thận, ở trẻ em hoặc ác tính khác nhau tùy theo từng hội chứng di truyền cụ thể [18].

    Các hội chứng gia đình liên quan bao gồm đa u tuyến nội tiết (MEN) type IIA/B, von Hippel-Lindau, u xơ thần kinh type I, u cận hạch gia đình do đột biến gen SDH, hội chứng Sturge-Weber và bộ ba Carney (Carney triad) [5, 18].

    10 – 49% u tủy thượng thận được phát hiện tình cờ ở bệnh nhân không có triệu chứng.
    Do đó, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh cần có ngưỡng thấp khi xem xét chẩn đoán u tủy thượng thận.

    Chẩn đoán sinh hóa được thực hiện bằng cách đo metanephrine tự do trong huyết tương hoặc metanephrine phân đoạn trong nước tiểu [2,18].

    Cần tránh sinh thiết không cần thiết và có thể gây nguy hiểm.


    Myelolipomas

    U tủy mỡ (Myelolipoma)

    U tủy mỡ tuyến thượng thận (Myelolipoma)

    U tủy mỡ tuyến thượng thận là các khối u lành tính, tương đối hiếm gặp (0,08-0,2%), chứa các thành phần tủy xương và mỡ trưởng thành với tỷ lệ thay đổi.

    U tủy mỡ thường không có triệu chứng, trừ khi kích thước rất lớn (do hiệu ứng khối) hoặc có chảy máu [5].
    Sự hiện diện của mỡ đại thể giúp nhận diện dễ dàng trên CT hoặc MRI.
    Tỷ trọng trên CT không tiêm thuốc sẽ thấp hơn 0 HU rõ rệt.
    Trên MRI, các phần mỡ sẽ tăng tín hiệu trên chuỗi xung T1W không bão hòa mỡ và mất tín hiệu trên chuỗi xung T1 hoặc T2W có bão hòa mỡ.

    Vôi hóa được ghi nhận trong khoảng 24% trường hợp.

    Hình ảnh cắt ngang và cắt vành cho thấy u tủy mỡ lớn bên phải kèm chảy máu.

    Hình ảnh bên phải là phim chụp theo dõi.

    Nang tuyến thượng thận

    Đây là hình ảnh một nang nhỏ được quan sát trên CT và trên chuỗi xung T2W.

    Hình ảnh CT không tiêm và có tiêm thuốc cản quang của một nang tuyến thượng thận.
    Nang có thành mỏng, đồng nhất và không ngấm thuốc.

    Ung thư vỏ thượng thận (Adrenocortical carcinoma)

    Ung thư vỏ thượng thận (ACC) là các khối u ác tính hiếm gặp với tỷ lệ mắc khoảng 1-2 trường hợp trên một triệu dân mỗi năm [5].

    60% ACC có chức năng nội tiết.
    Hội chứng Cushing đơn thuần hoặc hội chứng Cushing kết hợp nam hóa là biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất.
    Nam hóa, nữ hóa hoặc cường aldosterone đơn thuần là hiếm gặp (< 10%).

    Bệnh nhân ung thư vỏ thượng thận không chức năng thường biểu hiện các triệu chứng bụng như buồn nôn, nôn, đầy bụng, đau hông hoặc đau lưng do kích thước khối u lớn.

    Ung thư vỏ thượng thận có thể là thể tản phát hoặc liên quan đến các hội chứng di truyền, bao gồm MEN1, hội chứng Lynch, hội chứng Beckwith-Wiedemann và hội chứng Li-Fraumeni.
    Đỉnh tỷ lệ mắc xảy ra ở trẻ nhỏ và ở thập kỷ thứ tư và thứ năm của cuộc đời [5].

    Các đặc điểm hình ảnh điển hình của ung thư vỏ thượng thận bao gồm [5,10]:

    • Khối u lớn, hình dạng không đều
    • Hầu hết các khối u có kích thước lớn hơn 6 cm tại thời điểm chẩn đoán.
    • Các vùng hoại tử, xuất huyết và vôi hóa, có thể dạng chấm, đốm hoặc dạng nốt không đều.
    • Xâm lấn các cơ quan lân cận và hạch bạch huyết vùng.
    • Xâm lấn tĩnh mạch chủ dưới (IVC) hoặc tĩnh mạch thận (9-19%).

    Những bẫy hình ảnh:

    • Rất hiếm khi ACC có thể có các vùng mỡ đại thể nhỏ.
    • Rất ít gặp trường hợp ACC có tỷ lệ thải trừ thuốc tuyệt đối hoặc tương đối trên CT trong ngưỡng của u tuyến [10].

    Hơn một nửa số bệnh nhân ACC có bệnh giai đoạn III hoặc IV tại thời điểm chẩn đoán, điều này lý giải tiên lượng xấu của bệnh, với tỷ lệ sống còn 5 năm là 50% cho giai đoạn III và 15% cho giai đoạn IV.

    Do đó, điều quan trọng là phải tìm kiếm xâm lấn cơ quan lân cận, di căn hạch bạch huyết và di căn xa, thường gặp nhất ở phổi, gan hoặc xương.


    Những lưu ý về tổn thương chứa mỡ




    Oncocytoma of the left adrenal with fatty components.

    U tế bào ưa axit (Oncocytoma) tuyến thượng thận trái có chứa thành phần mỡ.

    Mỡ đại thể khá đặc hiệu cho u tủy mỡ (myelolipoma), tuy nhiên cũng đã được mô tả không thường xuyên trong các trường hợp u tuyến (adenoma), u quái tuyến thượng thận (adrenal teratoma), di căn từ ung thư biểu mô tế bào thận dạng tế bào sáng (clear cell renal cell carcinoma), u tế bào ưa crôm (pheochromocytoma) và thậm chí cả ung thư biểu mô vỏ thượng thận (adrenocortical carcinoma).

    Nếu thành phần mỡ đại thể chiếm hơn 50%, có thể chẩn đoán xác định u tủy mỡ tuyến thượng thận (adrenal myelolipoma) [4].
    Việc theo dõi các u tủy mỡ tuyến thượng thận phát hiện tình cờ, không có triệu chứng là an toàn.
    Thông thường, chỉ định phẫu thuật cắt bỏ được đặt ra khi khối u lớn hơn 7 cm, có triệu chứng (hiệu ứng khối, đau), hoạt động nội tiết hoặc có biến chứng chảy máu [5].

    Hình ảnh cho thấy một tổn thương tuyến thượng thận chứa mỡ, có ranh giới rõ, bao gồm thành phần mô mềm, thành phần mỡ và một số vôi hóa. Tổn thương này được phẫu thuật cắt bỏ do kích thước lớn 13 cm và nguồn gốc chưa xác định.
    Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy đây là u tế bào ưa axit (oncocytoma) có dị sản mỡ và tủy xương.

    Đây là một tổn thương tuyến thượng thận rất lớn khác, chưa xác định được nguồn gốc, có chứa mỡ đại thể và vôi hóa loạn dưỡng (dystrophic calcifications).
    Kết quả giải phẫu bệnh xác định đây là u mỡ ác tính (liposarcoma) có biệt hóa dạng u xương ác tính (osteosarcomatous differentiation).

    Giao thức chụp MRI

    MRI thường được sử dụng như một công cụ giải quyết vấn đề sau khi CT không cho kết quả rõ ràng hoặc khi CT có thuốc cản quang bị chống chỉ định.

    Giao thức chụp MRI nên bao gồm [4,5]:

    • Chụp ảnh dịch chuyển hóa học với chuỗi xung đồng pha và ngược pha để phát hiện mỡ nội bàovi thể.
    • Xóa mỡ để phát hiện mỡđại thể.
    • Chuỗi xung T2W để chẩn đoán nang hoặc thành phần dạng nang, đồng thời có thể hỗ trợ chẩn đoán u tủy thượng thận (pheochromocytoma) khi có dấu hiệu ‘bóng đèn’ điển hình.
    • MRI động có tiêm thuốc tương phản từ gadolinium hữu ích trong việc phân biệt u tuyến (adenoma) với các tổn thương không phải u tuyến. U tủy thượng thận có thể được nhận diện nhờ đặc điểm ngấm thuốc mạnh.

    Khuếch tán (DWI) không có giá trị bổ sung do sự chồng lấp đáng kể trong các giá trị ADC giữa các tổn thương tuyến thượng thận lành tính và ác tính [11].

    Hầu hết các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sử dụng đánh giá trực quan để xác định xem có sự sụt giảm tín hiệu trên ảnh ngược pha hay không.
    Tuy nhiên, cũng có thể đo sự thay đổi cường độ tín hiệu trong một vùng quan tâm (ROI) đặt trên tổn thương tuyến thượng thận ở ảnh ngược pha và so sánh với ảnh đồng pha, sử dụng lách làm cơ quan tham chiếu nội tại.
    Tỷ số tuyến thượng thận-lách (ASR) hoặc chỉ số cường độ tín hiệu tuyến thượng thận (SI-index) có thể được tính toán bằng cách sử dụng máy tính MRI tuyến thượng thận [12,13].

    ASR <0,71 và SI-index >16,5% gợi ý u tuyến thượng thận (adenoma).
    Độ nhạy được báo cáo của ASR là 58 – 99% và độ đặc hiệu là 84-86%.

    Chụp ảnh dịch chuyển hóa học kém nhạy hơn CT rửa thuốc trong việc phát hiện u tuyến nghèo lipid, đặc biệt khi tỷ trọng CT không tiêm thuốc từ 20 HU trở lên [13].

    Tổn thương tuyến thượng thận này được phát hiện tình cờ trên phim chụp CT chẩn đoán thuyên tắc phổi.

    Sử dụng máy tính MRI tuyến thượng thận, tỷ số tuyến thượng thận-lách (ASR) và chỉ số cường độ tín hiệu (SI-index) có thể được đo từ các vùng quan tâm (ROI) đặt bên trong tổn thương tuyến thượng thận và lách trên cả ảnh đồng pha và ngược pha.

    Dựa trên cường độ tín hiệu đo được trong các ROI đặt trên tổn thương tuyến thượng thận và lách, ASR là 0,66 (< 0,71) và SII là 39,5% (> 16,5%), cho thấy đây là một u tuyến (adenoma).

    PET-CT

    FDG – Hình ảnh khối u tuyến thượng thận không đặc hiệu

    Các khối u ác tính có chuyển hóa glucose cao hơn so với các khối u lành tính.
    Đặc điểm này cho phép thực hiện chụp PET-CT với chất tương tự glucose là 18F-fluoro-deoxy-glucose (FDG).

    FDGkhông đặc hiệucho bất kỳ loại khối u tuyến thượng thận nào, nhưng có thể được sử dụng để phân biệt u tủy thượng thận (pheochromocytoma), u cận hạch (paraganglioma), ung thư biểu mô vỏ thượng thận và di căn tuyến thượng thận với các khối u lành tính.


    Axial venous phase CT in mediastinal and bone window setting

    CT thì tĩnh mạch mặt cắt ngang với cửa sổ trung thất và cửa sổ xương

    Hình ảnh thể hiện cửa sổ trung thất và cửa sổ xương của một bệnh nhân có khối u tuyến thượng thận phải kích thước lớn, ngấm thuốc không đồng nhất.

    Khối u này đã được xác nhận là ung thư biểu mô vỏ thượng thận.

    Có một tổn thương gan mờ nhạt, bờ không rõ ở phân thùy 6 và các thay đổi xơ cứng không đặc hiệu ở thân đốt sống T12.

    Tiếp tục xem hình ảnh PET…

    PET-CT thực hiện để phân giai đoạn toàn diện cho thấy sự hấp thu mạnh tại khối u tuyến thượng thận, gợi ý bản chất ác tính của khối u.
    Ngoài ra còn ghi nhận sự hấp thu mạnh tại hai ổ di căn gan và một ổ di căn xương ở T12.

    Khoảng 20-40% bệnh nhân ung thư biểu mô vỏ thượng thận đã có di căn tại thời điểm chẩn đoán.

    PET-CT FDG toàn thân có thể phân biệt tổn thương lành tính với ác tính với độ nhạy cao (100%), nhưng độ đặc hiệu thấp hơn (87-97%).

    Các trường hợp dương tính giả là do một số ít u tuyến (adenoma), u tủy thượng thận (pheochromocytoma), tổn thương viêm và nhiễm trùng có biểu hiện tương tự tổn thương ác tính [14].

    Các trường hợp âm tính giả có thể gặp ở các ổ di căn xuất huyết, hoại tử hoặc kích thước nhỏ (5-10 mm), cũng như di căn từ các ung thư nguyên phát có mức độ hấp thu FDG tương đối thấp, như ung thư biểu mô tuyến xâm lấn tối thiểu hoặc khối u carcinoid [14].

    Ngoài đánh giá trực quan, có thể sử dụng giá trị hấp thu chuẩn hóa (SUV) với ngưỡng cắt nhất định (SUVmax 2,68-3,7) hoặc tỷ số SUV tuyến thượng thận/gan (giá trị ngưỡng được báo cáo là 1,29-1,45) để phân biệt tổn thương tuyến thượng thận lành tính với ác tính, với độ nhạy và độ đặc hiệu cao [14, 15].

    Kết hợp PET-CT FDG và CT đánh giá độ thải thuốc tuyến thượng thận (adrenal washout CT) có thể cải thiện thêm độ chính xác trong chẩn đoán ác tính tuyến thượng thận [16].

    CT thì tĩnh mạch mặt cắt ngang này cho thấy một khối tuyến thượng thận phải kích thước rất lớn, nghi ngờ ác tính dựa trên kích thước lớn và tính không đồng nhất.

    Tổn thương này là ung thư biểu mô vỏ thượng thận, nhưng trái với ví dụ trước, PET-CT FDG thực hiện tiếp theo cho mục đích phân giai đoạn chỉ cho thấy sự hấp thu nhẹ và chỉ ở phần ngấm thuốc mạnh nhất của khối u.

    Hầu hết các ung thư biểu mô vỏ thượng thận đều có sự hấp thu FDG mạnh.
    Sự thiếu hụt hấp thu FDG này có thể do khối u độ thấp với tốc độ phân bào thấp hơn hoặc có các thành phần xuất huyết hay hoại tử lớn.

    CT thì tĩnh mạch mặt cắt ngang đầu tiên sau phẫu thuật, thực hiện 3 tháng sau khi cắt tuyến thượng thận trái vì ung thư biểu mô vỏ thượng thận kích thước lớn, cho thấy một nốt ngấm thuốc ở phía sau thận trái.
    PET-CT FDG tái phân giai đoạn cho thấy sự hấp thu mạnh chỉ tại tổn thương này, được xác nhận là ổ di căn trên hình ảnh theo dõi tiếp theo.
    Khối máu tụ dưới bao thận trái là không liên quan.

    Hình ảnh đặc hiệu cho u tủy thượng thận (Pheochromocytoma)

    CT thì động mạch và thì tĩnh mạch mặt cắt ngang cho thấy một u tình cờ tuyến thượng thận trái tăng sinh mạch máu.

    Metanephrine tự do trong huyết tương tăng cao, có giá trị chẩn đoán u tủy thượng thận (pheochromocytoma).

    Phân giai đoạn tiếp theo bao gồm SPECT MIBG và PET-CT FDG, cả hai đều cho thấy sự hấp thu mạnh tại khối u tuyến thượng thận trái, nhưng không có bằng chứng bệnh di căn.

    U tủy thượng thận (pheochromocytoma) và u cận hạch (paraganglioma) có nguồn gốc từ các tế bào ưa crôm (chromaffin) ở tủy thượng thận.
    Đây là các tế bào thần kinh nội tiết biểu hiện thụ thể vận chuyển norepinephrine trên màng tế bào và bài tiết catecholamine, noradrenaline, dopamine cùng một số hormone khác.

    Đây là cơ sở cho việc sử dụng các chất đánh dấu như 131I- và 123I-MIBG, tích lũy trong mô adrenergic, giúp xạ hình MIBG trở nên đặc hiệu cho u tủy thượng thận và u cận hạch.

    18F-dihydroxyphenylalanine (DOPA) và 18F-fluorodopamine (DA) là các hợp chất đặc hiệu cho u tủy thượng thận được đánh dấu bằng 18F, có thể sử dụng cho chụp PET-CT [19].

    U tủy thượng thận và u cận hạch cũng có thụ thể somatostatin và do đó có thể được hiển thị bằng các chất tương tự somatostatin.
    Xạ hình somatostatin (hay Octreoscan) hiện đang dần được thay thế bởi PET-CT sử dụng các chất tương tự somatostatin gắn nhãn 68 gallium như DOTA-TOC, DOTA-NOC hoặc DOTA-TATE [19].

    CT thì tĩnh mạch mặt cắt ngang bên trái cho thấy một tổn thương tuyến thượng thận phải kích thước lớn, ngấm thuốc không đồng nhất kèm một nang nhỏ, không thể chẩn đoán là u tuyến (adenoma) bằng CT đánh giá độ thải thuốc, do đó được xếp vào nhóm tổn thương chưa xác định.

    Metanephrine tự do trong huyết tương tăng cao và tổn thương được chẩn đoán là u tủy thượng thận (pheochromocytoma).
    SPECT MIBG để phân giai đoạn cho thấy sự hấp thu mạnh chỉ ở tuyến thượng thận phải.
    PET-CT cũng được thực hiện, nhưng ngược lại chỉ cho thấy sự hấp thu cao hơn gan bình thường một chút.
    Đây là điều rất bất thường đối với u tủy thượng thận, vốn thường có sự hấp thu FDG rất mạnh, ngay cả khi lành tính.
    Nếu khối u nguyên phát thiếu sự hấp thu FDG, độ nhạy để phát hiện di căn trên PET-CT FDG sẽ rất thấp.

    Hình ảnh phía trên bên trái là CT tầm soát thì tĩnh mạch ở bệnh nhân có đột biến gen SDHD đã biết, liên quan đến nguy cơ cao phát triển u tủy thượng thận và u cận hạch.

    Có một khối u tuyến thượng thận phải tăng sinh mạch máu.
    SPECT MIBG được thực hiện cho thấy sự hấp thu mạnh, giúp xác nhận chẩn đoán u tủy thượng thận.

    Một năm sau, tầm soát được thực hiện bằng PET-CT 68 Ga-DOTATATE.
    Hình ảnh cho thấy sự hấp thu mạnh ở tuyến thượng thận phải, đồng thời cũng ghi nhận sự hấp thu mạnh tại một khối u cầu cảnh (glomus caroticum) bên trái như thấy trên ảnh MIP mặt phẳng đứng dọc bên phải.

    Sự hấp thu DOTATATE ở lách và tuyến yên là bình thường, cũng như sự bài tiết bình thường qua thận xuống bàng quang.

    U tủy thượng thận (pheochromocytoma) biểu hiện thụ thể somatostatin, khiến chúng phù hợp để hiển thị bằng chất tương tự somatostatin.
    Trong trường hợp này, DOTATOC gắn nhãn 68 gallium được sử dụng.
    Bệnh nhân này biểu hiện bệnh di căn lan rộng đến phổi, gan và các hạch bạch huyết sau phúc mạc sau khi phẫu thuật cắt bỏ u tủy thượng thận.

    Tiếp tục xem PET-CT…

    PET-CT của cùng bệnh nhân với DOTATOC gắn nhãn 68 gallium.

    Đánh giá nội tiết

    Có đến 15% tổng số khối u tuyến thượng thận có chức năng nội tiết:

    • U tuyến tiết cortisol (rất phổ biến).
    • U tủy thượng thận (pheochromocytoma) tiết catecholamine (ít gặp).
    • U tuyến tiết aldosterone (ít gặp).
    • Ung thư vỏ thượng thận tiết glucocorticoid hoặc androgen (cực kỳ hiếm gặp).

    Hướng dẫn hiện hành của Hội Nội tiết Châu Âu (ESE), Hiệp hội Bác sĩ Nội tiết Lâm sàng Hoa Kỳ (AACE) và Trường Môn X quang Hoa Kỳ (ACR) [2,3] khuyến nghị thực hiện đánh giá sinh hóa ban đầu cho tất cả các trường hợp u tuyến thượng thận tình cờ phát hiện, nhằm loại trừ u tủy thượng thận (pheochromocytoma), hội chứng Cushing dưới lâm sàng và cường aldosterone.

    Các hormone sau đây cần được đánh giá ở tất cả bệnh nhân có u tuyến thượng thận tình cờ phát hiện:

    • Nghiệm pháp ức chế dexamethasone qua đêm để loại trừ tình trạng dư thừa cortisol.
    • Metanephrine tự do trong huyết tương hoặc metanephrine phân đoạn trong nước tiểu để chẩn đoán hoặc loại trừ u tủy thượng thận (pheochromocytoma).

    Các hormone sau đây cần được đánh giá có điều kiện:

    • Tỷ lệ aldosterone/renin để loại trừ cường aldosterone nguyên phát ở bệnh nhân có triệu chứng tăng huyết áp hoặc hạ kali máu không rõ nguyên nhân.
    • Hormone sinh dục và các tiền chất steroid ở bệnh nhân nghi ngờ ung thư vỏ thượng thận (ACC).
  • U thận ở trẻ em

    Khối U Thận ở Trẻ Em

    Suzanne Spijkers, Annemieke Littooij, Martine van Grotel và Erik Beek

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh và Y học Hạt nhân, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht và Trung tâm Ung thư Nhi khoa Princess Máxima tại Utrecht

    U Wilms chiếm đại đa số các khối u thận ở trẻ nhỏ, và phẫu thuật cắt bỏ kết hợp hóa trị liệu tân bổ trợ là phương pháp điều trị được lựa chọn.

    Hầu hết các khối u thận khác không thể phân biệt một cách đáng tin cậy với u Wilms trên hình ảnh, tuy nhiên một số đặc điểm có thể gợi ý chẩn đoán thay thế, trong một số trường hợp có thể dẫn đến quyết định điều chỉnh phác đồ điều trị hoặc thực hiện sinh thiết trước khi bắt đầu điều trị tiền phẫu.

    Vai trò của chẩn đoán hình ảnh ở trẻ em có khả năng mắc khối u thận là trước tiên xác định xem khối đó có xuất phát từ thận hay không.
    Bước tiếp theo là tìm kiếm các dấu hiệu gợi ý chẩn đoán thay thế thay vì u Wilms.
    Bước cuối cùng là phân giai đoạn bệnh.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về các khối u thận thường gặp và một số khối u ít gặp hơn, đồng thời đề cập đến một số bệnh ác tính có thể biểu hiện như một khối u thận nguyên phát, như u lympho, u nguyên bào thần kinh và bệnh bạch cầu.

    Giới thiệu

    Vai trò của Chẩn đoán Hình ảnh

    1. Xác định xem khối đó có phải là khối thận hay không.
      Trong hầu hết các trường hợp, siêu âm có thể xác định được khối xuất phát từ thận. Đặc biệt cần tìm kiếm dấu hiệu móng vuốt.
      Đối với các khối lớn, việc xác định có thể khó khăn và MRI hoặc CT có thể giải quyết vấn đề này.
      Một khối u nguyên bào thần kinh lớn chèn ép hoặc xâm lấn thận có thể trông giống như khối u thận.
    2. Đây có phải là u Wilms hay có thể là bệnh lý khác?
      Nếu là khối thận, thì trong hầu hết các trường hợp sẽ là u Wilms, đặc biệt ở nhóm tuổi từ 6 tháng đến chín tuổi. Để chẩn đoán phân biệt, cần tìm các dấu hiệu không điển hình của u Wilms, như hạch bạch huyết to nhiều (ung thư biểu mô tế bào thận hoặc u lympho) hoặc di căn gan và xương (u sarcom tế bào sáng).
    3. Phân giai đoạn
      Khi u Wilms là chẩn đoán có khả năng nhất, nhưng cũng như đối với các khối u khác, phân giai đoạn là bước tiếp theo.
      Đặc biệt cần tìm kiếm huyết khối trong lòng mạch, di căn phổi (giai đoạn IV) và khối u ở thận đối bên (giai đoạn V)

    Claw sign

    Dấu hiệu móng vuốt

    Dấu hiệu móng vuốt

    Dấu hiệu này trong các khối u thận có giá trị trong việc xác định khối u xuất phát từ thận, thay vì chỉ nằm kề cận thận và làm biến dạng đường viền thận.

