Blog

  • Thiết bị tim mạch

    Các thiết bị tim mạch

    trên X-Quang Ngực

    Frederieke Elsinger, Robin Smithuis và Anje Spijkerboer

    Bệnh viện Đa khoa Vancouver tại Canada, Bệnh viện Alrijne tại Leiden và Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Số lượng các thiết bị tim mạch được cấy ghép đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây.
    Cùng với sự ra đời của máy khử rung tim cấy ghép và liệu pháp tái đồng bộ tim, các thiết bị ngày càng trở nên phức tạp hơn.
    Bên cạnh đó, các thủ thuật xâm lấn tối thiểu để thay thế van tim cũng ngày càng gia tăng.

    Bài viết trình bày tổng quan về các thiết bị và thủ thuật tim mạch thường gặp.

    Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quan trọng trong đánh giá ban đầu và theo dõi các thiết bị này.

    Máy tạo nhịp tim

    Có hai loại thiết bị dẫn truyền tim (CCD):

    • Máy tạo nhịp tim: tạo nhịp cho tim trong các giai đoạn nhịp chậm.
    • Máy khử rung tim cấy ghép (ICD): có khả năng khử rung tim nhằm ngăn ngừa ngừng tim đột ngột.

    Máy tạo nhịp tim có thể có các điện cực tạo nhịp tại:

    1. Nhĩ phải – đầu điện cực nằm ở tiểu nhĩ phải.
    2. Thất phải – đầu điện cực nằm ở mỏm tim.
    3. Thất trái – điện cực đi qua xoang vành và tận cùng ở tĩnh mạch tim sau, được sử dụng trong liệu pháp tái đồng bộ tim ở bệnh nhân có blốc nhánh.
    4. Thượng tâm mạc – đặt trên thất, chủ yếu sử dụng trong phẫu thuật tim.

    Các hình ảnh cho thấy máy tạo nhịp tim với điện cực nhĩ và điện cực thất.

    Đầu điện cực nhĩ hướng lên trên và ra trước, vì vị trí lý tưởng là trong tiểu nhĩ phải, nơi điện cực được neo chặt vào các bè cơ thô.

    Đầu điện cực thất được đặt tại mỏm thất phải, vị trí này nằm ở bên trái cột sống trên phim X-quang ngực thẳng và ở phía trước trên phim chụp nghiêng.

    Đây là ví dụ về một ICD với các điện cực đặt tại tiểu nhĩ phải, mỏm thất phải và một điện cực đến thất trái qua tĩnh mạch vành sau.

    Có thể nhận biết hai cuộn sốc điện của ICD dưới dạng các dải trắng dày hơn dọc theo đường đi của điện cực.

    Liệu pháp Tái đồng bộ Tim

    Liệu pháp tái đồng bộ tim bằng máy tạo nhịp hai thất được thực hiện nhằm đồng bộ hóa sự co bóp của thất phải và thất trái ở bệnh nhân suy tim tâm thu nặng kèm blốc nhánh trái hoặc phải, hoặc các rối loạn dẫn truyền trong thất khác.

    Đây là hình ảnh máy tạo nhịp hai thất với ba điện cực.

    Điện cực tạo nhịp nhĩ phải nằm ở tiểu nhĩ phải.
    Điện cực này đi xuống dưới vào nhĩ phải trước, sau đó vòng lên trên và ra trước, nơi nó được neo chặt vào các bè cơ của tiểu nhĩ.

    Điện cực thất trái đi qua nhĩ phải và xoang vành, cuối cùng được đặt ở phía sau vào một tĩnh mạch tim bên trái.

    Điện cực tạo nhịp thượng tâm mạc

    Điện cực thượng tâm mạc thường được đặt trong quá trình phẫu thuật tim nhằm cho phép tạo nhịp tim sau phẫu thuật.

    Một số trung tâm đặt điện cực này cho tất cả bệnh nhân phẫu thuật tim, trong khi các trung tâm khác chỉ đặt cho những bệnh nhân có rối loạn nhịp tim trong lúc phẫu thuật.

    Sau vài ngày, điện cực có thể được rút ra bằng cách kéo đơn giản.
    Đôi khi điện cực được để lại tại chỗ.

    Các điện cực thượng tâm mạc lưu lại dường như không gây nguy hiểm cho bệnh nhân trong môi trường MRI.
    Tuy nhiên, kết luận này chủ yếu áp dụng cho các khảo sát MRI ngoài tim.

    Hãy quan sát kỹ các hình ảnh trước.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các phát hiện bao gồm:

    • Hai điện cực thượng tâm mạc kết nối với máy tạo nhịp
    • ICD
    • Hai điện cực đến mỏm thất phải
    • Một điện cực chứa hai cuộn sốc điện
    • Van ba lá (mũi tên)
    • Van hai lá

    Máy tạo nhịp tim có thể gặp các biến chứng sau:

    • Tràn khí màng phổi
    • Gãy điện cực
    • Lệch vị trí điện cực
    • Nhiễm trùng
    • Thủng tim
    • Hội chứng Twiddler

    Hình ảnh được chụp ngay sau khi đặt ICD.
    Có hình ảnh tràn khí màng phổi nhỏ (mũi tên).
    Đây là biến chứng thường gặp nhất.

    Vị trí điện cực bất thường

    Bệnh nhân này có tĩnh mạch chủ trên bên trái tồn tại dai dẳng (LVCS).

    Đây là một dị tật bẩm sinh hiếm gặp, có thể được phát hiện tại thời điểm đặt điện cực thiết bị tim.
    Tĩnh mạch chủ trên bên trái tồn tại thông với nhĩ phải qua xoang vành.

    Việc đặt điện cực thiết bị tim qua đường tĩnh mạch qua tĩnh mạch chủ trên bên trái tồn tại có thể gặp nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật và trong một số trường hợp không thể thực hiện được.

    Gãy điện cực

    Hình ảnh gãy rõ ràng của một trong các điện cực.

    Gãy điện cực kín đáo ở máy tạo nhịp tim hoạt động không bình thường.

    Đường gãy cực kỳ kín đáo (mũi tên).

    Điện cực lưu lại

    Đây là bệnh nhân có ICD với một điện cực và hai cuộn sốc điện.

    Có thể thấy điện cực lưu lại của máy tạo nhịp cũ đã được tháo bỏ.

    Nhiều bệnh nhân có điện cực máy tạo nhịp nội tâm mạc được để lại sau khi tháo bộ phát xung.
    Tính an toàn của MRI ở bệnh nhân có điện cực máy tạo nhịp nội tâm mạc lưu lại cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống.
    Tuy nhiên, do nguy cơ tiềm ẩn khi các điện cực này có thể hoạt động như “ăng-ten” gây nóng đáng kể – không khuyến cáo chụp MRI cho những bệnh nhân này (tài liệu tham khảo).

    Hội chứng Twiddler

    Hội chứng Twiddler là tình trạng máy tạo nhịp tim hoạt động không bình thường do bệnh nhân tự tác động vào thiết bị, dẫn đến lệch vị trí các điện cực.
    Hậu quả là máy tạo nhịp hoạt động sai chức năng hoặc đôi khi kích thích các cấu trúc khác như thần kinh hoành hoặc đám rối thần kinh cánh tay.

    Hình ảnh bên trái cho thấy bệnh nhân có ICD được đặt đúng vị trí.
    Vài tháng sau, thiết bị hoạt động không bình thường do hộp ICD và điện cực bị xoay (mũi tên vàng) và co rút lại (mũi tên trắng).

    Đây là một bệnh nhân khác mắc hội chứng Twiddler.
    Lưu ý hình ảnh điện cực bị cuộn xoắn gần máy tạo nhịp và tại đầu điện cực trong thất phải (mũi tên).


    Máy khử rung tim cấy ghép được

    Máy khử rung tim cấy ghép được (ICD) là thiết bị có khả năng nhận biết nhịp nhanh thất và rung thất, sau đó chấm dứt các rối loạn này bằng cách phóng một xung điện.
    ICD được cấy ghép cho các bệnh nhân mắc bệnh cơ tim và có phân suất tống máu thất trái thấp, do những bệnh nhân này có nguy cơ cao bị nhịp nhanh thất, rung thất và đột tử do tim.

    Bệnh nhân này có hệ thống ICD một cuộn sốc điện (hình).
    Các mũi tên chỉ vào cuộn sốc điện.

    Tiếp tục xem các hình ảnh tiếp theo.

    Bệnh nhân này có ba điện cực:

    1. Điện cực nhĩ phải
    2. Điện cực thất phải (có cuộn sốc điện)
    3. Điện cực thất trái đặt trong xoang vành và tĩnh mạch tim

    Đây là một bệnh nhân khác với ICD chỉ có một điện cực và một cuộn sốc điện.

    Đây là ICD với một điện cực và hai cuộn sốc điện.

    ICD dưới da

    S-ICD hay máy khử rung tim cấy ghép dưới da không được kết nối trực tiếp với tim hoặc các mạch máu.

    Một dây dẫn đặt trước xương ức được kết nối với máy ICD đặt ở bên sườn, với tim nằm giữa dây dẫn và hộp máy.

    Hệ thống này không có khả năng tạo nhịp tim.

    Máy ghi vòng lặp (Loop recorders)

    Máy ghi vòng lặp là các thiết bị theo dõi tim có thể cấy ghép, dùng để ghi lại liên tục nhịp tim ở những bệnh nhân có triệu chứng hồi hộp đánh trống ngực hoặc ngất không rõ nguyên nhân.
    Các thiết bị này được đặt dưới da.

    Những thiết bị này ngày càng được thu nhỏ hơn và không nên nhầm lẫn với ổ đĩa USB.

    Máy ghi vòng lặp có nhiều ứng dụng khác nhau, bao gồm theo dõi bệnh nhân có các cơn ngất không rõ nguyên nhân và đánh giá bệnh nhân mắc rung nhĩ, rối loạn nhịp thất hoặc rối loạn dẫn truyền.

    Các máy ghi này có thể cung cấp khả năng theo dõi hơn một năm, có thể được kích hoạt bởi bệnh nhân hoặc tự động kích hoạt.

    Một ví dụ khác về máy ghi vòng lặp.

    Thay thế và sửa chữa van tim

    Đây là hình minh họa các van tim trên mặt phẳng coronal.

    Các van tim được xác định rõ nhất trên phim X-quang tư thế nghiêng.

    Van động mạch chủ và van động mạch phổi nằm phía trên đường kẻ từ mỏm tim đến nền tim, trong khi van hai lá và van ba lá nằm phía dưới đường này.

    Hình ảnh thể hiện vị trí van tim bình thường trên phim X-quang ngực thẳng (PA) và nghiêng.

    Trên phim X-quang ngực tư thế nghiêng, van động mạch chủ và van động mạch phổi nằm phía trên đường kẻ từ nền tim đến mỏm tim, còn van ba lá và van hai lá nằm phía dưới đường này.

    Các loại van tim:

    • Van cơ học (van nhân tạo)
      Được chế tạo từ vật liệu tổng hợp.
      Bệnh nhân cần dùng thuốc chống đông máu.
    • Van sinh học (van sinh học nhân tạo)
      Được chế tạo từ van tim động vật. Không cần điều trị chống đông máu.

    Van cơ học

    Các hình ảnh minh họa một số ví dụ về van tim cơ học.

    Đây là các van cơ học được sản xuất nhân tạo.
    Tuổi thọ khoảng 20 năm.
    Bệnh nhân cần dùng thuốc chống đông máu, do đó việc sử dụng loại van này đang có xu hướng giảm dần.

    Van cơ học hai lá (bi-leaflet) St. Jude là loại được sử dụng phổ biến nhất và có vòng ngoại vi cản quang.

    Van sinh học nhân tạo

    Một số ví dụ về van tim sinh học nhân tạo.

    Hạn chế chính của van sinh học nhân tạo là độ bền hạn chế, khiến bệnh nhân đối mặt với nguy cơ phải can thiệp lại van tim.

    Tuổi thọ khoảng 10-15 năm nhưng không cần dùng thuốc chống đông máu.

    Thường được lựa chọn cho bệnh nhân cao tuổi, những người có chống chỉ định với thuốc chống đông máu hoặc cho các van tim có vận tốc dòng chảy vào thấp hơn (van hai lá và van ba lá).

    Van nhân tạo động mạch chủ
    ở vị trí đúng

    Van ba lá

    Hẹp van ba lá là hậu quả của bệnh tim do thấp và được điều trị bằng thay van.
    Hở van ba lá là hậu quả của giãn thất phải và được điều trị bằng tạo hình vòng van (annuloplasty).

    Bệnh nhân này đã được sửa chữa ba van:

    • Van hai lá
    • Van ba lá
    • Van động mạch chủ

    Có máy tạo nhịp tim với điện cực thượng tâm mạc.
    Phương án này được lựa chọn vì người ta cho rằng điện cực đặt theo đường thông thường vào thất phải sẽ ảnh hưởng quá nhiều đến chức năng của van ba lá nhân tạo.

    Mũi tên trắng chỉ vào van động mạch chủ.

    Mũi tên vàng chỉ vào van hai lá.

    TAVR

    TAVR là thay van động mạch chủ qua đường ống thông (transcatheter aortic valve repair).
    Van động mạch chủ bị hẹp được sửa chữa bằng cách đặt van nhân tạo vào bên trong van bệnh lý.

    TAVR dành cho những bệnh nhân có nguy cơ cao khi thực hiện phẫu thuật mở.

    Tỷ lệ thành công của thủ thuật là 90%.
    TAVR có liên quan đến tỷ lệ cao hơn về tổn thương mạch máu, hở cạnh van và nhu cầu đặt máy tạo nhịp tim vĩnh viễn.

    Van động mạch phổi

    Van Melody là van động mạch phổi qua đường ống thông (transcatheter pulmonary valve – TPV).

    Đây là tĩnh mạch cảnh bò được khâu vào trong một stent bạch kim-iridi.
    Van Melody được đưa vào qua đường ống thông qua da.

    Stent Melody này có nhiều vị trí gãy (mũi tên vàng)

    MitraClip

    Ở những bệnh nhân hở van hai lá nặng và không phải là ứng viên cho phẫu thuật tim hở, sửa chữa van hai lá qua đường ống thông, được gọi là MitraClip, là một phương pháp điều trị phù hợp.

    Trung tâm của các lá van hai lá được khép lại bằng MitraClip nhằm giảm thiểu tình trạng hở van, đồng thời vẫn để lại đủ khoảng trống cho dòng máu đi từ tâm nhĩ trái sang tâm thất trái (hình minh họa).

    Đây là bệnh nhân có ba van khác nhau: van động mạch chủ, van hai lá và van ba lá.

    Thay van động mạch chủ.

    Bệnh nhân này được thay van hai lá Medtronic Hancock và tạo hình vòng van ba lá (annuloplasty).

    Thiết bị bít lỗ thông

    Thông liên nhĩ

    Thiết bị bít lỗ thông được sử dụng ở những bệnh nhân có thông liên nhĩ (ASD) kèm theo các dấu hiệu quá tải thất phải, có thể dẫn đến suy tim và rung nhĩ.

    Các thiết bị bít lỗ thông thường có khả năng tự điều chỉnh và nằm áp sát vào vách liên nhĩ hoặc liên thất.
    Thiết kế phẳng này giúp tạo ra một cấu hình tự nhiên.

    Hình ảnh chiếu bên của một trẻ em bị thông liên nhĩ với thiết bị bít lỗ thông Amplatz.

    Hình ảnh chiếu bên của một trẻ em bị thông liên nhĩ với thiết bị bít lỗ thông dạng ô Rashkind.

    Hình ảnh của một bệnh nhân bị thông liên nhĩ với thiết bị bít lỗ thông Amplatz.

    Đây là bệnh nhân có lỗ thông lớn hơn, được bít bằng hai thiết bị.

    Tiếp tục xem các hình ảnh CT.

    Hình ảnh CT cắt ngang và tái tạo mặt phẳng coronal của cùng một bệnh nhân.

    Bệnh nhân này có ba thiết bị bít lỗ thông.

    Di lệch thiết bị bít lỗ thông.

    CT cho thấy thiết bị Amplatz bị di lệch vào quai động mạch chủ.

    Hãy quan sát hình ảnh trước.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Đây là nút bít tim Amplatz (Amplatz cardiac plug) dùng để bít tiểu nhĩ trái.
    Đây là một phương pháp thay thế cho liệu pháp kháng đông đường uống nhằm phòng ngừa đột quỵ do huyết khối tắc mạch ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim.

    Watchman

    Một thiết bị bít tiểu nhĩ trái thường được sử dụng là thiết bị cấy ghép Watchman.

    Đây là biện pháp dự phòng đột quỵ do huyết khối hình thành trong tim ở bệnh nhân rung nhĩ có chống chỉ định với thuốc kháng đông.

    Còn ống động mạch

    Còn ống động mạch (PDA) là sự thông thương dai dẳng giữa động mạch chủ ngực xuống và động mạch phổi, xảy ra do ống động mạch thai nhi không đóng lại theo cơ chế sinh lý bình thường.
    Trong 60 giờ đầu sau sinh, ống động mạch tự đóng ở 55% trẻ sơ sinh đủ tháng.
    Đến 2-6 tháng tuổi, ống động mạch đóng ở hơn 95% trẻ khỏe mạnh.

    PDA lớn ở trẻ lớn và người lớn có thể dẫn đến tăng áp động mạch phổi và suy tim mạn tính do luồng thông trái-phải.

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân còn ống động mạch.
    Ống động mạch được bít bằng thiết bị nút Amplatz.

    Bít tĩnh mạch Scimitar

    Hội chứng Scimitar được đặc trưng bởi tình trạng hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường một phần, trong đó tĩnh mạch phổi phải bất thường đổ vào tĩnh mạch chủ dưới.
    Chỉ định can thiệp được đặt ra ở người lớn có dấu hiệu quá tải thể tích phổi hoặc giãn tim phải.

    Hình ảnh:
    Tĩnh mạch Scimitar trước và sau khi bít.

    Stent Mạch Máu

    Hẹp Eo Động Mạch Chủ

    Liệu pháp đặt stent nội mạch được xem là lựa chọn điều trị hàng đầu cho hầu hết người lớn và thanh thiếu niên mắc hẹp eo động mạch chủ (tài liệu tham khảo).

    Hình ảnh: stent nội mạch ở vị trí tốt.

    Tiếp tục…

    Hình ảnh MRA của cùng bệnh nhân trước khi đặt stent.

    Hình ảnh CTA sau khi đặt stent.

    Hình ảnh: stent bị di lệch.

    ..

    TEVAR

    Sửa chữa động mạch chủ ngực qua nội mạch (TEVAR) là thủ thuật đặt stent có màng bọc vào động mạch chủ ở những bệnh nhân có phình động mạch chủ ngực có triệu chứng.

    Stent ghép được đưa vào ở trạng thái thu gọn thông qua một ống thông, thường được đưa vào qua động mạch đùi và định vị dưới hướng dẫn của X-quang.
    Stent ghép sau đó được nở ra để bắc qua và che phủ vị trí tổn thương động mạch chủ (tài liệu tham khảo).

    Stent Động Mạch Vành

    Hình X-quang cho thấy một stent chiếu lên thành thất trước, nơi có vị trí của động mạch liên thất trước (LAD).

    Hãy quan sát hình ảnh trước.
    Sau đó tiếp tục đọc.
    Các stent được đặt ở vị trí nào?

    Các stent động mạch vành được đặt tại động mạch vành phải (mũi tên vàng) và động mạch liên thất trước (mũi tên trắng).

    Hãy quan sát hình ảnh trước.
    Sau đó tiếp tục đọc.
    Các stent được đặt ở vị trí nào?

    Các stent động mạch vành được đặt tại động mạch mũ trái (mũi tên vàng) và động mạch liên thất trước (mũi tên trắng).

    Thiết bị hỗ trợ thất trái

    Thiết bị hỗ trợ thất trái (LVAD) là một thiết bị được cấy ghép bằng phẫu thuật, có chức năng thay thế hoạt động bơm của tâm thất ở những bệnh nhân có phân suất tống máu suy giảm nghiêm trọng.
    Ban đầu, thiết bị này được cấy ghép như một biện pháp bắc cầu chờ ghép tim hoặc trong giai đoạn hồi phục cơ tim, nhưng hiện nay cũng được sử dụng cho những bệnh nhân không đủ điều kiện ghép tim.