    Dấu hiệu móng vuốt đề cập đến các góc nhọn ở hai bên khối, được tạo thành bởi phần nhu mô bình thường còn lại bao quanh khi khối u xuất phát từ thận.

    Hình ảnh
    U Wilms bên trái ở bé gái một tuổi.
    Phần thận còn lại trải dài bao quanh khối u, tạo thành “dấu hiệu móng vuốt”.

    Xử trí

    Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò hạn chế trong việc xác định bản chất chính xác và hướng xử trí của khối u thận ở trẻ em, vì hầu hết các khối u thận ở trẻ em đều sẽ được phẫu thuật cắt bỏ và phần lớn là u Wilms.
    Tuổi khởi phát là yếu tố dự báo loại khối u quan trọng hơn nhiều.

    Trẻ từ 0–6 tháng tuổi

    Ngoài u Wilms, chẩn đoán phân biệt bao gồm hai loại khối u xuất hiện chủ yếu ở trẻ nhũ nhi: u nguyên bào thận trung mô bẩm sinh và u rhabdoid của thận (MRTK). Cả hai loại khối u này đều được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ nguyên phát. Do đó, các khối u thận ở trẻ dưới sáu tháng tuổi được ưu tiên phẫu thuật cắt bỏ nguyên phát nếu có thể.

    Trẻ từ 6 tháng – 9 tuổi
    Khối u thận ở trẻ em trong nhóm tuổi này được coi là u Wilms mà không cần xác nhận mô học.

    >9 tuổi
    Ở trẻ em trên 9 tuổi, trong hầu hết các trường hợp sẽ được thực hiện cắt thận nguyên phát.
    Ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) phổ biến hơn u Wilms trong nhóm tuổi này.

    Bảng này tóm tắt các đặc điểm của các khối u thận ở trẻ em.

    Một số khối u thận ở trẻ em có thể được phân biệt với u Wilms dựa trên các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học.

    • U Wilms thường rất lớn khi được phát hiện. Đây là chẩn đoán có khả năng nhất, đặc biệt khi có khối u hai bên, xâm lấn tĩnh mạch hoặc di căn phổi.
    • Bệnh nguyên bào thận (Nephroblastomatosis) xảy ra thường xuyên nhất ở trẻ sơ sinh và được đặc trưng bởi nhiều khối dưới bao thận hai bên, thường kết hợp với u Wilms.
    • Ung thư biểu mô tế bào thận hiếm gặp ở trẻ em, ngoại trừ khi liên quan đến hội chứng von Hippel–Lindau, và thường xuất hiện ở thập kỷ thứ hai của cuộc đời.
    • U nguyên bào thận trung mô bẩm sinh (CMN) là khối u thận phổ biến nhất trong giai đoạn sơ sinh và là khối u thận lành tính thường gặp nhất ở trẻ em. Hình ảnh xoáy nước của khối u trên siêu âm có thể gợi ý u nguyên bào thận trung mô bẩm sinh.
    • U rhabdoid được phân biệt bởi sự kết hợp với các khối u nội sọ đồng thời.
    • Các khối u thận dạng nang nhiều thùy bao gồm u thận dạng nang (cystic nephroma) và u nguyên bào thận dạng nang biệt hóa một phần (CPDN). Chẩn đoán được gợi ý bởi một khối lớn gồm nhiều nang và không có mô đặc dạng nốt. Điều trị là phẫu thuật cắt bỏ.
    • U sarcom tế bào sáng của thận (CCSK) được biết đến với xu hướng di căn xương, một vị trí di căn hiếm gặp của u Wilms.
    • U mỡ cơ mạch (Angiomyolipoma) chứa mô mỡ và liên quan đến bệnh xơ cứng củ (tuberous sclerosis).
    • Ung thư biểu mô tủy thận xảy ra ở bệnh nhân mang hồng cầu hình liềm hoặc bệnh huyết sắc tố SC và biểu hiện là khối xâm lấn kèm di căn.
    • Khối u thận hóa xương ở trẻ nhũ nhi (ORTI) được phân biệt với u nguyên bào thận trung mô bằng sự hiện diện của các thành phần hóa xương. Khối u thoát vị vào bể thận và có hình ảnh tương tự sỏi san hô.
    • U tuyến thận trung thận (Metanephric adenoma) không có đặc điểm đặc hiệu nhưng luôn có ranh giới rõ.
    • U lympho thận được đặc trưng bởi nhiều khối đồng nhất, thường kèm theo hạch bạch huyết to.

    U nguyên bào thận (Wilms tumor)


    U nguyên bào thận ở bé trai năm tuổi.

    U nguyên bào thận ở bé trai năm tuổi.

    Hơn 90% các khối u thận ở trẻ em là u Wilms, còn gọi là u nguyên bào thận (nephroblastoma). U Wilms thường gặp ở trẻ em trong độ tuổi từ 6 tháng đến chín tuổi, với đỉnh tần suất mắc bệnh từ 2 đến 3 tuổi.

    U Wilms thường có kích thước rất lớn tại thời điểm chẩn đoán ban đầu, và trẻ thường đến khám vì bụng căng phồng.
    Trẻ mắc u Wilms thường không có biểu hiện bệnh nặng.

    Ca lâm sàng 1
    Hình ảnh chuỗi xung T2W mặt phẳng coronal cho thấy một khối u không đồng nhất ở thận trái với các thành phần nang nhỏ.
    Khối u ngấm thuốc kém hơn so với phần nhu mô thận bình thường còn lại ở ngoại vi.
    Các thành phần đặc của khối u cho thấy hạn chế khuếch tán rõ rệt (mũi tên).
    Đây là u Wilms ở bé trai năm tuổi. Hóa trị tiền phẫu được thực hiện theo phác đồ Umbrella của SIOP-RTSG, sau đó tiến hành cắt thận.

    Hội chứng Beckwith-Wiedemann

    Các khối u nhỏ hơn có thể được phát hiện khi triệu chứng khởi phát là đái máu, đau bụng, hoặc tăng huyết áp kèm đau đầu, hoặc trong quá trình sàng lọc bằng siêu âm ở trẻ mắc các hội chứng có nguy cơ cao phát triển u nguyên bào thận, như hội chứng Beckwith-Wiedemann, WAGR, hội chứng Perlman, DICER 1 và hội chứng Li-Fraumeni.

    U nguyên bào thận hai bên thường liên quan đến yếu tố di truyền hoặc hội chứng bệnh lý.

    Các khối u nhỏ thường có cấu trúc đồng nhất và tăng âm.
    Các khối u lớn hơn thường không đồng nhất hơn với các thành phần nang hoại tử và xuất huyết.
    10% u nguyên bào thận có vôi hóa mịn.

    Phổi là vị trí di căn thường gặp nhất.
    Di căn gan và xương hiếm gặp.

    Ca lâm sàng 2
    Đây là bé trai hai tuổi mắc hội chứng Beckwith-Wiedemann.
    Siêu âm sàng lọc phát hiện một khối u nhỏ đồng nhất ở phần thận trái của thận móng ngựa.


    Đặc điểm hình ảnh MRI

    U Wilms thường không đồng nhất, giảm tín hiệu trên chuỗi xung T1W và tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W.
    Các thành phần nang hoại tử thường hiện diện.
    Ngấm thuốc tương phản từ Gadolinium không đồng nhất và kém hơn so với nhu mô thận bình thường.

    Các thành phần đặc của khối u sẽ biểu hiện hạn chế khuếch tán.
    Dấu hiệu xuất huyết thường gặp. Các vùng xuất huyết cũng có thể biểu hiện hạn chế khuếch tán, do đó cần đánh giá chuỗi xung T1W để tìm dấu hiệu chảy máu.

    MRI có thể hiển thị rõ ràng huyết khối u trong tĩnh mạch thận và tĩnh mạch chủ dưới, cũng như tình trạng hạch bạch huyết to. Phương pháp này cho phép đo đạc chính xác và có thể lặp lại kích thước khối u theo ba chiều, trên cả hình ảnh ban đầu và các lần theo dõi sau.

    Ca lâm sàng 3
    Hình ảnh MRI này của bé gái ba tuổi có khối u thận phải.
    Cuộn xem qua các lát cắt chuỗi xung T2W mặt phẳng coronal.
    Có một huyết khối u lớn lan từ tĩnh mạch thận vào tĩnh mạch chủ dưới (mũi tên).

    Tiếp tục xem hình ảnh siêu âm…

    Đây là hình ảnh siêu âm ban đầu của cùng bệnh nhân, cho thấy khối u và huyết khối u.

    Ca lâm sàng 4
    Video này của bé gái ba tuổi có khối lớn ở hố thắt lưng phải.

    Siêu âm với đầu dò tần số cao cho thấy khối u xuất phát từ thận phải.
    Phần đài bể thận còn lại bị giãn, đây là trường hợp thường gặp.

    Tiếp tục xem hình ảnh MRI…

    Hình ảnh MRI cho thấy mức độ lan rộng của khối u.
    Lưu ý huyết khối u trong tĩnh mạch chủ dưới.

    Khi đã xác định chắc chắn nguồn gốc thận của khối u, cần khảo sát kỹ thận đối bên để tìm khối u hoặc tình trạng u nguyên bào thận lan tỏa (nephroblastomatosis) (xem bên dưới).
    Tìm kiếm các hạch bạch huyết cạnh động mạch chủ bị to.
    Sử dụng Doppler màu để đánh giá sự thông thoáng của tĩnh mạch thận và tĩnh mạch chủ dưới, vì u Wilms có xu hướng xâm lấn vào tĩnh mạch thận và tĩnh mạch chủ dưới.

    Phát hiện di căn gan cần thúc đẩy xem xét các chẩn đoán phân biệt khác.

    Phân giai đoạn và phẫu thuật

    Phẫu thuật là nền tảng trong điều trị u Wilms.
    Nhóm Ung thư Nhi khoa (COG) tại Bắc Mỹ khuyến nghị phẫu thuật trước hóa trị, trong khi SIOP tại châu Âu đề xuất hóa trị tiền phẫu.
    Cũng như nhóm SIOP, Nhóm Nghiên cứu U Wilms Quốc gia (NWTSG) lo ngại về việc sinh thiết trước do nguy cơ nâng giai đoạn khối u.

    SIOP khuyến nghị hóa trị tiền phẫu nhằm giảm nguy cơ vỡ khối u trong phẫu thuật, hạ giai đoạn khối u và giảm nhu cầu xạ trị.
    Ưu điểm của hóa trị tiền phẫu là giúp xác định phân nhóm mô học ưu thế nguyên bào kháng hóa chất nguy cơ cao, vốn cần được tăng cường điều trị.

    Đây là phiên bản tóm tắt của hệ thống phân giai đoạn u Wilms.

    Nephroblastomatosis

    Thận có thể chứa các mầm thận (nephrogenic rest), là mô phôi thai còn tồn tại.
    Khi có nhiều mầm thận cùng hiện diện, tình trạng này được gọi là nephroblastomatosis.
    Hầu hết các mầm thận tự thoái triển, tuy nhiên chúng có thể chuyển dạng thành u Wilms.

    Trên siêu âm, u Wilms khó phát hiện do các tổn thương này thường có độ hồi âm tương tự vỏ thận.

    Hình ảnh
    Nephroblastomatosis dai dẳng ở một bé trai bảy tuổi đã được điều trị u Wilms cách đây năm năm. Quan sát thấy một viền mô tăng hồi âm ở ngoại vi. Các tổn thương tồn dư này được theo dõi bằng siêu âm định kỳ cho đến năm năm sau điều trị.

    Kỹ thuật hình ảnh vi dòng chảy (microflow imaging) có thể hỗ trợ xác định các vùng giảm tưới máu trong nephroblastomatosis.

    Hình ảnh
    Bé trai hai tuổi có u Wilms ở thận trái và nephroblastomatosis hai bên. Trên hình ảnh màu vi dòng chảy, vùng tổn thương có tưới máu kém hơn so với mô thận bình thường.
    Tiếp tục xem các hình ảnh MRI…

    Trên MRI, nephroblastomatosis được quan sát rõ nhất trên các chuỗi xung sau tiêm thuốc tương phản từ và chuỗi xung khuếch tán (DWI).

    Hình ảnh
    Các hình ảnh MRI của cùng bệnh nhân cho thấy tình trạng giảm tưới máu của mô bệnh lý và hạn chế khuếch tán mạnh với giá trị ADC thấp.
    Bệnh nhân được điều trị hóa trị liệu tiền phẫu, sau đó khối u ở bên trái được cắt bỏ qua phẫu thuật cắt thận bán phần. Nephroblastomatosis lan tỏa được điều trị bằng phác đồ hóa trị AV (Actinomycin D và Vincristin) hàng tháng trong một năm.

    U nguyên bào thận bẩm sinh (Congenital mesoblastic nephroma)

    U nguyên bào thận bẩm sinh hầu như luôn là khối u thận lành tính và có thể được phát hiện trước sinh.
    Đây là khối u thận thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh và phần lớn được phát hiện trước một tuổi.
    Tuổi của bệnh nhân còn rất nhỏ là yếu tố gợi ý mạnh mẽ cho loại u này.

    Trên hình ảnh học, không có đặc điểm rõ ràng nào để phân biệt u nguyên bào thận bẩm sinh với u Wilms, mặc dù hình ảnh xoáy cuộn (whirlpool) của khối u trên siêu âm có thể gợi ý u nguyên bào thận bẩm sinh.
    Khối u được điều trị bằng phẫu thuật cắt thận.

    Video
    Ở một bé trai sơ sinh, bác sĩ sản khoa sờ thấy một khối u ở bụng.
    Siêu âm cho thấy một khối lớn ở cực trên thận phải. Đoạn video gợi ý hình ảnh xoáy cuộn ở một phần của khối u.

    Tiếp tục với hình ảnh MRI.

    MRI
    Khối u có cường độ tín hiệu tương tự mô thận bình thường trên tất cả các chuỗi xung.
    Mức độ ngấm thuốc tương phản từ của khối u cũng tương đương với phần nhu mô thận còn lại.

    Thận đã được phẫu thuật cắt bỏ và kết quả giải phẫu bệnh xác nhận là u nguyên bào thận.

    Khối u thận dạng nang đa thùy


    Cystic nephroma

    U thận dạng nang

    Khối u thận dạng nang đa thùy là một tổn thương dễ gây nhầm lẫn.
    Tổn thương này có thể là u thận dạng nang lành tính, hoặc u nguyên bào thận dạng nang biệt hóa một phần ác tính.
    Chỉ có nhà giải phẫu bệnh mới có thể phân biệt được hai thể này.

    Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh cần phân biệt các khối u dạng nang đa thùy xuất phát từ thận với sự bảo tồn một phần mô thận bình thường, với thận loạn sản đa nang trong đó không còn thấy mô thận bình thường.

    Hình ảnh
    Siêu âm và MRI của bé trai bốn tuổi với tổn thương dạng nang đa thùy ở vùng cực giữa thận trái (mũi tên).
    Tổn thương được phát hiện tình cờ khi bé được chín tháng tuổi. Trong quá trình theo dõi, không ghi nhận sự thay đổi nào. Tổn thương phù hợp với u thận dạng nang, một tình trạng lành tính.
    Tổn thương tương tự được quan sát trên ảnh chuỗi xung T2W mặt phẳng ngang.


    Cystic nephroma

    U thận dạng nang

    Các hình ảnh này thuộc về bé gái một tuổi.
    Trên siêu âm, ghi nhận một khối u đa nang với tín hiệu tưới máu ở các vách ngăn.

    Hình ảnh chuỗi xung T2W cho thấy rõ hơn phạm vi của tổn thương. Có thể quan sát thấy phần mô thận bình thường còn lại ở cực dưới, giúp phân biệt tổn thương này với thận loạn sản đa nang.

    Khối u này được chẩn đoán là u thận dạng nang, và bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt thận phải.

    Thận loạn sản đa nang

    Bé trai 8 tháng tuổi với hình ảnh thận loạn sản đa nang.
    Trên siêu âm, ghi nhận nhiều nang và không quan sát thấy mô thận bình thường.
    Không cần thực hiện thêm các phương pháp chẩn đoán hình ảnh bổ sung.
    Thông thường, siêu âm theo dõi được thực hiện để xác nhận sự thoái triển của thận loạn sản đa nang (MCDK) theo thời gian và để phát hiện các bất thường ở thận đối bên (chiếm 30% các trường hợp).

    U rhabdoid ác tính của thận


    Malignant rhabdoid tumor of the kidney with brain (arrows) and bone metastases

    U rhabdoid ác tính của thận với di căn não (mũi tên) và di căn xương

    U rhabdoid ác tính của thận là một khối u có tính ác tính cao với tiên lượng xấu.
    Di căn xa tại thời điểm chẩn đoán là phổ biến, bao gồm di căn đến phổi, gan, não, hạch bạch huyết và hệ xương.
    U rhabdoid thận có thể xuất hiện đồng thời với u não nguyên phát, có thể là u rhabdoid dạng quái thai không điển hình nguyên phát (ATRT), ngoài ra các u khác như u nguyên bào tủy và u màng nội tủy cũng đã được ghi nhận.

    Không có đặc điểm hình ảnh nào giúp phân biệt rõ ràng với u Wilms, tuy nhiên cần nghĩ đến u rhabdoid khi khối u tương đối nhỏ với kiểu phát triển xâm lấn, giảm tín hiệu trên chuỗi xung T2W và có hạn chế khuếch tán.

    Mặc dù u rhabdoid được ghi nhận có thể có tụ dịch dưới bao thận, biểu hiện này cũng có thể xảy ra như một dạng biểu hiện không điển hình trong u Wilms; tuy nhiên về số lượng tuyệt đối, các ổ tụ dịch này gặp nhiều hơn trong u Wilms so với u rhabdoid.

    Hình ảnh minh họa
    Bé gái 2 tuần tuổi nhập viện với khối u ở thận trái.
    MRI não tại thời điểm chẩn đoán ban đầu cho thấy các tổn thương nhỏ, có thể là di căn (mũi tên).
    MRI thực hiện bốn tuần sau đó cho thấy nhiều tổn thương di căn não và hộp sọ.
    Bệnh nhân tử vong hai tuần sau đó.

    Sarcôm tế bào sáng của thận

    Sarcôm tế bào sáng của thận là bệnh lý hiếm gặp, chiếm khoảng 3% các khối u thận ở trẻ em.
    Tỷ lệ sống sót sau 5 năm vào khoảng 80%, tuy nhiên tiên lượng xấu hơn ở trẻ dưới một tuổi.
    Khối u có xu hướng di căn vào xương.

    Sự kết hợp giữa khối u thận và di căn xương cần gợi ý đến chẩn đoán sarcôm tế bào sáng.

    Các đặc điểm hình ảnh thường không đặc hiệu, tuy nhiên các dấu hiệu gợi ý là những khối u này thường đồng nhất với hạn chế khuếch tán không đáng kể.

    Video
    Bé trai 10 tháng tuổi nhập viện vì khối u vùng bụng. Siêu âm ghi nhận khối u ở thận phải. Tổn thương được thể hiện rõ hơn trên MRI. Phần thận còn lại có hệ thống đài bể thận giãn.
    Trên hình ảnh ADC, ghi nhận hạn chế khuếch tán không đáng kể.
    Kết quả giải phẫu bệnh xác nhận sarcôm tế bào sáng của thận.

    Trên hình ảnh ADC, ghi nhận hạn chế khuếch tán không đáng kể.

    Khối u ban đầu được nghĩ đến là u Wilms do mức độ hạn chế khuếch tán không đáng kể, tuy nhiên kết quả giải phẫu bệnh xác nhận đây là sarcôm tế bào sáng của thận.

    Ung thư biểu mô tế bào thận

    Ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) là khối u thận phổ biến thứ hai ở trẻ em.
    RCC hiếm gặp ở trẻ nhỏ và chủ yếu xảy ra ở trẻ trên 10 tuổi.
    Bệnh cũng có thể gặp ở bệnh nhân mắc bệnh von Hippel-Lindau, Phức hợp Xơ cứng củ (Tuberous Sclerosis Complex), hoặc sau khi điều trị các bệnh ác tính trước đó (ví dụ: U nguyên bào thần kinh hoặc Bạch cầu cấp).

    Hình ảnh
    Bệnh nhi nam 9 tuổi nhập viện vì đái máu đại thể nặng.
    Thăm khám lâm sàng phát hiện khối ở bụng trái.
    Siêu âm cho thấy một khối chủ yếu đặc, có vẻ xâm lấn vào hệ thống đài bể thận giãn rộng.

    Trên hình ảnh học, ung thư biểu mô tế bào thận có thể biểu hiện theo nhiều dạng khác nhau.
    Khối u có thể có thành phần đặc chiếm ưu thế hoặc chứa các thành phần nang, đồng nhất hoặc không đồng nhất.
    Xuất huyết trong khối có thể xảy ra và khối u có thể chứa mô mỡ.
    Kích thước khối u tương đối nhỏ kèm theo các mạch máu ngoại vi nổi bật gợi ý chẩn đoán RCC.

    Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò thiết yếu trong phân giai đoạn bệnh; sự kết hợp giữa siêu âm, CT và MRI thường được sử dụng.

    Video
    MRI mô tả rõ ràng khối u ở thận trái. Lưu ý các tĩnh mạch bàng hệ lớn.
    Do đái máu đại thể nặng, bệnh nhân được phẫu thuật cắt thận trái.
    Kết quả giải phẫu bệnh xác nhận RCC đã được cắt bỏ hoàn toàn.

    U lympho

    Có hai loại u lympho chính: U lympho Hodgkin và U lympho không Hodgkin.

    U lympho Hodgkin thường biểu hiện bằng hạch bạch huyết vùng cổ to và các khối trung thất.
    Bệnh rất hiếm khi khu trú hoàn toàn ở ổ bụng.

    U lympho không Hodgkin có thể khu trú đơn thuần ở ổ bụng và thường xuất phát từ một quai ruột.
    U lympho không Hodgkin biểu hiện bệnh ngoài hạch thường xuyên hơn so với u lympho Hodgkin.
    Tổn thương thận trong u lympho hiếm gặp, nhưng các đặc điểm hình ảnh cần tìm kiếm bao gồm: nhiều tổn thương khu trú đồng nhất, giảm âm trên siêu âm và hạn chế khuếch tán mạnh trên MRI.5,6

    Video
    Siêu âm của bệnh nhi nam 3 tuổi. Hình ảnh cho thấy thâm nhiễm lan tỏa cả hai thận.
    Ngoài ra, phát hiện nhiều khối giảm âm ở tụy, gan và ruột.
    Sự kết hợp giữa tổn thương ruột và LDH huyết thanh tăng cao gợi ý mạnh mẽ chẩn đoán U lympho Burkitt. Chẩn đoán này được xác nhận bằng sinh thiết tủy xương và kỹ thuật đo tế bào dòng chảy (flow cytometry).

    Bệnh Bạch Cầu (Leukemia)

    Bệnh bạch cầu là bệnh ác tính thường gặp nhất ở trẻ em.
    Bệnh có thể ảnh hưởng đến tất cả các tạng đặc trong ổ bụng.
    Các tạng có thể bị thâm nhiễm lan tỏa hoặc biểu hiện dạng nốt.

    Thận bị ảnh hưởng ở gần một nửa số bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu lymphoblastic cấp tính.
    Tổn thương có thể một bên hoặc hai bên, biểu hiện dưới dạng các tổn thương khu trú hoặc thâm nhiễm lan tỏa kèm theo thận to.

    Dạng thâm nhiễm lan tỏa có hình ảnh khá điển hình với kiểu dải sọc quanh đài thận, tương tự như tổn thương thận trong bệnh u lympho ác tính (hình).

    Hình ảnh
    Bé trai 4 tháng tuổi nhập viện vì sốt và thiếu máu kèm giảm tiểu cầu. Siêu âm cho thấy thận hai bên to với nhiều tổn thương giảm âm và các bất thường dạng tuyến tính ở cả hai thận.
    Ngoài ra còn ghi nhận hình ảnh hạch bạch huyết sau phúc mạc.
    Bệnh ác tính huyết học, đặc biệt là bệnh bạch cầu, được nghi ngờ dựa trên sự kết hợp giữa các dấu hiệu hình ảnh và kết quả xét nghiệm.

    Tiếp tục xem video…

    Việc phân biệt u lympho ác tính và bệnh bạch cầu trên hình ảnh học là khó khăn khi có nhiều tổn thương ngoài tủy xương.

    Do đó, chẩn đoán xác định thường dựa trên biểu hiện lâm sàng, kết quả xét nghiệm (thiếu máu và giảm tiểu cầu) và kết quả đo tế bào dòng chảy (flow cytometry).

    Trong trường hợp này, chẩn đoán xác định là bệnh bạch cầu.

    U nguyên bào thần kinh (Neuroblastoma)

    Chẩn đoán phân biệt chính của u nguyên bào thận (nephroblastoma) là u nguyên bào thần kinh (neuroblastoma).

    Các đặc điểm điển hình gợi ý u nguyên bào thần kinh bao gồm: vôi hóa – tạo ra hình ảnh siêu âm đặc trưng như được minh họa trong video – và hiện tượng bao quanh mạch máu mà không xâm lấn vào thành mạch.
    Hiện tượng bao quanh mạch máu này khiến động mạch chủ và tĩnh mạch chủ bị đẩy ra phía trước.

    Trên siêu âm, khối u thường không đồng nhất và tăng âm, với các vùng vôi hóa tăng sáng.

    Trẻ mắc u nguyên bào thần kinh thường có tình trạng toàn thân rất nặng, trong khi trẻ mắc u Wilms thường không như vậy.
    Nồng độ Axit Vanillyl Mandelic (VMA) và Axit HomoVanillic (HVA) trong nước tiểu trong hầu hết các trường hợp đều tăng cao.
    Tại bệnh viện chúng tôi, các chỉ số này được kiểm tra ở tất cả trẻ em đến khám với chẩn đoán có khối u trong ổ bụng.

    video
    Bé gái 3 tuổi được chuyển từ bệnh viện tuyến dưới với chẩn đoán khối u thận trái. Siêu âm cho thấy một khối xuất phát từ thận trái. Khối u rất không đồng nhất với nhiều vùng vôi hóa, phù hợp với u nguyên bào thần kinh hơn là u nguyên bào thận.

  • Kiểu ngấm thuốc trong bệnh lý hệ thần kinh trung ương

    Các kiểu ngấm thuốc trong bệnh lý hệ thần kinh trung ương

    Linda Jacobi-Postma và Debbie Duyndam

    Trung tâm Y tế Đại học Maastricht và Bệnh viện Onze Lieve Vrouwe Gasthuis tại Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Trong điều kiện bình thường, nhu mô não trong hệ thần kinh trung ương sẽ không có sự tăng cường tín hiệu, bởi vì não là cơ quan duy nhất có hàng rào ngăn cách với protein, các tế bào viêm và cả với thuốc cản quang.
    Hàng rào này được gọi là Hàng rào Máu-Não.

    Hàng rào máu não có thể bị tổn thương bởi nhiều bệnh lý khác nhau như:

    • Viêm hoặc nhiễm trùng (áp xe)
    • Hủy myelin
    • Thiếu máu cục bộ
    • Các khối u như u thần kinh đệm, u lympho và di căn.

    Hiểu rõ các kiểu bắt thuốc cản quang trong bệnh lý thần kinh trung ương sẽ giúp cải thiện việc đánh giá hình ảnh và chẩn đoán phân biệt.
    Trong bài viết này, mười một kiểu bắt thuốc sẽ được thảo luận với nhiều ví dụ minh họa.

    Chúng tôi muốn tôn vinh James Smirniotopoulos, người đã dạy chúng tôi tư duy theo các mô hình, không chỉ đơn thuần là tăng cường.
    Bài báo của ông năm 2007 trên tạp chí Radiographics và các bài giảng sinh động đã truyền cảm hứng cho chúng tôi viết bài báo này.
    Ông đã rất tốt bụng khi đồng ý phản biện bài báo này.

    Giới thiệu

    Tiếp cận theo kiểu ngấm thuốc

    Trong bảng này, các kiểu bắt thuốc cản quang phổ biến nhất trong các bệnh lý thần kinh trung ương được minh họa.
    Ba kiểu đầu tiên là ngoài trục (màng cứng lan tỏa và khu trú, và màng mềm), trong khi các kiểu còn lại đều là các kiểu trong trục.

    Bạn có thể nhấp vào các liên kết bên dưới để chuyển trực tiếp đến các ví dụ về một mẫu cụ thể.

    1. Màng cứng lan tỏa
    2. Màng cứng khu trú
    3. Màng mềm
    4. Hồi não
    5. Quanh não thất
    6. Mạch máu/Quanh mạch máu
    7. Dạng nốt hoặc dạng khối
    8. Viền nhẵn
    9. Viền không đều
    10. Viền hở
    11. Nang có nốt

    Ngấm thuốc bình thường

    Các cấu trúc trong não không có hàng rào máu-não hoặc các cấu trúc ngoài trục sẽ hiển thị sự tăng cường tín hiệu bình thường.

    Các cấu trúc này bao gồm màng cứng, tuyến tùng (1), mạch máu (2), cuống tuyến yên (3) và tuyến yên (4), đám rối mạch mạc (5) và vùng postrema (mũi tên).

    Vùng postrema là một cấu trúc đôi có mạch máu phong phú nằm ở hành não trong thân não và được định vị ngay phía dưới-sau của sàn não thất tư.

    Kiểu ngấm thuốc màng cứng lan tỏa

    Hình thái ngấm thuốc màng cứng lan tỏa là một phát hiện thường gặp trong các khảo sát MR.
    Nó thường gặp nhất trong bối cảnh sau phẫu thuật và hạ áp lực nội sọ.

    Ngấm thuốc màng cứng bình thường

    Màng cứng là một cấu trúc ngoài trục và do đó không có hàng rào máu-não.
    Ở một nửa dân số, có thể thấy sự ngấm thuốc trên MRI có tiêm thuốc tương phản dưới dạng một lớp mỏng, nhẵn và không liên tục như được thấy trong các hình ảnh này.

    Hạ áp nội sọ

    Hạ áp lực nội sọ là tình trạng áp lực hoặc thể tích trong hộp sọ thấp bất thường do giảm dịch não tủy (DNT).
    Biểu hiện điển hình là đau đầu tư thế dai dẳng.

    Hạ áp lực nội sọ có thể do phẫu thuật, chọc dò thắt lưng, dẫn lưu não thất và rò rỉ dịch não tủy “tự phát”.

    Rò dịch não tủy tự phát được thấy trong rách màng cứng phía trước (type 1), túi thừa rễ thần kinh bị rò rỉ (type 2) hoặc rò dịch não tủy-tĩnh mạch (type 3).

    Cần thực hiện thêm các xét nghiệm để tìm nguyên nhân rò rỉ dịch não tủy, bao gồm chụp hình ảnh cột sống bằng MRI hoặc chụp tủy đồ CT.
    Tình trạng rò rỉ dịch não tủy có thể được điều trị bằng cách đặt miếng vá máu ngoài màng cứng.

    Các phát hiện trên MRI bao gồm não thất nhỏ, tụ dịch dưới màng cứng và cuối cùng là tụ máu dưới màng cứng, tăng tín hiệu màng cứng lan tỏa (trên và dưới lều tiểu não) đồng đều, sụp xuống của não giữa và lạc chỗ amidan tiểu não mắc phải, phì đại tuyến yên và giãn các xoang tĩnh mạch màng cứng.

    Khi áp lực dịch não tủy giảm, thể tích các tĩnh mạch trong khoang dưới nhện tăng lên, cuối cùng dẫn đến sung huyết mạch máu và phù mô kẽ ở màng cứng.
    Hình ảnh học có thể bình thường trong 10% trường hợp.

    Những hình ảnh này của một nam giới 58 tuổi nhập viện với triệu chứng đau đầu ở tư thế ngồi và đứng.

    Hình ảnh
    Có hình ảnh tăng tín hiệu màng cứng trơn láng ở cả khoang trên lều và dưới lều tiểu não.
    Lưu ý các não thất nhỏ.

    Tiếp tục với các hình ảnh mặt phẳng đứng dọc (sagittal)…

    Hình 1
    Các dấu hiệu khá kín đáo, nhưng có:

    • Sụp xuống của não giữa với giảm khoảng cách cầu não-thể vú, xóa bể trên yên, dẹt phần trước cầu não và gập góc tại chỗ nối sọ-cổ.
    • Vùng dưới đồi đang gập xuống phía trên mặt lưng của hố yên, tuyến yên có phần to hơn bình thường (vòng tròn trắng).
    • Chất liên đồi thị bị hạ thấp; phần sau của thể chai bị hạ thấp (dấu hiệu “dương vật rủ xuống”). Lưu ý sự dẹt của bể dưới tiểu não.
    • Trong trường hợp này, các amidan nằm ở vị trí bình thường và không có thoát vị (vòng tròn vàng).

    Kết luận: các dấu hiệu điển hình của hạ áp nội sọ.

    Hình 2
    Sau điều trị bằng vá máu ngoài màng cứng không định vị mục tiêu, não và thân não đã trở về vị trí bình thường với sự bình thường hóa cấu hình các bể dịch não tủy và não thất tư.

    Những hình ảnh này của một nam giới 44 tuổi, đến khám với triệu chứng đau đầu kéo dài, tăng lên khi cúi người về phía trước.

    Hình ảnh
    Hình ảnh T2W cho thấy tụ dịch dưới màng cứng hai bên kích thước nhỏ (đầu mũi tên).
    Sau tiêm gadolinium có sự tăng tín hiệu màng cứng đều.

    Tiếp tục với những hình ảnh sagittal…

    Hình ảnh
    Có sự giãn nở của các cấu trúc tĩnh mạch, được thể hiện ở xoang dọc trên (đầu mũi tên), xoang thẳng và hợp lưu xoang.
    Có sự dịch chuyển xuống dưới của thân não với sự rút ngắn khoảng cách cầu não-thể vú, dẹt cầu não và gập góc thân não tại chỗ nối sọ-cổ.
    Đám rối tĩnh mạch trong khoang ngoài màng cứng cổ trước bị giãn rộng.

    Kết luận
    Những phát hiện này điển hình cho hạ áp lực nội sọ.
    Bệnh nhân sau đó được chẩn đoán mắc rối loạn mô liên kết.

    Những hình ảnh này của một bệnh nhân nam có tiền sử nhồi máu động mạch não giữa bên trái, nhập viện với triệu chứng đau đầu, tăng nặng khi đứng và cúi người về phía trước, kèm theo ù tai.

    Hình ảnh
    Có sự ngấm thuốc dày và không đều phần nào của màng cứng, với sự áp sát dày hơn ở lều tiểu não, màng cứng thái dương trái và trán đỉnh trái.

    Kết luận
    Viêm màng cứng phì đại vô căn.
    Đây được chứng minh qua sinh thiết là bệnh liên quan IgG4.

    Tiếp tục với những hình ảnh sau điều trị…

    Sau khi điều trị bằng corticosteroid, tình trạng dày màng cứng và ngấm thuốc đã được cải thiện.

    Hiện nay đã rõ ràng rằng nhiều trường hợp mà chúng ta thường gọi là viêm màng cứng phì đại vô căn thực chất có liên quan đến IgG4.

    Bệnh liên quan đến IgG4 là một bệnh tự miễn có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, trong đó tuyến tụy là phổ biến nhất.
    Trong não, màng não có thể bị tổn thương.
    Việc gợi ý chẩn đoán này rất quan trọng vì đây là một bệnh có thể điều trị được.

    Đây là ca bệnh kèm theo của một bệnh nhân có triệu chứng đau đầu và mất thính lực hai bên.

    Hình ảnh
    Có sự dày lên của màng cứng với ngấm thuốc có hình dạng hơi không đều.
    Không có sự giãn nở của các tĩnh mạch
    Sự ngấm thuốc lan vào ống tai trong (đầu mũi tên màu vàng).

    Tiếp tục với những hình ảnh sau điều trị…

    Cùng một bệnh nhân trước và 6 tháng sau liệu pháp steroid với sự cải thiện hoàn toàn các bất thường.

    Bệnh nhân này đã được phẫu thuật mở hộp sọ để dẫn lưu máu tụ dưới màng cứng bên trái.

    Hình ảnh
    Hình ảnh cho thấy một đường tăng tín hiệu mỏng, tuyến tính của màng cứng đỉnh trái, biểu hiện tăng ngấm thuốc màng cứng sau phẫu thuật.
    (Ghi chú: cũng có thể gọi là dạng màng cứng khu trú).

    Mẫu màng cứng tiêu điểm

    Khối u phổ biến nhất biểu hiện với hình thái màng cứng khu trú là u màng não, đây là tổn thương ngoài trục.

    Rối loạn tăng sinh lympho bao gồm một nhóm bệnh không đồng nhất được đặc trưng bởi sự sản xuất không kiểm soát của các tế bào lympho, bao gồm u lympho, bạch cầu lympho, đa u tủy xương, LIP và nhiều bệnh khác.
    Các u lympho biểu hiện dưới dạng khối u màng cứng là u lympho thần kinh trung ương thứ phát, tức là u lympho bắt đầu ở nơi khác trong cơ thể và lan đến não.

    Hầu hết các u lympho hệ thần kinh trung ương trong trục đều là nguyên phát.
    Chúng khởi phát trong não và không khu trú ở các cơ quan khác.

    U màng não

    Những phát hiện nào là điển hình cho chẩn đoán u màng não?

    Những phát hiện:

    • Khối u nằm ngoài trục, có thể thấy trên ảnh T2W. Có dịch não tủy giữa khối u và nhu mô não, điều này được gọi là khe dịch não tủy
    • Trên hình ảnh T2W khối u có cường độ tín hiệu tương đối thấp
    • Có sự tăng cường đồng nhất.
    • Đuôi màng cứng (đầu mũi tên)
    • Chứng tăng trương lực của hộp sọ (asterix).

    Hình minh họa cho thấy các vị trí ưa thích của u màng não: tại nền sọ, liềm não, lều tiểu não và vòm sọ.

    Hầu hết u màng não là độ WHO 1.
    U màng não không điển hình là độ 2 và u màng não loạn sản là độ 3.
    Các tế bào màng não-nội mô xuất phát từ các tế bào mũ màng nhện, đây là lớp trong cùng của màng cứng.

    Trên CT, u màng não tương đối tăng tỷ trọng và có thể chứa canxi.
    Khi chứa canxi, chúng thường phát triển rất chậm.

    Trên MRI, u màng não có tín hiệu đồng nhất với chất xám trên ảnh T1 và T2.
    Có sự ngấm thuốc mạnh do các mao mạch màng cứng ngoài trục không có hàng rào máu-não.
    Dấu hiệu đuôi màng cứng là một phát hiện thường gặp.
    Nó được gây ra bởi sự sung huyết mạch máu và phù mô kẽ của màng cứng lân cận và hầu hết không phải do tế bào khối u gây ra.

    Hình ảnh cho thấy một tổn thương có vẻ xâm lấn hơn với phù nề và lệch đường giữa.
    Những dấu hiệu nào ủng hộ chẩn đoán u màng não?

    Những phát hiện:

    1. Khối u có nền màng cứng phẳng.
    2. Dấu hiệu quan trọng nhất là dịch não tủy nằm giữa khối u và mô não xung quanh (đầu mũi tên). Dấu hiệu này khẳng định chắc chắn đây là khối u ngoài trục.
    3. Tín hiệu thấp trên T2W
    4. Thay đổi phản ứng ở hộp sọ (dấu hoa thị) Có sự xâm lấn xương của tổn thương. Không điển hình nhưng thường gặp trong u màng não

    Sự xâm lấn trong nhu mô gợi ý u màng não độ cao hơn, trong khi sự hiện diện của phù não không phải là dấu hiệu đáng tin cậy của độ cao hơn.

    Các dấu hiệu sau đây được mô tả trong u màng não:

    • Dấu hiệu đuôi màng cứng (đầu mũi tên màu xanh)
    • Dấu hiệu Sunburst (đầu mũi tên màu vàng)
    • Dấu hiệu bánh xe nan hoa
      Đây là dấu hiệu tương tự như dấu hiệu tia sáng mặt trời nhưng được quan sát theo hướng vuông góc.
      Dấu hiệu này đề cập đến đặc điểm cung cấp mạch máu đặc trưng được thấy trong một số u màng não khi quan sát từ phía bên.
    • Dấu hiệu mẹ chồng
      Đây là dấu hiệu chụp mạch máu được minh họa trong u màng não lều tiểu não này. Mẹ chồng đến sớm (thì động mạch) và ở lại muộn (thì tĩnh mạch). U màng não cho thấy sự ngấm thuốc sớm và sự ngấm thuốc kéo dài trong một thời gian dài.

    Dấu hiệu tia nắng có thể tạo ra hình ảnh giống như một bông hoa như trong trường hợp u màng não nền sọ trước này

    Những hình ảnh này của một phụ nữ 56 tuổi bị ung thư vú.
    Bà có tổn thương hộp sọ trên xạ hình xương chín năm trước được cho là di căn.
    Nay bà nhập viện với triệu chứng nôn mửa và đau đầu.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương ngoài trục lớn tương thích với u màng não.
    Có tình trạng tăng sinh xương sọ rõ rệt và xâm lấn xoang tĩnh mạch dọc trên.
    Đây không phải là di căn xương do các phát hiện này và thực tế là tổn thương đã hiện diện trong chín năm.

    Di căn

    Mặc dù u màng não (meningioma) là khối u màng cứng phổ biến nhất, thường được phát hiện tình cờ trên hình ảnh não, nhưng có nhiều tổn thương màng cứng khác có thể bắt chước hình ảnh của u màng não, bao gồm các khối u nguyên phát, u lympho, di căn, bệnh u hạt và nhiễm trùng.

    Mặc dù không mang tính đặc hiệu bệnh lý, các đặc điểm chính làm tăng khả năng một tổn thương là u màng não bao gồm vôi hóa trong tổn thương, tăng sinh xương sọ, tăng cường tín hiệu màng cứng khu trú và tăng tưới máu.

    Hình ảnh
    Những hình ảnh này của một người đàn ông 58 tuổi bị ung thư phổi.
    Có hai tổn thương, bắt chước hình ảnh của u màng não.

    Tiếp tục với những hình ảnh tiếp theo…

    Trên hình ảnh theo dõi 2 tháng, tổn thương có sự phát triển đáng kể.
    Hiện tại các bờ không đều.
    Đây hóa ra là di căn màng cứng.

    Những hình ảnh này của một phụ nữ bị ung thư cổ tử cung.
    Có một khối di căn xương cực kỳ lớn với sự xâm lấn màng cứng và lan rộng ra ngoài sọ.

    Lưu ý một di căn nhu mô ở hố sau (đầu mũi tên).

    Ung thư hạch

    Bệnh nhân này có nhiều tổn thương xương dương tính trên FDG-PET.
    Sinh thiết tổn thương xương chày cho thấy u lympho ác tính.

    Bệnh nhân cũng có khối u nền màng cứng với sự xâm lấn màng mềm não nhẹ thêm vào.

    Tổn thương cho thấy sự ngấm thuốc đồng nhất và khuếch tán hạn chế.

    U lympho màng cứng nguyên phát là u lympho không Hodgkin ngoài hạch chiếm chưa đến 1% tổng số các u lympho hệ thần kinh trung ương.
    Bệnh có thể bắt chước hình ảnh của u màng não và u màng não đôi khi có thể biểu hiện khuếch tán hạn chế, đặc biệt khi đó là u màng não không điển hình hoặc ác tính.

    Ở bệnh nhân này, u lympho màng cứng đa ổ được chẩn đoán.

    Hình ảnh
    Nhiều tổn thương ngoài trục, có nền màng cứng, ngấm thuốc, với khuếch tán hạn chế.

    Màng mềm

    Tăng tín hiệu màng mềm não bám theo bề mặt màng mềm của não và lấp đầy các khoang dưới nhện của các rãnh não và bể dịch não tủy.

    Nguyên nhân phổ biến nhất là viêm màng não do nhiễm trùng, tiếp theo là ung thư di căn màng não.

    Bệnh nhân này nhập viện vì đau đầu.

    Hình ảnh

    • CT: ghi nhận một ổ khí nhỏ ở bên trái, với chỉ một lượng nhỏ dịch tiết xoang trong xoang trán trái.
    • FLAIR: một tổn thương tăng tín hiệu nhỏ với vùng trung tâm giảm tín hiệu.
    • T1W+Gd: không có tăng tín hiệu của tổn thương, nhưng chỉ có tăng tín hiệu màng não nhẹ.
    • DWI: không có hạn chế khuếch tán.
    • Hình ảnh FLAIR ở mức cao hơn cho thấy tăng tín hiệu ở khoang dưới nhện trán trái và tại vỏ não trán, phù hợp với viêm màng não.
    • T1W+Gd: ngấm thuốc ở khoang dưới nhện trán trái

    Hình ảnh
    Các hình ảnh mặt phẳng đứng dọc cho thấy một khuyết hổng xương nhỏ ở bờ sau của xoang trán với một thoát vị não trán nhỏ (đầu mũi tên đen).
    Có hiện tượng ngấm thuốc màng não mềm (mũi tên).

    Kết luận
    Sự hiện diện của não thoát vị vùng trán dẫn đến mờ đục xoang trán và viêm màng não do thông thương trực tiếp qua khuyết hổng xương.

    Viêm màng não mềm là tình trạng viêm của khoang dưới nhện.

    MRI cho thấy tăng tín hiệu FLAIR trong khoang dịch não tủy, đặc biệt ở các rãnh não, và tăng bắt thuốc màng não mềm. Các biến chứng có thể xảy ra của viêm màng não mềm bao gồm mủ dưới màng cứng, não úng thủy thông thương thứ phát, nhồi máu não và viêm não thất.

    Có thể thấy hạn chế khuếch tán ở các não thất, rãnh não và khoang Virchow-Robin.

    những hình ảnh này của một đứa trẻ 2 tuổi, nhập viện với triệu chứng sốt, liệt dây thần kinh vận nhãn ngoài và cuối cùng mất ý thức.