    Hình ảnh dưới đây cho thấy một bệnh nhân được đặt LVAD.
    Ống cannula dòng vào được đưa vào mỏm tim và ống cannula dòng ra (không cản quang) được nối với động mạch chủ lên.
    Cũng cần lưu ý sự hiện diện của máy ICD ba điện cực với hai cuộn sốc điện và các clip ghép động mạch vú trong trái (LIMA) từ lần phẫu thuật trước.

    Impella

    Impella là một máy bơm tim tạm thời cỡ nhỏ, được gắn vào ống thông qua đường xuyên đùi (hoặc đường nách).
    Thiết bị này được chỉ định sử dụng ngắn hạn (từ 6 giờ đến dưới 14 ngày, tùy theo loại) trong quá trình can thiệp mạch vành qua da (PCI) nguy cơ cao hoặc ở bệnh nhân đang hồi phục sau sốc tim do nhồi máu cơ tim cấp (AMI).

    Đầu vào (inlet) của Impella được đặt trong tâm thất trái, nơi máu được hút vào và đưa đến đầu ra (outlet) nằm ở động mạch chủ lên.

    Hình ảnh X-quang ngực cho thấy vị trí đặt Impella đúng kỹ thuật với đầu vào (mũi tên vàng) và đầu ra (mũi tên trắng) lần lượt nằm ở tâm thất trái và động mạch chủ lên.

    Trong video này, bạn có thể xem cách thức hoạt động của Impella.

    Impella cũng có thể được sử dụng để giảm tải cho tâm thất phải.

    Các thiết bị hiện đang được lắp đặt bao gồm:

    • Ống thông tĩnh mạch trung tâm đặt tại tĩnh mạch cảnh trong bên phải.
    • Ống thông dạ dày (ống nuôi ăn) được đặt vào dạ dày.
    • Ống nội khí quản được đặt phía trên carina.
    • Máy tạo nhịp tim 3 điện cực với các điện cực đặt tại tâm thất phải (RV), nhĩ phải (RA) và tâm thất trái (LV).
    • Ống thông Swan-Ganz đặt trong động mạch phổi.
    • Thiết bị Impella bên phải đặt trong động mạch phổi, được sử dụng để giảm tải cho tâm thất phải trong bối cảnh suy tim phải.
    • Các điện cực điện tâm đồ (EKG) đã được gắn vào vị trí.

    Bóng đối xung trong động mạch chủ

    Bóng đối xung trong động mạch chủ (IABP) là một thiết bị cơ học giúp tăng cường tưới máu oxy cho cơ tim và gián tiếp làm tăng cung lượng tim thông qua cơ chế giảm hậu tải.
    Thiết bị bao gồm một bóng polyurethane hình trụ được đặt trong động mạch chủ, cách động mạch dưới đòn trái khoảng 2 cm.
    Bóng được bơm phồng và xẹp theo cơ chế đối xung, nghĩa là bóng chủ động xẹp trong thì tâm thu và phồng trong thì tâm trương.
    Sự xẹp bóng trong thì tâm thu làm giảm hậu tải thông qua hiệu ứng chân không, từ đó gián tiếp làm tăng lưu lượng máu xuôi chiều từ tim.
    Sự phồng bóng trong thì tâm trương làm tăng lưu lượng máu đến các động mạch vành thông qua dòng chảy ngược chiều.
    Sự kết hợp của các cơ chế này giúp giảm nhu cầu oxy của cơ tim đồng thời tăng cung cấp oxy cho cơ tim (tài liệu tham khảo).

    Kẹp phẫu thuật mạch máu – CABG

    Phẫu thuật bắc cầu tiêu chuẩn bao gồm cầu nối LIMA đến LAD kết hợp với cầu nối tĩnh mạch.

    LIMA là viết tắt của cầu nối động mạch vú trong trái (Left Internal Mammary Artery bypass graft).

    Đầu xa của LIMA được nối miệng với LAD ở đoạn sau hẹp và các kẹp phẫu thuật trải dài từ đỉnh quai động mạch chủ (hình ảnh).

    Cầu nối RIMA được sử dụng ít thường xuyên hơn do tỷ lệ thông thoáng thấp hơn và vì RIMA ngắn hơn, thường không đủ dài để tiếp cận các động mạch đích.

    Động mạch vú trong trái được tách khỏi thành ngực và nối với mạch vành đích ở đoạn xa so với vị trí hẹp.
    Hình ảnh X-quang cho thấy các kẹp mạch máu của cầu nối CABG sử dụng động mạch vú trong trái và phải.

    Thủ thuật Mini Maze

    Thủ thuật Mini Maze là một kỹ thuật triệt đốt xâm lấn tối thiểu được thực hiện ở bệnh nhân rung nhĩ dai dẳng.
    Qua các đường rạch nhỏ ở thành ngực, ống soi lồng ngực được đưa vào để quan sát trực tiếp tim.
    Tiếp theo, thiết bị triệt đốt tạo ra các blốc dẫn truyền tại các vùng như xung quanh các tĩnh mạch phổi nhằm ngăn chặn các tín hiệu điện bất thường.

    Một thiết bị kẹp gọi là Atriclip được đặt vào để bít tiểu nhĩ trái, nhằm ngăn ngừa huyết khối hình thành tại vùng này (hình).

    Thiết bị theo dõi ICU

    …..

    Ống thông Swan Ganz

    Ống thông Swan Ganz là loại ống thông đầu bóng được dẫn hướng theo dòng chảy. Bóng được bơm phồng trong động mạch phổi chính trái hoặc phải nhằm đo áp lực mao mạch bít và áp lực động mạch phổi. Các biến chứng có thể gặp bao gồm: thắt nút trong buồng tim, nhồi máu phổi, thủng động mạch phổi, rối loạn nhịp tim, thủng tim và đặt nhầm vào tĩnh mạch chủ dưới.

    Các hình ảnh cho thấy vị trí đặt ống thông Swan Ganz không đúng ở bên trái, với đầu ống nằm trong nhánh động mạch phổi thùy trên trái.
    Phim X-quang thứ hai cho thấy vị trí đầu ống thông đã đúng trong động mạch phổi trái sau khi điều chỉnh lại.

    Từ thiện

    Toàn bộ lợi nhuận từ Radiology Assistant được dành cho tổ chức Medical Action Myanmar, do Bác sĩ Nini Tun và Giáo sư Frank Smithuis sr. điều hành — ông là giáo sư tại Đại học Oxford và cũng là anh trai của Robin Smithuis.

    Nhấn vào đây để xem video về Medical Action Myanmar. Nếu bạn thấy Radiology Assistant hữu ích, xin hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Ung thư Trực tràng – Phân giai đoạn và Tái phân giai đoạn trên MRI – Cập nhật 2026

    Ung thư trực tràng Phân giai đoạn và tái phân giai đoạn bằng MRI – cập nhật 2026

    Doenja Lambregts¹², Monique Maas¹², Max Lahaye¹², Regina Beets-Tan² và Robin Smithuis³

    ¹Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Viện Ung thư Hà Lan tại Amsterdam, ²Đại học Maastricht (GROW) và ³Bệnh viện Alrijne tại Leiden, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Bối cảnh điều trị ung thư trực tràng đang phát triển nhanh chóng.
    Những tiến bộ lịch sử quan trọng – phẫu thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) được chuẩn hóa, xạ trị (hóa xạ trị) tân bổ trợ cho các khối u nguy cơ cao, và phân tầng nguy cơ dựa trên MRI – đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ tái phát tại chỗ.
    Các phát triển gần đây, bao gồm các chiến lược bảo tồn tạng (theo dõi và chờ đợi) và điều trị tân hỗ trợ toàn diện (TNT), đã làm tăng thêm nhu cầu về phân giai đoạn hình ảnh học chính xác, theo dõi đáp ứng, và phát hiện tái phát hoặc tái phát tại chỗ.
    MRI vẫn là tiêu chuẩn vàng cho phân giai đoạn tại chỗ và phân giai đoạn lại trong ung thư trực tràng, đóng vai trò then chốt trong việc định hướng các quyết định điều trị.

    Cập nhật trong phiên bản này:

    • Tổng quan về điều trị: Các liệu pháp điều trị ung thư trực tràng hiện tại và tác động của chúng đối với giai đoạn chẩn đoán hình ảnh.
    • Giải đọc MRI: Những điểm mấu chốt và cạm bẫy quan trọng trong việc đọc và báo cáo MRI ung thư trực tràng.
    • Mẫu Báo Cáo: Các mẫu cập nhật cho phân giai đoạn ban đầu và phân giai đoạn lại, phù hợp với hướng dẫn chẩn đoán hình ảnh trực tràng ESGAR 2026[ref1][ref2]
    • Hướng dẫn cập nhật để đánh giá hạch bạch huyết và các ổ di căn khối u.
    • Một phương pháp tiếp cận từng bước để đánh giá lại giai đoạn bệnh nhằm hướng dẫn lựa chọn giữa phẫu thuật và bảo tồn cơ quan.

    Lời cảm ơn:Các tác giả xin cảm ơn Rhiannon van Loenhout và Frank Zijta vì những đóng góp của họ cho các phiên bản trước.

    Giới thiệu


    The illustration shows the mesorectum and the mesorectal fascia, which is the plane for TME resection and the relation of the rectum to the anal sphincter and pelvic floor.

    Hình minh họa cho thấy mạc treo trực tràng và mạc mạc treo trực tràng, đây là mặt phẳng phẫu tích cho phẫu thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) và mối liên quan của trực tràng với cơ thắt hậu môn và sàn chậu.

    Sự Phát Triển của Quản Lý Ung Thư Trực Tràng

    Trong những thập kỷ gần đây, điều trị ung thư trực tràng đã chuyển dịch từ phương pháp lấy phẫu thuật làm trung tâm sang chiến lược đa phương thức có hướng dẫn bằng hình ảnh.
    Cắt bỏ toàn bộ mạc treo trực tràng (TME)—việc cắt bỏ en bloc khoang mạc treo trực tràng dọc theo mạc mạc treo trực tràng (MRF)—vẫn là nền tảng phẫu thuật.

    Việc giới thiệuxạ trị tân hỗ trợ và hóa xạ trị đồng thời (CRT)cho các khối u nguy cơ cao đã làm giảm đáng kể tái phát tại chỗ, với nhiều bệnh nhân đạt được đáp ứng hoàn toàn.
    Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi chocác chiến lược bảo tồn cơ quan, chẳng hạn như chiến lược ‘theo dõi và chờ đợi’ đối với những bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn về mặt lâm sàng, hiện đã được công nhận trong các hướng dẫn lâm sàng. CRT ngày càng được sử dụng ngay cả đối với các khối u nguy cơ thấp nhằm bảo tồn cơ quan.

    Recent advances include

    Những tiến bộ gần đây bao gồmđiều trị tân bổ trợ toàn bộ (TNT), kết hợp hóa trị toàn thân với xạ trị (hóa xạ trị), giúp cải thiện tỷ lệ sống không bệnh và tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn, đặc biệt đối với các khối u có nguy cơ rất cao hoặc bệnh nhân ưu tiên bảo tồn cơ quan.
    Các đổi mới bổ sung bao gồmliệu pháp miễn dịch cho các phân nhóm được chọn lọc, và tinh chỉnhcắt bỏ tại chỗ và các kỹ thuật xạ trịcho các khối u giai đoạn sớm, nông, hoặc các tổn thương nhỏ còn lại sau liệu pháp tân hỗ trợ.

    MRI để Phân Tầng Nguy Cơ

    Phân tầng giai đoạn tại chỗ bằng MRI giúp phân loại bệnh nhân theo mức độ nguy cơ và hướng dẫn lựa chọn phương pháp điều trị.
    Tiêu chí nguy cơ rất khác nhau giữa các thử nghiệm, quốc gia và hướng dẫn, và tiếp tục phát triển.
    Các quyết định điều trị ngày càng chịu ảnh hưởng bởi sở thích của bệnh nhân, với sự tập trung ngày càng cao vào việc bảo tồn cơ quan và chất lượng cuộc sống.
    Một cái nhìn tổng quan toàn cầu về các phương pháp tiếp cận hiện tại được trình bày trong Hình, mặc dù các quy trình địa phương và quốc gia có thể khác nhau.
    Hầu hết các hướng dẫn phân loại ung thư trực tràng thành không xâm lấn tại chỗ (nguy cơ thấp) hoặc xâm lấn tại chỗ (nguy cơ cao)[ref1] [ref2].

    Ung thư trực tràng nguy cơ thấp / không xâm lấn tại chỗ
    Các đặc điểm nguy cơ thấp—mặc dù định nghĩa có thể khác nhau tùy theo từng hướng dẫn—thường bao gồm:

    • Khối u T1–T2
    • Không có EMVI(xâm lấn mạch máu/tĩnh mạch ngoài thành ruột), không có xâm lấn mạc treo trực tràng (MRF).
    • Quản lý:Thông thường chỉ cần phẫu thuật đơn thuần; điều trị tân bổ trợ thường không cần thiết (trừ khi mục tiêu là bảo tồn cơ quan). Các khối u giai đoạn sớm T1 có thể được chỉ định cắt bỏ tại chỗ, sau khi xác nhận bằng siêu âm nội soi/siêu âm nội trực tràng.


    Lưu ý:
    Các hướng dẫn khác nhau về việc liệu bệnh T3 (hoặc cụ thể hơn là T3cd) đơn thuần có cấu thành nguy cơ cao hay không. Các hướng dẫn hiện hành cũng giảm bớt sự nhấn mạnh vào tình trạng hạch lympho; di căn hạch lympho mạc treo trực tràng nghi ngờ (đặc biệt nếu số lượng ít) không nhất thiết được phân loại là nguy cơ cao.

    Ung thư trực tràng nguy cơ cao / tiến triển tại chỗ
    Các đặc điểm nguy cơ cao—mặc dù định nghĩa có thể khác nhau tùy theo từng hướng dẫn—thường bao gồm:

    • Bệnh T4(một số hướng dẫn cũng bao gồm T3 hoặc T3cd tiến triển)
    • EMVI
    • Bệnh hạch giai đoạn tiến triển(đặc biệt là di căn hạch N2 hoặc hạch bạch huyết bên)
    • Khối cặn lắng u
    • Liên quan đến mạc trực tràng (MRF)
    • Quản lý:Bệnh nhân có một hoặc nhiều đặc điểm nguy cơ cao thường được điều trị bằng hóa xạ trị liệu trình dài hoặc điều trị tân bổ trợ toàn phần để đạt được mục tiêu thu nhỏ/hạ giai đoạn khối u, tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật cắt bỏ R0, và có khả năng bảo tồn tạng.

    I need more text to translate. The input “In the” appears to be incomplete. Please provide the full HTML text fragment you’d like me to translate from English to Vietnamese.

    If you meant to send just “In the”, here is the translation:

    Tronghướng dẫn hiện hành của Hà Lan, bệnh tiến triển tại chỗ được xác định bởi sự hiện diện của cT4b, MRF+, di căn hạch bạch huyết bên, EMVI+ và/hoặc các ổ lắng đọng khối u.

    Các hướng dẫn này tiếp tục nhấn mạnh rằng bệnh cT4a và N+ trung mạc trực tràng không nên được coi là tiến triển tại chỗ khi không có các đặc điểm nguy cơ cao khác[ref].

    MRI trong Đánh giá Đáp ứng Điều trị Tân hỗ trợ
    Ở những bệnh nhân đang được điều trị tân bổ trợ, MRI—cùng với nội soi—đóng vai trò then chốt trong việc đánh giá đáp ứng điều trị. MRI phân biệt giữa:

    • Người đáp ứng kémyêu cầu phẫu thuật triệt để
    • Ứng viên tiềm năngđể bảo tồn cơ quan


    Thời điểm tái phân giai đoạn:
     

    • Các khuyến nghị về thời điểm thực hiện MRI đánh giá lại giai đoạn sau điều trị có sự khác nhau giữa các hướng dẫn, dao động từ 6–12 tuần sau điều trị.
    • Các hướng dẫn của Hà Lan quy định 6–8 tuần sau điều trị tân bổ trợ dựa trên xạ trị; đối với hóa trị tân bổ trợ, việc đánh giá lại giai đoạn được khuyến nghị 3 tuần sau chu kỳ cuối cùng[ref].

    Danh Mục Kiểm Tra Báo Cáo Có Cấu Trúc


    Click for larger view

    Nhấp để xem lớn hơn

    Một báo cáo MRI toàn diện phải bao gồm:

    • Tất cả các yếu tố nguy cơ được sử dụng để phân tầng điều trị
    • Vị trí chính xác của khối u và mối liên quan của nó với các cấu trúc giải phẫu lân cận, nhằm hướng dẫn lập kế hoạch phẫu thuật

    Mẫu báo cáo này tuân thủ theo hướng dẫn báo cáo có cấu trúc ESGAR 2026[ref]và phù hợp với các khuyến nghị quốc gia mới nhất của Hà Lan[ref].

    danh mục cT
    cT4b: xâm lấn các cơ quan hoặc cấu trúc lân cận bao gồm:

    • Cơ sàn chậu/thành bên chậu
    • Cơ thắt ngoài
    • Mạch máu, dây thần kinh, xương,
    • Các quai ruột khác và khoang giải phẫu hoặc mỡ bên ngoài MRF


    cN-
    danh mục
    Đánh dấu trong báo cáo mức độ của hạch N+ gần nhất (để hướng dẫn lập kế hoạch xạ trị và phẫu thuật), sự hiện diện của các hạch N+ bên (hạch bịt, hạch chậu trong), bao gồm kích thước và vị trí, và sự hiện diện của các ổ di căn khối u.
    * Lưu ý: Các hạch bẹn được coi là cN (và không phải cM) trong các khối u đoạn xa lan xuống dưới đường răng lược

    Tiền tố TNM
    “c” được sử dụng để chỉ giai đoạn lâm sàng, được xác định trước khi điều trị.
    Khi được xác định dựa trên hình ảnh học, tiền tố “i” (hình ảnh học) hoặc “mr” (MRI) đôi khi được sử dụng thay thế.

    “y”
    được sử dụng để tái phân giai đoạn khối u sau điều trị tân hỗ trợ (hóa trị và/hoặc
    xạ trị) và có thể được sử dụng cho cả phân giai đoạn lâm sàng (ycTNM) cũng như
    phân giai đoạn bệnh lý (ypTNM).

    “p” chỉ giai đoạn TNM cuối cùng được xác định bằng mô bệnh học sau phẫu thuật.

    Trong các chương tiếp theo, chúng tôi sẽ thảo luận chi tiết hơn về các mục khác nhau được liệt kê trong mẫu báo cáo và cung cấp các gợi ý để phiên giải hình ảnh.

    Hình thái học

    Khối u dạng polyp và dạng phẳng

    Ung thư biểu mô tuyến trực tràng thường xuất phát từ các u tuyến, có thể là:

    • Dạng polyp:Được nâng lên trên một cuống hoặc điểm bám khu trú, thường là độ thấp (T1–T2), nhô vào trong lòng ống.
    • Không cuống:Phẳng, đáy rộng, thường biểu hiện dưới dạng dày thành hình vòng nhẫn một phần hoặc hoàn toàn.

    Bờ xâm lấn:Vị trí bám của khối u vào thành trực tràng—bờ xâm lấn—là nơi khối u có thể xâm lấn ra ngoài thành trực tràng, do đó rất quan trọng trong việc phân loại giai đoạn T và đánh giá mức độ lan rộng ngoài thành.

    Chu Vi Khối U:Mô tả mức độ bám thành trong báo cáo bằng cách sử dụng một trong hai:

    • Ký hiệu mặt đồng hồ(ví dụ: “từ 3 đến 7 giờ”)
    • Văn xuôi(ví dụ: “trước bên trái”).

    Bright mucinous tumor versus solid tumor with intermediate signal.

    Khối u nhầy sáng so với khối u đặc có tín hiệu trung gian.

    Ung thư biểu mô tuyến trực tràng dạng đặc so với dạng nhầy

    Mức Độ Liên Quan Lâm Sàng
    Ung thư biểu mô tuyến nhầy mang tiên lượng xấu hơn và thường cho thấy đáp ứng không tối ưu với liệu pháp tân bổ trợ so với các khối u đặc.

    Đặc điểm MRI:

    • Khối u chất nhầy: Tín hiệu cao (sáng) trên MRI chuỗi xung T2
    • Khối u đặc: Tín hiệu trung gian
    • Khối u hỗn hợp: Cả thành phần đặc và thành phần chứa chất nhầy đều thường gặp trong phân nhóm u nhầy


    Lưu ý báo cáo:
    Do nguy cơ cao của sai số lấy mẫu sinh thiết (đặc biệt trong các khối u hỗn hợp), các bác sĩ X quang nên ghi nhận rõ ràng sự hiện diện của chất nhầy trên MRI.