    Hình ảnh
    Có sự xóa mờ bể trước cầu não trên FLAIR với khuếch tán hạn chế.
    Có tín hiệu tăng sáng trên DWI ở các não thất hai bên, phù hợp với mủ.
    Hình ảnh T2W độ phân giải cao cho thấy mất tín hiệu tăng sáng ở các bể và khoang dưới nhện, do mủ đặc.

    Chẩn đoán cuối cùng
    Viêm màng não và viêm não thất do Haemophilus influenzae type B.

    Những hình ảnh này của một bệnh nhân 55 tuổi bị suy giảm miễn dịch, nhập viện với các triệu chứng rối loạn nhận thức và đau đầu.

    Hình ảnh
    FLAIR cho thấy dịch não tủy trong khoang dưới nhện tăng tín hiệu không bị ức chế.
    Quan sát dọc theo các nếp gấp tiểu não, các cấu trúc này tăng tín hiệu trên FLAIR (đầu mũi tên màu đen).
    Có hình ảnh tăng tín hiệu màng não nhẹ (đầu mũi tên màu vàng).
    Ngoài ra, có tín hiệu FLAIR cao tại các khoang quanh mạch máu ở trung tâm bán bầu dục kèm theo ngấm thuốc.

    Kết luận
    Đây là viêm màng não do Cryptococcus.
    Sự lan rộng dọc theo các khoang quanh mạch máu ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch là dấu hiệu gợi ý.
    Đôi khi ở những bệnh nhân này cũng có các nang giả.

    Basal meningitis Viêm màng não nền

    Neurosarcoidosis (Sarcoidosis thần kinh)

    Những hình ảnh này của một nam giới 31 tuổi, nhập viện với triệu chứng đau đầu và giảm cảm giác nửa người.

    Hình ảnh
    FLAIR cho thấy tín hiệu cao tại các cấu trúc nền, với tăng tín hiệu tại và xung quanh các bể dịch não tủy nền và bể vallecular.
    Các phát hiện này phù hợp với chẩn đoán viêm màng não nền.

    Viêm màng não ở nền sọ thường do sarcoid, lao, giang mai, hoặc bất kỳ quá trình u hạt mạn tính độ thấp nào khác gây ra.
    Vì lý do này, chụp CT ngực đã được thực hiện.

    Tiếp tục với hình ảnh CT…

    CT ngực cho thấy các hình ảnh điển hình của bệnh sarcoid.
    Có các nốt nhỏ dọc theo các khe liên thùy theo phân bố quanh bạch mạch và hạch rốn phổi to.

    Sarcoid có thể có các biểu hiện thần kinh và X quang khác nhau.
    Các triệu chứng thần kinh sọ là kết quả của viêm màng não nền.

    Trong hầu hết các trường hợp cũng có các dấu hiệu bất thường ở lồng ngực.

    Bệnh nhân này có nhiều nốt màng não
    Các nốt này có tín hiệu cao sau tiêm thuốc tương phản và tín hiệu tương đối thấp trên ảnh T2, phù hợp với các nốt u hạt.

    Điều này được chứng minh là sarcoidosis thần kinh.

    ‘Trident’ sign in a patient with spinal neurosarcoidosis ‘Trident’ sign in a patient with spinal neurosarcoidosis

    Bệnh thần kinh cột sống do sarcoidosis điển hình có thể biểu hiện với dấu hiệu ‘đinh ba’, trong đó có sự tăng tín hiệu của màng não mềm và chất trắng ngoại vi (*) và ống trung tâm của tủy sống.

    Ở bệnh nhân này cũng có tăng tín hiệu của nhân sinh ba (đầu mũi tên đen), màng cứng và cả hai dây thần kinh thị giác.
    Sự tăng tín hiệu xung quanh dây thần kinh thị giác trái được thấy rõ nhất trên hình ảnh axial (đầu mũi tên vàng), trong khi sự tăng tín hiệu bên phải được thấy rõ nhất trên hình ảnh coronal (vòng tròn trắng).

    Tuberculous meningitis Viêm màng não do lao

    Trong trường hợp kèm theo này, có tín hiệu cao dọc theo các bể nền trên ảnh FLAIR và tăng cường tín hiệu màng não mềm dọc theo bể ambient và tegmentum.
    Lưu ý các ổ tăng cường tín hiệu nhỏ ở hồi hải mã phải và thùy chẩm trái.

    Đây hóa ra là một viêm màng não do lao.

    “Sugarcoating” leptomeningeal enhancement in medulloblastoma. “Sugarcoating” leptomeningeal enhancement in medulloblastoma.

    Bệnh ung thư màng não (Meningeal carcinomatosis)

    Những hình ảnh này của một bé trai 9 tuổi được chẩn đoán u tủy bào hố sau.

    Hình ảnh
    U tủy bào biểu hiện là một khối ngấm thuốc lớn (mũi tên).
    Có nhiều ổ ngấm thuốc nhỏ là dấu hiệu của di căn màng não mềm.
    Tại lần theo dõi sau phẫu thuật và xạ trị, có hình ảnh ngấm thuốc màng não mềm dạng không đều và dạng nốt.
    Hình ảnh ngấm thuốc kiểu “phủ đường” này được thể hiện rõ ở cầu não và lớp lót của các bể vallecular.

    Việc mô tả các ổ màng não mềm và sự ngấm thuốc có thể được cải thiện bằng cách sử dụng FLAIR có tiêm thuốc tương phản.
    Tương tự như viêm màng não, cũng cần quan sát khoang dưới nhện trên FLAIR không tiêm thuốc tương phản.
    Thông thường trên các hình ảnh này, dịch não tủy bị xóa tín hiệu, nhưng trong trường hợp bệnh lý, dịch não tủy xuất hiện tăng tín hiệu hơn.
    Một dấu hiệu hữu ích để phân biệt di căn với viêm màng não là sự xuất hiện của ngấm thuốc dạng nốt dày và sự hiện diện của các di căn trong não và màng cứng.
    Luôn kiểm tra các dây thần kinh sọ để tìm sự ngấm thuốc.
    Các dấu hiệu lâm sàng và tiền sử bệnh của bệnh nhân có thể là gợi ý hữu ích.

    Đây là bệnh nhân ung thư phổi có biến chứng viêm màng não do ung thư.

    Bạn có thể cho biết các dây thần kinh sọ nào bị tổn thương không?

    Trên những hình ảnh này rất khó nhìn thấy, nhưng nếu bạn có thể cuộn qua MRI tăng cường, bạn sẽ nhận thấy rằng các dây thần kinh sọ sau đây cho thấy sự tăng cường bệnh lý:

    • Dây thần kinh III (mũi tên vàng)
    • Dây thần kinh V & VI (mũi tên cam)
    • Dây thần kinh VII & VIII (mũi tên xanh)
    • Dây thần kinh IX đến XI (mũi tên trắng)

    Cũng lưu ý di căn cầu não.

    Carcinomatous meningitis in a patient with lungcancer and cerebral metastases. Viêm màng não ung thư ở bệnh nhân ung thư phổi và di căn não.

    Những ví dụ này cho thấy ưu điểm của FLAIR+Gd so với T1W+Gd ở bệnh nhân ung thư phổi có di căn não và viêm màng não do ung thư.

    Hình ảnh
    Hình ảnh FLAIR cho thấy rõ hơn sự tăng tín hiệu màng não mềm quanh cầu não (mũi tên vàng) và trong các nếp gấp tiểu não (đầu mũi tên đen).

    Dạng hồi não

    Kiểu tăng tín hiệu theo hồi não là sự tăng tín hiệu của vỏ não, thường gặp nhất trong thiếu máu cục bộ do tái tưới máu trong giai đoạn hồi phục của thiếu máu cục bộ bán cấp và cấp tính
    Điều này có thể được gây ra bởi tưới máu xa xỉ và/hoặc hoại tử lá mỏng vỏ não.

    Một nguyên nhân khác gây tăng cường tín hiệu hồi não là giai đoạn giãn mạch của đau đầu migraine và hội chứng bệnh não sau có hồi phục (PRES).

    SMART là viết tắt của Cơn Đau Nửa Đầu Giống Đột Quỵ Sau Xạ Trị (Stroke-Like Migraine Attacks After Radiation Therapy), đây là một biến chứng muộn không phổ biến của xạ trị não.

    Nhồi máu bán cấp

    Những hình ảnh này của một người đàn ông 86 tuổi có dáng đi loạng choạng trong vài tuần gần đây.

    Hãy quan sát các hình ảnh và sau đó tiếp tục đọc.
    Những dấu hiệu điển hình trong trường hợp này là gì?

    Typical findings:

    • Cả chất xám và chất trắng đều bị tổn thương, đây là đặc điểm điển hình của nhồi máu
    • The involved area has a wedge shape

    Kiểu tăng cường hồi não này là kết quả của hiện tượng tưới máu xa xỉ kèm theo sự phá vỡ hàng rào máu-não và một số tân sinh mạch máu.

    Continue with more images of this patient..

    Câu hỏi: tăng tín hiệu trên hình ảnh T1W không tương phản là gì?

    Hình ảnh
    Xung FLAIR cho thấy hình ảnh nhồi máu với phù độc tế bào và phù nề các hồi não.
    Tín hiệu tăng trên ảnh T1W không tiêm thuốc được gọi là hoại tử dạng lớp và mặc dù ban đầu được mô tả trong bệnh não do thiếu oxy, nó đại diện cho phù độc tế bào với sự thoái giáng protein trong lớp vỏ não có hoạt động chuyển hóa cao.
    Đây là dấu hiệu tiên lượng xấu.

    Trong bảng này, các phát hiện về tưới máu xa xỉ và hoại tử dạng lớp được tóm tắt.

    Ở những bệnh nhân được điều trị bằng huyết khối động mạch nội mạch, sự tăng cường hồi não có thể bắt đầu sớm hơn.

    Gyral enhancement in a woman with breast cancer Gyral enhancement in a woman with breast cancer

    Đôi khi điều này có thể khó khăn.
    Bệnh nhân này có tiền sử ung thư vú.
    MRI được thực hiện vì bệnh nhân có một số suy giảm thần kinh.

    Trên hình ảnh FLAIR có một điểm tăng tín hiệu nhỏ (mũi tên trắng).
    Điều này có thể được chẩn đoán là một di căn tiềm năng, nhưng trên hình ảnh T1W với Gd có sự ngấm thuốc dạng tuyến tính theo hồi não rõ ràng.
    Điều này khiến nhồi máu dưới vỏ nhỏ trở thành chẩn đoán có khả năng nhất.
    Một lần chụp theo dõi (không được hiển thị) đã được thực hiện và chắc chắn loại trừ khả năng di căn.

    Multiple infarctions in a patient with COVID Multiple infarctions in a patient with COVID

    Đây là bệnh nhân nhiễm COVID, có biến chứng rối loạn đông máu dẫn đến nhồi máu đa ổ.

    Notice the gyral pattern of the enhancement.

    Continue with more images of this patient…

    Một lần nữa lưu ý hiện tượng tăng tín hiệu hồi não trên các hình ảnh T1W+Gd do hiện tượng tưới máu xa xỉ và lưu ý hiện tượng hạn chế khuếch tán lan rộng trên các hình ảnh DWI.

    Can you tell which vascular areas are involved?

    Những vùng này được gọi là vùng phân thủy hoặc vùng ranh giới.
    Vùng ranh giới nhận nguồn cung cấp máu kép từ các nhánh xa nhất của hai động mạch lớn.
    Trong trường hợp giảm tưới máu toàn thân, chẳng hạn như trong đông máu nội mạch lan tỏa hoặc suy tim, những vùng này đặc biệt dễ bị thiếu máu cục bộ vì chúng được cung cấp bởi các nhánh xa nhất của động mạch, và do đó ít có khả năng nhận đủ máu nhất.

    SMART

    Những hình ảnh này của một người đàn ông 59 tuổi, đã được cắt bỏ một phần u thần kinh đệm (glioma) vào năm 2008.
    Năm 2016, khối u tiến triển và được điều trị bằng xạ trị kết hợp với hóa trị.
    Năm 2021, không có dấu hiệu khối u còn sót lại và vào năm 2022, bệnh nhân này xuất hiện triệu chứng đau nửa đầu (migraine).

    Hình ảnh
    Năm 2008, khối u được thấy là một tổn thương tăng tín hiệu trên T2W tại vùng hạch nền và vùng đảo thùy bên phải.
    Năm 2021 mọi thứ ổn định, nhưng đến năm 2022 xuất hiện ngấm thuốc dạng hồi não của chất xám thùy thái dương (đầu mũi tên).
    Tiếp tục xem thêm hai hình ảnh nữa của bệnh nhân này…

    Stroke-like Migraine Attacks after Radiation Therapy Stroke-like Migraine Attacks after Radiation Therapy

    Hình ảnh
    DWI cho thấy hạn chế khuếch tán vỏ não ở thùy thái dương phải.
    Hình ảnh T1W+Gd mặt phẳng đứng dọc ở mức độ khác lại cho thấy hình thái ngấm thuốc dạng hồi não.

    Đây được gọi là SMART (Cơn đau nửa đầu giống đột quỵ sau xạ trị – Stroke-like Migraine Attacks after Radiation Therapy).
    Đây là một biến chứng muộn không phổ biến của xạ trị não, đặc trưng bởi phù nề vỏ não và tăng bắt thuốc theo hồi não.

    Những bệnh nhân này thường biểu hiện với chứng đau nửa đầu, nhưng co giật và liệt nửa người cũng là những biểu hiện có thể xảy ra.
    Trong bối cảnh đã từng xạ trị não trước đó, điều này cần làm tăng nghi ngờ về hội chứng SMART.
    Chẩn đoán kịp thời là điều cần thiết để tránh các thủ thuật xâm lấn không cần thiết.
    Đây là một bệnh tự giới hạn.

    Đây là chẩn đoán loại trừ và cần phải loại trừ thiếu máu cục bộ, hội chứng não sau có thể hồi phục (PRES) và co giật.

    Herpes encephalitis Herpes encephalitis

    Herpes encephalitis

    Một bé gái 13 tuổi được nhập viện với triệu chứng đau đầu cấp tính và lú lẫn.

    Hình ảnh
    Hình ảnh FLAIR cho thấy các vùng tăng tín hiệu lan rộng ở cả hai thùy thái dương và thùy đảo.
    Biểu hiện này rõ rệt hơn ở bên phải, nơi hình ảnh T1W+Gd cho thấy ngấm thuốc dạng hồi não của vỏ não đảo.

    Đây là một trường hợp điển hình của viêm não do Herpes.
    Tiếp tục xem thêm hình ảnh của bệnh nhân này…

    Lưu ý những bất thường rất tinh tế trên NECT so với các phát hiện trên MR.
    Thùy thái dương phải giảm tỷ trọng hơn so với bên trái kèm theo hình ảnh chèn ép nhẹ sừng thái dương phải (mũi tên trắng).
    Cũng lưu ý vùng giảm tỷ trọng nhỏ tại dải vỏ não đảo (mũi tên đen).

    CT kém nhạy hơn MRI và chỉ có thể phát hiện bất thường ở một nửa đến hai phần ba số bệnh nhân.
    Có thể mất 3-4 ngày để các thay đổi ở thùy thái dương hoặc thùy trán biểu hiện ra.
    Giảm tỷ trọng, xuất huyết và phù nề thường được ghi nhận, trong khi hiện tượng ngấm thuốc cản quang có thể mất gần một tuần mới xuất hiện.

    DWI cho thấy hạn chế khuếch tán ở cả hai bên.
    MRI nhạy cảm hơn và các bất thường tinh tế như hạn chế khuếch tán có thể xuất hiện ở giai đoạn sớm.
    Trong trường hợp nghi ngờ, cần thực hiện chọc dò tủy sống và nên bắt đầu điều trị kịp thời.

    Viêm não Herpes
    Viêm não Herpes là sự tái hoạt động của virus HSV-1 nằm ở hạch thần kinh sinh ba.
    Viêm não Herpes có sự phân bố hai đỉnh.
    Bệnh gặp ở trẻ nhỏ và ở bệnh nhân trên năm mươi tuổi.

    Viêm não limbic
    Viêm não limbic có thể biểu hiện với các hình ảnh học tương tự, nhưng thường có diễn tiến âm thầm hơn, trong khi viêm não do herpes biểu hiện cấp tính hơn.

    Đây là một bệnh cận ung thư hoặc tự miễn, trong đó các kháng thể thần kinh tấn công các tế bào trong hệ thống viền.
    Các kháng thể đôi khi có thể được tìm thấy trong dịch não tủy, nhưng dịch não tủy bình thường và hình ảnh não bình thường không loại trừ chẩn đoán.
    Bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp miễn dịch.

    Vascular / Perivascular

    Tăng tín hiệu quanh mạch máu là dạng tăng tín hiệu tuyến tính dọc theo các mạch máu nhỏ và trong khoang quanh mạch máu.
    Trên các hình ảnh cắt ngang, dạng tăng tín hiệu này có thể biểu hiện dưới dạng các chấm nhỏ (xem hình) hoặc các dải theo phân bố của các khoang quanh mạch máu.

    Chẩn đoán phân biệt của tăng bắt thuốc quanh mạch máu bao gồm nhiều bệnh hiếm gặp, điều này khiến việc chẩn đoán trở nên khó khăn.

    PML-IRIS

    PML-IRIS là sự suy giảm nghịch lý của bệnh nhân sau khi chức năng miễn dịch của bệnh nhân được cải thiện đột ngột.

    Sự cải thiện của hệ thống miễn dịch dẫn đến việc kích hoạt phản ứng viêm đối với nhiễm virus JC.
    Tình trạng này được gặp ở bệnh nhân HIV sau khi bắt đầu liệu pháp kháng retrovirus (HAART).

    Cơ chế tương tự với sự phát triển của PML-IRIS, mà chúng ta thấy ở những bệnh nhân HIV, cũng có thể được quan sát thấy ở những bệnh nhân MS được điều trị bằng Natalizumab.

    Những hình ảnh này của một bệnh nhân HIV đã bắt đầu điều trị HAART 2 tuần trước và có biểu hiện rối loạn hành vi.

    Hình ảnh
    Trên hình ảnh T2W có tăng tín hiệu chất trắng thùy trán phải.
    Lưu ý hình ảnh ngấm thuốc dạng chấm trên các lát cắt axial, thực chất là dạng tuyến tính trên các lát cắt coronal hoặc sagittal (không hiển thị).

    Đây là dạng tổn thương quanh mạch máu và kết hợp với tiền sử bệnh, chẩn đoán là PML-IRIS.

    PML-IRIS in a patient with HIV PML-IRIS in a patient with HIV

    Đây là một bệnh nhân HIV khác, người đã bắt đầu điều trị HAART được hai tháng trước.
    Số lượng CD4 ở mức tốt.

    Tuy nhiên, bệnh nhân có tình trạng liệt tiến triển và xuất hiện nhiều cơn động kinh hơn.
    Hình ảnh T1W sau tiêm thuốc tương phản cho thấy các tổn thương chất trắng hai bên kích thước lớn với hình ảnh ngấm thuốc dạng chấm.

    Chẩn đoán PML-IRIS được đưa ra và bệnh nhân được điều trị bằng corticosteroid.

    CLIPPERS

    CLIPPERS là viêm mạn tính tế bào lympho với tăng cường tín hiệu quanh mạch máu vùng cầu não đáp ứng với Steroid.

    Việc phân biệt tình trạng viêm tế bào lympho này với u lympho có thể rất khó khăn, và đó là lý do tại sao một số trường hợp ban đầu được chẩn đoán là CLIPPERS hóa ra lại là u lympho.

    Những hình ảnh này của một người đàn ông 62 tuổi nhập viện với tình trạng mất chức năng dây thần kinh vận nhãn bên trái.

    Hình ảnh
    Hình ảnh FLAIR cho thấy tăng tín hiệu lan rộng ở cầu não và trung não.
    Có hình ảnh ngấm thuốc dạng chấm và dạng tuyến tính.
    Khi kết hợp các hình ảnh ngấm thuốc dạng chấm ở các mức độ khác nhau, chúng ta có thể hình dung rằng thực chất đây là một phần của hình ảnh ngấm thuốc dạng tuyến tính hoặc quanh mạch máu.

    Differential diagnosis:

    • Những phát hiện này gợi ý đến CLIPPERS, mặc dù đáp ứng với steroid chỉ có thể được đánh giá sau khi điều trị.
    • Hội chứng hủy myelin thẩm thấu cầu não thường có vị trí trung tâm hơn
    • Thiếu máu cục bộ biểu hiện khuếch tán hạn chế và không có tăng tín hiệu quanh mạch máu.

    Continue with post-treatment images of this patient…

    CLIPPERS CLIPPERS

    Bệnh nhân này được điều trị bằng corticosteroid và hình ảnh tăng tín hiệu quanh mạch máu không còn được ghi nhận trên phim chụp kiểm tra theo dõi.

    Continue with the sagittal images…

    CLIPPERS pre- and post treatment. CLIPPERS pre- and post treatment.

    Trên các hình ảnh T2W theo mặt phẳng đứng dọc, vùng tăng tín hiệu (mũi tên vàng) cũng không còn xuất hiện trên hình ảnh theo dõi (mũi tên xanh lá).

    Metastases in the watershed areas Metastases in the watershed areas

    Những hình ảnh này của một bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn IV đang được điều trị miễn dịch.
    Bệnh nhân nhập viện với các triệu chứng buồn nôn, nôn mửa và lú lẫn.

    Ban đầu, người ta cho rằng đây là PML-IRIS.
    Việc điều trị đã được dừng lại.
    Tuy nhiên, các xét nghiệm không tìm thấy bất kỳ dấu hiệu nào của nhiễm virus JC và tình trạng bệnh nhân ngày càng xấu đi.

    Cuối cùng, đây được chứng minh là các di căn do thuyên tắc khối u, bị mắc kẹt trong các mạch máu nhỏ ở vùng ranh giới tưới máu.

    Periventricular

    Tăng tín hiệu quanh não thất đi theo lớp lót dưới màng nội tủy của các não thất.
    Trong trường hợp tăng tín hiệu mỏng, nguyên nhân thường gặp nhất là do nhiễm trùng, trong khi đó cần nghĩ đến khối u trong trường hợp tăng tín hiệu quanh não thất dày.

    Ventriculitis

    Những hình ảnh này của một nam giới 62 tuổi, nhập viện với các triệu chứng đau đầu, sốt và mệt mỏi.

    Hình ảnh
    Trên các hình ảnh FLAIR có tiêm thuốc tương phản, có hình ảnh viền tăng tín hiệu của não thất bên trái biểu hiện sự ngấm thuốc mỏng, thấy rõ hơn so với trên các hình ảnh T1W có tiêm thuốc tương phản.

    Đây được chứng minh là viêm màng não do Lyme, có biến chứng viêm não thất.

    Continue with some additional images…

    Có hạn chế khuếch tán ở não thất trái.
    Sự tăng cường tương phản màng não mềm được thể hiện rõ trên các hình ảnh FLAIR có tiêm thuốc tương phản (đầu mũi tên).

    Phát hiện này không đặc hiệu cho viêm màng não do Lyme, các nguyên nhân nhiễm trùng khác cũng cần được xem xét trong chẩn đoán phân biệt.
    Khi có hình ảnh ngấm thuốc đối xứng hai bên của dây thần kinh mặt, cần luôn nghĩ đến viêm màng não do Lyme.

    These images are of a patient with a parietal abscess.

    Hình ảnh
    Ổ áp xe cho thấy hạn chế khuếch tán trung tâm với thành tăng sáng tương đối dày.
    Các đầu mũi tên màu vàng chỉ vào sự tăng sáng mỏng của thành não thất.

    Kết luận
    Áp xe lan rộng vào trong não thất, dẫn đến viêm não thất.

    Những hình ảnh này của một nam giới 63 tuổi, nhập viện với áp xe não nhỏ (mũi tên vàng) ở trung tâm bán bầu dục phải.
    Lưu ý rằng có sự xâm lấn não thất đáng kể.
    Bên cạnh sự ngấm thuốc não thất, có hạn chế khuếch tán trong áp xe và não thất (đầu mũi tên)

    Lymphoma

    These images are of a 63-year old patient.

    Hình ảnh
    CT cho thấy tổn thương quanh não thất đậm độ cao với phù nề xung quanh.
    Trên ảnh T2W, tổn thương có đậm độ tương đối thấp. Có sự ngấm thuốc đồng nhất của tổn thương với nhiều tổn thương ngấm thuốc quanh não thất.

    Mật độ trên CT và sự phân bố rất gợi ý đến u lympho.

    GBM subependymal spread

    Bệnh nhân này trước đây đã được điều trị u nguyên bào thần kinh đệm (GBM) và hiện có tái phát ở thùy trán trái.

    Hình ảnh
    Có sự tăng cường tín hiệu dày dọc theo não thất bên trái, đây là hình ảnh lan rộng khối u dưới màng nội tủy.

    Nodular pattern

    Tăng cường dạng nốt đặc có thể đơn độc hoặc đa ổ, kích thước từ rất nhỏ đến lớn hơn, với chẩn đoán phân biệt rộng.
    Luôn chú ý kỹ đến vị trí của các tổn thương vì điều này có thể hỗ trợ trong chẩn đoán phân biệt.

    Trên các hình ảnh axial, mạch máu bình thường có thể bắt chước hình ảnh tăng ngấm thuốc dạng nốt nhỏ.

    Metastases

    Đầu tiên hãy xem các hình ảnh và sau đó tiếp tục đọc.

    Question:

    1. Chẩn đoán có khả năng nhất là gì?
    2. Những dấu hiệu nào là điển hình cho chẩn đoán này?

    Các dấu hiệu là:

    • Multiple small enhancing nodules.
    • Vị trí của chúng tại vùng ranh giới chất xám/chất trắng và trong vùng phân thủy là rất điển hình cho di căn, do các thuyên tắc khối u bị mắc kẹt tại những vùng mà khẩu kính mạch máu rất nhỏ.

    In 25-45% of the cases metastases can be solitary.

    Metastases in the watershed area (black arrow) and at the gray/white matter interface (white arrowheads) Metastases in the watershed area (black arrow) and at the gray/white matter interface (white arrowheads)

    Here another patient with metastases.

    Một lần nữa lưu ý vị trí ở vùng phân thủy (mũi tên đen) và tại ranh giới chất xám/chất trắng (đầu mũi tên trắng)

    Lymphoma

    Những hình ảnh này của một phụ nữ 76 tuổi, bị lú lẫn sau khi ngã.
    Hãy quan sát các hình ảnh trước, sau đó tiếp tục đọc.

    Question:

    1. Chẩn đoán có khả năng nhất là gì?
    2. Những dấu hiệu nào là điển hình cho chẩn đoán này?

    Các dấu hiệu là:

    • Hyperdense lesion on the NECT with some vasogenic edema.
    • MRI cho thấy nhiều tổn thương với ngấm thuốc dạng đặc và hạn chế khuếch tán.
    • On T2W the lesions show a low signal intensity
    • Một tổn thương nằm ở thể chai và một tổn thương khác nằm ở vùng quanh não thất.

    Tất cả những phát hiện này đều điển hình cho u lympho hệ thần kinh trung ương nguyên phát, khác với u lympho hệ thống.
    Các khối u này chiếm 6-7% trong tổng số các khối u hệ thần kinh trung ương và mô học là u lympho không Hodgkin tế bào B.
    Chúng thường nằm ở vùng quanh não thất dưới màng nội tủy, trong thể chai và trong hạch nền.
    Luôn nghĩ đến u lympho khi gặp tổn thương đặc ngấm thuốc nằm gần não thất.

    Hình ảnh tăng tỷ trọng trên CT và giảm tín hiệu nhẹ trên ảnh T2W, cũng như khuếch tán hạn chế được cho là do mật độ tế bào dày đặc của mô u lympho.

    Ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, sự bắt thuốc có thể có dạng vòng nhẫn.
    Bệnh nhân này có nhiều phù nề, nhưng trong nhiều trường hợp phù nề rất hạn chế.

    This is a 81-year old man with Waldenstrom disease.

    Biểu hiện hiếm gặp của bệnh Waldenström là sự xâm nhập của các tế bào lympho tương bào vào hệ thần kinh trung ương. Đây được gọi là hội chứng Bing-Neel.

    Lưu ý ở bệnh nhân này có nhiều tổn thương đặc ngấm thuốc, tất cả đều nằm ở vùng quanh não thất.

    Septic emboli Septic emboli

    Septic emboli

    Bốn hình ảnh này là của một bệnh nhân trẻ bị nhiễm khuẩn huyết do phế cầu khuẩn, tình trạng xấu đi và rơi vào hôn mê.

    Hình ảnh
    Có các nốt ngấm thuốc nhỏ (đầu mũi tên màu vàng) ở các vùng ranh giới tưới máu và tại ranh giới chất xám/chất trắng.
    Có hạn chế khuếch tán (đầu mũi tên màu trắng).
    Hình thái này giống hệt với các trường hợp trước.

    Conclusion
    This was regarded as septic emboli.

    Mutiple Sclerosis Mutiple Sclerosis

    Multiple sclerosis

    Bệnh nhân này đã được biết là mắc bệnh xơ cứng rải rác (MS).

    Lưu ý rằng một số tổn thương tăng tín hiệu, được nhìn thấy trên hình ảnh FLAIR, có ngấm thuốc trên hình ảnh T1W+Gd, đây là dấu hiệu của bệnh đang hoạt động.
    Các tổn thương ngấm thuốc thể hiện các kiểu ngấm thuốc khác nhau: dạng nốt và dạng vòng (không hoàn toàn).

    Các tổn thương cũng được xác định tại thể trai.
    Đây không phải là vị trí thường gặp của di căn hay thiếu máu cục bộ, nhưng thường thấy trong bệnh xơ cứng rải rác.
    Vị trí của các bất thường trên FLAIR vuông góc với não thất (ngón tay Dawson), vị trí cạnh vỏ não của các tổn thương chất trắng và sự ngấm thuốc không hoàn toàn khiến chẩn đoán bệnh mất myelin, tức là xơ cứng rải rác là khả năng cao nhất.

    Smooth Ring

    Chẩn đoán phân biệt các tổn thương ngấm thuốc dạng vòng được trình bày trong bảng.

    Trong bảng này trình bày một số đặc điểm có thể giúp phân biệt giữa các tổn thương ngấm thuốc dạng vòng khác nhau.

    Pyogenic Abscess

    Các dấu hiệu MRI khác nhau của áp xe sinh mủ được trình bày trong bảng.
    Dấu hiệu điển hình nhất là tổn thương ngấm thuốc ngoại vi với hạn chế khuếch tán trung tâm.

    Các kết quả MRI có thể âm tính giả khi có chảy máu vào trong ổ áp xe và có thể dương tính giả khi có khối u với hoại tử trung tâm bị nhiễm trùng.

    Những hình ảnh này của một nam giới 55 tuổi với triệu chứng đau đầu.
    Hãy xem các hình ảnh trước rồi tiếp tục đọc.

    Question:

    • Chẩn đoán có khả năng nhất là gì?
    • Những dấu hiệu nào là điển hình cho chẩn đoán này?

    Các dấu hiệu là:

    • Có hai tổn thương ngấm thuốc dạng viền được bao quanh bởi phù nề.
    • Trên hình ảnh T2W có dấu hiệu viền đôi ở tổn thương thùy trán trái.
    • Có hạn chế khuếch tán ở trung tâm.
    • Có ngấm thuốc đồng nhất.

    Tất cả những phát hiện này phù hợp với chẩn đoán áp xe não.
    Viền đôi trên ảnh T2W có thể thấy trong tới 75% các trường hợp.
    Điển hình là có hình ảnh ngấm thuốc viền hoàn toàn và hạn chế khuếch tán, nhưng đôi khi có hình ảnh ngấm thuốc không hoàn toàn khi áp xe hướng về phía não thất, sẵn sàng đổ mủ vào hệ thống não thất.

    Bạn có thể thấy sự khởi đầu của quá trình đó ở ổ áp xe trán phải.
    Khi ổ áp xe này vỡ vào não thất, bờ viền sẽ bị gián đoạn và sẽ xuất hiện hạn chế khuếch tán trong lòng não thất.

    Những hình ảnh này là của một bệnh nhân nhập viện vì đau đầu.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương thùy đỉnh phải, với hình ảnh ngấm thuốc dạng viền và hạn chế khuếch tán trung tâm.
    Xung SWI cho thấy hiệu ứng từ cảm tại viền, được cho là do các gốc tự do thuận từ, được tạo ra bởi các đại thực bào.
    Ngoài ra còn có một điểm xuất huyết ở phía bụng, nơi khuếch tán không bị hạn chế.
    Hình ảnh ngấm thuốc mờ nhạt bên ngoài viền trong, do rò rỉ hàng rào máu não, có thể gây khó khăn trong việc phân biệt với khối u, nhưng hình ảnh khuếch tán hạn chế, cùng với thể tích máu não tương đối (rCBV) thấp (không hiển thị) khiến chẩn đoán áp xe là khả năng cao nhất

    Đây là một trường hợp khó hơn.
    Đây là một bệnh nhân, đến khám với các dấu hiệu tiểu não cấp tính.

    Hình ảnh
    Trên hình ảnh T2W có một tổn thương tăng tín hiệu, cho thấy hình ảnh ngấm thuốc dạng viền sau khi tiêm thuốc tương phản.
    Đây là hiện tượng tưới máu xa xỉ trong nhồi máu bán cấp có ngấm thuốc.
    Cũng lưu ý các ổ nhồi máu cũ ở bán cầu tiểu não trái.

    Khi có nghi ngờ, hình ảnh học theo dõi có thể giúp ích.

    Irregular Ring

    Trong bảng liệt kê các nguyên nhân khác nhau gây ra hình ảnh ngấm thuốc dạng vòng không đều.
    Có một số trùng lặp với hình ảnh ngấm thuốc dạng vòng đều.

    Những hình ảnh này của một nam giới 47 tuổi, nhập viện với các triệu chứng đau đầu, nôn mửa và liệt nửa người bên phải.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương ngấm thuốc dạng vòng tại hạch nền bên trái.
    Lưu ý các cấu trúc ngấm thuốc nằm dọc theo bờ trong của vùng ngấm thuốc.
    Không có hạn chế khuếch tán, điều này khiến chẩn đoán áp xe khó có khả năng xảy ra.

    Đây là một trường hợp GBM đã được chứng minh trên giải phẫu bệnh.

    Những hình ảnh này của một bệnh nhân 55 tuổi, nhập viện với triệu chứng đau đầu và mất ngôn ngữ.

    Đầu tiên hãy xem các hình ảnh và sau đó tiếp tục đọc.

    1. Các dấu hiệu là gì?
    2. Chẩn đoán có khả năng nhất là gì?

    Hình ảnh
    Có một tổn thương vùng trán thái dương trái, tăng tín hiệu trên T2W, với viền ngấm thuốc dày và không đều.
    Tổn thương đi theo – và lan rộng vào chất trắng như bó móc và các sợi U.
    Trung tâm của tổn thương không có hạn chế khuếch tán và không ngấm thuốc, nhiều khả năng là hoại tử.

    Chẩn đoán có khả năng nhất là GBM.
    Các khối u thần kinh đệm xuất phát từ các tế bào thần kinh đệm trong hệ thần kinh trung ương và là các khối u xâm lấn.
    GBM là các khối u não nguyên phát ác tính nhất.
    Chúng xâm lấn lan tỏa dọc theo các bó chất trắng, ví dụ như thể chai.

    Những hình ảnh này của một bệnh nhân bị ung thư phổi di căn. Có hai tổn thương di căn bắt thuốc cản quang ở bán cầu não trái.
    Trên hình ảnh T1W với Gadolinium, sự bắt thuốc cản quang lan rộng của các mạch máu khiến việc phát hiện các di căn trở nên khó khăn.
    Trên chuỗi xung black blood (máu đen), tín hiệu của máu trong các mạch máu bị triệt tiêu, giúp nhận diện các tổn thương di căn bắt thuốc cản quang dễ dàng hơn.

    Ở bệnh nhân này, mắt bạn sẽ bị thu hút bởi một tổn thương dạng nang lớn ở thùy đỉnh phải với hình ảnh ngấm thuốc không đều và một phần dày.
    Có hiệu ứng khối và phù nề xung quanh, không có hạn chế khuếch tán.

    Người ta có thể nghĩ đến u thần kinh đệm (glioma).
    Tuy nhiên, có nhiều tổn thương khác nằm rải rác xa nhau.
    Một trong số đó có vị trí đặc trưng tại ranh giới chất xám-chất trắng (mũi tên).
    Những tổn thương này hóa ra là các di căn

    Bệnh nhân này có tiền sử ung thư phổi và biểu hiện đau đầu cùng với chậm chạp về tâm thần.

    Hãy xem các hình ảnh và sau đó tiếp tục đọc.
    Câu hỏi:

    • Các dấu hiệu là gì?
    • Chẩn đoán có khả năng nhất là gì?

    Hình ảnh
    Có nhiều tổn thương dạng vòng ngấm thuốc tương phản liên kết với nhau kèm phù nề xung quanh ở bán cầu phải.
    Thành tổn thương tương đối mỏng và nhẵn với hạn chế khuếch tán ở trung tâm.
    Có sự lan rộng đến não thất bên phải kèm ngấm thuốc tương phản của lớp lót não thất (mũi tên).
    Lưu ý thêm hạn chế khuếch tán ở vùng tam giác của não thất bên trái.
    Nhiều người cho rằng đây là bệnh di căn do tiền sử bệnh, nhưng các dấu hiệu điển hình hơn cho áp xe kèm viêm não thất, và đây hóa ra là chẩn đoán đúng.

    Toxoplasmosis

    Những hình ảnh này của một nữ bệnh nhân 50 tuổi, nhập viện với triệu chứng liệt nửa người bên trái.
    Tiền sử bệnh lý của bà không có gì đáng chú ý.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương ngấm thuốc dạng viền ở thùy trán phải.
    Không có hạn chế khuếch tán trung tâm, nhưng có dấu hiệu đích lệch tâm.
    Dấu hiệu đích này gợi ý mạnh đến bệnh toxoplasma não.

    Dấu hiệu này được cho là đại diện cho sự tăng cường của các mạch máu viêm trong khoang áp xe.

    Đây là ca bệnh kèm theo của một nữ bệnh nhân 34 tuổi, nhập viện với triệu chứng co giật.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương ngấm thuốc dạng viền ở thùy trán trái với dấu hiệu bia bắn và hạn chế khuếch tán dạng viền.
    Lưu ý thêm tín hiệu thấp trên T2W và FLAIR

    Chẩn đoán cuối cùng: bệnh toxoplasma.

    Trong khi các tác nhân vi khuẩn điển hình gây áp xe thường biểu hiện hạn chế khuếch tán trung tâm, các tác nhân không điển hình như nấm và toxoplasma thì không, khiến việc chẩn đoán áp xe não trở nên khó khăn hơn.
    Dấu hiệu đích lệch tâm như trong trường hợp này rất hữu ích cho việc chẩn đoán.

    Đây là một ca bệnh phức tạp của bệnh nhân 60 tuổi, nhập viện với triệu chứng đau đầu.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương thùy trán phải với viền tăng tín hiệu dày, đã hiện diện trên ảnh T1W không tiêm thuốc cản từ. Sau khi tiêm gadolinium, một nốt được gợi ý ở phần bụng, liệu đây có thể là khối u không?
    Hãy cùng xem xét các chuỗi xung khác.

    Trên hình ảnh FLAIR, tổn thương tương đối giảm tín hiệu.
    Trên xung gradient echo có các artefact susceptibility ở viền và trung tâm phù hợp với hemosiderin.
    Có hạn chế khuếch tán trung tâm do sự hình thành cục máu đông và tăng tín hiệu trên T1W là do methemoglobin.

    Các phát hiện phù hợp với xuất huyết trong nhu mô não.
    Do nghi ngờ có tổn thương nền, bệnh nhân đã được phẫu thuật, nhưng không tìm thấy khối u.

    Open ring enhancement

    Hình ảnh vòng hở thường gợi ý bệnh lý mất myelin, nhưng ít gặp hơn trong áp xe.

    Trong bệnh mất myelin, vòng thường mở về phía ngoại vi, trong khi áp xe có xu hướng thoát mủ vào trung tâm theo hướng não thất, tương tự như khối máu tụ trong não, rò rỉ vào hệ thống não thất.

    Tumefactive MS

    Đây là hình ảnh của một phụ nữ 50 tuổi, nhập viện với triệu chứng liệt nửa người bên trái (tay và chân). Không có tiền sử bệnh lý trước đó.
    Hãy quan sát hình ảnh trước. Những phát hiện là gì?

    Images

    • Multiple high intensity areas on the FLAIR images.
    • Nhiều tổn thương ngấm thuốc dạng vòng. Vòng hở về phía ngoại vi.
    • Trên DWI không có dấu hiệu hạn chế khuếch tán trung tâm trong nội dung của tổn thương, khiến áp xe khó có khả năng xảy ra. Có một số hạn chế khuếch tán ngoại vi
    • Mặc dù các tổn thương này khá lớn, nhưng không có dấu hiệu hiệu ứng khối và đây là đặc điểm điển hình của bệnh mất myelin như bệnh đa xơ cứng.

    These findings are typical for tumefactive MS.

    Dilated central vein

    Đây là một trường hợp MS dạng khối u khác.
    Lưu ý tĩnh mạch giãn ở trung tâm của tổn thương.

    Hầu hết các tổn thương MS trong chất trắng não lan rộng ra ngoài từ các tĩnh mạch nhỏ bị viêm.
    Đây được gọi là phân bố quanh tĩnh mạch.

    Continue with more images of this patient…

    Có hình ảnh tăng quang dạng vòng không hoàn toàn.
    Lưu ý rằng phần hở của vòng hướng về phía não thất (mũi tên), điều này ủng hộ chẩn đoán áp xe.

    Tuy nhiên, có một tĩnh mạch trung tâm trên SWI và trên DWI (không hiển thị) không có hạn chế khuếch tán

    In this case the open ring does not follow the rule.

    Đây là một ví dụ khác về tăng tín hiệu dạng vòng hở nằm ở cầu não ở bệnh nhân bị mất myelin.

    Những hình ảnh này của một phụ nữ 52 tuổi đã được điều trị AML và hiện tại có biểu hiện liệt không hoàn toàn tay phải và khó khăn trong việc tìm từ ngữ phù hợp.

    Hình ảnh
    Trên xung T1W có tiêm thuốc tương phản có một tổn thương giảm tín hiệu không có hiệu ứng khối, với bắt thuốc không hoàn toàn ở thành. Chỉ phần bắt thuốc của tổn thương mới cho thấy hạn chế khuếch tán (đầu mũi tên).

    Kết luận
    Chúng tôi đánh giá đây là tình trạng mất myelin với hình ảnh tăng tín hiệu dạng vòng hở.

    Đây được chứng minh là bệnh bạch chất đa ổ tiến triển (PML), một rối loạn mất myelin do nhiễm trùng cơ hội bởi virus JC ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch nặng.

    Abscess

    Mặc dù áp xe thường biểu hiện với hình ảnh vòng ngấm thuốc hoàn toàn, nhưng đôi khi chúng biểu hiện với hình ảnh vòng ngấm thuốc hở như trong trường hợp này.

    Hình ảnh
    Ở thùy trán trái có một tổn thương ngấm thuốc dạng vòng hở nằm cạnh xoang trán.
    Có một khuyết nhỏ ở thành xoang (đầu mũi tên).
    Phần trung tâm của tổn thương cho thấy hạn chế khuếch tán.

    Kết luận
    Áp xe não nội sọ là biến chứng của viêm xoang trán.

    Cyst with Nodule

    Trong dạng tổn thương này, tuổi của bệnh nhân rất quan trọng cho chẩn đoán phân biệt.
    Ở trẻ em, chẩn đoán phân biệt bao gồm U nguyên bào thần kinh đệm lông (Pilocytic astrocytoma), U hạch thần kinh đệm (Ganglioglioma) và U nguyên bào thần kinh đệm đa hình dạng xanthomatous (Pleomorphic xanthoastrocytoma – PXA).
    Ở người lớn, u nguyên bào mạch máu (hemangioblastoma) có khả năng cao hơn.

    Pilocytic astrocytoma

    U nguyên bào thần kinh đệm dạng lông là khối u não phổ biến nhất ở trẻ em và thường gặp nhất ở hố sau.
    Phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn thường có thể chữa khỏi cho bệnh nhân.

    Những hình ảnh này của một trẻ 9 tuổi nhập viện vì đau đầu.

    Hình ảnh
    Có một khối u nang lớn ở hố sau với sự chèn ép và tắc nghẽn não thất bốn và thân não.
    Có một nốt đặc ngấm thuốc cản quang, cũng như ngấm thuốc của thành nang.

    Kết luận
    Chẩn đoán có khả năng nhất ở độ tuổi này là u nguyên bào thần kinh đệm dạng lông (pilocytic astrocytoma)

    Những hình ảnh này của một trẻ 3 tuổi cũng có biểu hiện đau đầu.

    Có hai phát hiện quan trọng.
    Hãy xem kỹ hơn các hình ảnh và sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Nang lớn có nhân tăng tín hiệu sau tiêm ở hố sau.
    Lưu ý rằng thành nang có tăng tín hiệu sau tiêm.
    Nhân không nằm ở phía màng mềm (phần trong của màng não) khác với u nguyên bào mạch máu.

    Kết luận
    Chẩn đoán có khả năng nhất ở độ tuổi này là u nguyên bào thần kinh đệm dạng lông.
    Thành tăng bắt thuốc cản quang là một phần của khối u và cần được phẫu thuật cắt bỏ.

    These images are of a 25-year old man.

    Những phát hiện là gì.
    Hãy xem kỹ hơn các hình ảnh và sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Tổn thương dạng nang vùng trên yên với nốt đặc ngấm thuốc cản quang, biến chứng não úng thủy do tắc nghẽn.

    Kết luận
    Đối với các tổn thương vùng trên yên, có nhiều chẩn đoán phân biệt (ghi nhớ theo từ viết tắt SATCHMO).
    Trên phim NECT không có vôi hóa trong khối u, điều này làm cho chẩn đoán u sọ hầu ít có khả năng xảy ra.
    Tại vị trí này, chẩn đoán có khả năng nhất là u thần kinh đệm đường thị giác.
    Hầu hết trong số đó là u tế bào hình sao dạng lông.
    Ở bệnh nhân lớn tuổi, u tế bào hình sao dạng lông có thể nằm trên mức lều tiểu não.

    Hemangioblastoma

    U nguyên bào mạch máu thường gặp nhất ở tiểu não, đây cũng là u tân sinh nguyên phát phổ biến nhất ở người lớn tại vị trí này.
    Ít gặp hơn ở tủy sống.
    Khối u bắt đầu là một nốt đặc và dần dần hình thành nang.
    Nốt đặc nằm ở phía màng mềm (phần trong của màng não).
    Thành nang không phải là một phần của khối u và thông thường không ngấm thuốc cản quang, trừ trường hợp có chảy máu trong nang.
    Do thành nang không phải là mô u, nên không cần thiết phải cắt bỏ toàn bộ nang.