    Ung thư biểu mô tuyến trực tràng tế bào nhẫn

    Dịch tễ học & Tiên lượng
    Một phân nhóm nhầy hiếm gặp (±1%), ung thư biểu mô tế bào nhẫn có liên quan đến tỷ lệ cao di căn hạch/di căn xa và tiên lượng sống còn toàn bộ kém.

    Đặc điểm MRI

    • Thường khó xác định
    • Thường biểu hiện nhưdày thành ruột lan tỏa, đoạn dài
    • Kiểu tăng trưởng dưới niêm mạc, cho ra mộtHình ảnh “bia” (target)trên các hình ảnh cắt ngang
    • Thâm nhiễm mỡ trực tràng lan tỏalà phổ biến

    Hình ảnh
    Các hình ảnh được cung cấp cho thấy ung thư biểu mô tế bào nhẫn với tình trạng dày lan tỏa thành trực tràng, hình ảnh bia bắn điển hình, và sự xâm lấn mỡ mạc treo trực tràng.

    Vị trí

    Phân biệt Ung thư Trực tràng và Ung thư Đại tràng Sigma

    Phân biệt chính xác giữa ung thư trực tràng và ung thư đại tràng sigma là vô cùng quan trọng, vì chiến lược điều trị của hai loại này có sự khác biệt đáng kể:

    • Ung thư đại tràng sigma:Điều trị tiêu chuẩn là phẫu thuật cắt bỏ ngay từ đầu.
    • Ung thư trực tràng:Điều trị được phân tầng theo nguy cơ, từ phẫu thuật đơn thuần (nguy cơ thấp) đến hóa xạ trị tân bổ trợ liệu trình dài (nguy cơ cao). Phương pháp phẫu thuật cũng khác nhau giữa hai thực thể này.

    Điểm xuất phát của đại tràng sigmoid
    Điểm xuất phát sigmoid (STO) như một mốc giải phẫu đã được thiết lập vào năm 2019 bởi một hội đồng đồng thuận quốc tế như là mốc hình ảnh ưu tiên để phân biệt trực tràng với đại tràng sigma(ref).
    Định nghĩa này đã được ESGAR và các hướng dẫn của Hà Lan áp dụng.

    Vị trí khối u trực tràng

    • Thấp:Bờ dưới của khối u ≤5 cm tính từ chỗ nối hậu môn-trực tràng
    • Cao:Bờ dưới khối u >5 cm tính từ chỗ nối hậu môn-trực tràng, đến chỗ xuất phát của đại tràng sigmoid

    The dashed line indicates the sigmoid take-off on a sagittal and axial view

    Đường đứt nét chỉ ra điểm xuất phát của xoang sigma trên mặt phẳng đứng dọc và mặt phẳng ngang

    Xác định Điểm Xuất Phát Sigmoid trên MRI

    Đoạn xuất phát của sigmoid (STO) được nhận diện rõ nhất trên:

    • Phim MRI mặt phẳng đứng dọc: Điểm mà tại đó đại tràng sigma chạy ngang ra xa xương cùng
    • MRI trục: Điểm nơi đại tràng sigma nhô ra phía bụng (xem Hình)


    Trong khi các biến thể giải phẫu hoặc góc độ của chuỗi hình ảnh đôi khi có thể gây khó khăn cho việc nhận diện, STO vẫn là một mốc giải phẫu trực quan và đáng tin cậy.
    Các khối u có bờ dưới nằm gần với STO (phía trên chỗ nối đại tràng sigma-trực tràng) được phân loại là u đại tràng sigma.

    Đo Chiều Cao Khối U

    Chỗ nối hậu môn-trực tràng(mốc giải phẫu được sử dụng phổ biến nhất):

    • Xác định ranh giới chuyển tiếp giữa ống hậu môn và trực tràng đoạn xa.
    • Nằm ở góc hậu môn-trực tràng, được tạo thành bởi sự co cơ mu-trực tràng.
    • Trên MRI mặt phẳng đứng dọc, thường được căn chỉnh với một đường tưởng tượng nối giữa bờ dưới của xương cùng và xương mu.

    Bờ hậu môn(địa danh thay thế):

    • Chuyển tiếp giữa biểu mô hậu môn và da quanh hậu môn
    • Thường được quan sát rõ trên MRI mặt phẳng đứng dọc


    Đánh Giá Chiều Cao Khối U:

    • Phương pháp tiêu chuẩn: Đo từ bờ dưới của khối u đến chỗ nối hậu môn-trực tràng (hoặc bờ hậu môn).
    • Thay thế: Đo từ bờ hậu môn (điểm nối giữa biểu mô hậu môn và da quanh hậu môn).
    • ESGKhuyến nghị AR: Sử dụng một hoặc nhiều đường thẳng dọc theo lòng trực tràng trung tâm để đo lường nhất quán[ref].
    • Ở một số quốc gia, chiều cao khối u được tham chiếu đến phúc mạc phản chiếu phía trước.

    Danh mục T


    Click image for larger view

    Nhấp vào hình ảnh để xem lớn hơn

    Phân loại T của khối u trực tràng: Minh họa mặt cắt dọc và mặt cắt ngang.

    • T1:Xâm lấn vàodưới niêm mạc
    • T2:Xâm lấn vàocơ thành(lớp cơ ngoài của thành trực tràng)
    • T3:Phần mở rộng vàomỡ mạc treo trực tràng
      • T3 MRF–:Không đạt đến mứcmạc mạc treo trực tràng (MRF)
      • T3 MRF+:Xâm lấn hoặc nằm ≤1 mm so vớiMRF
    • T4a:Xâm lấn củaphúc mạc/nếp gấp phúc mạc
    • T4b:Xâm lấn vàocác cơ quan/cấu trúc lân cậnngoài mạc treo trực tràng

    Bảng dưới đây cung cấp tổng quan về phân loại giai đoạn T.

    T1/T2Giới hạn trong thành trực tràng; thường không thể phân biệt trên MRI
    T3 Lan rộng vào mỡ quanh trực tràng:

    • T3 sớm (T3ab): Xâm lấn giới hạn (<5 mm)
    • T3 tiến triển (T3cd): Xâm lấn rộng (>5 mm)

     T4| Kéo dài ra ngoài mạc treo trực tràng:

    • T4a: Xâm lấn phúc mạc/nếp gấp phúc mạc
    • T4b: Xâm lấn cơ quan/cấu trúc lân cận |


    Định nghĩa T4b
    Hệ thống TNM thiếu định nghĩa chính xác về “các cấu trúc.”
    Vào năm 2021, một hội đồng chuyên gia quốc tế (các bác sĩ X-quang, phẫu thuật viên, bác sĩ ung thư xạ trị, nhà giải phẫu bệnh) đã đề xuất các cấu trúc cụ thể cho phân loại T4b[ref], hiện được áp dụng bởiESGARHướng dẫn của Hà Lan(xem Bảng).

    Khối u T1–T2

    Các khối u T1–T2 được giới hạn trong thành ruột và có tiên lượng tương đối thuận lợi.

    • Khối u T1
      • Giới hạn ở lớp dưới niêm mạc
      • Độ sâu xâm lấn dưới niêm mạc (Sm1 = một phần ba nông; Sm2 = một phần ba giữa; Sm3 = một phần ba sâu, tiếp cận lớp cơ) xác định nguy cơ di căn hạch bạch huyết và khả năng cắt bỏ tại chỗ
    • Khối u T2
      • Xâm lấn lớp cơ niêm nhưng không vượt ra ngoài lớp này


    Phát hiện MRI chính:

    • Lớp cơ thành nguyên vẹn(đường giảm tín hiệu bao quanh trực tràng) xác nhận khối u T1–T2
    • Ba mặt phẳng(trục, đứng dọc, đứng ngang) phải thể hiện lớp cơ nguyên vẹn để dự đoán T1–T2 một cách chắc chắn


    Hình minh họa
    I need the actual HTML text fragment to translate. You’ve only provided “The image shows a ” which appears to be incomplete. Could you please provide the complete HTML text fragment you’d like me to translate to Vietnamese?khối u trực tràng xa cT1–2với lớp cơ niêm mạc giảm tín hiệu còn nguyên vẹn, nhìn thấy rõ ràng.

    Phân biệt T1 và T2 trên MRI

    Giải phẫu thành trực tràng:

    • Lớp trong:Niêm mạc (tín hiệu T2 trung gian)
    • Lớp giữa:Dưới niêm mạc (tín hiệu T2 cao)
    • Lớp ngoài:Lớp cơ thành (tín hiệu T2 thấp)


    Hình ảnh MRI:

    • Không phù nề:Thành trực tràng thường xuất hiện dưới dạng hai lớp (lớp cơ thành có thể phân biệt được; lớp niêm mạc và lớp dưới niêm mạc không thể phân tách một cách đáng tin cậy, có nghĩa là không thể phân biệt giữa T1 và T2 (hình bên trái).
    • Ba lớp hiển thịlà thường chủ yếu có thể thực hiện được với phù nề dưới niêm mạc (hình bên phải).

    T1 so với T2 Phân biệt:

    • Một số nghiên cứu cho thấy MRI độ phân giải cao có thể phân biệt T1 (xâm lấn dưới niêm mạc) với T2 (xâm lấn cơ) và thậm chí đánh giá độ sâu dưới niêm mạc (Sm1/2/3) .
    • Tuy nhiên, các hướng dẫn hiện hành (bao gồm cả các khuyến nghị ESGAR được cập nhật) vẫn đặt câu hỏi về độ chính xác và khả năng tái lặp của MRI đối với sự phân biệt này.
    • Phương pháp thực hành: Các khối u giới hạn trong thành trực tràng thường được phân loại là T1–2 trên MRI.

    Khối u T3

    T3 khối u xâm lấnngoài lớp cơ thànhvào trong mỡ mạc treo trực tràng.

    Kết quả MRI:

    • Gián đoạncủa lớp cơ giảm tín hiệu
    • Gai nhọn hoặc dạng nốtTín hiệu khối u lan rộng vào mỡ mạc treo trực tràng


    Hình ảnh
    Đâykhối u hình vành khuyên một phần (8–12 giờ)Xâm lấn mỡ quanh trực tràng, với bờ MRF phía trước <1 mm (mũi tên), phù hợp với cT3ab MRF+.

    • Lớp cơ niêm mạc nguyên vẹn có thể nhìn thấy từ vị trí 12 giờ đến 8 giờ
    • Gián đoạn lớp cơ phía bên phải, với khối u dạng nốt xâm lấn vào mỡ quanh trực tràng (đầu mũi tên)

    Subclassification of T3 tumors according to invasion depth

    Phân loại phụ khối u T3 theo độ sâu xâm lấn

    Phân loại phụ
    giai đoạn T3 theo độ sâu xâm lấn

    Trong khi sự liên quan về tiên lượng và điều trị của phân loại phụ T3 vẫn còn được tranh luận, mẫu báo cáo có cấu trúc của ESGAR vẫn tiếp tục sử dụng phân loại này:

    Giai đoạn T3 sớm:

    • T3a:<1 mm xâm lấn vượt quá lớp cơ thành
    • T3b:1–5 mm mở rộng

    Tiên tiến T3:

    • T3c:5–15 mm kéo dài
    • T3d:>15 mm mở rộng


    Cân nhắc Chính
    Bất kỳ khối u T3 nào có xâm lấn MRF—bất kể phân loại phụ—luôn được xem là nguy cơ cao.

    Cạm bẫy: Dải Xơ Hóa Mô Đệm vs. Xâm Lấn Khối U

    I need the HTML text fragment to translate. It seems only the word “Challenge” was provided. Here is the translation:

    Thách thức 
    Việc phân biệt xâm lấn u thực sự vào mô quanh trực tràng (T3, Trường hợp A) với tình trạng xơ hóa dạng sợi (T1–2, Trường hợp B) có thể là điều bất khả thi và là nguyên nhân phổ biến dẫn đến đánh giá giai đoạn quá mức.

    Ghi chú
    Sự phân biệt giữa khối u T2 và T3 sớm (cT3ab) hiện nay được xem là ít có liên quan lâm sàng hơn trong các hướng dẫn quốc tế hiện hành.
    Nhiều hướng dẫn xếp các khối u T2 và T3 giới hạn (cT3ab) vào cùng một nhóm tiên lượng thuận lợi để phân tầng điều trị.

    Sự xâm lấn mạc trực tràng (MRF)

    MRF là một cấu trúc xơ mỏng bao quanh khoang mạc treo trực tràng và xác định mặt phẳng cắt bỏ dự kiến trong quá trình cắt bỏ toàn bộ mạc treo trực tràng (TME).
    Trên MRI trọng số T2, nó xuất hiện như một đường mỏng giảm tín hiệu bao quanh mạc treo trực tràng.

    Tiêu chí tham gia MRF:

    • Xâm lấn trực tiếp của khối u vào MRF
    • Lề u-MRF ≤1 mm


    Ý Nghĩa Lâm Sàng
    Sự xâm lấn MRF làm tăng nguy cơ cắt bỏ không triệt căn và tái phát tại chỗ với phẫu thuật TME tiêu chuẩn.
    Điều trị tân bổ trợ được chỉ định nhằm đạt được sự thu nhỏ khối u và sự co rút của mạc treo trực tràng, đảm bảo diện cắt không còn tế bào u.

    Yêu cầu Báo cáo
    It seems like your message got cut off. Could you please provide the complete English HTML text fragment that you’d like me to translate to Vietnamese? I’ll be happy to help once I have the full content.vị trí tổn thương MRF(ví dụ: “MRF+ tại … giờ” hoặc “MRF+ ở phía trước bên trái”).

    Sự Xâm Lấn MRF bởi Các Cấu Trúc Mang Khối U

    Tiêu chí MRF+:Báo cáo sự liên quan của MRF nếu có khoảng cách ≤1 mm từ:

    • Khối u nguyên phát
    • Xâm lấn mạch máu tĩnh mạch ngoài thành ruột (EMVI)
    • Các ổ di căn dạng vệ tinh hoặc hạch bạch huyết không đều (tức là các hạch có xâm lấn ngoài vỏ bao)


    Ngoại lệ

    • Hạch bạch huyết to, nhẵnvới một bao nguyên vẹn tiếp xúc với MRF có nguy cơ rất thấp về tình trạng liên quan đến diện cắt trên mô bệnh học và không làm tăng đáng kể nguy cơ tái phát tại chỗ.
    • Không phân loại những trường hợp này là MRF+ để tránh điều trị quá mức.

    Two examples of T3 tumors with invasion of the mesorectal fascia. In the left case the distance between the tumor and the MRF is less than 1 mm at 12 o’clock. In the right case there is more extensive involvement of the MRF between 10 and 12 o’clock

    Hai ví dụ về khối u T3 với xâm lấn mạc treo trực tràng. Trong trường hợp bên trái, khoảng cách giữa khối u và MRF nhỏ hơn 1 mm ở vị trí 12 giờ. Trong trường hợp bên phải, có sự xâm lấn rộng hơn của MRF từ vị trí 10 đến 12 giờ

    Diện cắt chu vi (CRM) so với Mạc mạc treo trực tràng (MRF)

    Báo Cáo X Quang
    Đối với các khối u T3+, luôn ghi nhận khoảng cách nhỏ nhất từ khối u đến mạc trực tràng (MRF).
    Một số báo cáo sử dụng thuật ngữ “diện cắt chu vi” (CRM) thay thế cho MRF, nhưng điều này không hoàn toàn chính xác.

    Điểm Khác Biệt Chính:

    • MRF:Ranh giới sợi mỏng bao quanh mạc treo trực tràng, được quan sát trên MRI.
    • CRM:Cáclề phẫu thuật thực tếđược tạo ra trong quá trình TME, được đánh giá bởi nhà giải phẫu bệnh.
      • Lý tưởng nhất, CRM tuân theo MRF.
      • Nếu MRF bị xâm phạm trong phẫu thuật, CRM có thể nhỏ hơn.
      • Nếu mỡ/cơ quan thừa được bao gồm, CRM có thể rộng hơn.


    Lưu ý:
    Sử dụng“MRF”trong các báo cáo X quang để tránh nhầm lẫn với CRM phẫu thuật/bệnh lý.

    Mạc trực tràng giữa so với Phúc mạc

    Vùng Giải Phẫu Bao Phủ:

    • Trực tràng thấp:Được bao bọc hoàn toàn bởi mạc trực tràng (MRF, đường màu xanh lá).
    • Trực tràng giữa:
      • Sau/bên: Được bao phủ bởi MRF
      • Phía trước: Được bao phủ bởi phúc mạc (đường đỏ, nếp phản chiếu phúc mạc)
    • Trực tràng cao:Phúc mạc trải dài về phía trước và hai bên (đường màu vàng); MRF chỉ che phủ mạc treo trực tràng phía sau.

    Ý nghĩa lâm sàng:

    • Xâm lấn MRF:Được phân loại là T3 MRF+
    • Xâm lấn phúc mạc:Nguy cơ lan rộng khối u vào phúc mạc; được phân giai đoạn là T4a

    T4a Khối u

    Mốc giải phẫu:

    • Cáiphúc mạc phản chiếu trướcPhân định ranh giới chuyển tiếp giữa trực tràng không có phúc mạc và trực tràng có phúc mạc.
    • Dưới nếp phúc mạc này, trực tràng hoàn toàn nằm ngoài phúc mạc.


    Nhận dạng MRI:

    • Trên hình ảnh T2 có trọng số theo mặt phẳng sagittal, phản chiếu phúc mạc xuất hiện như mộtgiảm tín hiệu, đường mảnh hình chữ V(mũi tên).
    • Vị trí:
      • Nam giới:Ngay phía trên túi tinh
      • Nữ giới:Ở mức độ của túi cùng (túi Douglas)


    Ý nghĩa phân giai đoạn:

    • Xâm lấn phía trướccủa phản chiếu phúc mạc hoặc phúc mạc xác địnhBệnh T4a.

    Cạm bẫy: Tránh đánh giá quá mức xâm lấn phúc mạc trong các khối u trực tràng cao

    Điểm Chính: 
    Trong các khối u trực tràng đoạn gần, trực tràng và phúc mạc thường nằm rất gần nhau về mặt giải phẫu.
    Điều này đơn thuần không cho thấy bệnh T4a.

    Tiêu Chí Chẩn Đoán cho cT4a:

    • Tín hiệu khối u thực sự lan rộng vào hoặc vượt qua phúc mạc/nếp gấp phúc mạc
    • Dày màng bụng do khối u gây ra

    Ví dụ hình ảnh:

    • Trái:Khối u nằm gần phúc mạc và bàng quang (mũi tên trắng), nhưng không xâm lấn ra ngoài lớp cơ thành ruột hoặc vào phúc mạc—không phải T4a.
    • Phải:Tín hiệu khối u lan vào phúc mạc (mũi tên vàng)—xác nhận xâm lấn T4a.

    Cạm bẫy: Phân biệt MRF với Xâm lấn Phúc mạc trong Khối u Thành trước

    Nguyên tắc chính:

    • Ở phía trước, sự xâm lấn MRF chỉ có thể xảy ra trong các khối u nằm dưới nếp phúc mạc, được ghi nhận là T3 MRF+
      Các khối u phía trước nằm trên mức phản chiếu phúc mạc mà xâm lấn phúc mạc nên được báo cáo là T4a MRF
    • Ở phía sau, MRF kéo dài trên mức phản chiếu phúc mạc. Sự xâm lấn đồng thời của MRF (phía sau) và phúc mạc (phía trước) có thể xảy ra, trường hợp này cần được báo cáo là T4a MRF+


    Ví dụ về Hình ảnh
    cT4a MRF–I need the actual HTML text fragment to translate. You’ve only provided a description “(Upper Image):” but no HTML content to translate.

    Please provide the HTML text fragment you’d like me to translate from English to Vietnamese.