    Những hình ảnh này của một phụ nữ 63 tuổi mắc bệnh von Hippel Lindau.

    Take a closer look. What is barely visible?

    Hình ảnh
    Có một nang lớn với một nốt tăng quang nhỏ ở bán cầu tiểu não phải.
    Thành nang không tăng quang.
    Lưu ý rằng nốt u nằm ở phía màng mềm (mũi tên).
    Có thêm hai nốt tăng quang nhỏ ở phía sau của tiểu não.

    Nhiều khối u hầu như luôn liên quan đến bệnh von Hippel-Lindau.

    These images are of a 29-year old man.

    Hình ảnh
    Tổn thương dạng nang với thành không ngấm thuốc và nốt ngấm thuốc ở phía màng mềm.

    Kết luận
    U nguyên bào mạch máu điển hình.
    Khi phẫu thuật cắt bỏ khối u này, chỉ cần lấy bỏ phần nốt u.

    U thần kinh đệm hạch

    Những hình ảnh này của một trẻ em 13 tuổi nhập viện với triệu chứng co giật.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương dạng nang ở bán cầu phải.
    Lưu ý vị trí ở chất xám được thể hiện rõ nhất trên các hình ảnh mặt phẳng đứng dọc (mũi tên).
    Mặc dù có thể gọi đây là hình ảnh ngấm thuốc dạng vòng, chúng tôi ưu tiên gọi hình ảnh này là “nang có nhân trong thành nang”.

    Kết luận
    Chẩn đoán có khả năng nhất là u thần kinh đệm hạch (ganglioglioma).
    Chẩn đoán phân biệt: U xơ vàng đa hình (PXA), U thần kinh biểu mô phôi thai lan tỏa (DNET), U nguyên bào thần kinh đệm mô xơ ở trẻ nhũ nhi (tuổi nhỏ hơn) và phần nang của u nguyên bào thần kinh đệm dạng lông (không ở vỏ não).

    Glioblastoma U nguyên bào thần kinh đệm

    Trường hợp này trông giống như một khối u nang lành tính có kèm nhân đặc.
    Nhiều khả năng nhất là u hạch thần kinh đệm (ganglioglioma).

    Tuy nhiên, điều khiến mọi người ngạc nhiên là khi cắt bỏ, khối u được xác định là u nguyên bào thần kinh đệm (GBM).

    Những hình ảnh này là của một phụ nữ 58 tuổi.

    Ở bệnh nhân lớn tuổi, chẩn đoán phân biệt của nang có kèm nốt u chủ yếu là u nguyên bào mạch máu và di căn.
    Nốt không nằm trên bề mặt màng mềm và sự ngấm thuốc cản quang kém rõ rệt hơn so với các trường hợp đã trình bày trước đó.

    Đây được chứng minh là di căn của một khối u thần kinh nội tiết.

    Charity

    Toàn bộ lợi nhuận của Radiology Assistant được chuyển đến Medical Action Myanmar, tổ chức được điều hành bởi Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis sr, người là giáo sư tại Đại học Oxford và cũng là anh trai của Robin Smithuis.

    Nhấp vào đây để xem video của Medical Action Myanmar và nếu bạn thích Radiology Assistant, vui lòng hỗ trợ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Khối u trung thất không mạch máu

    Các Khối Trung Thất Không Phải Mạch Máu

    Marilyn J. Siegel và Valerie Niehe

    Viện Chẩn đoán Hình ảnh Mallinckrodt, St. Louis, MO và Trung tâm Y tế Haaglanden tại The Hague, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Bài tổng quan này dựa trên bài trình bày của Marilyn Siegel và được Valerie Niehe chuyển thể cho Trợ lý Chẩn đoán Hình ảnh.
    Marilyn Siegel chuyên về chẩn đoán hình ảnh nhi khoa và lồng ngực.

    Trong bài tổng quan này, chúng tôi sẽ thảo luận về các khối trung thất không phải mạch máu thường gặp nhất trong lồng ngực.
    Trong CT Lồng ngực Nhi khoa phần II, chúng tôi sẽ thảo luận về các bất thường mạch máu thường gặp nhất của động mạch chủ, mạch máu phổi và tĩnh mạch hệ thống trong lồng ngực.

    Chẩn đoán phân biệt

    Chẩn đoán phân biệt một khối trung thất dựa trên việc xác định vị trí của khối trong trung thất trước, trung thất giữa hoặc trung thất sau, cùng với đặc điểm tỷ trọng: mô mềm, mỡ, dịch và mức độ ngấm thuốc.

    Giải phẫu bình thường

    Tuyến ức

    Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ( Ở trẻ lớn hơn, tuyến ức dần có hình tam giác hoặc hình mũi tên với các bờ thẳng hoặc lõm.
    Đến 15 tuổi, tuyến ức có hình tam giác ở hầu hết tất cả các cá thể.
    Tuyến ức có thùy rõ rệt luôn là dấu hiệu bất thường.

    Ở trẻ trước tuổi dậy thì, tuyến ức đồng nhất.
    Giá trị tỷ trọng tương đương với cơ xương.
    Ở thanh thiếu niên, tuyến ức có thể không đồng nhất, chứa các vùng mô mỡ.

    Các biến thể giải phẫu bao gồm sự lan rộng vào trung thất sau hoặc vùng cổ trên.

    Các dấu hiệu gợi ý chẩn đoán là:

    • Không có hiệu ứng khối
    • Liên tục với tuyến ức bình thường
    • Lan rộng giữa tĩnh mạch chủ trên và khí quản

    Hình ảnh cho thấy tuyến ức lan rộng lên trên đến các mạch máu thân tay đầu.
    Tuyến ức liên tục với tuyến ức bình thường và lan rộng giữa tĩnh mạch chủ trên và khí quản.
    Không có hiệu ứng khối.

    Hạch bạch huyết bình thường

    Hiện chưa có dữ liệu được thiết lập rõ ràng về kích thước hạch bạch huyết bình thường ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
    Các hạch bạch huyết trung thất thường không được nhìn thấy trên CT trước tuổi dậy thì.
    Các hạch sau đó không được vượt quá 1 cm ở chiều rộng nhất.
    Ngách azygô-thực quản có dạng lồi sang phải ở trẻ dưới 6 tuổi, thẳng ở trẻ từ 5 đến 12 tuổi, và lõm ở thanh thiếu niên và người lớn.
    Nhận biết hình dạng lồi sang phải bình thường là điều quan trọng để không nhầm lẫn với hình ảnh hạch to.

    Khối Trung Thất Trước

    Các khối trung thất trước thường có nguồn gốc từ tuyến ức.

    • Mô mềm: U lympho và Tăng sản tuyến ức
    • Mỡ: U tế bào mầm.
    • Tỷ trọng nước: U bạch huyết

    U lympho Hodgkin

    U lympho là khối trung thất trước thường gặp nhất ở trẻ em, trong đó u lympho Hodgkin gặp nhiều hơn u lympho không Hodgkin từ ba đến bốn lần.
    Có thể thấy các vôi hóa hoặc vùng nang hóa, do hoại tử thiếu máu cục bộ hậu quả của sự phát triển khối u nhanh chóng.
    Hạch bạch huyết to do u lympho có hình ảnh đa dạng, từ các hạch to nhẹ ở một vùng đơn độc đến các khối mô mềm tập hợp lớn ở nhiều vùng.
    Tuyến ức to và hạch bạch huyết to ngấm thuốc tối thiểu hoặc không ngấm thuốc sau khi tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch.
    Các dấu hiệu kèm theo bao gồm hẹp đường thở và chèn ép các cấu trúc mạch máu.


    PET-CT of Hodgkin lymphoma

    PET-CT của u lympho Hodgkin

    U lympho Hodgkin ở trẻ em thường gặp hơn trong thập kỷ thứ hai của cuộc đời.
    Khối u lympho thường khu trú ở trung thất trước và phản ánh tình trạng hạch bạch huyết to hoặc thâm nhiễm và phì đại tuyến ức.
    Tuyến ức phì đại có hình tứ giác với bờ bên lồi, thùy múi.


    Hodgkin lymphoma

    U lympho Hodgkin

    Phim ngực cho thấy các đặc điểm điển hình của u lympho Hodgkin, ví dụ: một khối trung thất trước.


    Hodgkin lymphoma

    U lympho Hodgkin

    Các hình ảnh CT của cùng bệnh nhân cho thấy một khối mô mềm lớn ở trung thất trước, xuất phát từ tuyến ức.
    Có hạch cạnh khí quản kèm theo (mũi tên).


    Hodgkin lymphoma

    U lympho Hodgkin

    Hai trường hợp u lympho Hodgkin khác.
    Các trường hợp này cũng cho thấy khối trung thất trước và hạch cạnh khí quản to.


    Non-Hodgkin lymphoma

    U lympho không Hodgkin

    U lympho không Hodgkin

    Bệnh không Hodgkin ở trẻ em xảy ra trong thập kỷ đầu và thứ hai của cuộc đời.
    Bệnh thường liên quan đến các hạch trong lồng ngực (cạnh khí quản, dưới carina và rốn phổi).
    Sự lan rộng của bệnh không liên tục, có thể bỏ qua một vị trí.


    Non-Hodgkin lymphoma

    U lympho không Hodgkin

    Bệnh không Hodgkin, trái ngược với bệnh Hodgkin, thường không ảnh hưởng đến tuyến ức.
    Trong trường hợp này, các hạch bạch huyết to được thấy ở vùng cạnh khí quản phải, rốn phổi và dưới carina.


    Thymic hyperplasia

    Tăng sản tuyến ức

    Tăng sản tuyến ức

    Tăng sản tuyến ức là một nguyên nhân khác gây phì đại tuyến ức. Ở trẻ em, tăng sản tuyến ức thường là tăng sản ‘phục hồi’ liên quan đến hóa trị liệu, đặc biệt là liệu pháp corticosteroid.
    Tăng sản phục hồi có thể được quan sát trong quá trình hóa trị hoặc sau khi hoàn thành điều trị và xảy ra từ 3 đến 10 tháng sau khi bắt đầu hóa trị.
    Cơ chế của tăng sản được cho là do sự suy giảm ban đầu của các tế bào lympho từ phần vỏ của tuyến do nồng độ glucocorticoid huyết thanh cao, tiếp theo là sự tái tạo quần thể tế bào lympho vỏ khi nồng độ cortisone trở về bình thường.
    Trên CT, tăng sản biểu hiện là sự phì đại lan tỏa của tuyến ức, với sự bảo tồn hình dạng tam giác bình thường.
    Định nghĩa tăng sản tuyến ức là thể tích tuyến ức tăng > 50%. CT, MRI hoặc PET không thể phân biệt tăng sản phục hồi với thâm nhiễm tuyến ức do khối u.
    Sự vắng mặt của các bệnh hoạt động khác và sự giảm dần kích thước tuyến ức trên các lần chụp CT nối tiếp hỗ trợ chẩn đoán tăng sản phục hồi.
    Tuyến ức thường trở về kích thước bình thường trong 3 đến 6 tháng.


    LEFT: Thymoma. RIGHT: Thymic carcinoma.

    TRÁI: U tuyến ức. PHẢI: Ung thư biểu mô tuyến ức.

    U tuyến ức (Thymoma)

    U tuyến ức thường gặp và chiếm 20% các khối u trung thất.
    Ung thư biểu mô tuyến ức cực kỳ hiếm gặp và chiếm dưới 1% tổng số các khối u tuyến ức.

    Các hình ảnh cho thấy u tuyến ức ở bên trái và ung thư biểu mô ở bên phải.
    Ung thư biểu mô tuyến ức đã xâm lấn tĩnh mạch chủ trên (mũi tên).


    Benign mature teratoma

    U quái trưởng thành lành tính

    U tế bào mầm

    U tế bào mầm là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra các tổn thương chứa mỡ ở trung thất trước và là nguyên nhân thường gặp thứ hai gây khối trung thất trước ở trẻ em.
    Khoảng 90% là u tế bào mầm lành tính.
    Hầu hết xuất phát từ tuyến ức.
    Trên CT, u quái lành tính là một khối nang thành dày, bờ rõ, chứa hỗn hợp thay đổi gồm nước, vôi hóa, mỡ và mô mềm.
    Thành phần mô mềm trong u quái lành tính là tối thiểu. Kích thước không phải là chỉ số của ác tính.


    Benign mature teratoma

    U quái trưởng thành lành tính

    U quái trưởng thành có thể rất lớn nhưng vẫn là lành tính.


    Malignant teratoma

    U quái ác tính

    U quái ác tính chiếm 10% tổng số u quái. Chúng có xu hướng có thành không đều hoặc dạng nốt và thành phần mô mềm chiếm ưu thế.
    Chúng cũng có thể cho thấy di căn phổi hoặc gan và xâm lấn thành ngực.
    Các u tế bào mầm không phải u quái thường gặp nhất ở trẻ em là ung thư biểu mô màng đệm (choriocarcinoma), ung thư tế bào phôi (embryonal cell cancer) và ung thư túi noãn hoàng (yolk-sac cancer).

    U mỡ tuyến ức (Thymolipoma)

    U mỡ tuyến ức là một khối u tuyến ức chứa mỡ không thường gặp. Trên CT, nó biểu hiện là một khối không đồng nhất chứa mỡ và các thành phần mô mềm.
    Không có vôi hóa.
    U mỡ tuyến ức không có vỏ bao và không gây hiệu ứng khối.

    U bạch huyết hoặc Nang bạch huyết (Cystic hygroma)

    U bạch huyết là các khối u phát triển của hệ thống bạch huyết.
    Ở trung thất, chúng hầu như luôn là phần kéo dài xuống dưới của u bạch huyết cổ.
    Tổn thương trung thất đơn độc rất hiếm gặp.
    U bạch huyết là khối u lành tính nhưng xâm lấn, gây hiệu ứng khối và có thể bao quanh các mạch máu và các cấu trúc khác.
    Bệnh thường ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi.
    Trên CT, biểu hiện là khối đa thùy thành mỏng, không ngấm thuốc, với tỷ trọng gần bằng nước.


    T2 with fatsupression, transversal and coronal

    Chuỗi xung T2W có ức chế mỡ, mặt cắt ngang và mặt cắt vành

    MRI đôi khi có thể được sử dụng để xác định rõ hơn sự lan rộng của tổn thương.
    MRI ở bệnh nhân này cho thấy một khối nang ở cổ lan rộng vào hố nách phải và trung thất.
    Khối u bao quanh các mạch máu.
    Sự hiện diện của ngấm thuốc ở thành hoặc các vách ngăn bên trong gợi ý nhiễm trùng chồng lên hoặc thành phần u mạch máu.


    Khối trung thất giữa


    Tại trung thất giữa, chúng ta có thể gặp các nang nhân đôi ruột trước (foregut duplication cysts) hoặc các hạch bạch huyết.

    Nang ruột trước ở trung thất giữa được phân loại thành nang phế quản (bronchogenic) hoặc nang ruột (enteric).
    Nang phế quản được lót bởi biểu mô đường hô hấp và hầu hết nằm ở vùng dưới carina hoặc cạnh khí quản phải, liền kề với khí quản hoặc phế quản.
    Nang ruột được lót bởi niêm mạc đường tiêu hóa và nằm ở vị trí cạnh cột sống, thuộc trung thất giữa đến sau, gần thực quản.


    Bronchogenic Cyst

    Nang phế quản

    Nang phế quản

    Các hình ảnh cho thấy một tổn thương bờ rõ có tỷ trọng nước, nằm liền kề với khí quản hoặc phế quản, đây là hình ảnh điển hình của nang phế quản ruột trước.


    Bronchogenic Cysts

    Nang phế quản

    Các hình ảnh minh họa thêm các ví dụ về nang phế quản và vị trí liền kề đặc trưng của chúng với đường thở.


    Enteric cyst

    Nang ruột

    Nang ruột trước

    Các hình ảnh cho thấy một tổn thương bờ rõ có tỷ trọng nước ở trung thất dưới, nằm liền kề với thực quản, đây là hình ảnh điển hình của nang ruột trước.

    Hạch bạch huyết trung thất

    Hạch bạch huyết trung thất thường do u lympho (lymphoma) hoặc bệnh u hạt (granulomatous disease) gây ra.
    Bệnh di căn từ u cơ vân (rhabdomyosarcoma), u xương (osteosarcoma) hoặc u Wilms cũng là một khả năng cần xem xét.
    Trên CT, hạch to có thể biểu hiện dưới dạng các khối mô mềm tròn, rời rạc hoặc một khối mô mềm đơn độc với bờ không rõ.
    Vôi hóa trong các hạch bạch huyết gợi ý bệnh u hạt đã lành cũ, nhiễm nấm hoặc bệnh di căn từ u xương.
    Các vùng giảm tỷ trọng gợi ý lao hoặc nhiễm nấm.

    Khối trung thất sau

    Các khối trung thất sau có nguồn gốc thần kinh trong khoảng 95% trường hợp và có thể xuất phát từ các tế bào hạch giao cảm (u nguyên bào thần kinh, u nguyên bào hạch thần kinh hoặc u hạch thần kinh) hoặc từ bao thần kinh (u sợi thần kinh hoặc u bao thần kinh).
    Trong thập kỷ đầu đời, các khối này thường là ác tính, phổ biến nhất là u nguyên bào thần kinh.
    Trong thập kỷ thứ hai của cuộc đời, các khối này thường là lành tính (u hạch thần kinh, u sợi thần kinh, hiếm gặp hơn là u bao thần kinh).


    Neuroblastoma presenting as a mass in the posterior mediastinum

    U nguyên bào thần kinh biểu hiện dưới dạng khối ở trung thất sau

    U nguyên bào thần kinh

    U nguyên bào thần kinh thường có hình thoi, tỷ trọng mô mềm; 50% các khối u lồng ngực có vôi hóa.


    Neuroblastoma

    U nguyên bào thần kinh

    U nguyên bào thần kinh phát triển qua nhiều khoang liên sườn và thường xâm lấn ống sống.
    Các hình ảnh CT cho thấy một khối vôi hóa ở trung thất sau trải dài qua nhiều đốt sống, xâm lấn vào ống sống.


    Neuroblastoma

    U nguyên bào thần kinh

    Trên các hình ảnh MRI, sự xâm lấn vào ống sống được thể hiện rõ hơn (các mũi tên).


    LEFT: Ganglioneuroma, RIGHT: Neurofibroma.

    TRÁI: U hạch thần kinh, PHẢI: U sợi thần kinh.

    Các khối u thần kinh khác

    Trong thập kỷ thứ hai, các khối u thần kinh khác được ghi nhận như u hạch thần kinh, u sợi thần kinh và hiếm gặp hơn là u bao thần kinh.
    Chúng có hình tròn hoặc bầu dục, kích thước nhỏ hơn so với các khối u tế bào hạch và thường chỉ trải dài qua một hoặc hai đốt sống.

    Cả hai loại khối u đều có thể gây xói mòn xương sườn do chèn ép và xâm lấn ống sống.

    Nang thần kinh – ruột

    Nang thần kinh chứa các thành phần thần kinh và tiêu hóa.
    Chúng thường đi kèm với các dị tật đốt sống và vẹo cột sống. Nang không thông với dịch não tủy.
    Nang có ranh giới rõ ràng, có giá trị tỷ trọng gần bằng nước trên CT và tín hiệu tương đương nước trên MRI, như được minh họa trong trường hợp bên trái.


    Extramedullary hematopoiesis masses in the paraspinal area and adjacent to the sternum.

    Các khối tạo máu ngoài tủy ở vùng cạnh cột sống và tiếp giáp xương ức.

    Tạo máu ngoài tủy

    Tạo máu ngoài tủy chiếm chưa đến 0,1% các tổn thương ở trung thất sau.
    Đặc trưng bởi sự hình thành các thành phần máu bên ngoài tủy xương. Tình trạng này xảy ra trong bối cảnh thiếu máu nặng.
    Trên CT, biểu hiện là khối cạnh đốt sống và đi kèm với hình ảnh bè xương thô ở đốt sống lân cận.

    CT Ngực Nhi khoa Phần II

    Dị thường Mạch máu của Động mạch Chủ, Mạch Phổi và Mạch Hệ thống

    Dị thường Mạch máu của Động mạch Chủ, Mạch Phổi và Mạch Hệ thống

  • Giải phẫu xương thái dương 2.0

    Giải Phẫu Xương Thái Dương 2.0

    Giải phẫu và bệnh lý liên quan

    Erik Beek và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Đây là phiên bản cập nhật của bài viết năm 2007.
    Trong bài tổng quan này, chúng tôi trình bày giải phẫu bình thường trên mặt phẳng cắt ngang (axial) và mặt phẳng cắt đứng ngang (coronal) của xương thái dương thông qua việc duyệt qua các hình ảnh.

    Một số cấu trúc được thảo luận chi tiết hơn với trọng tâm là các bệnh lý liên quan.

    Bạn có thể tìm thêm các bệnh lý xương thái dương tại đây.

    Giới thiệu

    Tai giữa bao gồm hòm nhĩ và hang chũm.
    Hòm nhĩ là phần chính của tai giữa và chứa các xương con.

    Thông qua ngách thượng nhĩ (aditus ad antrum), hòm nhĩ thông với hang chũm — một tế bào khí lớn nằm phía trên và phía sau hòm nhĩ — và thông với các tế bào khí chũm.

    Màng nhĩ, xương búa, xương đe và xương bàn đạp dẫn truyền sóng âm đến đế xương bàn đạp, vốn gắn vào đáy ốc tai tại cửa sổ bầu dục.

    Giải phẫu xương đá trên mặt phẳng cắt ngang (Axial)


    Nhấp vào hình ảnh để phóng to.

    Cuộn qua các hình ảnh.

    Giải phẫu mặt phẳng coronal của xương đá


    Nhấp vào hình ảnh để phóng to.

    Cuộn qua các hình ảnh.

    Hòm nhĩ

    Hòm nhĩ là phần chính của tai giữa, chứa các xương con của tai giữa.

    Thành trong
    chứa cửa sổ bầu dục, cửa sổ tròn và gờ nổi của đoạn nhĩ dây thần kinh mặt.

    Thành ngoài
    được tạo thành chủ yếu bởi màng nhĩ. Scutum (mảnh xương hình khiên) là gờ xương nằm ở phần trên hay còn gọi là pars flaccida của màng nhĩ.

    Trần
    được gọi làtegmen, ngăn cách phần trên của hòm nhĩ (thượng nhĩ) với hố sọ giữa.

    Thành sau
    tạo nên lối vào xương chũm và được gọi là aditus ad antrum (lỗ thông hang).

    Màng nhĩ

    Màng nhĩ hay còn gọi là màng tai, là một màng hình nón ngăn cách tai ngoài với tai giữa.

    Pars flaccida là phần trên mỏng manh của màng nhĩ, liên quan đến rối loạn chức năng vòi nhĩ và cholesteatoma.

    Pars tensa có kích thước lớn hơn và chắc hơn, thường liên quan đến các trường hợp thủng màng nhĩ.
    Cán búa (manubrium) của xương búa được gắn vào phần trung tâm của màng nhĩ, vùng này được gọi là rốn nhĩ (umbo).


    Perforation of the tympanic membrane.

    Thủng màng nhĩ.

    Hình ảnh một bệnh nhân có cholesteatoma.

    Có một khối mô mềm ở vùng thượng nhĩ.
    Lưu ý hình ảnh thủng màng nhĩ (mũi tên vàng) và bào mòn ống bán khuyên ngoài (mũi tên đỏ).
    Scutum bị tù mòn.


    Erosion of scutum in a patient with a cholesteatoma. Also erosion of body of incus.

    Bào mòn scutum ở bệnh nhân cholesteatoma. Đồng thời có bào mòn thân xương đe.

    Scutum

    Đây thường là cấu trúc xương đầu tiên bị bào mòn do cholesteatoma, hình thành bởi sự co kéo vào trong của pars flaccida màng nhĩ vào vùng thượng nhĩ.
    Nếu quá trình co kéo tiếp tục tiến triển sẽ dẫn đến phá hủy chuỗi xương con.
    Nếu cholesteatoma lan ra phía sau qua aditus ad antrum vào trong xương chũm, có thể gây bào mòn tegmen mastoideum làm lộ màng cứng, đồng thời bào mòn ống bán khuyên ngoài dẫn đến điếc và chóng mặt.

    Chuỗi xương con

    Trong nhiều hình minh họa, xương đe thường được vẽ kết nối về phía trong với xương búa, tuy nhiên điều này không chính xác.
    Trên ảnh tái tạo mặt phẳng coronal bên trái, có thể thấy rõ ràng rằng xương đe nằm ở phía sau ngoài so với đầu xương búa.
    Ngành dài của xương đe sau đó chạy xuống dưới và vào trong để tiếp khớp với xương bàn đạp.

    Hang bào chũm (Antrum)

    Hang bào chũm là một tế bào khí lớn nằm phía trên và phía sau hòm nhĩ, thông với hòm nhĩ qua ngách hang (aditus ad antrum).

    Hang bào chũm được bao quanh bởi các tế bào khí chũm nhỏ hơn.

    Dây thần kinh mặt

    Đoạn mê nhĩ của dây thần kinh mặt xuất phát từ ống tai trong, chạy gần như vuông góc với trục dài của xương đá, gập góc nhọn về phía trước để đến hạch gối (geniculate ganglion).

    Tại hạch gối, dây thần kinh mặt tạo thành một khúc quặt hình chữ U (genu thứ nhất của dây thần kinh mặt) để chạy ra phía sau theo đoạn nhĩ dọc theo thành trong của thượng nhĩ.

    Cửa sổ bầu dục và cửa sổ tròn

    Đế xương bàn đạp dao động ra vào so với màng tại cửa sổ bầu dục.
    Các dao động được truyền từ cửa sổ bầu dục qua nội dịch đến các tế bào lông của cơ quan Corti trong ốc tai.

    Cửa sổ tròn có chức năng giải phóng áp lực được tạo ra bởi các dao động dịch lỏng bên trong ốc tai, do đó đóng vai trò như một van giảm áp.

  • Tổn thương nang tụy

    Tổn thương dạng nang tuyến tụy

    Chẩn đoán và xử trí

    Marc Engelbrecht, Jennifer Bradshaw và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Các tổn thương dạng nang tuyến tụy ngày càng được phát hiện nhiều hơn do sự phổ biến rộng rãi của CT và MRI.
    Một số nang tuyến tụy nhất định được xem là tổn thương tiền ác tính và có thể chuyển dạng thành ung thư biểu mô tuyến chế nhầy.

    Mặc dù nguy cơ ác tính tổng thể là rất thấp, sự hiện diện của các nang tuyến tụy này thường gây ra lo lắng đáng kể và dẫn đến việc thăm khám y tế chuyên sâu hơn do lo ngại về khả năng ác tính.

    Đối với các tổn thương nang có kích thước lớn hơn, thông thường có thể phân biệt được giữa u nang thanh dịch lành tính và u nang tân sinh chế nhầy tiền ác tính cũng như u tân sinh nhú nội ống tụy chế nhầy; tuy nhiên, đối với các tổn thương nhỏ, việc xác định đặc điểm thường không thể thực hiện được.

    Điều này có nghĩa là nhiều nang tuyến tụy vẫn chưa được xác định rõ bản chất, và do đó cần có các hướng dẫn về theo dõi và xử trí.

    Giới thiệu

    Phân loại

    Nang tụy có thể được phân loại thành các nhóm sau:

    • Nang giả
    • U nang tụy thường gặp:

      • IPMN – U nhú nhầy nội ống tụy
      • SCN – U nang thanh dịch
      • MCN – U nang nhầy
    • U nang tụy ít gặp:

      • SPEN (U tân sinh biểu mô giả nhú đặc)
      • Các khối u có thoái hóa nang:
        Ung thư biểu mô tuyến – U thần kinh nội tiết

    Tiếp cận hệ thống

    Khi phát hiện một tổn thương nang tụy, bước đầu tiên là xác định tổn thương đó nhiều khả năng là nang giả hay u nang tân sinh.
    Sơ đồ này là lộ trình đơn giản hóa để phân biệt các nang tụy.

    • Nang giả – Nghĩ đến nang giả khi có tiền sử viêm tụy mạn hoặc cấp, lạm dụng rượu bia, bệnh sỏi mật hoặc chấn thương bụng. Các dấu hiệu gợi ý viêm tụy mạn có thể bao gồm vôi hóa nhu mô hoặc ống tụy và thâm nhiễm mỡ quanh tụy.
      Nếu nồng độ amylase trong dịch nang thấp hơn 250 u/ml thì loại trừ nang giả (3)
    • U nang tân sinh– Không có tiền sử viêm tụy hoặc chấn thương, hoặc khi nang có vách ngăn bên trong, thành phần đặc, sẹo trung tâm hoặc vôi hóa thành nang.
    • U nang nhầy – Thường là nang đơn ngăn chứa đầy chất nhầy, đôi khi có vôi hóa thành nang, gặp hầu như độc quyền ở phụ nữ trong độ tuổi 40 – 60. Chúng thường nằm ở thân hoặc đuôi tụy và được đặc trưng bởi mô đệm kiểu buồng trứng khi đánh giá mô bệnh học.
    • U nang thanh dịch – Thường là tổn thương vi nang chứa dịch thanh. SCN có thể có nhiều hình thái khác nhau, với 45% dạng vi nang (nang < 2 cm), 32% dạng đại nang, 18% dạng hỗn hợp vi nang và đại nang, và 5% dạng đặc (4).
      SCN dạng vi nang có thể tăng sinh mạch và trông giống đặc trên CT có thuốc cản quang, do đó dễ nhầm lẫn với ung thư biểu mô tuyến tụy. MRI sẽ thể hiện rõ ràng bản chất vi nang của tổn thương (5) (6).
    • IPMN nhánh ống – Khối u này có thể trông giống SCN, nhưng không có sẹo hay vôi hóa. MRCP hoặc chuỗi xung T2W trọng số nặng có thể cho thấy sự thông thương với ống tụy, đây là dấu hiệu có độ đặc hiệu cao, nhưng trong nhiều trường hợp chúng ta không thể phát hiện được sự thông thương này.

    LEFT: Pseudocyst. RIGHT: Cystic neoplasm.

    TRÁI: Nang giả. PHẢI: U nang tân sinh.

    Hình CT bên trái là của một bệnh nhân có tiền sử viêm tụy.
    Có hai nang đơn ngăn hay nang đơn giản.
    Lưu ý thêm hình ảnh thâm nhiễm mỡ sau phúc mạc bên phải.
    Chẩn đoán có khả năng nhất là nang giả.

    Hình CT bên phải cho thấy một nang ở đuôi tụy ở một phụ nữ 36 tuổi, được phát hiện tình cờ qua siêu âm.
    Nang có bờ dày không đều và chứa các thành phần đặc ‘không phụ thuộc trọng lực’.
    Chẩn đoán có khả năng nhất là u nang tân sinh.


    SCN with central scar seen on MRI

    SCN với sẹo trung tâm thấy trên MRI

    MRI so với CT

    CT có thể phát hiện hầu hết các tổn thương tụy, nhưng đôi khi không thể hiện được thành phần nang.
    MRI với chuỗi xung T2W trọng số nặng và MRCP sẽ thể hiện tốt hơn bản chất nang và cấu trúc bên trong của nang, đồng thời có ưu điểm là cho thấy mối liên quan của nang với ống tụy như trong IPMN.

    Các hình ảnh cho thấy u nang thanh dịch (SCN) trên CT.
    MRI thể hiện rõ hơn sẹo trung tâm.


    Serous cystic neoplasm with central calcification.

    U nang thanh dịch với vôi hóa trung tâm.

    Có những trường hợp CT có thể hữu ích hơn, vì CT thể hiện rõ hơn vôi hóa trung tâm trong SCN hoặc vôi hóa ngoại vi trong u nang nhầy (MCN).

    Hình ảnh CT của u nang nhầy có vách ngăn và vôi hóa ngoại vi.


    MRI shows dependant debris in pseudocyst

    MRI cho thấy cặn lắng phụ thuộc trọng lực trong nang giả

    MRI thường có giá trị chẩn đoán cao hơn CT.
    MRI có thể cho thấy bản chất nang của một ổ dịch tụy và cấu trúc bên trong của nó.
    Hình MRI cho thấy một ổ dịch tụy với cặn lắng bên trong phụ thuộc trọng lực, điển hình của hoại tử có vỏ bọc trong viêm tụy hoại tử (7).

    MRI cho thấy một tổn thương bao gồm nhiều nang nhỏ.
    Đây có thể là u nang thanh dịch hoặc IPMN nhánh ống.
    Sự thông thương của tổn thương nang với ống tụy cho thấy đây là IPMN nhánh ống.

    Nang giả tụy


    Pseudocyst

    Nang giả tụy

    Đặc điểm chính:

    • Nang đơn thùy không có thành phần đặc, sẹo trung tâm hoặc vôi hóa thành nang.
    • Tập hợp các enzyme tụy, máu và mô hoại tử.
    • Mảnh vụn bên trong tổn thương dạng nang là dấu hiệu đặc trưng trên MRI.
    • Tiền sử viêm tụy hoặc chấn thương bụng.
    • Nang hình thành trong 4-6 tuần – thường giảm kích thước theo thời gian – đôi khi to ra hoặc bị nhiễm trùng.
    • Có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào của tụy hoặc bất kỳ đâu trong ổ bụng, đôi khi cả trong lồng ngực.

    Hình ảnh CT cho thấy một nang lớn ở vùng thượng vị trên bệnh nhân có tiền sử viêm tụy cấp (Hình).

    Lưu ý có thêm một ít dịch cổ trướng và dịch màng phổi.
    Thành nang có ngấm thuốc.


    Traumatic pseudocysts

    Nang giả tụy do chấn thương

    CT cho thấy hai nang lớn ở bệnh nhân nữ 45 tuổi có tiền sử chấn thương (hình).

    Lưu ý hình ảnh thâm nhiễm mỡ trong khoang sau phúc mạc (mũi tên).
    Kết hợp đặc điểm hình ảnh với tiền sử lâm sàng, rất có khả năng đây là các nang giả tụy do chấn thương.


    Viêm tụy mạn tính với nang giả tụy lan vào trung thất

    Hầu hết các nang giả tụy xuất hiện ở vùng quanh tụy, tuy nhiên hiếm gặp hơn, chúng có thể lan vào trung thất.

    Hãy cuộn qua các hình ảnh.
    Bệnh nhân này bị viêm tụy mạn tính.
    Lưu ý các vôi hóa ở đầu tụy (mũi tên cong).
    Có nhiều nang giả tụy lan dài vào tận trung thất, gây chèn ép tim (mũi tên đỏ).

    U nang tụy – Chẩn đoán phân biệt

    Chẩn đoán u nang tân sinh cần được xem xét khi bệnh nhân không có tiền sử viêm tụy hoặc chấn thương.

    Các đặc điểm hình thái của u nang tân sinh bao gồm:

    • Thành dày, bờ không đều
    • Vách ngăn bên trong,
    • Thành phần đặc,
    • Ống tụy giãn > 3mm và vôi hóa.
    • Dịch hút từ nang tân sinh sẽ có nồng độ amylase thấp (3).

    Bảng dưới đây trình bày một số đặc điểm phân biệt của các u nang tân sinh.
    Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, không thể đưa ra chẩn đoán xác định do nang thường quá nhỏ.
    Điều quan trọng là cần chẩn đoán được u nang tuyến thanh dịch, vì đây là loại u duy nhất không có tiềm năng ác tính. Khi có triệu chứng, nguyên nhân là do kích thước nang ngày càng tăng.

    Tuổi và giới tính

    U nang tân sinh chế nhầy (MCN)
    MCN gặp hầu như hoàn toàn ở phụ nữ trung niên với độ tuổi trung bình là 47 tuổi (8).
    Cho đến nay chỉ có 12 trường hợp được báo cáo ở nam giới (9).

    U nang tân sinh thanh dịch (SCN)
    SCN cũng gặp chủ yếu ở phụ nữ (75%) với độ tuổi trung vị là 58 tuổi (4).

    U tân sinh biểu mô giả nhú đặc (SPEN)
    SPEN gặp hầu như hoàn toàn ở phụ nữ trẻ (88%), với độ tuổi trung bình là 29 tuổi (10).
    Đây là loại u đặc không phổ biến, có thể có các thành phần nang.

    Do đó, có quy tắc ghi nhớ như sau:

    • Bà ngoại – U nang tuyến thanh dịch (SCN)
    • Mẹ – U nang tân sinh chế nhầy (MCN)
    • Con gái – U tân sinh biểu mô giả nhú đặc (SPEN)

    U nang tuyến thanh dịch


    Figure 14. Serous cystic adenomas contain multiple small cysts resulting in a lobulated contour. Some have a central scar with calcifications.

    Hình 14. U nang tuyến thanh dịch chứa nhiều nang nhỏ tạo nên bờ viền thùy múi. Một số có sẹo trung tâm kèm vôi hóa.

    Các dấu hiệu chính:

    • Khối u lành tính, tuy nhiên các khối u lớn có xu hướng tăng kích thước và gây triệu chứng.
    • Thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi (‘Bà ngoại’).
    • U nang tuyến thanh dịch (SCN) có thể có nhiều dạng biểu hiện: vi nang (45%), đại nang (32%), hỗn hợp vi nang và đại nang (18%) và dạng đặc (5%) (4).
    • Dạng vi nang hoặc tổ ong với sẹo trung tâm (30%) và vôi hóa (18%).
    • Dạng đại nang chiếm 10% và khó phân biệt với nang giả tụy và u nang tuyến nhầy.
    • Bề mặt thùy múi.
    • Không có thông thương giữa các nang với ống tụy.
    • Đôi khi ghi nhận ngấm thuốc tăng sinh mạch, có thể gây khó khăn trong việc phân biệt với u thần kinh nội tiết dạng nang.
    • Tốc độ tăng trưởng của các khối u > 4 cm: lên đến 20 mm/năm.

    Serous cystic neoplasm with cmultiple small cysts. Courtesy of Dr Allen, HPB surgery, Memorial Sloan Kettering Cancer Center, NY

    U nang tuyến thanh dịch với nhiều nang nhỏ. Hình ảnh cung cấp bởi Bác sĩ Allen, Khoa Phẫu thuật Gan-Tụy-Mật, Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering, NY

    Mẫu bệnh phẩm giải phẫu bệnh cho thấy nhiều vi nang, tạo nên hình ảnh thùy múi của khối u.

    U nang tuyến thanh dịch dạng đại nang là hiếm gặp và, mặc dù lành tính, có thể có hình ảnh tương tự u nang tuyến nhầy dạng đại nang – một tổn thương có tiềm năng ác tính.


    Serous cystic neoplasm with multiple small cysts. Courtesy of Dr  Klimstra, pathology of the Memorial Sloan Kettering Cancer Center, NY,

    U nang tuyến thanh dịch với nhiều nang nhỏ. Hình ảnh cung cấp bởi Bác sĩ Klimstra, Khoa Giải phẫu bệnh, Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering, NY

    Đặc điểm đặc trưng của u nang tuyến thanh dịch là sẹo trung tâm, đôi khi kèm vôi hóa.
    Đôi khi thành phần vi nang của khối u này khó xác định trên CT.
    MRI sẽ giúp đánh giá cấu trúc bên trong tốt hơn.
    MRI cũng hữu ích trong việc xác định các nang có thông thương với ống tụy hay không, nhằm phân biệt tổn thương này với IPMN nhánh ống (xem bên dưới).

    Mẫu bệnh phẩm giải phẫu bệnh cho thấy khối u dạng nang với nhiều nang nhỏ và sẹo trung tâm.
    Không có vôi hóa.


    Serous Cystic Neoplasm

    U nang tuyến thanh dịch

    Hình ảnh CT của bệnh nhân nữ 51 tuổi có tiền sử sỏi mật và đau bụng.
    Ghi nhận tổn thương giảm tỷ trọng với vôi hóa trung tâm ở đầu tụy.
    Tổn thương có bờ viền thùy múi.
    Tiếp tục xem hình ảnh MRI.


    Serous Cystic Neoplasm (SCN)

    U nang tuyến thanh dịch (SCN)

    MRI thể hiện rõ hơn các đặc điểm hình thái của tổn thương (hình).

    Trên chuỗi xung T2W, tổn thương có dạng đa nang.

    Lưu ý vùng giảm tín hiệu trung tâm do sẹo trung tâm kèm vôi hóa.

    Mặc dù một số nang có kích thước khá lớn, đây vẫn là hình ảnh đặc trưng của u nang tuyến thanh dịch (dạng đại nang).


    Serous Cystic Neoplasm (SCN)

    U nang tuyến thanh dịch (SCN)

    Một ví dụ khác về u nang tuyến thanh dịch (Hình).

    Hình ảnh sau tiêm thuốc cản quang bên phải cho thấy tổn thương giảm tỷ trọng với vôi hóa trung tâm ở thân tụy và ngấm thuốc nhẹ của các vách ngăn.

    Lưu ý rằng trên CT rất khó nhận ra bản chất dạng nang của các tổn thương này và có thể nhầm lẫn với ung thư biểu mô tuyến tụy.


    Serous Cystic Neoplasm (SCN)

    U nang tuyến thanh dịch (SCN)

    MRI sẽ dễ dàng thể hiện bản chất dạng nang của các tổn thương này (hình).
    Chuỗi xung T2W với xóa mỡ (fatsat) thể hiện rõ tổn thương tăng tín hiệu dạng thùy múi với sẹo trung tâm, đây là hình ảnh đặc trưng của SCN.


    Serous Cystic Neoplasm (SCN)

    U nang tuyến thanh dịch (SCN)

    Đôi khi khó phân biệt u nang tuyến thanh dịch dạng vi nang với IPMN nhánh ống hay u nhú nội ống tiết nhầy.
    IPMN luôn có thông thương với ống tụy, nhưng trong nhiều trường hợp khó quan sát thấy sự thông thương này.

    Hình ảnh cho thấy chuỗi xung T2W của bệnh nhân nam 71 tuổi có tiền sử sụt cân và các triệu chứng đau bụng trên không đặc hiệu.
    Ban đầu được nghĩ đến là IPMN nhánh ống, nhưng kết quả hóa ra là SCN.

    Lưu ý vùng giảm tín hiệu trung tâm.
    Đây là mô sẹo trong SCN.
    Cũng lưu ý bề mặt thùy múi đặc trưng.


    Serous Cystic Neoplasm. Courtesy Koenraad Mortel, Dept Radiology, Brigham and Women's hospital, Boston

    U nang tuyến thanh dịch. Hình ảnh cung cấp bởi Koenraad Mortel, Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Brigham and Women’s, Boston

    Đây là một ví dụ khác về u nang tuyến thanh dịch.
    Lưu ý ngấm thuốc ở trung tâm.
    Đôi khi việc phân biệt với u thần kinh nội tiết dạng nang tăng sinh mạch có thể khó khăn, nhưng trong trường hợp này vôi hóa trung tâm là dấu hiệu gợi ý hữu ích.


    U nang tuyến thanh dịch. Cuộn qua các hình ảnh.

    Cuộn qua các hình ảnh.
    Ở đuôi tụy có tổn thương dạng nang với sẹo trung tâm kèm vôi hóa (mũi tên).
    Mặc dù một số nang có kích thước lớn hơn 2 cm, hình ảnh này vẫn điển hình cho u nang tuyến thanh dịch, do có sẹo trung tâm, hình ảnh đa thùy và bờ viền thùy múi.

    Bệnh nhân này có các triệu chứng đau bụng được quy cho khối u, khối u đã được phẫu thuật cắt bỏ và kết quả giải phẫu bệnh xác nhận là u nang tuyến thanh dịch.


    Serous cystic neoplasm.

    U nang tuyến thanh dịch.

    Đây là bệnh phẩm sau phẫu thuật cắt bỏ.

    Khối u dính vào lách, do đó lách cũng phải được cắt bỏ cùng.


    Serous cystic neoplasm

    U nang tuyến thanh dịch

    Đây là một ví dụ điển hình khác về u nang tuyến thanh dịch (hình).
    Có tổn thương vi nang với sẹo trung tâm ở đầu tụy.
    Bệnh nhân tự sờ thấy khối ở bụng.
    Ngoài ra không có triệu chứng nào khác.
    Do phẫu thuật cắt bỏ đòi hỏi can thiệp ngoại khoa lớn, quyết định được đưa ra là theo dõi tổn thương.
    Trong 5 năm theo dõi, tổn thương không tăng kích thước và bệnh nhân không có triệu chứng gì thêm.

    U Nang Nhầy Tụy (Mucinous Cystic Neoplasm)

    Đặc điểm chính:

    • U tiền ác tính – có thể chuyển dạng thành ung thư biểu mô tuyến nang nhầy (mucinous cystadenocarcinoma)
    • Gặp độc quyền ở phụ nữ– Điển hình ở độ tuổi trung niên – tuổi trung vị: 40-50 tuổi
    • Dạng nang lớn (macrocystic) với các vách ngăn thành dày.
    • Vôi hóa ngoại vi gặp trong 25% trường hợp. Đây là dấu hiệu cho phép đưa rachẩn đoán đặc hiệu.
    • Vị trí ở đuôi và thân tụy (95%).
    • Hầu hết có triệu chứng, biểu hiện bằng đau bụng không đặc hiệu

    MCN in pancreatic tail in a 32 year-old female ('mother')

    MCN ở đuôi tụy trên bệnh nhân nữ 32 tuổi

    Hình ảnh CT của bệnh nhân nữ 32 tuổi với triệu chứng đau vùng thượng vị trái lan ra sau lưng.

    Ghi nhận một nang lớn ở đuôi tụy có vôi hóa ngoại vi.
    Có vách ngăn mờ nhạt như thấy trên hình bên trái và thành nang dày.

    Có thể cần phóng to hình ảnh để quan sát rõ vách ngăn.

    Có thể đưa ra chẩn đoán đặc hiệu là MCN.

    Hình ảnh CT của bệnh nhân nữ 46 tuổi với triệu chứng đau bụng phải mơ hồ.

    Các đặc điểm hình ảnh bao gồm:

    • Nang có vách ngăn kích thước 7 cm ở đầu tụy.
    • Vỏ nang nhẵn.
    • Không có thùy hóa (lobulation).
    • Không thông với ống tụy chính.

    MRI cho thấy nang có vách ngăn ở đầu tụy kích thước 7 cm với vỏ nang nhẵn, không có thùy hóa và không thông với ống tụy chính.

    Kết quả phẫu thuật xác nhận u nang tuyến nhầy độ thấp (low grade mucinous cystadenoma) có mô đệm buồng trứng (ovarian stroma).


    Mucinous cystadenoma.

    U nang tuyến nhầy (Mucinous cystadenoma).

    Hình ảnh CT của bệnh nhân nữ 30 tuổi có tiền sử viêm tụy do sỏi mật và đã cắt túi mật.
    Bệnh nhân xuất hiện đau bụng trái đột ngột tăng nặng.