    • Khối u trực tràng trên, trên nếp phúc mạc
    • Liên quan phúc mạc (đường vàng đứt nét)
    • Không có sự tham gia của MRF

    cT3 MRF+(Hình ảnh phía dưới):

    • Khối u trực tràng đoạn xa, dưới mức phúc mạc phản chiếu
    • Liên quan đến MRF phía trước (đường màu xanh lá)
    • Không có sự xâm lấn phúc mạc

    Khối u cT4a MRF+

    Khối u trực tràng gần này cho thấy sự xâm lấn kết hợp:

    • Phía trước: Xâm lấn phúc mạc (T4a)
    • Sau: Xâm lấn mạc trực tràng (MRF) (MRF+)

    Khối u T4b

    Khối u T4b xâm lấn các cơ quan, cấu trúc giải phẫu hoặc các khoang nằm ngoài mạc treo trực tràng (vùng màu đỏ), ngoại trừ:

    • Mạc trực tràng (được phân loại làT3 MRF+)
    • Phúc mạc/nếp gấp phúc mạc (được phân loại làT4a)

    Ví dụ về Bệnh cT4b

    • Trái: Khối u xâm lấn tuyến tiền liệt
    • Phải: Khối u xâm lấn cơ mu trực tràng trái


    Ghi chú
    Xâm lấn các cơ vân (ví dụ: cơ thắt hậu môn ngoài, cơ mu-trực tràng, cơ nâng hậu môn) được phân loại là bệnh cT4b.

    cT4b Khối u Ví dụ

    Hình ảnh này cho thấy một khối u xâm lấn vượt ra ngoài khoang mạc trực tràng và MRF (có khả năng nằm ở mức đường nét đứt) vào mô mỡ hố bịt trái.

    Kết luận:
    khối u cT4b.


    Cuộn qua các hình ảnh.

    T4b Xâm Lấn: Tiêu Chí Chẩn Đoán và Ý Nghĩa Trong Điều Trị

    Xâm lấn T4b được xác nhận khi tín hiệu khối u lan vào cơ quan hoặc cấu trúc lân cận, được đặc trưng bởi:

    • Tín hiệu khối u lan rộng vào cơ quan hoặc cấu trúc lân cận
    • Mất lớp mỡ phân cách
    • Sự gián đoạn đường viền bình thường của cơ quan


    Phát hiện không xác định:
     
    Nếu có mất lớp mỡ đệm nhưng không có sự gián đoạn rõ ràng của đường bờ tạng hoặc sự lan rộng tín hiệu u dứt khoát, báo cáo là:

    • Tiếp xúc khu trú/diện rộng
    • Xâm lấn tiềm năng (nhưng chưa xác định)


    Các Hệ Quả Phẫu Thuật:

    • Bệnh T4b giai đoạn tiến xa thường đòi hỏi phẫu thuật vượt ra ngoài TME (ví dụ: nạo vét toàn bộ vùng chậu), với cắt bỏ khối bao gồm mạc treo trực tràng và các cơ quan lân cận.


    Lưu ý rằng ESGAR/ESUR/SAR/PelvEx đã công bố các hướng dẫn riêng về báo cáo MRI đối với các khối u tiến triển (và tái phát) trước khi phẫu thuật tháo bỏ vùng chậu, sử dụng mẫu báo cáo dựa trên giải phẫu[ref]
    Chúng bao gồm các khuyến nghị thực tế về cách đánh giá sự tổn thương của các cấu trúc cụ thể::

    • Mạch máu: Hẹp/tắc lòng mạch, huyết khối, hoặc tuần hoàn bàng hệ
    • Niệu quản: Giãn ở phía trên (giãn niệu quản/ứ nước thận)
    • Dây thần kinh: Dày hơn so với bên đối diện


    Ví dụ
    Cuộn qua các hình ảnh.
    Trên MRI trục ngang, tín hiệu khối u trung gian lan vào thành âm đạo sau (mũi tên) cho thấy xâm lấn T4b.

    Xâm lấn mạch máu ngoài thành ruột (EMVI)

    EMVI là một yếu tố nguy cơ cho bệnh tái phát, di căn và giảm tỷ lệ sống còn toàn bộ.
    EMVI được nghi ngờ nếu chúng ta thấy tín hiệu khối u lan vào mạch máu lân cận, khi mạch máu bị giãn rộng bởi khối u, hoặc nếu khối u phá vỡ ranh giới mạch máu (hình minh họa).

    EMVI có thể được phân độ như sau[ref]:

    • 0 = không có sự mở rộng dạng nốt ra ngoài lớp cơ thành và không có mạch máu liền kề với các vùng mở rộng khối u
    • 1 = Lan rộng dạng nốt hoặc dạng dải tối thiểu, không ở gần các cấu trúc mạch máu
    • 2 = thâm nhiễm mỡ xung quanh các mạch máu ngoài thành ruột, với mạch máu có kích thước bình thường và không có tín hiệu khối u lan vào trong lòng mạch
    • 3 = tín hiệu khối u lan rộng vào trong lòng mạch, với đường viền mạch máu bình thường hoặc giãn nhẹ
    • 4 = tín hiệu khối u lan vào mạch máu với sự gián đoạn rõ ràng của đường viền mạch máu và/hoặc sự mở rộng dạng nốt của các mạch máu

    Độ 3 và độ 4 nên được báo cáo là bệnh EMVI+.
    Độ 0-2 là EMVI-.

    Ví dụ 
    I need the HTML text fragment to translate. It seems like the message got cut off – you only provided “This image demonstrates” without the full text or HTML content.

    Could you please share the complete HTML text fragment you’d like me to translate to Vietnamese?Bệnh EMVI+, cho thấy tín hiệu khối u lan vào mạch máu lân cận, dẫn đến giãn nở mạch máu và phá vỡ đường viền.

    Cạm bẫy: Đánh giá EMVI trong các khối u có sự phát triển ngoài thành đại trà

    Trong quy mô lớnKhối u T3cd-4với sự mở rộng ngoài thành ruột lan rộng vào mỡ quanh trực tràng, một cách tiếp cận thực tế là phân loại chúng làEMVI+.

    Trong ví dụ được hiển thị, khối u xâm lấn vào lớp mỡ quanh trực tràng từ vị trí 3 đến 5 giờ, xóa mờ lớp mỡ mạc treo trực tràng ở vùng này.
    Mặc dù sự xâm lấn của từng mạch máu riêng lẻ có thể không thể phân biệt được, nhưng có thể giả định một cách hợp lý rằng các mạch máu trong khu vực này đã bị khối u xâm lấn hoàn toàn.

    Các đường đứt nét chỉ vị trí tiềm năng của các mạch máu.

    Cạm bẫy: đánh giá quá mức xâm lấn mạch máu ngoài thành ruột (EMVI)

    Các mạch máu quanh trực tràng bình thường có đường kính khác nhau thường tỏa ra từ lớp cơ thành ngoài vào trong mỡ mạc treo trực tràng.
    Đừng nhầm lẫn những hình ảnh này với EMVI trừ khi có bằng chứng rõ ràng về xâm lấn khối u—được định nghĩa là tín hiệu khối u lan vào, làm giãn rộng hoặc phá vỡ đường viền của mạch máu.

    Mẹo Đánh Giá Quan Trọng
    Đánh giá vị trí theo chu vi của khối u trong thành trực tràng.
    Các mạch máu không xuất phát từ vị trí bám dính của khối u không bao giờ được phân loại là EMVI, bất kể mức độ nổi bật như thế nào.

    So sánh hình ảnh

    • Trái (EMVI+):Tín hiệu khối u rõ ràng lan vào các mạch máu lân cận, làm gián đoạn đường viền của chúng.
    • Phải (EMVI-):Các mạch máu duy trì đường viền trơn nhẵn và không có tín hiệu khối u.

    Cách báo cáo sự liên quan của cơ thắt hậu môn và sàn chậu

    Phức hợp cơ thắt hậu môn bao gồm ba lớp:

    • Cơ thắt trong: Phần tiếp nối của cơ trơn trực tràng
    • Khoang liên cơ thắt: Nằm giữa cơ thắt trong và cơ thắt ngoài
    • Cơ thắt ngoài: Cơ vân xương tự chủ, liên tục về phía đầu với cơ mu-trực tràng và cơ nâng hậu môn

    Cơ mu-trực tràng và cơ nâng hậu môn, cùng với cơ chậu-cụt và cơ mu-cụt, tạo thành sàn chậu.

    Báo Cáo MRI cho Ung Thư Trực Tràng Thấp

    Để lập kế hoạch phẫu thuật, báo cáo MRI phải mô tả rõ ràng:

    • Mối liên quan của khối u với cơ thắt hậu môn và sàn chậu
    • Các lớp liên quan (cơ thắt trong/ngoài, các cơ sàn chậu)
    • Vị trí (trái/phải)
    • Mức độ xâm lấn: một phần ba trên, giữa hoặc dưới của ống hậu môn

    It looks like your message got cut off. Could you please provide the complete text you’d like me to translate? I need the full English HTML text fragment to translate it to Vietnamese.‘hậu môn+’.

    Sự liên quan của cơ thắt hậu môn và phân loại cT
    Hệ thống phân loại TNM không quy định cụ thể cách phân loại sự xâm lấn vào cơ thắt hậu môn hoặc các lớp sàn chậu.
    Các hướng dẫn hiện tại khuyến nghị:

    • Phân loại cT cơ bản dựa trên mức độ xâm lấn của khối u trong trực tràng.
    • Loại trừ sự xâm lấn cơ thắt trong và mặt phẳng liên cơ thắt khỏi phân loại cT.
    • Phân loại xâm lấn cơ thắt ngoài, cơ mu-trực tràng, hoặc cơ nâng hậu môn (tức là xâm lấn cơ vân) là bệnh cT4b.

    Ví dụ
    A. khối u trực tràng thấp cT1-2xâm lấn vàocơ vòng trong(trái, mũi tên màu vàng).
    Ghi chú:Xâm lấn cơ thắt trong không làm tăng giai đoạn cT nhưng phải được ghi nhận rõ ràng để hướng dẫn lập kế hoạch phẫu thuật.

    B. Khối u đoạn xa xâm lấn cả cơ thắt trong và cơ thắt ngoài (bên phải, đầu mũi tên), kèm theo xâm lấn cơ mu-trực tràng và cơ nâng hậu môn. Sự xâm lấn vào cơ thắt ngoài, cơ mu-trực tràng hoặc cơ nâng hậu môn cấu thành xâm lấn cơ vân và cần được phân loại làcT4bbệnh.
    Có hình ảnh bình thường của cơ thắt ngoài và các cơ sàn chậu ở bên trái trong hình B (mũi tên xanh lá).

    Phân loại N


    Regional lymph node drainage. The lymph nodes in red are all non, regional (M-stage) nodes. In TME only the mesorectal nodes and in high rectal tumors also the rectalis superior and inferior mesenteric nodes are excised.

    Dẫn lưu hạch bạch huyết vùng. Các hạch bạch huyết màu đỏ đều là các hạch không thuộc vùng (giai đoạn M). Trong phẫu thuật TME, chỉ có các hạch mạc treo trực tràng và trong các khối u trực tràng cao còn có thêm các hạch trực tràng trên và hạch mạc treo tràng dưới được cắt bỏ.

    Bản đồ hạch bạch huyết

    Thuật ngữ về các vị trí hạch bạch huyết trong ung thư trực tràng có thể gây nhầm lẫn, với việc sử dụng không nhất quán các thuật ngữ như‘hạch ngoài mạc treo trực tràng’‘hạch bên’để mô tả cả các trạm hạch bạch huyết vùng và không theo vùng.

    Để lập kế hoạch điều trị chính xác, cần phân biệt giữa:
    Hạch Bạch Huyết Vùng (phân loại cN)

    • Các hạch mạc treo trực tràng (màu vàng): Bao gồm‘hạch bạch huyết trực tràng giữa cao’(lên đến nguyên ủy của động mạch mạc treo tràng dưới), nằm dọc theo các mạch máu mạc treo tràng dưới và trực tràng trên trước xương cùng.
    • Hạch bịt (màu xanh lam)
    • Các hạch chậu trong (màu xanh lá)

    Hạch Bạch Huyết Không Thuộc Vùng (danh mục cM)

    Các hạch bạch huyết nằm ngoài phân loại cN được coi là di căn xa (cM):

    • Hạch chậu ngoài
    • Hạch chậu chung
    • Hạch bẹn


    Lập kế hoạch Xạ trị/Phẫu thuật
    Phẫu thuật TME tiêu chuẩn chỉ lấy bỏ các hạch mạc treo trực tràng.
    Giới hạn trên của TME được xác định bởi vị trí khối u và hạch bạch huyết nghi ngờ ở vị trí gần nhất (tức là, liệu các hạch dọc theo động mạch mạc treo tràng dưới có được bao gồm hay không).
    Báo cáo rõ ràng về sự tham gia.

    Các hạch bịt và hạch chậu trong, dù thuộc phân loại cN, thường không được cắt bỏ thường quy—những hạch này có thể cần xạ trị mục tiêu hoặc phẫu thuật nạo vét hạch bạch huyết bên để giảm nguy cơ tái phát bên.

    Ngoại lệ:AJCC TNM (ấn bản thứ 8) phân loại các hạch bẹn là hạch vùng đối với các khối u trực tràng thấp lan rộng vào ống hậu môn đoạn xa (dưới đường lược), vì các khối u này đi theo đường dẫn lưu bạch huyết vùng của ống hậu môn.


    Cuộn qua các hình ảnh

    Hình ảnh MRI này minh họa
    các khoang hạch bạch huyết trực tràng giữa, chậu trong, bịt, và chậu ngoài
    như được phác thảo bởi Hiệp hội Nghiên cứu Hạch Bên[ref].

    Những Điểm Chính:

    • Các hạch chậu ngoài không phải là hạch vùng; nếu dương tính, chúng được phân loại là bệnh di căn (cM).
    • Các khoang bịt và chậu trong được phân tách bởi bờ bên của thân chính của các mạch chậu trong.
    • Ranh giới phía sau của khoang chậu ngoài được xác định bởi ranh giới phía sau của các mạch chậu ngoài.


    Hạch Bạch Huyết Trực Tràng Trên và Mạc Treo Tràng Dưới
    Vùng màu tím làm nổi bật các hạch bạch huyết trực tràng trên và hạch bạch huyết mạc treo tràng dưới (“hạch mạc treo trực tràng cao”), đây là các hạch thuộc giai đoạn N vùng.

    Yêu cầu Báo cáo:

    • Chỉ định mức độ của hạch nghi ngờ gần nhất trong vùng này (ví dụ:“Hạch bạch huyết gần nhất nằm dọc theo các mạch máu trước xương cùng ở mức S2.”).
    • Ghi nhận bất kỳ hạch nghi ngờ nào dọc theo chân mạch mạc treo tràng dưới.


    Tác động lâm sàng:
    Thông tin này ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch trường xạ trị và chiến lược cắt bỏ phẫu thuật.


    Benign nodes dorsal from the external iliac veins

    Hạch lành tính ở phía lưng so với tĩnh mạch chậu ngoài

    Cạm bẫy – hạch lành tính ở phía sau tĩnh mạch chậu ngoài

    Di căn hạch dọc theo các mạch máu chậu ngoài hiếm gặp trong ung thư trực tràng và, nếu có, cho thấy bệnh di căn xa (cM).
    Tuy nhiên, các hạch bạch huyết lành tính nổi bật nằm ngay phía sau tĩnh mạch chậu ngoài là một phát hiện thường gặp và không nên nhầm lẫn với di căn.
    Các hạch này thường có hình bầu dục hoặc hình thuôn dài và thường xuất hiện hai bên (hình).
    Hình thái của chúng mang đặc điểm của các hạch bạch huyết phản ứng lành tính, và trong hầu hết các trường hợp, chúng có thể được bỏ qua một cách an toàn trong báo cáo.

    Ngưỡng đường kính trục ngắn 7 mm được sử dụng để đánh giá các hạch bịt và hạch chậu trong không áp dụng được cho các hạch chậu ngoài, vì các hạch phản ứng ở vùng này thường xuyên vượt quá 7 mm về đường kính trục ngắn.

    Tiêu chí cho Hạch Bạch Huyết Nghi Ngờ

    Độ chính xác hạn chế của MRI trong phân giai đoạn hạch N đã chuyển hướng tập trung sang các yếu tố nguy cơ đáng tin cậy hơn (ví dụ: xâm lấn MRF, EMVI). Hướng dẫn ESGAR hiện ủng hộ phương pháp tiếp cận thích ứng theo nguy cơ thay vì đánh giá chi tiết từng hạch.

    Tiêu chí phân loại cN

    • Các hạch mạc treo trực tràng:
      • Nghi ngờ nếu: ≥9 mm hoặc tín hiệu chất nhầy.
      • Các hạch nhỏ hơn: Cần có thêm các đặc điểm ác tính để phân loại cN+.
      • Hướng dẫn của Hà Lan: Các hạch <5 mm (trừ khi dạng nhầy) được coi là lành tính.
    • Các hạch bên (chậu trong/bịt):
      • Nghi ngờ nếu: ≥7 mm; hình thái ác tính hỗ trợ cN+ trong các hạch kích thước trung gian.
    • Lắng đọng khối u:
      • Đặc điểm phân biệt: Hình dạng không đều, liên tục với mạch máu, thiếu hình thái hạch bạch huyết điển hình (ví dụ: hình bầu dục, vỏ bao).

    Phân giai đoạn cN truyền thống so với hiện tại

    • Theo truyền thống:N0 (0 hạch), N1 (1–3 hạch), N2 (≥4 hạch), với các phân loại chi tiết hơn (N1abc, N2ab).
    • Thực hành hiện tại: Đơn giản hóa thành cN0/N+do độ chính xác hạn chế của MRI.
    • Khuyến nghị của ESGAR:Bao gồm mức độ tin cậy, có xem xét các yếu tố nguy cơ bổ sung cho sự xâm lấn hạch.

    Phân loại cN thực hành

    • cN0:Không có hạch bạch huyết đáng ngờ.
    • Có thể cN+:Các hạch bạch huyết mờ nhạt hoặc không rõ ràng (đặc biệt nếu có nhiều hạch).
      Hạ giai đoạn xuống cN0nếu không có các đặc điểm nguy cơ cao nào khác
      Nâng cấp lên cN+nếu có các yếu tố nguy cơ bổ sung.
    • cN+:Hạch bạch huyết rõ ràng là bệnh lý hoặc hạch nghi ngờ kèm theo các yếu tố nguy cơ bổ sung.

    Các Yếu Tố Nguy Cơ Bổ Sung:Giai đoạn T tiến triển, xâm lấn mạch máu ngoài thành ruột (EMVI), nhiều hạch nghi ngờ.

    Hạch bạch huyết bên (chậu trong/bịt)

    Các hạch bạch huyết chậu trong và bịt bên chủ yếu được đánh giá theo kích thước, với ≥7 mm (trục ngắn) là tiêu chí chính cho cN+.

    Đặc điểm hình thái học—ranh giới không rõ ràng,
    tín hiệu không đồng nhất, hình dạng tròn và mất rốn mỡ—có thể hỗ trợ
    chẩn đoán ác tính trong các hạch kích thước trung bình (5–7 mm), đặc biệt nếu có nhiều hạch hoặc
    khi có sự hiện diện của các hạch bên rõ ràng bệnh lý khác.

    Yêu cầu Báo cáo
    Bất kỳ hạch N+ bên nào (dù đã được gộp vào phân loại cN chung) đều phải được nêu bật riêng trong báo cáo MRI, với vị trí và kích thước được chỉ định cụ thể, vì những hạch này cần được điều trị có mục tiêu để ngăn ngừa tái phát bên.


    Hình ảnh

    • Hình ảnh bên trái: Hạch bạch huyết bệnh lý 9 mm ở khoang bịt bên trái (mũi tên), được xác định tại thời điểm phân loại giai đoạn ban đầu. Cần xạ trị và/hoặc cắt bỏ riêng biệt để tránh tái phát bên ngoài.
    • Hình ảnh bên phải: Bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp TME tiêu chuẩn (không cắt hạch bên) đã xuất hiện khối u không đều ở khoang bịt trái, phù hợp với tái phát hạch bên.

    Khối lắng đọng khối u

    Lắng đọng uđược công nhận là một đặc điểm nguy cơ cao với tiên lượng xấu hơn so với các hạch bạch huyết bệnh lý.
    Trong khi độ tin cậy của MRI trong việc phân biệt các ổ di căn khối u với hạch bạch huyết vẫn còn đang được tranh luận,Hướng dẫn ESGARgợi ý hình dạng không đều và sự tiếp giáp tĩnh mạch là các tiêu chí hình ảnh học quan trọng.
    Ngược lại, các hạch bạch huyết thường có hình bầu dục, có vỏ bao, và không liên quan đến mạch máu.

    Báo cáo:Mặc dù các ổ di căn dạng nốt được phân loại theo danh mục cN, sự hiện diện nghi ngờ của chúng phải được ghi nhận rõ ràng trong báo cáo MRI.