    Siêu âm cho thấy tổn thương dạng nang tăng kích thước, được chẩn đoán là nang giả tụy (pseudocyst).

    Tuy nhiên, CT cho thấy tổn thương dạng nang không có thùy hóa ở đuôi tụy với các vách ngăn bên trong có ngấm thuốc, không thông với ống tụy chính (hình).

    Tiếp tục xem hình ảnh MRI…


    Mucinous cystadenoma.

    U nang tuyến nhầy (Mucinous cystadenoma).

    Chuỗi xung T1W sau tiêm thuốc tương phản từ Gadolinium thể hiện rõ hơn các vách ngăn bên trong.

    Phẫu thuật cắt đuôi tụy xác nhận u nang tuyến nhầy kích thước 14 cm có mô đệm buồng trứng (ovarian stroma).

    U Nhú Nhầy Trong Ống Tụy (IPMN)


    IPMN

    IPMN

    Đặc điểm chính:

    • U tiết nhầy xuất phát từ ống tụy chính hoặc ống nhánh.
    • Vị trí: đầu tụy >> đuôi tụy và thân tụy.
    • Bắt buộc phải có thông thương với ống tụy. Được đánh giá rõ nhất trên MRCP.
    • Có thể đa ổ.
    • IPMN thể ống chính có đặc điểm hình ảnh khác biệt so với thể ống nhánh.
    • Thể ống nhánh có thể có hình ảnh tương tự các u nang tụy khác.

    Tiêu bản đại thể của một IPMN cho thấy u nhầy với u nhú tiết nhầy lan rộng (mũi tên).


    IPMN thể ống chính

    IPMN thể ống chính

    Trên hình ảnh học, IPMN thể ống chính thường có đặc điểm khác biệt so với thể ống nhánh, tuy nhiên đôi khi có thể gặp thể hỗn hợp.

    Cuộn qua các hình ảnh của một IPMN thể ống chính và ống nhánh kích thước lớn.
    Có hình ảnh tắc nghẽn ống mật chủ kèm giãn các ống mật trong gan (mũi tên xanh).
    Lưu ý ống tụy chính giãn rất rộng (mũi tên đỏ).


    Main duct IPMN

    IPMN thể ống chính

    Chuỗi xung T2W thông thường và T2W xóa mỡ (fatsat) của một IPMN thể ống chính kích thước lớn với ống tụy giãn cực độ.


    Main-duct and branch-duct IPMN

    IPMN thể ống chính và ống nhánh

    Bệnh nhân này nhập viện vì viêm tụy.
    MRCP cho thấy cả IPMN thể ống chính lẫn thể ống nhánh (mũi tên).
    IPMN là tổn thương có tiềm năng ác tính.

    Các dấu hiệu ác tính bao gồm:

    • Ống tụy > 8 mm – như trong trường hợp này.
    • Nốt đặc trong lòng ống.
    • Khối xung quanh ống tụy.
    • Giãn ống mật chủ.

    Main duct IPMN with malignant transformation

    IPMN thể ống chính với biến đổi ác tính

    Hình ảnh CT của một IPMN với ống tụy giãn (mũi tên xanh).
    Lưu ý nốt đặc có ngấm thuốc tại đầu tụy (mũi tên đỏ).
    Tiếp tục xem hình ảnh siêu âm.


    Main duct and branch-duct IPMN

    IPMN thể ống chính và ống nhánh

    Hình ảnh siêu âm cho thấy thành phần ống nhánh kích thước lớn nằm trong đầu tụy.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    IPMN thể ống nhánh

    Hình ảnh CT cho thấy một tổn thương giảm tỷ trọng tại đầu tụy.
    Tổn thương này có thể là ung thư biểu mô tuyến, tuy nhiên tỷ trọng thấp gợi ý đến u nang tụy.
    Hình ảnh vi nang gợi khả năng u nang thanh dịch, mặc dù không có sẹo vôi hóa trung tâm.
    Trên MRCP, bản chất nang được đánh giá rõ hơn và có hình ảnh thông thương với ống tụy giãn rộng (mũi tên xanh).


    Branch-duct IPMN.

    IPMN thể ống nhánh.

    Hình ảnh chi tiết minh họa rõ ràng một số nhánh chứa đầy nhầy được cắt theo mặt phẳng ngang và một số theo mặt phẳng dọc.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    Ở một nam giới 73 tuổi, phát hiện tổn thương giảm âm tại thân tụy, có hình ảnh tương tự tổn thương dạng nang.
    CT cũng xác định được tổn thương nhưng không cung cấp thêm nhiều thông tin hữu ích.

    Tiếp tục xem hình ảnh MRI.


    Figure 39. Branch-duct IPMN

    Hình 39. IPMN thể ống nhánh

    Chuỗi xung T2W xóa mỡ nặng thể hiện rõ tổn thương đa nang với đường thông thương vào ống tụy.

    Trường hợp này được chẩn đoán là IPMN thể ống nhánh.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    Hình ảnh CT của một bệnh nhân IPMN thể ống nhánh từ chối phẫu thuật.

    Theo thời gian, u phát triển to hơn kèm giãn ống tụy chính, gợi ý biến đổi ác tính.

    Đôi khi phải mất 5-8 năm mới quan sát thấy sự biến đổi này.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    Một trường hợp IPMN thể ống nhánh khác phát hiện qua tầm soát với hai nốt (vòng tròn và mũi tên).

    Chuỗi xung T1W xóa mỡ trước (hình bên trái) và sau tiêm thuốc tương phản từ (hình bên phải).

    Siêu âm nội soi (EUS) có thuốc tương phản từ cho thấy 2 ổ không ngấm thuốc, nhiều khả năng là nút nhầy.

    Sau 6 năm theo dõi, nang không thay đổi.


    Branch-duct IPMN

    IPMN thể ống nhánh

    Nam giới 75 tuổi với IPMN ống nhánh kích thước 2,7 cm tại đầu tụy (vòng tròn).

    Trong quá trình theo dõi một năm sau, phát hiện giãn ống tụy chính.
    Siêu âm nội soi (EUS) cho thấy ung thư biểu mô tuyến còn khả năng phẫu thuật cắt bỏ.

    Các Khối U Hiếm Gặp với Đặc Điểm Hình Ảnh Đặc Trưng


    Figure 43. Solid pseudopapillary neoplasm with livermetastasis

    Hình 43. U giả nhú đặc với di căn gan

    U Giả Nhú Đặc

    Đặc điểm chính:

    • Khối u rất hiếm gặp, thường xuất hiện ở phụ nữ độ tuổi 20-30 (thiếu nữ).
    • Khối u vừa đặc vừa nang, có vỏ bao và ngấm thuốc sớm kiểu ‘u máu’ (hemangioma-like).
    • Đôi khi có xuất huyết trong khối u

    Hình ảnh CT của một phụ nữ 26 tuổi với khối lớn ở đầu tụy và di căn gan.
    Ở trung tâm khối có vùng không ngấm thuốc do thoái hóa nang hoặc hoại tử.

    Khối u đặc có thành phần nang ở bệnh nhân nữ 16 tuổi, được chẩn đoán là u giả nhú đặc.


    Neuroendocrine tumor with cystic degeneration

    U thần kinh nội tiết với thoái hóa nang

    U Thần Kinh Nội Tiết với Thoái Hóa Nang

    Đặc điểm chính:

    • U nội tiết không chức năng
    • Còn được gọi là u tế bào đảo tụy
    • Tăng sinh mạch với ngấm thuốc dạng vòng nhẫn. Điều này khác với u nang thanh dịch, vốn ngấm thuốc từ trung tâm ra ngoài và có thành phần đặc hơn

    Hình ảnh CT của một phụ nữ 61 tuổi với triệu chứng sụt cân.
    Có một khối lớn ở thân tụy với tăng sinh mạch, khác với ung thư biểu mô tuyến, kèm theo một số vùng nang hoặc hoại tử.


    Neuroendocrine tumor with central necrosis

    U thần kinh nội tiết với hoại tử trung tâm

    Hình ảnh CT của u thần kinh nội tiết với hoại tử trung tâm.
    Đôi khi hình ảnh này có thể bắt chước thành phần nang.
    Lưu ý vùng ngấm thuốc ngoại vi.

    Báo cáo và Xử trí

    Bảng dưới đây trình bày danh mục kiểm tra các nội dung cần đề cập trong báo cáo, cùng với các chỉ định tương đối và tuyệt đối cho phẫu thuật cắt bỏ theo hướng dẫn dựa trên bằng chứng của châu Âu về u nang tuyến tụy (2).

    Tiếp tục với các hướng dẫn xử trí.

    Tần suất theo dõi bằng chẩn đoán hình ảnh phụ thuộc vào sự hiện diện của các chỉ định và khả năng chịu đựng phẫu thuật của bệnh nhân, như được trình bày trong bảng.

    Mặc dù các hướng dẫn xử trí này áp dụng cho IPMN, trong thực hành lâm sàng chúng tôi cũng sử dụng các tiêu chí này cho các nang tụy không rõ nguồn gốc và các u nang tuyến nhầy nghi ngờ. Tuy nhiên, đối với U Nang Tuyến Nhầy nghi ngờ, kích thước nang ≥ 4 cm là tiêu chí tuyệt đối để cắt bỏ, trong khi đối với IPMN đây chỉ là chỉ định tương đối.

    Quy trình chụp ảnh

    MRI lần đầu nên được thực hiện theo quy trình chụp tụy chuyên biệt (bảng).
    Quy trình theo dõi khả thi cho các tổn thương < 3 cm có thể bao gồm các chuỗi xung T2 single shot theo mặt phẳng coronal và axial, cùng chuỗi xung T1W trước tiêm thuốc tương phản từ và không cần chụp sau tiêm.
    Có thể bổ sung thêm chuỗi xung khuếch tán (DWI) để giảm thiểu nguy cơ bỏ sót ung thư tụy đồng thời.

    Chúng tôi lựa chọn theo dõi các nang nhỏ hơn 3 cm mà không tiêm gadolinium tĩnh mạch, với các chuỗi xung còn lại giữ nguyên. Nếu phát hiện một nốt mới có thể có, chúng tôi sẽ yêu cầu bệnh nhân quay lại và thực hiện lại MRI có tiêm thuốc tương phản từ gadolinium tĩnh mạch để đánh giá sự ngấm thuốc.

  • Hạch lympho cổ

    Bản Đồ Hạch Bạch Huyết Trung Thất

    Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Đây là bản cập nhật của bài viết năm 2007, trong đó sử dụng phân loại hạch bạch huyết theo vùng của Mountain-Dresler để phân giai đoạn ung thư phổi (bản đồ MD-ATS)(1).
    Năm 2009, Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu Ung thư Phổi (IASLC) đã đề xuất một bản đồ hạch bạch huyết mới trong ung thư phổi nhằm dung hòa sự khác biệt giữa bản đồ Naruke và bản đồ MD-ATS, đồng thời làm rõ hơn các định nghĩa về ranh giới giải phẫu của từng trạm hạch bạch huyết (2).
    Trong bài viết này, chúng tôi cung cấp các hình minh họa và hình ảnh CT để giúp hiểu rõ hơn về bản đồ hạch bạch huyết theo IASLC.

    Bản đồ hạch bạch huyết IASLC 2009


    Phân loại hạch bạch huyết vùng trong phân giai đoạn ung thư phổi, được điều chỉnh từ sơ đồ phân vùng của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ

    Phân loại hạch bạch huyết vùng trong phân giai đoạn ung thư phổi, được điều chỉnh từ sơ đồ phân vùng của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ

    Hạch thượng đòn
    1.Hạch cổ thấp, thượng đòn và hõm ức
    Từ bờ dưới sụn nhẫn đến xương đòn và bờ trên cán ức.
    Đường giữa khí quản là ranh giới phân chia giữa nhóm 1R và 1L.

    Hạch trung thất trên nhóm 2-4
    2R.Cạnh khí quản trên (phải)
    Hạch nhóm 2R trải dài đến bờ bên trái của khí quản.
    Từ bờ trên cán ức đến điểm giao nhau giữa bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản.
    2L.Cạnh khí quản trên (trái)
    Từ bờ trên cán ức đến bờ trên quai động mạch chủ.
    Hạch nhóm 2L nằm ở phía trái so với bờ bên trái của khí quản.
    3A.Trước mạch máu
    Các hạch này không tiếp giáp với khí quản như các hạch ở trạm 2, mà nằm ở phía trước các mạch máu.
    3P.Trước cột sống
    Các hạch không tiếp giáp với khí quản như các hạch ở trạm 2, mà nằm sau thực quản, tức là ở vị trí trước cột sống.
    4R.Cạnh khí quản dưới (phải)
    Từ điểm giao nhau giữa bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản đến bờ dưới tĩnh mạch đơn.
    Hạch nhóm 4R trải dài từ bờ bên phải đến bờ bên trái của khí quản.
    4L.Cạnh khí quản dưới (trái)
    Từ bờ trên quai động mạch chủ đến bờ trên động mạch phổi chính trái.

    Hạch cạnh động mạch chủ nhóm 5-6
    5. Dưới động mạch chủ
    Các hạch này nằm trong cửa sổ phế động mạch (AP window), ở phía ngoài dây chằng động mạch.
    Các hạch này không nằm giữa động mạch chủ và thân động mạch phổi mà nằm ở phía ngoài các mạch máu này.
    6. Cạnh động mạch chủ
    Đây là các hạch cạnh động mạch chủ lên hoặc hạch cơ hoành, nằm ở phía trước và bên của động mạch chủ lên và quai động mạch chủ.

    Hạch trung thất dưới nhóm 7-9
    7.Dưới carina
    8. Cạnh thực quản
    Các hạch nằm dưới carina.
    9. Dây chằng phổi
    Các hạch nằm trong dây chằng phổi.

    Hạch rốn phổi, thùy phổi và (phân) phân thùy nhóm 10-14
    Tất cả các hạch này đều thuộc nhóm N1.
    10. Hạch rốn phổi
    Bao gồm các hạch tiếp giáp với phế quản gốc và các mạch máu rốn phổi.
    Bên phải, trải dài từ bờ dưới tĩnh mạch đơn đến vùng gian thùy.
    Bên trái, từ bờ trên động mạch phổi đến vùng gian thùy.


    Giải phẫu CT cắt ngang

    Nhấp vào ảnh để phóng to.
    Sau đó cuộn qua các ảnh CT cắt ngang.

    Hình ảnh do Bác sĩ Aurelia Fairise thuộc Viện Ung thư Lorraine tại Nancy cung cấp.

    Các Vị Trí Hạch Bạch Huyết Cụ Thể


    1. Supraclavicular zone nodes

    1. Hạch vùng thượng đòn

    1. Hạch vùng thượng đòn
    Bao gồm các hạch cổ thấp, thượng đòn và hạch khuyết ức.
    Ranh giới trên: bờ dưới sụn nhẫn.
    Ranh giới dưới: xương đòn và bờ trên cán ức.

    Đường giữa khí quản là ranh giới phân chia giữa nhóm 1R và 1L.

    2R. Hạch cạnh khí quản trên bên phải
    Hạch nhóm 2R trải dài đến bờ bên trái của khí quản.
    Ranh giới trên: bờ trên cán ức.
    Ranh giới dưới: giao điểm của bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản.

    2L. Hạch cạnh khí quản trên bên trái
    Ranh giới trên: bờ trên cán ức.
    Ranh giới dưới: bờ trên quai động mạch chủ.

    Bên trái là hạch nhóm 2 nằm trước khí quản, tức là hạch 2R.
    Ngoài ra còn có một hạch mạch máu trước nhỏ, tức là hạch nhóm 3A.


    3A and 3P nodes

    Hạch nhóm 3A và 3P

    3. Hạch trước mạch máu và trước cột sống
    Hạch nhóm 3 không nằm kề khí quản như hạch nhóm 2.
    Chúng có thể là:
    3A nằm trước các mạch máu, hoặc
    3B nằm sau thực quản, tức là vị trí trước cột sống.

    Hạch nhóm 3 không thể tiếp cận bằng nội soi trung thất.
    Hạch nhóm 3P có thể tiếp cận bằng siêu âm nội soi (EUS).

    Bên trái là hạch 3A nằm trong khoang trước mạch máu.
    Lưu ý cũng có các hạch cạnh khí quản dưới bên phải, tức là hạch nhóm 4R.


    4R. Lower Paratracheal nodes

    4R. Hạch cạnh khí quản dưới bên phải

    4R. Hạch cạnh khí quản dưới bên phải
    Ranh giới trên: giao điểm của bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản.
    Ranh giới dưới: bờ dưới tĩnh mạch đơn.
    Hạch nhóm 4R trải dài đến bờ bên trái của khí quản.

    Bên trái là hình ảnh các hạch cạnh khí quản nhóm 4R.
    Ngoài ra còn có một hạch động mạch chủ nằm bên ngoài quai động mạch chủ, tức là hạch nhóm 6.


    4L. Lower paratracheal nodes

    4L. Hạch cạnh khí quản dưới bên trái

    4L. Hạch cạnh khí quản dưới bên trái
    Hạch nhóm 4L là các hạch cạnh khí quản dưới nằm ở phía trái của bờ trái khí quản, giữa đường nằm ngang tiếp tuyến với bờ trên quai động mạch chủ và đường tiếp tuyến với bờ trên động mạch phổi trái.

    Bao gồm các hạch cạnh khí quản nằm ở phía trong (trung gian) so với dây chằng động mạch.
    Hạch nhóm 5 (cửa sổ phế động mạch) nằm ở phía ngoài (bên) so với dây chằng động mạch.

    Bên trái là hình ảnh ngay trên mức thân động mạch phổi, cho thấy các hạch cạnh khí quản dưới bên trái và bên phải.
    Ngoài ra còn có các hạch nhóm 3 và nhóm 5.

    Bên trái là hình ảnh ở mức khí quản dưới, ngay trên carina.
    Bên trái khí quản là các hạch 4L.
    Lưu ý rằng các hạch 4L này nằm giữa thân động mạch phổi và động mạch chủ, nhưng không nằm trong cửa sổ phế động mạch, vì chúng nằm ở phía trong so với dây chằng động mạch.
    Hạch nằm bên ngoài thân động mạch phổi là hạch nhóm 5.

    5. Hạch dưới động mạch chủ
    Hạch dưới động mạch chủ hay hạch cửa sổ phế động mạch nằm ở phía ngoài dây chằng động mạch hoặc động mạch chủ hoặc động mạch phổi trái, gần với nhánh đầu tiên của động mạch phổi trái và nằm trong bao màng phổi trung thất.

    6. Hạch cạnh động mạch chủ
    Hạch cạnh động mạch chủ (động mạch chủ lên hoặc cơ hoành) nằm ở phía trước và bên ngoài động mạch chủ lên và quai động mạch chủ, từ bờ trên đến bờ dưới của quai động mạch chủ.

    7. Hạch dưới carina
    Các hạch này nằm ở phía dưới carina khí quản, nhưng không liên quan đến phế quản thùy dưới hoặc các động mạch trong phổi.
    Bên phải, chúng trải dài xuống đến bờ dưới phế quản trung gian.
    Bên trái, chúng trải dài xuống đến bờ trên phế quản thùy dưới.

    Bên trái là hạch dưới carina nhóm 7 nằm bên phải thực quản.


    .

    .

    8. Hạch cạnh thực quản
    Các hạch này nằm dưới các hạch carina và trải dài xuống đến cơ hoành.

    Bên trái là hình ảnh dưới mức carina.
    Bên phải thực quản là một hạch nhóm 8.

    Bên trái là hình ảnh PET cho thấy sự hấp thu FDG tại hạch nhóm 8.
    Trên hình CT tương ứng, hạch không to (mũi tên xanh).
    Khả năng đây là hạch di căn là cực kỳ cao, vì độ đặc hiệu của PET trên các hạch không to cao hơn so với các hạch to.

    9. Hạch dây chằng phổi
    Hạch dây chằng phổi nằm trong dây chằng phổi, bao gồm các hạch ở thành sau và phần dưới của tĩnh mạch phổi dưới.
    Dây chằng phổi là phần kéo dài xuống dưới của các nếp gấp màng phổi trung thất bao quanh rốn phổi.

    10. Hạch rốn phổi
    Hạch rốn phổi là các hạch thùy gần, nằm xa so với nếp gấp màng phổi trung thất và các hạch kề phế quản trung gian bên phải.
    Các hạch từ nhóm 10 đến 14 đều là hạch N1, vì chúng không nằm trong trung thất.

    CT Axial Hạch Bạch Huyết


    Cuộn qua các hình ảnh ở bên trái.

    1. Các hạch bạch huyết vùng khuyết ức có thể quan sát thấy ở mức này và phía trên mức này
    2. Cạnh khí quản trên: nằm dưới xương đòn, bên phải nằm trên giao điểm của bờ dưới tĩnh mạch vô danh (tĩnh mạch tay đầu trái) với khí quản, bên trái nằm trên cung động mạch chủ.
    3. Trước mạch máu và sau khí quản: nằm trước các mạch máu (3A) hoặc trước cột sống (3P)
    4. Cạnh khí quản dưới: nằm dưới bờ trên của cung động mạch chủ đến ngang mức phế quản gốc
    5. Dưới động mạch chủ (cửa sổ A-P): các hạch bạch huyết nằm bên ngoài dây chằng động mạch hoặc bên ngoài động mạch chủ hay động mạch phổi trái
    6. Cạnh động mạch chủ: các hạch bạch huyết nằm ở mặt trước và bên của động mạch chủ lên và cung động mạch chủ, phía dưới bờ trên của cung động mạch chủ
    7. Dưới carina
    8. Cạnh thực quản (dưới carina)
    9. Dây chằng phổi: các hạch bạch huyết nằm trong dây chằng phổi.
    10. -14: tất cả các hạch bạch huyết thuộc nhóm N1

    Nội soi Trung thất và Siêu âm Nội soi (EUS)

    Nội soi trung thất qua cổ thông thường

    Các nhóm hạch bạch huyết sau đây có thể được sinh thiết qua nội soi trung thất cổ: hạch cạnh khí quản trên bên trái và bên phải (nhóm 2L và 2R), hạch cạnh khí quản dưới bên trái và bên phải (nhóm 4L và 4R) và hạch dưới carina (nhóm 7).
    Hạch nhóm 1 nằm phía trên khuyết ức và thường không được tiếp cận thường quy qua nội soi trung thất cổ.

    Nội soi trung thất mở rộng

    Các khối u thùy trên phổi trái có thể di căn đến hạch bạch huyết dưới động mạch chủ (nhóm 5) và hạch cạnh động mạch chủ (nhóm 6).
    Các hạch này không thể được sinh thiết qua nội soi trung thất cổ thông thường.
    Nội soi trung thất mở rộng là một phương pháp thay thế cho phẫu thuật mở trung thất qua khoang liên sườn 2 phía trước, vốn được sử dụng phổ biến hơn để thăm dò các nhóm hạch trung thất.
    Thủ thuật này khó thực hiện hơn nhiều và do đó ít được áp dụng thường quy hơn so với nội soi trung thất thông thường.

    EUS-FNA

    Siêu âm nội soi kết hợp chọc hút bằng kim nhỏ (EUS-FNA) có thể được thực hiện đối với tất cả các hạch bạch huyết trung thất có thể tiếp cận qua thực quản.
    Ngoài ra, tuyến thượng thận trái và thùy gan trái cũng có thể được quan sát.
    EUS đặc biệt hữu ích trong việc tiếp cận các hạch ở trung thất dưới (nhóm 7, 8 và 9)