    Hạng N1c (Phiên bản TNM thứ 8)

    • Định nghĩa: Các ổ di căn khối u không kèm theo hạch bạch huyết bệnh lý.
    • Thách thức: Việc phân biệt các ổ di căn khối u nhỏ với hạch bạch huyết vẫn còn khó khăn; việc xác nhận quy mô lớn các tiêu chí hình ảnh học vẫn còn thiếu.
    • Khuyến nghị ESGAR: Do độ tin cậy hạn chế trên MRI, tránh phân loại phụ thành N1c.
      Thay vào đó, kết hợp các ổ di căn khối u và hạch bạch huyết dưới một phân loại cN đơn giản hóa (cN0, có thể là cN+, hoặc cN+).

    Khối lắng đọng khối u và xâm lấn mạch ngoài thành ruột (EMVI)

    Các ổ di căn dạng nốt có mối liên quan chặt chẽ với EMVI, thường được coi là sự tiếp nối của quá trình lan rộng khối u theo đường mạch máu—bắt đầu với EMVI và tiến triển thành các ổ di căn dạng nốt trong giai đoạn bệnh tiến xa[ref]
    Dữ liệu MRI cho thấy các ổ di căn khối u đồng xuất hiện với EMVI trong tới 80% trường hợp[ref].


    Ví dụ Hình ảnh

    • Mũi tên trắng: EMVI—tín hiệu khối u lan rộng vào các mạch máu lân cận, kèm theo sự giãn nở mạch máu và phá vỡ đường viền mạch máu.
    • Vòng tròn đen: Các ổ di căn khối u được gieo rắc dọc theo các mạch máu.

    Giai đoạn M

    Giai đoạn M trong ung thư
    trực tràng dựa trên sự hiện diện của các di căn hạch bạch huyết không thuộc vùng nghi ngờ
    và các di căn xa khác.

    Lưu ý rằng các hạch bạch huyết không thuộc vùng
    được coi chung là một “cơ quan”.

    Tái đánh giá giai đoạn sau điều trị tân bổ trợ

    Danh sách kiểm tra

    Trong kỷ nguyên bảo tồn tạng (theo dõi và chờ đợi), mục tiêu chính của việc tái đánh giá giai đoạn là phân tầng bệnh nhân theo đáp ứng với điều trị tân bổ trợ, hướng dẫn xử trí tiếp theo.

    CácHướng dẫn ESGAR [ref]I notice your message appears incomplete – it says “classify response as:” but doesn’t include the text to classify or the categories to use.

    Could you please provide:
    1. The **text/response** you’d like classified
    2. The **categories** you want me to classify it into

    I’m ready to help once I have that information!

    • Khối u tồn dư lớn (đáp ứng kém) → chỉ định phẫu thuật cắt bỏ triệt căn (TME)
    • Khối u tồn dư nhỏ (đáp ứng tốt) → có thể cân nhắc cả hai lựa chọn TME và bảo tồn cơ quan (cắt bỏ tại chỗ)
    • (Gần-)đáp ứng hoàn toàn → bảo tồn
      tạng (theo dõi và chờ đợi) có thể phù hợp. Nội soi phải được
      sử dụng kết hợp với MRI để xác nhận đáp ứng và hướng dẫn điều trị.


    Lưu ý

    • Đánh giá chi tiết về phân loại yT, yEMVI, yMRF,
      và xâm lấn cơ thắt chỉ có liên quan khi nghi ngờ có khối u
      còn sót lại.
    • Ở những bệnh nhân đáp ứng (gần) hoàn toàn và đáp ứng tốt với xơ hóa chiếm ưu thế, độ chính xác của MRI sau điều trị kém do xơ hóa thay thế vùng nền khối u, và do đó có giá trị lâm sàng hạn chế..


    Các Điểm Báo Cáo Chính cho Khối U Còn Sót Lại Nghi Ngờ

    Các bác sĩ X quang nên nhấn mạnh các đặc điểm ảnh hưởng đến chiến lược phẫu thuật và có thể cần phẫu thuật vượt ra ngoài TME:

    • xâm lấn ycT4b
    • Liên quan dai dẳng đến cơ thắt hoặc MRF
    • Hạch bạch huyết bên đáng ngờ

    Đánh giá đáp ứng

    Sau hóa xạ trị, các khối u trực tràng thường co nhỏ lại và trải qua quá trình biến đổi xơ hóa, biểu hiện dưới dạng giảm tín hiệu T2 rõ rệt tại vùng nền khối u.

    Phân biệt xơ hóa với khối u còn sống sót vẫn còn là một thách thức.
    Tín hiệu T2 không đồng nhất hoặc hiệu ứng khối tồn tại trong xơ hóa làm tăng nghi ngờ về bệnh còn sót lại.
    DWI cải thiện đáng kể độ chính xác bằng cách phát hiện các vùng khuếch tán hạn chế trong xơ hóa.


    Cấu Trúc Báo Cáo MRI Tái Giai Đoạn

    It seems your message got cut off. Could you please complete your question? You mentioned “Begin with a general description of:” but didn’t specify what topic or subject you’d like me to describe.

    Please provide the complete text you’d like me to translate from English to Vietnamese, and I’ll be happy to help!

    • Mức độ đáp ứng (Hình thái MRI trọng số T2)
    • Có/không có khuếch tán hạn chế trên DWI


    Phân loại Phản hồi

    1. (Gần như) đáp ứng hoàn toàn– Các ứng viên tiềm năng cho phương pháp theo dõi và chờ đợi (nếu nội soi xác nhận kết quả MRI)
    2. Khối u tồn dư nhỏ– Yêu cầu điều trị thêm đối với phần còn lại (cắt bỏ tại chỗ hoặc TME, tùy thuộc vào giai đoạn)
    3. Khối u còn lại lớn– Thường đòi hỏi cắt bỏ triệt để (TME)


    Mức độ thoái triển u theo MRI (mrTRG)

    • Sự thích ứng hình ảnh của TRG mô bệnh học, sử dụng thang điểm 5 điểm để phân loại sự biến đổi xơ hóa trên MRI xung T2 (xem bảng).
    • Báo cáo mrTRG riêng biệt không bắt buộc (theo hướng dẫn của ESGAR), nhưng các đặc điểm mrTRG (tính không đồng nhất của tín hiệu, tín hiệu khối u trong xơ hóa) bổ sung cho các phát hiện DWI để tinh chỉnh phân loại đáp ứng.

    Vai trò của DWI trong việc phát hiện khối u còn sót lại

    Hình ảnh khuếch tán (DWI) làm nổi bật mô có mật độ tế bào cao, nơi sự di chuyển của nước ngoại bào bị hạn chế.
    Giá trị chính của nó nằm ở việc phát hiện khối u còn sót lại trong tình trạng dày thành xơ hóa khu trú (một phần dạng vòng nhẫn) tại vị trí khối u đã được điều trị.
    Trong các trường hợp có khối u còn sót lại, tín hiệu cao thường được thấy ở bờ trong của mô xơ trên DWI giá trị b cao, với tín hiệu thấp tương ứng trên bản đồ ADC.


    Ví dụ về Hình ảnh

    • Hình ảnh T2-weighted phân giai đoạn ban đầu và phân giai đoạn lại cho thấy vùng nền khối u chủ yếu xơ hóa với tín hiệu không đồng nhất nhỏ (mrTRG 3) sau hóa xạ trị.
    • Hình ảnh DWI tái giai đoạn cho thấy vùng tín hiệu cao khu trú tại bờ trong của xơ hóa, với tín hiệu ADC thấp, cho thấy sự khuếch tán bị hạn chế.
    • Mô bệnh học xác nhận đây là phần mô u còn sót lại nhỏ (ypT2)

    Bẫy khuếch tán DWI

    T2 Sáng Xuyên Thấu (T2 Shine-Through)

    • Hình ảnh khuếch tán (DWI) vốn dĩ có trọng số T2.
    • T2 shine-through đề cập đến tín hiệu DWI cao do thời gian thư giãn T2 dài (ví dụ: dịch), không phải do khuếch tán bị hạn chế.
    • Trong DWI trực tràng, một lượng nhỏ dịch trong lòng ruột có thể bắt chước tín hiệu khối u ở thành trực tràng lân cận.
    • Phân biệt: n
      bản đồ ADC (và hình ảnh T2W), dịch trong lòng ống cho tín hiệu cao, khác với
      khối u.


    T2 Tối Xuyên (T2 Blackout)

    • T2 dark-through xuất hiện dưới dạng tín hiệu thấp rõ rệt trên bản đồ ADC ở các vùng xơ hóa dày đặc không có khối u còn hoạt tính.
    • Xảy ra trong các mô có thời gian giãn từ T2 rất ngắn (ví dụ: xơ hóa giàu collagen, vôi hóa, xương vỏ).
    • Kết quả cho tín hiệu giảm tín hiệu (đen) trên các chuỗi xung ADC, DWI, T2 và T1.
    • Điểm khác biệt chính: Tín hiệu tối xuyên T2 có màu đen rõ rệt trên ADC, trong khi khối u có màu xám.
    • Không đáng ngờ cho khối u và không nên nhầm lẫn với khuếch tán hạn chế.

    T2 Shine-Through

    Wait, I need to translate this to Vietnamese:

    T2 Shine-Through

    The translation of “T2 Shine-Through” in Vietnamese medical context is:

    Hiện tượng T2 Shine-Through
    Mũi tên
    trắng chỉ tín hiệu DWI
    cao từ dịch trong lòng trực tràng, được xác nhận bởi tín hiệu cao trên
    bản đồ ADC.

    T2 Tối Xuyên Suốt
    Mũi tên đen cho thấy tín hiệu thấp rõ rệt ở thành trực tràng trước đã xơ hóa trên bản đồ ADC.
    Không có tín hiệu DWI cao tương ứng ở thành mạch, xác nhận không có hiện tượng hạn chế khuếch tán thực sự.

    Nhiễu ảnh do độ nhạy từ

    Các hình ảnh DWI vùng bụng thường được thu thập bằng cách sử dụng kỹ thuật chụp ảnh echo planar (EPI), cho phép thu thập nhanh chóng với các tạo phẩm chuyển động tối thiểu.
    Tuy nhiên, EPI-DWI rất nhạy cảm với các nhiễu ảnh do tính nhạy cảm từ, đặc biệt ở cường độ từ trường cao hơn.
    Các hiện vật này gây ra sự biến dạng hoặc sự chồng chất tín hiệu nhân tạo tại giao diện thành trực tràng–khí, có khả năng bắt chước tín hiệu khối u.
    Trong khi các artefact lớn dễ dàng được nhận ra, các artefact nhỏ có thể bị hiểu nhầm là bệnh lý.
    Các hướng dẫn hiện hành khuyến nghị sử dụng micro-thụt tháo chuẩn bị cho việc tái đánh giá giai đoạn (tùy chọn đối với đánh giá giai đoạn ban đầu) nhằm giảm thiểu khí trong lòng ruột và giảm các nhiễu ảnh do độ nhạy cảm từ.

    Hình ảnh

    • Trước CRT: CRT:
      khối u ở thành trực tràng trước bên phải (mũi tên đen).
    • Xơ hóa sau CRT hiện diện ở vùng nền khối u cũ (9–12 giờ).
    • DWI: Tín hiệu cao
      (mũi tên trắng) nằm ở phía đối bên, ngoài
      vùng khối u ban đầu.
      Điều này gây ra bởi hiện tượng nhiễu ảnh do độ cảm từ từ khí trong lòng trực tràng.

    Luôn luôn đối chiếu vị trí của tín hiệu DWI cao với vị trí khối u ban đầu.
    Điều này giúp phân biệt các nhiễu ảnh với tín hiệu thực sự nghi ngờ khối u.

    Đánh giá sau CRT về sự xâm lấn MRF

    Tái Xuất Hiện Mặt Phẳng Mỡ 
    Khi mặt phẳng mỡ tái xuất hiện giữa nền khối u và MRF sau hóa xạ trị (CRT), nguy cơ xâm lấn MRF dai dẳng là rất thấp.

    Thâm Nhiễm Tín Hiệu Khối U Lan Tỏa
    Nếu tình trạng thâm nhiễm lan tỏa của MRF bởi tín hiệu u trung gian vẫn còn tồn tại sau CRT, nguy cơ xâm lấn mô bệnh học MRF là cao (~90%).

    Thâm Nhiễm Xơ Hóa Lan Tỏa
    Trong các trường hợp có sự xâm lấn MRF dạng xơ hóa lan tỏa, nguy cơ MRF dương tính trên mô bệnh học là ~50%.


    Ví dụ Hình ảnh

    • Trước CRT:Xâm lấn MRF lan rộng từ vị trí 4–8 giờ (mũi tên).
    • Sau CRT:Khối u đã trải qua quá trình xơ hóa và co rút khỏi MRF. Một lớp mỡ hiện đã có thể nhìn thấy, với chỉ một vài sợi xơ nhỏ—cho thấy MRF không có khối u tại thời điểm đánh giá lại (yMRF-).

    Example of a patient with several irregularly enlarged cN+ nodes at primary staging. After chemoradiotherapy, most nodes have disappeared and only a small node of < 5 mm remains, indicative of a ycN0 stage.

    Ví dụ về một bệnh nhân có nhiều hạch cN+ phì đại không đều tại thời điểm phân giai đoạn ban đầu. Sau hóa xạ trị, hầu hết các hạch đã biến mất và chỉ còn lại một hạch nhỏ < 5 mm, gợi ý giai đoạn ycN0.

    Tái phân giai đoạn tình trạng hạch bạch huyết sau hóa xạ trị đồng thời (phân loại ycN)

    Hiệu suất chẩn đoán của MRI trong việc tái phân giai đoạn hạch bạch huyết sau CRT vượt trội hơn so với phân giai đoạn ban đầu. Sau CRT, hầu hết các hạch đều co nhỏ lại hoặc biến mất trên MRI.

    Hướng dẫn ESGAR:

    • ycN0:Các hạch có đường kính trục ngắn <5 mm trên MRI tái đánh giá giai đoạn.
    • ≥5 mm hạch:Đánh giá nguy cơ bệnh lý yN+ trong bối cảnh đáp ứng của khối u nguyên phát, vì đáp ứng của hạch bạch huyết thường phản ánh tương tự như đáp ứng của khối u nguyên phát.
    • ycN+:Hạch rõ ràng có tính chất bệnh lý (ví dụ: >9 mm).


    Hạch Bạch Huyết Giới Hạn (5–7 mm):

    • Nguy cơ yN+ cao hơn ở những bệnh nhân có khối u tồn dư lớn.
    • Nguy cơ yN+ thấp hơn ở những bệnh nhân có khối u tồn dư nhỏ hoặc đáp ứng (gần như) hoàn toàn.
    • Đối với các ứng viên bảo tồn cơ quan, hãy xem xét “thử thách thời gian” (theo dõi và chờ đợi): Các hạch ổn định hoặc thu nhỏ gợi ý ycN0; các hạch phát triển to hơn cho thấy bệnh yN+.


    Nút bên:

    • Không có tiêu chí tái phân giai đoạn hoặc ngưỡng kích thước nào được xác nhận.
    • Báo cáo sự giảm kích thước của các hạch bên ban đầu nghi ngờ.
    • Cần đánh giá đa chuyên khoa để cân nhắc nguy cơ bệnh còn tồn tại, xem xét mức độ giảm kích thước, đáp ứng của hạch mạc treo trực tràng và đáp ứng của khối u nguyên phát.
    • “Thử nghiệm theo thời gian” có thể được xem xét đối với các trường hợp không rõ ràng.

    Hạch bạch huyết, giống như tất cả các mô bạch huyết (ví dụ: lách), có cấu trúc tế bào dày đặc, dẫn đến khuếch tán bị hạn chế và tín hiệu DWI cao.
    DWI có thể tăng cường khả năng phát hiện hạch bạch huyết, đặc biệt ở những vùng mà các hạch dễ bị bỏ sót, chẳng hạn như vùng chậu hông trong.

    Hạn chế:DWI không thể phân biệt đặc điểm hạch bạch huyết—cả hạch lành tính và hạch di căn đều cho tín hiệu cao.


    Ví dụ Hình ảnh

    • Hình ảnh hạch bạch huyết được cải thiện trên DWI so với hình ảnh trọng số T2.
    • DWI không hữu ích trong việc đánh giá nguy cơ ác tính ở các hạch này.

    Giao thức MRI

    Phần cứng

    • Cường độ từ trường: 1,5T hoặc 3,0T
    • Cuộn dây: Cuộn dây bề mặt ngoài mảng pha
    • Cuộn nội trực tràng: Không được khuyến nghị


    Chuẩn Bị Bệnh Nhân

    • Co thắt:Có thể được sử dụng để giảm các nhiễu ảnh do nhu động ruột, đặc biệt đối với các khối u trực tràng trên.
    • Lấp đầy nội trực tràng: Không được khuyến nghị—chướng bụng có thể cản trở việc đánh giá chính xác khoảng cách của khối u đến các cấu trúc xung quanh (ví dụ: mạc mạc treo trực tràng).
    • Giảm Đầy Hơi:Thuốc thụt tháo vi lượng tự dùng 15–30 phút trước khi chụp MRI được khuyến nghị để giảm thiểu các nhiễu ảnh nhạy cảm trên DWI, đặc biệt trong đánh giá tái giai đoạn.

    Lập kế hoạch chuỗi MR

    Loạt Sagittal

    • Mục đích: Xác định vị trí khối u và lập kế hoạch chuỗi hình ảnh theo trục/vành.
    • Trường nhìn (FOV):
      • Ranh giới颅侧: Mức độ nhô xương cùng

        Wait, let me provide the correct translation:

        Ranh giới trên: Mức mỏm nhô xương cùng

      • Bờ dưới: Phía dưới ống hậu môn


    Chuỗi Trục

    • Định hướng: Vuông góc với trục khối u (chếch-trục)
    • Mục đích: Đánh giá chính xác mức độ xâm lấn của khối u ra ngoài thành trực tràng và khoảng cách đến MRF


    Chuỗi Mặt Phẳng Vành

    • Định hướng: Song song với trục khối u (vuông góc với chuỗi axial)
    • Cân nhắc Đặc biệt cho Các Khối U Đầu Xa:
      • Nếu khối u ở gần/liên quan đến ống hậu môn, hãy lập kế hoạch các chuỗi xung mặt phẳng coronal song song với ống hậu môn hoặc thêm một mặt phẳng coronal bổ sung song song với ống hậu môn (hình bên phải).
      • Mục đích: Đánh giá tối ưu sự xâm lấn cơ thắt hậu môn.

    Cạm bẫy – hiểu sai do góc độ không chính xác

    Hình ảnh giữa:

    • Lỗi: Hình ảnh mặt phẳng trục được căn chỉnh theo mặt phẳng trục thực sự, không vuông góc với trục khối u của khối u trực tràng đoạn xa này.
    • Kết quả: Hình ảnh giả của sự xâm lấn MRF phía trước (vòng tròn đỏ).

    Hình ảnh bên phải:

    • Hình chiếu chếch-trục được căn góc chính xác
      vuông góc với trục khối u.
    • Kết quả: Mặt phẳng mỡ rõ ràng (>1 mm) có thể nhìn thấy giữa
      khối u và MRF (vòng tròn vàng), xác nhận không có
      sự xâm lấn MRF.

    Hình ảnh T2WI 2D Độ phân giải cao
    Một giao thức MRI trực tràng
    nên thường quy bao gồm các chuỗi xung T2 2D độ phân giải cao trong nhiều
    mặt phẳng với độ dày lát cắt ≤3 mm và độ phân giải trong mặt phẳng < 1 x 1 mm.
    Theo nguyên tắc chung, độ phân giải trong mặt phẳng 0,6 x 0,6 mm cho kết quả
    chất lượng tốt, hình ảnh độ phân giải cao.

    Mặc dù những tiến bộ kỹ thuật gần đây đã cải thiện chất lượng của các chuỗi xung T2 3D,
    chúng vẫn chưa được sử dụng phổ biến như một sự thay thế cho các chuỗi xung
    T2 2D.

    DWI

    DWI được khuyến cáo cho tất cả các quy trình chụp MRI trực tràng.

    có thể hữu ích cho việc phát hiện khối u và hạch bạch huyết trong giai đoạn phân loại ban đầu và
    đặc biệt hữu ích cho việc phát hiện khối u còn sót lại trong mô xơ sau
    điều trị tân bổ trợ.

    Có một số dữ liệu cho thấy rằng DWI có thể hỗ trợ trong việc phát hiện yEMVI và sự xâm lấn yMRF dai dẳng sau CRT[ref1], [ref2], [ref3].

    Yêu cầu DWI:

    • Giá trị b cao: ≥800 s/mm²
    • Bản đồ ADC: Phải được tạo ra và xem xét trực quan cùng với DWI.
    • Định lượng ADC: Không được khuyến cáo để (tái) phân giai đoạn lâm sàng.


    Ví dụ về hình ảnh

    • MRI trọng số T2:Khối u hầu như không thể nhận ra do bị che khuất bởi phân.
    • DWI:Khối u có thể phát hiện rõ ràng, cho thấy ưu điểm của DWI trong các trường hợp khó.

    Trường nhìn và các chuỗi xung bổ sung

    Trình Tự Chụp Khung Chậu Với Trường Nhìn Rộng

    • Vùng chiếu xạ: Toàn bộ vùng chậu, từ chỗ phân đôi động mạch chủ đến bờ dưới ống hậu môn, bao gồm vùng bẹn và tất cả các chặng hạch bạch huyết liên quan.
    • Tùy chọn chuỗi xung: Chuỗi T2-weighted (Nhanh) hoặc T1-weighted.
    • T1W Ưu điểm: Hữu ích trong việc đặc trưng hóa các phát hiện tình cờ (ví dụ: tổn thương xương, nang buồng trứng).


    Hình ảnh tăng cường Gadolinium 

    • Không bắt buộcđể phân giai đoạn tiêu chuẩn — không cải thiện
      độ chính xác chẩn đoán.


    T2-weighted
    Hình ảnh ức chế mỡ
    :

    • Không cần thiết cho việc phân giai đoạn tiêu chuẩn.
    • Hình ảnh T2 có ức chế mỡ: Có thể có lợi cho bệnh nhân có rò hậu môn hoặc áp xe quanh hậu môn kèm theo.


    Các Thủ Thuật Phẫu Thuật cho Ung Thư Trực Tràng

    Cắt bỏ toàn bộ mạc treo trực tràng (TME)

    Là quy trình tiêu chuẩn cho ung thư trực tràng và bao gồm việc cắt bỏ hoàn toàn mạc treo trực tràng dọc theo mạc mạc treo trực tràng, bao gồm các kỹ thuật khác nhau như LAR, APR, liên cơ thắt và APR ngoài cơ nâng hậu môn.
    Phẫu thuật TME qua đường hậu môn (taTME) hay còn gọi là phẫu thuật ‘từ dưới lên’ kết hợp
    phẫu thuật nội soi với phương pháp tiếp cận qua đường hậu môn.



    Cắt đoạn trực tràng thấp trước (LAR)

    • Thủ thuật: Ống hậu môn được bảo tồn; tạo miệng nối giữa trực tràng và đại tràng sigma.
    • Chỉ định: Khối u trực tràng cao với khoảng cách đủ rộng giữa khối u và ống hậu môn.
    • Miệng nối: Thường gặp nhất là bên-tận.


    Cắt bỏ bụng-tầng sinh môn (APR)

    • Thủ thuật: Cắt bỏ toàn khối trực tràng và ống hậu môn; cần mở thông đại tràng vĩnh viễn.
    • Chỉ định: Khối u trực tràng thấp với diện cắt gần hoặc có xâm lấn ống hậu môn.
    • Sửa chữa tầng sinh môn: Các lựa chọn bao gồm đóng kín nguyên phát, tạo hình mạc nối, hoặc tái tạo bằng phẫu thuật tạo hình (vạt cơ da VRAM/ORAM).


    Cắt cụt trực tràng qua đường liên cơ thắt

    • Biến thể của APR trong đó cơ thắt ngoài được bảo tồn.


    Cắt bỏ trực tràng qua ngã bụng tầng sinh môn ngoài cơ nâng hậu môn

    • Thủ thuật mở rộng bao gồm cơ nâng hậu môn; được chỉ định cho các khối u xâm lấn sàn chậu (cơ nâng).


    Ngoài Phẫu Thuật TME và Phẫu Thuật Tháo Rỗng Vùng Chậu

    • “Vượt ra ngoài TME”:Cắt bỏ mở rộng đối với các khối u xâm lấn các cấu trúc ngoài khoang mạc treo trực tràng.
    • Khoét rỗng vùng chậu:Dạng rộng rãi nhất; cắt bỏ en bloc trực tràng và một hoặc nhiều cơ quan vùng chậu lân cận.

    Cắt bỏ tại chỗ qua đường hậu môn

    • Kỹ thuật xâm lấn tối thiểucho việc cắt bỏ nội soi các khối u trực tràng qua đường hậu môn.
      • Cắt niêm mạc qua nội soi (EMR) và Bóc tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) là các kỹ thuật cắt bỏ bề mặt đối với các polyp không phải ung thư và khối u T1sm1/T1sm2.
      • Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu qua hậu môn (TAMIS) và
        Phẫu thuật vi phẫu nội soi qua hậu môn (TEMlà cắt bỏ toàn bộ chiều dày cho khối u T1 (và một số khối u T2 nhỏ được chọn lọc).

    Bảo tồn tạng

    Có một xu hướng ngày càng tăng hướng tới các phương pháp xâm lấn tối thiểu hoặc không phẫu thuật đối với các khối u trực tràng có đáp ứng hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn sau điều trị tân bổ trợ.

    Các chiến lược này hiện đã được tích hợp vào các hướng dẫn lâm sàng chính và bao gồm:

    • “Theo dõi và chờ đợi”:Bệnh nhân có đáp ứng hoàn toàn về lâm sàng sau điều trị tân bổ trợ có thể trì hoãn phẫu thuật và được theo dõi chặt chẽ.
    • Cắt bỏ tại chỗ hoặc xạ trị:Đối với bệnh nhân có phần khối u còn sót lại nhỏ.


    Sự Phát Triển của Bảo Tồn Cơ Quan:

    • Ban đầu tập trung vào “bảo tồn cơ quan thứ phát”—những bệnh nhân được hóa xạ trị tân bổ trợ để thu nhỏ khối u và đạt được đáp ứng tốt đến mức có thể tránh được phẫu thuật.
    • Trong các thử nghiệm lâm sàng, (hóa)xạ trị được lựa chọn cung cấp cho một số bệnh nhân có nguy cơ thấp hơn ưu tiên bảo tồn cơ quan, với mục đích chính là bảo tồn cơ quan ngay từ đầu.

    Các lựa chọn điều trị mang tính đa yếu tố, cân bằng giữa sự an toàn về mặt ung thư học, sở thích của bệnh nhân và chất lượng cuộc sống được kỳ vọng.
    Sự thành công của các chiến lược này phụ thuộc vào hình ảnh sau điều trị có độ chính xác cao.
    MRI, kết hợp với nội soi và khám lâm sàng, đóng vai trò trung tâm trong cả việc lựa chọn bệnh nhân và theo dõi trong quá trình bảo tồn tạng.

    Ví dụ video về Phân giai đoạn


    Ung thư trực tràng thấp

    Trong trường hợp này, chúng tôi trình bày cách phân giai đoạn ung thư trực tràng thấp.
    Bạn có thể cuộn qua các hình ảnh và sau đó xem video trong đó chúng tôi sẽ giải thích về phân giai đoạn.

    Trong video này, chúng tôi trình bày cách phân loại giai đoạn ung thư trực tràng thấp.


    Ung thư trực tràng cao

    Trong trường hợp này, chúng tôi trình bày cách phân giai đoạn ung thư trực tràng cao.
    Bạn có thể cuộn qua các hình ảnh và sau đó xem video trong đó chúng tôi sẽ giải thích về phân giai đoạn.

    Trong video này, chúng tôi trình bày cách phân loại giai đoạn của ung thư ở trực tràng trên hoặc trực tràng cao.

    Với sự chú ý đặc biệt đến phúc mạc phản chiếu phía trước, mạc treo trực tràng và xâm lấn mạch máu ngoài thành ruột.

    Nếu bạn muốn tự cuộn qua các hình ảnh, trước tiên bạn có thể muốn xem các hình ảnh cuộn.

    Từ thiện

    Toàn bộ lợi nhuận từ The Radiology Assistant được quyên góp cho Medical Action Myanmar, một tổ chức do Tiến sĩ Nini Tun và Giáo sư Frank Smithuis Sr. lãnh đạo—một giáo sư tại Đại học Oxford và là anh trai của Robin Smithuis.

    [Xem video của Medical Action Myanmar tại đây.]

    Nếu bạn đánh giá cao The Radiology Assistant, hãy cân nhắc ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một khoản quyên góp nhỏ.

  • Vai – Chấn thương chóp xoay

    Vai – Chấn thương chóp xoay

    Robin Smithuis, Frank Smithuis và Henk-Jan van der Woude

    Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam và Bệnh viện Onze Lieve Vrouwe Gasthuis tại Amsterdam, Hà Lan

    Ngày đăng

    Chóp xoay đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định khớp ổ chảo – cánh tay trong các cử động của cánh tay.
    Rách chóp xoay là nguyên nhân phổ biến nhất gây đau vai, dẫn đến mất sức mạnh và mất vững khớp vai.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về:

    • Vai trò của MRI trong phát hiện rách toàn bộ chiều dày chóp xoay.
    • Chụp MRI khớp có thuốc tương phản từ trong đánh giá rách một phần chiều dày và các bệnh lý nội khớp đi kèm.
    • MRI như một công cụ chẩn đoán hình ảnh tiền phẫu để đánh giá chất lượng các cấu trúc phần mềm liên quan đến bệnh lý chóp xoay.
    • Mô tả các biến thể giải phẫu của ống thoát xương ở bệnh nhân có triệu chứng hội chứng chèn ép.

    Giải phẫu


    Anterior view of the shoulder

    Hình ảnh vai nhìn từ phía trước

    Chóp xoay

    Chóp xoay được cấu thành bởi các gân của cơ dưới vai, cơ trên gai, cơ dưới gai và cơ tròn bé, bám vào đầu trên xương cánh tay.
    Chức năng chính của chóp xoay là ổn định và giữ trung tâm chỏm xương cánh tay trong ổ chảo trong các cử động của cánh tay bằng cách ép chỏm xương cánh tay vào ổ chảo.
    Chóp xoay – như tên gọi của nó – cũng đóng vai trò quan trọng trong động tác xoay trong và xoay ngoài của cánh tay.

    Cơ dưới vai
    Cơ dưới vai nằm ở phía trước xương bả vai, với gân bám vào mấu động nhỏ.
    Cơ dưới vai là cơ xoay trong mạnh, đồng thời hỗ trợ cánh tay trong các động tác dạng và khép. Trật khớp đầu dài gân cơ nhị đầu sẽ dẫn đến rách một phần gân cơ dưới vai.

    Cơ trên gai
    Cơ trên gai nằm trong hố trên gai, với gân bám vào mấu động lớn. Cơ trên gai khởi động động tác dạng cánh tay, sau đó được tiếp tục bởi cơ delta – cơ dạng và duỗi chính của cánh tay.

    Đầu dài gân cơ nhị đầu
    Đầu dài gân cơ nhị đầu có liên quan về mặt giải phẫu và chức năng với chóp xoay. Gân xuất phát từ củ trên ổ chảo và đoạn gần của nó nằm trong khớp. Gân thoát ra khỏi khớp ổ chảo – cánh tay và đi qua khoảng gian cơ xoay giữa gân cơ dưới vai và gân cơ trên gai vào rãnh gian củ của đầu trên xương cánh tay.


    Posterior view of the shoulder

    Hình ảnh vai nhìn từ phía sau

    Cơ dưới gai
    Cơ dưới gai nằm ở phía sau xương bả vai, phía dưới gai xương bả vai. Gân cơ dưới gai bám vào mặt sau của mấu động lớn.
    Cơ dưới gai là cơ xoay ngoài mạnh, đồng thời hỗ trợ cả động tác dạng và khép.

    Cơ tròn bé
    Cơ tròn bé nằm phía dưới cơ dưới gai.
    Gân bám vào mấu động lớn.
    Chức năng của cơ tròn bé chủ yếu là xoay ngoài và khép cánh tay.

    Các cấu trúc khác giúp ổn định khớp ổ chảo – cánh tay bao gồm bao khớp, sụn viền và các dây chằng ổ chảo – cánh tay.

    Các dạng mỏm cùng vai

    Có bốn dạng vòm mỏm cùng vai được mô tả.
    Trong phân loại Bigliani, ban đầu có 3 dạng (type 1-3). Sau đó, một dạng thứ tư hình lồi được bổ sung thêm.

    Dạng 2 với hình dạng cong là dạng phổ biến nhất.

    Dạng 3 với hình dạng móc câu là dạng duy nhất có liên quan đến tăng tỷ lệ hội chứng chèn ép khớp vai.

    Os Acromiale

    Sự thất bại trong quá trình liền xương của một trong các trung tâm cốt hóa mỏm cùng vai sẽ dẫn đến hình thành os acromiale.
    Bất thường này gặp ở 5% dân số.
    Thông thường đây là phát hiện tình cờ và được xem là một biến thể bình thường.

    Os acromiale có thể gây triệu chứng do thoái hóa khớp tại khớp nối mỏm cùng vai – os acromiale, hoặc do hội chứng chèn ép vì nếu os acromiale không ổn định, nó có thể bị kéo xuống dưới trong động tác dạng cánh tay bởi cơ delta bám vào đây.

    Trên MRI, os acromiale được quan sát rõ nhất trên các lát cắt axial phía trên.
    Os acromiale cần được đề cập trong báo cáo, vì ở những bệnh nhân được cân nhắc phẫu thuật giải áp dưới mỏm cùng vai, việc cắt bỏ phần mỏm cùng vai phía xa khớp sụn có thể làm mất ổn định thêm khớp sụn này, cho phép os acromiale di động nhiều hơn sau phẫu thuật và làm nặng thêm hội chứng chèn ép (4).

    Các hình ảnh MRI axial cho thấy os acromiale với các thay đổi thoái hóa, bao gồm nang xương dưới sụn và gai xương (mũi tên).

    Nguyên nhân rách chóp xoay

    Nguyên nhân rách chóp xoay có thể do chấn thương cấp tính, như chấn thương trực tiếp vào cơ và gân dưới vai, hoặc rách mạn tính gân cơ trên gai do chấn thương lặp đi lặp lại trong các hoạt động thể thao đưa tay qua đầu.
    Tình trạng này thường gặp ở người trẻ tuổi.

    Ở người lớn tuổi, nguyên nhân rách chóp xoay thường mang tính thoái hóa, điển hình như trong hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai hoặc do tình trạng giảm tưới máu tại các vùng đặc hiệu của gân.

    Rách bán phần

    Rách bán phần là tổn thương rách chóp xoay không lan toàn bộ chiều dày thành từ mặt khớp đến mặt túi hoạt dịch.

    Rách bán phần được phân loại thành:

    1. Rách mặt khớp
      nằm ở mặt dưới gân và thông với khớp ổ chảo – cánh tay.
    2. Rách mặt túi hoạt dịch
      nằm ở mặt túi hoạt dịch và thông với túi hoạt dịch dưới cơ delta.
    3. Rách trong thực chất gân
      nằm bên trong gân, không thông với khớp hoặc túi hoạt dịch.

    Rách bán phần mặt khớp phổ biến hơn rách mặt túi hoạt dịch, do lực lệch tâm tác động mạnh hơn lên mặt khớp, đồng thời các sợi gân ở mặt khớp yếu hơn và khả năng lành thương kém hơn.

    Rách bán phần được quan sát rõ nhất trên chuỗi xung PD và chuỗi xung T2W mặt phẳng coronal, có và không có xóa mỡ.
    Chụp MRI khớp có thuốc tương phản từ nội khớp rất nhạy trong phát hiện rách bán phần kể cả tổn thương nhỏ, nhưng chỉ ở mặt khớp.
    Tư thế ABER cho phép đánh giá cả thành phần theo chiều dọc và thành phần trong thực chất gân.

    Cần mô tả mức độ tổn thương gân: chiếm hơn hay ít hơn 50% chiều dày gân.

    Rách bán phần có thể tiến triển thành rách toàn phần.


    Rách mặt túi hoạt dịch không quan sát thấy trên MRI khớp có thuốc tương phản từ.

    Rách mặt túi hoạt dịch không quan sát thấy trên MRI khớp có thuốc tương phản từ.

    Rách mặt túi hoạt dịch không thể phát hiện trên MRI khớp có thuốc tương phản từ nội khớp, do thuốc tương phản từ trong khớp không thể lấp đầy vào vị trí khuyết tổn thương (hình minh họa).

    Trên MRI, rách bán phần có cường độ tín hiệu tương đương nước trên chuỗi xung T2W tại vị trí khuyết khu trú.

    Các vị trí hay gặp nhất:

    • Gân cơ trên gai: nửa trước, cách điểm bám < 1 cm.
    • Gân cơ trên gai: rách mặt dưới khớp tại vị trí bám tận vào mấu động lớn, còn gọi là rách bờ viền (rim-rent tear) hoặc bong gân bán phần mặt khớp (tổn thương PASTA).
    • Phần sau-trên của gân cơ trên gai kết hợp với phần trước-dưới của gân cơ dưới gai.

    Hình ảnh
    Trên chuỗi xung T2W có một tổn thương rách mặt túi hoạt dịch kích thước lớn.
    Lưu ý rằng trên MRI khớp có thuốc tương phản từ, tổn thương rách không quan sát thấy do thuốc tương phản từ nội khớp không thể tiếp cận vị trí khuyết trong gân.

    Rách bờ viền (Rim-rent tear)

    Rách bờ viền là một dạng rách bán phần chóp xoay thường gặp.

    Tổn thương này thường bị bỏ sót trên MRI, có thể do chưa nhận thức đầy đủ về tỷ lệ gặp cao của loại rách này và do không kiểm tra kỹ các sợi gân ở phần trước nhất của chóp xoay [tài liệu tham khảo].

    Hình ảnh là MRI khớp có thuốc tương phản từ chuỗi xung T1W xóa mỡ mặt phẳng coronal.

    Hình ảnh cho thấy rách bán phần mặt khớp đoạn xa gân cơ trên gai hay còn gọi là rách bờ viền, cũng được gọi là tổn thương PASTA – bong gân bán phần mặt khớp gân cơ trên gai.

    Đây là tổn thương PASTA ở một bệnh nhân khác.

    Hình ảnh
    Hình minh họa và MRI khớp có thuốc tương phản từ chuỗi xung T1 xóa mỡ mặt phẳng coronal.

    Rách toàn bộ chiều dày

    Rách toàn bộ chiều dày (Full Thickness Tear – FTT) là tổn thương kéo dài từ mặt túi hoạt dịch (bursal surface) xuyên suốt đến mặt khớp (articular surface).

    Rách toàn bộ chiều dày được phân loại thành:

    1. FTT không hoàn toàn (Incomplete FTT)
      Có rách toàn bộ chiều dày nhưng chỉ một phần chiều rộng của gân bị tổn thương.
    2. FTT hoàn toàn (Complete FTT)
      Rách toàn bộ chiều dày được gọi là hoàn toàn khi toàn bộ gân bị đứt.
    3. FTT hoàn toàn + co rút (Complete FTT + retraction)
      FTT có biến chứng co rút cơ.
    4. FTT hoàn toàn + co rút + teo cơ (Complete FTT + retraction + atrophy)
      FTT có biến chứng co rút cơ, teo cơ và thâm nhiễm mỡ, dẫn đến tiên lượng xấu.

    Bảng trình bày danh mục kiểm tra đối với rách toàn bộ chiều dày.

    Rách toàn bộ chiều dày không hoàn toàn

    Dấu hiệu đặc trưng trên MRI của rách toàn bộ chiều dày không hoàn toàn là khe hở chứa đầy dịch trên chuỗi xung T2W.

    Tuy nhiên, đôi khi khe hở trong gân có thể chứa đầy mảnh vụn hoặc mô hạt, và tín hiệu sẽ không tương đương với tín hiệu của nước.

    Hình ảnh
    Có hình ảnh rách toàn bộ chiều dày không hoàn toàn, kích thước nhỏ tại phần xa của gân cơ trên gai, không có co rút.
    Có một số hình thành nang tại đầu xương cánh tay ở vị trí bám tận, kèm theo phản ứng túi hoạt dịch và tăng tín hiệu trong gân do viêm gân (tendinosis).


    Cuộn qua các hình ảnh.

    Các dấu hiệu hình ảnh là gì?

    Có hình ảnh rách toàn bộ chiều dày phần trước của gân cơ trên gai, kéo dài từ mặt khớp đến mặt túi hoạt dịch.

    Do các sợi gân phía sau của gân cơ trên gai còn nguyên vẹn, tổn thương này được gọi là rách toàn bộ chiều dày không hoàn toàn của gân cơ trên gai.
    Không có co rút.


    Rách toàn bộ chiều dày hoàn toàn

    Nhấp vào hình ảnh để phóng to, sau đó cuộn qua các lát cắt.

    Có hình ảnh rách toàn bộ chiều dày gân cơ trên gai kèm co rút và teo cơ.
    Lưu ý các dải mỡ trong cơ tròn bé, cơ trên gai và cơ dưới gai.

    Các vị trí rách toàn bộ chiều dày thường gặp nhất bao gồm:

    • Cơ trên gai (Supraspinatus)
      Rách phần trước xa của gân cơ trên gai là vị trí thường gặp nhất.
      Đôi khi tổn thương lan rộng ra phía sau đến gân cơ dưới gai, hoặc lan ra phía trước đến khoang gian gân chóp, gân cơ nhị đầu và cơ dưới vai.
    • Cơ dưới gai (Infraspinatus)
      Rách cơ dưới gai đơn độc không phổ biến, nhưng đôi khi gặp ở vận động viên.
    • Cơ dưới vai (Subscapularis)
      Rách cơ dưới vai đơn độc không phổ biến, nhưng đôi khi gặp sau chấn thương dạng cấp tính do dạng và xoay ngoài. Thường kết hợp với tổn thương hoặc trật gân cơ nhị đầu.
    • Cơ tròn bé (Teres minor)
      Rách cơ tròn bé hiếm gặp, nhưng có thể thấy sau trật khớp vai ra sau kèm tổn thương bao khớp phía sau.

    Đo kích thước tổn thương rách toàn bộ chiều dày của chóp xoay theo hai chiều.

    Teo cơ – Dấu hiệu tiếp tuyến (Tangent sign)

    Phương pháp đánh giá teo cơ của Warner dựa trên hình ảnh mặt phẳng chéo đứng dọc (oblique sagittal) ở vị trí trong so với mỏm quạ.
    Một đường thẳng được vẽ từ bờ mỏm quạ đến đỉnh dưới của xương bả vai, và từ gai xương bả vai đến mỏm quạ.

    Nếu cơ lồi lên trên đường này, không có teo cơ.
    Nếu cơ nằm ngay dưới đường này, có teo cơ mức độ vừa.
    Nếu hầu như không thấy cơ, có teo cơ mức độ nặng.

    Hình bên trái cho thấy giải phẫu cơ bình thường trên ảnh mặt phẳng đứng dọc.

    Hình bên phải là của bệnh nhân có rách toàn bộ chiều dày cả gân cơ trên gai và gân cơ dưới gai kèm co rút.
    Có hình ảnh teo mỡ của cơ trên gai và cơ dưới gai.


    Rách toàn bộ chiều dày không đều.

    Rách toàn bộ chiều dày không đều.

    Trên các chuỗi xung có ức chế mỡ, việc đánh giá teo cơ và thay thế mỡ có thể gặp khó khăn.

    Hình ảnh
    Trên hình ảnh có ức chế mỡ bên trái, có thể nhận định nhầm rằng cơ trên gai bình thường (mũi tên xanh lam).
    Tuy nhiên, trên hình ảnh không có ức chế mỡ, có thể thấy rõ tình trạng teo cơ nặng và thay thế mỡ với tín hiệu cao (mũi tên xanh lam).
    Mũi tên đỏ chỉ vị trí rách toàn bộ chiều dày của gân cơ trên gai.

    Đôi khi có thể khó phân biệt rách một phần với rách toàn bộ chiều dày.

    Khi nhìn vào hình ảnh đầu tiên, tổn thương trông giống như rách một phần chiều dày phía mặt khớp.

    Tuy nhiên, trên các lát cắt tiếp theo của chụp MRI khớp có thuốc tương phản từ, có thể thấy sự lan rộng không đều của thuốc tương phản từ từ mặt khớp ở bên trái đến mặt túi hoạt dịch ở bên phải, xác nhận đây là rách toàn bộ chiều dày.

    Gân cơ nhị đầu

    Đầu dài của gân cơ nhị đầu bám vào củ trên ổ chảo. Sau đó, gân chạy qua khớp ổ chảo – cánh tay và khoảng gian cơ chóp để thoát ra phía trước khớp trong rãnh gian củ.

    Gân cơ nhị đầu có vai trò ngăn chặn sự di chuyển lên trên của chỏm xương cánh tay.

    Các tổn thương gân cơ nhị đầu bao gồm:

      • Bệnh lý gân
      • Rách bán phần
      • Đứt hoàn toàn
      • Trật khớp ngoài khớp (hình minh họa)

    Dislocation of long head biceps tendon with a partial thickness tear of the subscapularis tendon and a full thickness tear of the supraspinatus tendon

    Trật đầu dài gân cơ nhị đầu kèm rách bán phần gân cơ dưới vai và rách toàn phần gân cơ trên gai

    Trật đầu dài gân cơ nhị đầu

    Tổn thương dây chằng ngang xương cánh tay có thể dẫn đến trật gân cơ nhị đầu về phía trong.
    Gân cơ nhị đầu có thể di chuyển vào trong hoặc bên dưới gân cơ dưới vai khi gân cơ dưới vai bị đứt.

    Hình ảnh
    Chụp MRI khớp với chuỗi xung T1W xóa mỡ mặt phẳng axial và chuỗi xung PD mặt phẳng coronal.
    Ghi nhận hình ảnh trật gân cơ nhị đầu về phía trong, nằm trong gân cơ dưới vai (mũi tên).
    Có hình ảnh rách bán phần gân cơ dưới vai.
    Trên ảnh PDW, ghi nhận khoảng trống chứa dịch tại vị trí bám tận xa của gân cơ trên gai và thuốc tương phản từ lan vào khoang dưới mỏm cùng vai – dưới cơ delta, phù hợp với hình ảnh rách toàn phần gân cơ trên gai.

    Gân dưới vai (Subscapularis)

    Rách gân dưới vai thường gặp sau chấn thương trực tiếp, dạng cánh tay cưỡng bức kết hợp xoay ngoài, hoặc trong bối cảnh trật khớp vai ra trước tái phát.

    Hình ảnh
    Rách gân dưới vai sau chấn thương trực tiếp.
    Có hình ảnh co rút gân dưới vai về phía trước kèm phù nề quanh gân trên các chuỗi xung PD-weighted mặt phẳng axial và chuỗi xung T2W xóa mỡ mặt phẳng coronal (dấu hoa thị).
    Gân cơ nhị đầu không bị trật (đầu mũi tên).


    Bệnh nhân này có tiền sử chấn thương trực tiếp vùng khớp vai phía trước.

    Hình ảnh
    Chuỗi xung T2W xóa mỡ mặt phẳng axial và chuỗi xung PD mặt phẳng sagittal chếch.
    Có hình ảnh rách không hoàn toàn gân dưới vai kết hợp với phù nề do gãy mấu động nhỏ (lesser tubercle).

    Hội chứng chèn ép khớp vai

    Khi bạn nâng cánh tay lên ngang tầm vai, khoang gian acromion và chóp xoay sẽ bị thu hẹp lại.
    Mỏm cùng vai có thể cọ xát hoặc “chèn ép” lên gân và túi hoạt dịch, gây kích thích và đau.
    Hội chứng chèn ép và tổn thương các gân chóp xoay là những vấn đề khớp vai phổ biến nhất xảy ra trong khoang dưới mỏm cùng vai chật hẹp; hai vấn đề này có thể tồn tại riêng lẻ hoặc đồng thời.

    Trong bất kỳ thăm khám khớp vai nào, chúng ta cần tìm kiếm các dấu hiệu chèn ép như khoang dưới mỏm cùng vai bị thu hẹp, hình dạng bất thường của mỏm cùng vai hoặc thoái hóa khớp.

    Các thể chèn ép

    • Chèn ép nguyên phát do yếu tố ngoại sinh
      Chèn ép các gân chóp xoay và túi hoạt dịch dưới mỏm cùng vai do hình dạng mỏm cùng vai, mỏm cùng vai dốc xuống, sự hiện diện của gai xương, thoái hóa khớp cùng đòn, os acromiale hoặc dày dây chằng quạ-cùng vai (bình thường: 2-3 mm).
    • Chèn ép thứ phát do mất vững khớp
      Nguyên nhân chèn ép phổ biến nhất ở vận động viên.
    • Chèn ép nội tại (sau-trên)
      Thường gặp ở vận động viên ném bóng trên đầu trong tư thế dạng tối đa và xoay ngoài. Biểu hiện bao gồm thoái hóa và rách bán phần chóp xoay mặt sau của cơ trên gai và cơ dưới gai, kết hợp với mài mòn sụn viền sau-trên, phù nề mấu động lớn phía sau và tổn thương sụn khớp.


    Hình ảnh

    Chèn ép nguyên phát do yếu tố ngoại sinh gây ra bởi mỏm cùng vai dốc xuống kèm theo viêm gân cơ trên gai.

    Dày hoặc vôi hóa dây chằng quạ-cùng vai cũng có thể gây ra hội chứng chèn ép.

    Ở bệnh nhân này, dây chằng quạ-cùng vai bị dày lên và chèn ép vào gân cơ trên gai.

    Thoái hóa gân

    Thoái hóa gân chóp xoay là tình trạng thoái hóa của gân. Bệnh còn được gọi là viêm gân hoặc bệnh lý gân.

    Các hình ảnh thường gặp trên MRI:

    • Gân dày nhẹ đến vừa
    • Trong các trường hợp nặng hơn, có thể xuất hiện biến đổi dạng nhầy và phù nề kèm sưng tấy
    • Tín hiệu tăng nhưng không đạt mức tín hiệu của nước
    • Thường gặp ở gân trên gai gần điểm bám vào chỏm xương cánh tay
    • Lưu ý: hiệu ứng góc ma thuật (magic angle) trên gân có hình thái bình thường

    Hình ảnh minh họa
    Thoái hóa gân với hình ảnh gân trên gai dày lên.
    Chỉ trên chuỗi xung PDW mới thấy tín hiệu tăng.

    Thoái hóa gân vôi hóa

    Đây là tình trạng đau vai đặc trưng bởi sự lắng đọng canxi trong chóp xoay.

    Trong hầu hết các trường hợp, bệnh tự thoái lui, tuy nhiên ở một số trường hợp, tình trạng đau và rối loạn chức năng vẫn tồn tại.
    Bệnh gặp nhiều hơn ở phụ nữ trong độ tuổi 30–50.

    Siêu âm
    Siêu âm giúp xác định sự hiện diện, vị trí và kích thước của các ổ vôi hóa, đồng thời hỗ trợ hướng dẫn chọc hút và bơm rửa điều trị.
    Trong giai đoạn nghỉ ngơi, các ổ lắng đọng có hình ảnh tăng âm và dạng cung.
    Trong giai đoạn tiêu giải, các ổ lắng đọng không còn dạng cung, trở nên phân mảnh, dạng nang và dạng nốt.
    Trong giai đoạn tái hấp thu, có thể thấy tăng tín hiệu mạch máu trên Doppler.

    MRI
    Thông thường, MRI cho thấy giảm tín hiệu trên tất cả các chuỗi xung, tuy nhiên đôi khi có tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W biểu hiện phù nề trong giai đoạn tái hấp thu.

    Bệnh khớp chóp xoay

    Bệnh khớp chóp xoay là một dạng thoái hóa khớp do mất chức năng ổn định của chóp xoay.
    Chóp xoay tạo ra một lực hướng xuống dưới, được cân bằng bởi lực hướng lên trên của cơ delta.

    Trong bệnh khớp chóp xoay, có thể gặp các dấu hiệu sau:

    • Rách chóp xoay diện rộng
    • Bào mòn ổ chảo, mất sụn khớp, hình thành nang và gai xương, xẹp chỏm xương cánh tay
    • Di chuyển chỏm xương cánh tay lên trên với hiện tượng “đùi hóa” chỏm xương cánh tay và “ổ cối hóa” vòm cùng-quạ

    Các dấu hiệu không thể phục hồi và chỉ định thay khớp vai toàn phần đảo ngược bao gồm:

      • Di chuyển lên trên tĩnh
      • Khoảng cách cùng-cánh tay hẹp hoặc không còn
      • Thâm nhiễm mỡ > 50% các cơ chóp xoay

    Phân loại Hamada trong bệnh khớp chóp xoay:

    1. Khoảng cách cùng-cánh tay > 6 mm
    2. Khoảng cách cùng-cánh tay < 5 mm
    3. Khoảng cách cùng-cánh tay < 5 mm và “ổ cối hóa” vòm cùng-quạ
    4. Hẹp khớp ổ chảo-cánh tay
      – 4a: không có “ổ cối hóa”
      – 4b: có “ổ cối hóa”
    5. Hoại tử chỏm xương cánh tay, đôi khi kèm xẹp chỏm

    Ca lâm sàng 1

    Các hình ảnh cho thấy khoang dưới mỏm cùng vai bị hẹp (đầu mũi tên) thứ phát sau rách chóp xoay với sự co rút của cả gân trên gai (mũi tên vàng) và gân dưới gai (mũi tên xanh).

    Ca lâm sàng 2

    Bệnh nhân này có khoang dưới mỏm cùng vai bị hẹp.

    Lưu ý rằng tình trạng hẹp được thấy rõ trên hình chụp vai ở tư thế xoay ngoài, trong khi không quan sát được trên hình chụp ở tư thế xoay trong.

    Ca lâm sàng 3

    Các hình ảnh này cho thấy nang khớp cùng-đòn, còn được gọi là dấu hiệu Geyser, là biểu hiện thứ phát của bệnh lý chóp xoay.

    Dịch lan lên trên vào trong và ra ngoài khớp cùng-đòn đã thoái hóa, kèm theo phá vỡ bao khớp cùng-đòn phía dưới.

    Hội chứng Parsonage-Turner

    Hội chứng Parsonage–Turner là tình trạng viêm thần kinh liên quan đến đám rối thần kinh cánh tay.
    Bệnh còn được gọi là bệnh lý đám rối thần kinh cánh tay vô căn hoặc teo cơ đau thần kinh.

    Bệnh đặc trưng bởi cơn đau dữ dội, đột ngột ở vùng vai, tiếp theo là tình trạng yếu cơ nặng nề.

    Hội chứng Parsonage–Turner là một rối loạn hiếm gặp, thường chỉ ảnh hưởng đến một chi trên, trong đó chủ yếu là thần kinh nách, thân trên của đám rối thần kinh cánh tay, thần kinh trên vai và thần kinh ngực dài.

    Bệnh có thể biểu hiện với các triệu chứng của tổn thương thần kinh ngoại biên đơn độc, mặc dù tổn thương bệnh lý được cho là nằm ở vị trí gần hơn.


    Hình ảnh
    Hình ảnh chuỗi xung PD mặt phẳng chếch đứng dọc và chuỗi xung T2W xóa mỡ mặt phẳng vành.
    Tín hiệu tăng nhẹ của cơ trên gai và cơ dưới gai so với cơ dưới vai và cơ tròn bé, kèm teo cơ nhẹ, phù hợp với hội chứng Parsonage-Turner.

    Giao thức chụp MRI

  • U Sụn Xương

    U Sụn Xương

    Với chú trọng đặc biệt vào U Sụn Xương Không Điển Hình (ACT)

    Kirsten van Langevelde and Robin Smithuis

    Trung tâm Y tế Đại học Leiden và Bệnh viện Alrijne tại Leiden, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    U sụn xương (Chondroid tumors) là một nhóm u xương không đồng nhất, trong đó tất cả đều có điểm chung là sản xuất nền chất sụn (chondroid matrix).
    Chúng trải dài từ u sụn xương lành tính (enchondroma) đến ung thư sụn xương ác tính cao độ (chondrosarcoma).
    Ung thư sụn xương độ thấp ở xương dài đã được phân loại thành một nhóm trung gian và hiện được gọi là u sụn xương không điển hình (atypical cartilaginous tumor – ACT), vì những khối u này hiếm khi di căn và có tiên lượng lâm sàng tốt hơn so với cùng loại u ở bộ xương trục.

    Phương pháp điều trị được khuyến nghị cho ACT đã thay đổi qua nhiều năm, từ cắt bỏ đến nạo và thậm chí “theo dõi chờ đợi” với theo dõi bằng MRI [1].
    Do những thay đổi trong phương pháp quản lý này, chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò then chốt trong chẩn đoán và theo dõi ACT.

    Trong bài viết này chúng tôi sẽ đề cập đến:

    • Cách chẩn đoán u sụn xương.
    • Cách phân biệt ACT với enchondroma và ung thư sụn xương độ cao.
    • Theo dõi ACT.

    Giới thiệu

    Các khối u sụn có đặc điểm chung là sản xuất chất nền sụn với các vôi hóa chất nền thường gặp.
    Chúng có mức độ nghiêm trọng khác nhau, từ u sụn lành tính (enchondroma) và khối u sụn không điển hình xâm lấn tại chỗ (ACT) đến sarcoma sụn ác tính.
    Khoảng 10% sarcoma sụn có biệt hóa thấp, đây là thể ác tính cao của sarcoma sụn.

    Khối u sụn không điển hình (ACT)
    đã được Tổ chức Y tế Thế giới phân loại là khối u dạng sụn độ trung gian vào năm 2013.
    “Trung gian”
    có nghĩa là những khối u này có thể có hành vi xâm lấn tại chỗ nhưng hiếm khi di căn (< 2%).

    Từ năm 2020, các tổn thương trung gian ở bộ xương chi được gọi là ACT, trong khi các tổn thương tương tự ở bộ xương trục được gọi là sarcoma sụn độ I (CS-I) vì chúng có tiên lượng xấu hơn.
    Thuật ngữ CS-I do đó được dành riêng cho các khối u này ở bộ xương trục, bao gồm cột sống,
    khung chậu, xương sườn, xương ức, xương bả vai và
    nền sọ.

    Nhiệm vụ của bác sĩ CĐHA
    Enchondroma là lành tính và không cần theo dõi.
    Chondrosarcoma độ cao được điều trị bằng cắt bỏ rộng rãi, do chúng không nhạy cảm với hóa trị và xạ trị.
    Đối với ACT, chiến lược “theo dõi chờ đợi” kết hợp với theo dõi MRI đang dần thay thế can thiệp phẫu thuật tại nhiều trung tâm.
    Với những diễn tiến này, nhiệm vụ quan trọng nhất của bác sĩ CĐHA cơ xương khớp là phân biệt ACT với chondrosarcoma độ cao.

    Thuật ngữ trong U Sụn Xương

    Hình này minh họa các ví dụ để giải thích thuật ngữ dùng để mô tả u sụn xương.
    Trong một số ví dụ, có thể có nhiều hơn một dấu hiệu điển hình.

    1. Vôi hóa dạng bỏng ngô (Popcorn)Thường gặp trong các u sụn xương.
    2. Hình gợn sóng vỏ xương (Scalloping) đề cập đến sự tiêu xương lớp trong của vỏ xương do một tổn thương phát triển chậm. Thường gặp nhất trong u nguyên bào sụn không điển hình (ACT), nhưng cũng có thể xuất hiện trong loạn sản xơ, u tế bào khổng lồ của xương hoặc bệnh mô bào Langerhans.
    3. Giãn rộng xương (Expansion)có nghĩa là xương bị giãn rộng. Có thể xảy ra trong ACT nhưng là dấu hiệu đáng lo ngại của ung thư sụn xương độ cao hơn.
    4. Phản ứng màng xương (Periostitis) hay phản ứng màng xương là một dấu hiệu điển hình trong sarcoma sụn độ cao, tuy nhiên nó có thể xuất hiện sau gãy xương trong u sụn nội xương (enchondroma) hoặc khối u sụn không điển hình (ACT). Đôi khi phản ứng màng xương chỉ có thể nhìn thấy trên MRI qua một viền tăng tín hiệu T2 và ngấm thuốc xung quanh vỏ xương.
    5. Phá hủy vỏ xương (Cortical destruction) có nghĩa là khối u phát triển xâm lấn cục bộ qua vỏ xương. Đây là dấu hiệu điển hình trong chondrosarcoma độ cao
    6. Lấp đầy từ vách tới vách (Wall to wall filling) có nghĩa là tổn thương lan rộng từ
      vỏ xương phía trước đến phía sau hoặc từ vỏ xương phía trong đến phía ngoài. Cũng cần lưu ý tình trạng dày vỏ xương.
    7. Ngấm thuốc vòng-vách-nốt (Rings-and-arcs enhancement)là kiểu ngấm thuốc điển hình của u sụn xương, giúp bác sĩ CĐHA đưa ra chẩn đoán đúng.
    8. Tiêu xương (Osteolysis) có nghĩa là trong một khối u sụn có vùng thấu quang không có vôi hóa chất nền. Điều này có thể do thành phần nhầy trong CS độ cao. Vùng này tăng tín hiệu trên các chuỗi xung nhạy cảm với dịch có ức chế mỡ và không ngấm thuốc tương phản.
    9. Mỡ xen kẽ (Interspersed fat)thường
      hiện diện trong các khối u sụn vỏ thượng thận (ACTs) giữa các nốt sụn. Theo thời gian, các nốt sụn
      có thể giảm dần khi lượng mỡ xen kẽ tăng lên.

    Cách chẩn đoán U Sụn Xương

    X-ray

    Trên phim X-quang, u sụn xương thể hiện các ổ vôi hóa nền chất dạng nốt, giống hình bỏng ngô.
    Các vôi hóa này có thể xuất hiện trên toàn phổ của u sụn xương.
    Often the tumor
    size is underestimated on a radiograph, as frequently only the mineralized part of the
    tumor is visible. 

    Ở các xương đốt ngón,
    u sụn nội sinh có thể biểu hiện là các khối u tiêu xương thuần túy, không nhất thiết
    phải chứa các vôi hóa chất nền.

    Hình ảnh
    Có một vùng nhỏ 1,5 cm với vôi hóa dạng bỏng ngô ở đầu xa hành xương đùi, không lan đến vỏ xương.
    Đây là một u sụn nội xương (enchondroma).

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy một tổn thương tiêu xương ở đầu xa xương đùi chứa các vôi hóa dạng bỏng ngô điển hình và có hình ảnh xói mòn vỏ xương phía trước (đầu mũi tên).
    Trên MRI mặt phẳng đứng dọc, chúng ta có thể nhận thấy rằng khối u lớn hơn vùng vôi hóa trên phim X-quang, với kích thước 8 cm.
    Khối u tăng tín hiệu trên T2 STIR và chứa nhiều ổ có tín hiệu thấp, tương ứng với các vôi hóa chất nền sụn trên phim X-quang.

    Kết luận
    Vì không có phản ứng màng xương hay khối phần mềm, các dấu hiệu này phù hợp với chẩn đoán ACT.
    Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi.

    CT

    CT không phải là một phần trong quy trình chẩn đoán hình ảnh thường quy đối với các khối u sụn, tuy nhiên nó có thể hỗ trợ phát hiện sự vôi hóa chất nền tinh tế trong trường hợp còn nghi ngờ về chẩn đoán.
    CT cũng có thể hữu ích trong các tổn thương ở trục cơ thể mà hình ảnh X-quang không đủ rõ – chẳng hạn như nền sọ hoặc khung chậu – để định lượng mức độ phá hủy xương và phạm vi của khối u.
    Nếu còn nghi ngờ về sự phá hủy vỏ xương trong một tổn thương giãn rộng trên MR, CT thường sẽ thể hiện rõ ràng sự hiện diện hay vắng mặt của vỏ xương.
    Cuối cùng, CT hữu ích trong việc đánh giá gãy xương bệnh lý và ví dụ như đánh giá liệu các gãy xương này có lan vào khớp hay không.

    Hình ảnh
    MRI chuỗi xung T1W mặt phẳng coronal cho thấy một tổn thương lệch tâm,
    hơi giãn nở tại chỏm và cổ xương đùi phải.
    Khó đánh giá liệu vỏ xương phía trong
    chỉ bị mỏng hay đã bị phá hủy.
    Do đó, CT không tiêm thuốc cản quang
    đã được thực hiện bổ sung.
    CT không tiêm thuốc cản quang cho thấy
    tổn thương tiêu xương chứa các vôi hóa dạng chất nền sụn.
    Có hình ảnh gặm mòn vỏ xương
    phía trong, nhưng không có phá hủy vỏ xương.

    Nạo vét được thực hiện để loại trừ u sụn dạng tế bào sáng. Đây là
    một phân nhóm hiếm gặp của u sụn ác tính, xảy ra ở vùng đầu xương của xương dài ở
    người trẻ tuổi.

    Pathology diagnosis: ACT. 

    MR

    Trên các chuỗi xung nhạy cảm với dịch – ưu tiên T2W có ức chế mỡ – các nốt sụn tăng tín hiệu và tập hợp thành từng nhóm.
    Sau khi tiêm thuốc tương phản gadolinium, các khối u sụn ngấm thuốc với kiểu ngấm thuốc vách-nốt điển hình.
    Đặc điểm này hữu ích trong việc phân biệt khối u sụn với các khối u xương khác.
    Các vôi hóa có thể quan sát được trên MRI và biểu hiện tín hiệu thấp trên tất cả các chuỗi xung.

    Thật không may, hình ảnh khuếch tán có trọng số đã được chứng minh là không có giá trị trong việc phân biệt khối u sụn độ thấp với độ cao.

    Mỡ xen kẽ
    Các nốt sụn có thể có tủy mỡ xen kẽ giữa chúng, còn gọi là mỡ xen kẽ (interspersed fat) hoặc mỡ bị nhốt (entrapped fat).

    Điều này được đánh giá tốt nhất trên
    hình ảnh T1-weighted và xuất hiện trong các tổn thương ở phía lành tính của
    phổ bệnh, tức là trong các ACT.
    Ví dụ, trong quá trình theo dõi
    các ACT, lượng mỡ xen kẽ và vôi hóa có thể tăng lên,
    điều này có thể được hiểu là sự “trưởng thành” của tổn thương.
    Điều này thậm chí
    có thể gây ra sự giảm kích thước của khối u theo thời gian.
    Cả sự trưởng thành mỡ và
    tăng vôi hóa của khối u sụn theo thời gian đều là dấu hiệu của tính lành tính.

    Hình gợn sóng vỏ xương (Scalloping)
    Các khối u sụn có thể gây ra hình gợn sóng vỏ xương, biểu hiện là hình ảnh tiêu xương rõ nét lan rộng từ khoang tủy xương.

    Nhóm nghiên cứu Birmingham đề xuất
    tiêu chí BACTIP để đánh giá MRI các khối u sụn và hướng dẫn chuyển tuyến đến
    trung tâm chuyên khoa cấp cao hoặc kết thúc theo dõi.
    BACTIP định nghĩa hiện tượng xói mòn vỏ xương là
    khu trú khi phần chu vi tổn thương bị ảnh hưởng dưới 10%, được đo
    trên lát cắt trục ngang có đường kính khối u lớn nhất.
    Trong khi đó, hiện tượng xói mòn vỏ xương trên 10%
    chu vi tổn thương được định nghĩa là lan rộng.
    Ý nghĩa của mức độ sâu của hiện tượng xói mòn vỏ xương
    vẫn chưa được làm rõ.

    Hình ảnh
    Ảnh T1 SPIR trục ngang sau tiêm thuốc cản từ cho thấy hình ảnh lõm vỏ xương ở phía trước trên khoảng 43/360 độ.
    Điều này có nghĩa là lõm vỏ xương chiếm 12% chu vi khối u (mức độ rộng).
    Cũng lưu ý hình ảnh lõm vỏ xương phía sau kín đáo hơn (đầu mũi tên).
    Khối u này cho thấy hình ảnh ngấm thuốc dạng vách-nốt, ngoại vi.
    Lưu ý các vùng tín hiệu thấp phù hợp với hình ảnh vôi hóa.


    Figure courtesy of Wouter Stomp

    Figure courtesy of Wouter Stomp

    Tưới máu MR
    Tưới máu hay MRI tương phản động là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chức năng trong đó sự ngấm thuốc sớm của khối u được theo dõi sau khi tiêm bolus gadolinium tĩnh mạch.
    Trong các khối u sụn, tưới máu đã được sử dụng để phân biệt u sụn nội xương với u sụn ác tính.

    Ngưỡng cắt 10 giây được sử dụng để phân biệt tăng ngấm thuốc nhanh và chậm. Tuy nhiên, có thể xảy ra sự chồng lấp trong các kiểu tăng ngấm thuốc sớm của các khối u sụn, ví dụ: u sụn lành tính (enchondroma) có thể tăng ngấm thuốc nhanh, nhưng cũng có các khối u sụn không điển hình (ACT) tăng ngấm thuốc chậm.

    Hình ảnh
    Có một khối u nhỏ hơn 2 cm ở hành xương đầu xa xương đùi.
    Tổn thương tăng tín hiệu trên T2, đồng tín hiệu trên T1 và có ngấm thuốc dạng vách-nốt. Không có liên quan đến vỏ xương. Trên hình ảnh tưới máu (đường cong thời gian – cường độ tín hiệu), khối u cho thấy sự ngấm thuốc chậm, bắt đầu khoảng 20 giây sau khi động mạch ngấm thuốc.
    Đây là u sụn trong xương và không cần theo dõi.

    Read more on MR perfusion here

    PET-CT

    Đối với 18F-FDG-PET-CT, SUVmax đã được chứng minh có tương quan với độ mô học trong các khối u sụn.
    SUVmax < 2 ủng hộ chẩn đoán khối u lành tính, trong khi SUVmax > 4,5 gợi ý u sụn ác tính độ cao hơn.
    Tuy nhiên, do phần lớn các tổn thương ACT/độ I nằm trong nhóm trung gian với các giá trị chồng lấp (SUVmax 2 – 4,5), PET-CT không được khuyến cáo để phân biệt các khối u sụn.

    PET CT toàn thân có thể hữu ích trong việc phát hiện di căn trong ung thư sụn kém biệt hóa.

    Hình ảnh
    Sarcoma sụn kém biệt hóa ở xương đùi phải (đầu mũi tên) với nhiều di căn.

    Enchondroma (U Sụn Nội Xương)

    U sụn lành tính (Enchondroma) được coi là “mô sụn lạc chỗ”.
    Do đó có mối liên hệ chặt chẽ với sụn tăng trưởng đầu xương, thường trong phạm vi 2 cm.
    U sụn lành tính thường được tìm thấy ở hành xương đầu trên xương cánh tay, đầu dưới xương đùi hoặc đầu trên xương chày.
    Các tổn thương lành tính này xuất hiện như những phát hiện tình cờ trong 3% tổng số MRI khớp gối và không cần theo dõi thêm.
    U sụn lành tính có thể phát triển chậm theo thời gian hoặc thậm chí tự thoái triển.
    Bản thân sự tăng trưởng không phải là dấu hiệu cho thấy tổn thương đã trở thành ác tính.

    Enchondroma thường nhỏ hơn 5 cm và 80% enchondroma ở xương dài nhỏ hơn 2 cm.
    Các ngưỡng kích thước khác nhau được đề xuất để phân biệt enchondroma với ACT và sarcoma sụn.
    Trong tiêu chí BACTIP, ngưỡng 4 cm được sử dụng để quyết định liệu một tổn thương có cần được theo dõi hay không.

    Tại cơ sở chúng tôi, chúng tôi sử dụng 5
    cm làm ngưỡng giới hạn, tuy nhiên cần lưu ý rằng không có giá trị ngưỡng kích thước tuyệt đối
    và bạn luôn phải loại trừ các đặc điểm xâm lấn, vì có thể có
    các u sụn ác tính độ cao nhỏ hơn 5 cm phát triển xuyên qua vỏ xương và
    kèm theo khối mô mềm.


    Images courtesy of Wouter Stomp

    Images courtesy of Wouter Stomp

    U sụn trong điển hình
    Các hình ảnh cho thấy hai tổn thương nhỏ liền kề với đĩa tăng trưởng ở vùng hành xương đầu xa xương đùi, đại diện cho các phần sụn nhỏ không liên quan đến vỏ xương hoặc phù tủy xương quanh tổn thương.
    Không cần theo dõi thêm.

    Enchondroma versus ACT

    Over time, treatment of ACT has
    shifted towards the conservative side, i.e. watchful waiting or “wait and scan” by
    MRI instead of curettage.
    Điều này cũng ảnh hưởng đến bác sĩ CĐHA, vì nhiệm vụ chính hiện nay là quyết định tổn thương nào cần được theo dõi.
    Tại trung tâm chuyên khoa của chúng tôi, chúng tôi theo dõi các tổn thương lan đến vỏ xương.
    Điều này có nghĩa là bất kể kích thước, chúng tôi coi khả năng phát triển xuyên vỏ xương trong tương lai là chỉ định để theo dõi.
    See the table with our follow op schedule for ACT below.

    Ca bệnh
    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Những phát hiện là gì?
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    X-quang: Có vùng vôi hóa dạng sụn ở thân xương đùi xa mà không có hiện tượng xói mòn vỏ xương.
    MRI: Hình ảnh T1W mặt phẳng đứng dọc cho thấy khối u sụn đa nốt không tiếp xúc với vỏ xương phía trước hoặc phía sau. Tổn thương có kích thước 38 mm.
    Hình ảnh T1 mặt cắt ngang không cho thấy hiện tượng xói mòn vỏ xương.

    Kết luận
    Enchondroma.

    Lưu ý
    Đối với các tổn thương < 5 cm, miễn là tổn thương sụn không lan đến vỏ xương,
    và không có phù tủy xương xung quanh hoặc viêm màng xương, chúng tôi xem đó
    là u sụn nội xương. Không cần theo dõi thêm.

    Ca bệnh
    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Những phát hiện là gì?
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Hình ảnh X-quang cho thấy một vùng nhỏ vôi hóa dạng bỏng ngô ở thân xương đầu xa.
    Hình ảnh MR cho thấy tổn thương 4,6 cm ở thân xương đùi đầu xa với sự lan rộng đến vỏ xương (lấp đầy từ thành này đến thành kia).
    Lưu ý rằng tổn thương có vẻ nhỏ hơn trên phim X-quang do vôi hóa hạn chế.
    Các vôi hóa và ngấm thuốc dạng vách-nốt xác nhận bản chất sụn của khối u.
    Không có hình ảnh xói mòn vỏ xương trên hình ảnh T1W trục ngang.

    Kết luận
    Tổn thương khá lớn để chẩn đoán u sụn nội xương.
    Như đã đề cập trước đó, chúng tôi sử dụng ngưỡng giới hạn là 5 cm. Có sự lấp đầy toàn bộ, nhưng không có dấu hiệu xói mòn vỏ xương. Không có các đặc điểm xâm lấn (như phản ứng màng xương, phù tủy xương).

    Được chẩn đoán là ACT và theo dõi
    bằng phương pháp chờ và quan sát.
    Sau 5 năm theo dõi, đường kính theo chiều đầu-đuôi tăng 6 mm.
    Không có các đặc điểm đáng lo ngại khác và bệnh nhân tiếp tục được theo dõi.

    Ca bệnh
    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Những phát hiện là gì?
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    X-quang: có một vùng với các vôi hóa chất nền sụn và một số tiêu xương dưới 2 cm liền kề với sụn tăng trưởng đã đóng ở đầu xa xương đùi.
    Không thấy liên quan với vỏ xương.
    MRI được thực hiện để đánh giá kích thước thực sự và quyết định xem tổn thương có cần theo dõi hay không.

    MRI: trên hình ảnh T1W mặt phẳng đứng dọc, tổn thương đo được tối đa 2,8 cm và có liên quan mật thiết với vỏ xương phía sau tại hõm liên lồi cầu.

    Kết luận
    Do tổn thương lan rộng đến vỏ não phía sau,
    tổn thương được gọi là ACT và tiếp tục được theo dõi.

    U Sụn Xương Không Điển Hình (ACT)

    ACT là các khối u sụn độ ác tính trung gian.
    Chúng thường lớn hơn
    5 cm, lan rộng đến vỏ xương và gây ra hiện tượng xói mòn vỏ xương.
    Chúng có thể có
    tủy mỡ xen kẽ.
    Trên cộng hưởng từ tưới máu, có thể xuất hiện hiện tượng ngấm thuốc nhanh (trong vòng 10
    giây).

    Cần lưu ý rằng sự tăng trưởng không nhất thiết đồng nghĩa với sự chuyển dạng ác tính,
    và một số tổn thương này có thể giảm kích thước theo thời gian.
    ACT không có hình ảnh phản ứng màng xương trừ khi có gãy xương.
    Không được phép có hình ảnh phá hủy vỏ xương hoặc khối phần mềm để chẩn đoán ACT.
    Trong trường hợp đó, chúng ta nên gọi là sarcoma sụn độ cao hơn.

    Trường hợp này đã được trình bày trước đây.
    Nhìn lại hình ảnh MRI trước đó được thực hiện 5 năm trước, tổn thương đã tăng trưởng 6 mm theo chiều sọ-đuôi.
    Cũng lưu ý sự mở rộng của tổn thương về phía trước (mũi tên vàng).
    Không có hiện tượng mỏng vỏ xương, phù tủy xương hay viêm màng xương.

    This lesion is an
    ACT and remains in follow-up.     

    ACT versus high grade CS

    Phân biệt giữa u sụn không điển hình (ACT) và u sụn sụn độ cao (CS độ cao) là nhiệm vụ quan trọng nhất của bác sĩ X quang, vì các khối u độ cao cần được cắt bỏ rộng rãi. Kể từ khi quan điểm điều trị thay đổi, ngày càng nhiều trung tâm điều trị ACT bằng phương pháp theo dõi thận trọng mà không phẫu thuật.
    Cần tích cực tìm kiếm các đặc điểm như phù tủy xương quanh tổn thương, phản ứng màng xương, phá hủy vỏ xương và khối phần mềm để xác định khối u là CS độ cao. Giãn nở xương có thể gặp trong ACT nhưng phổ biến hơn trong CS độ cao.
    Thành phần nhầy là dấu hiệu của độ ác tính cao hơn và cũng hiện diện trong các trường hợp như CS biệt hóa kém.
    Ngấm thuốc tương phản động nhanh, xói mòn vỏ xương và vôi hóa chất nền có thể xuất hiện trong cả ACT lẫn CS độ cao, do đó các đặc điểm này không giúp phân biệt hai loại.
    Kích thước có vai trò nhất định nhưng không phải là đặc điểm chính để phân biệt ACT với CS độ cao.
    Trong trường hợp gãy xương bệnh lý trên nền ACT, có thể xuất hiện phù nề xung quanh và viêm màng xương. Luôn đối chiếu hình ảnh với tiền sử chấn thương lâm sàng và khuyến nghị chụp MRI theo dõi sau 3-6 tháng để đảm bảo các dấu hiệu này được giải quyết.

    Chúng tôi sẽ trình bày một số trường hợp, trong đó bạn cần phân biệt giữa u sụn không điển hình (ACT) và sarcôm sụn.

    Trường hợp lâm sàng
    Hãy quan sát các hình ảnh và xác định xem bạn đang đối mặt với một ACT hay CS.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương đo được hơn 20 cm ở thân xương đùi.
    Lưu ý các vôi hóa dạng bỏng ngô trong nền tổn thương.
    Có một nốt khu trú (trong vòng tròn màu vàng) gây xói mòn vỏ xương và có sự mở rộng nhẹ của ống tủy xương.

    Continue with the MR…

    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Hình ảnh MR cho thấy mô mỡ xen kẽ giữa các nốt sụn.
    Có tín hiệu cao trên ảnh T1W mặt phẳng đứng dọc và tín hiệu thấp trên ảnh xóa mỡ (các mũi tên).
    Có một nốt khu trú gây lõm vỏ xương (<10%) và có sự mở rộng nhẹ của ống tủy xương.

    Kết luận
    Tổn thương được chẩn đoán là ACT và vẫn ổn định trong quá trình theo dõi.

    Ca bệnh
    Trước tiên hãy quan sát các hình ảnh và quyết định xem bạn đang xử lý với ACT hay CS.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương tiêu xương được xác định rõ >10 cm ở thân xương đùi đoạn gần với vôi hóa chất nền sụn dạng bỏng ngô.
    Có sự giãn nở của xương, tuy nhiên không có dấu hiệu xói mòn vỏ xương rõ ràng hay phản ứng màng xương.

    Kết luận
    Dựa trên hình ảnh X-quang đơn thuần, khối u này có thể là một ACT hoặc sarcoma sụn độ cao hơn. Bước tiếp theo là thực hiện MRI để đánh giá đặc điểm chi tiết hơn.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    MRI xác nhận bản chất sụn của khối u với các nốt sụn tăng tín hiệu trên T2 DIXON cho thấy ngấm thuốc kiểu vách-nốt sau tiêm thuốc tương phản.
    Tuy nhiên, cũng có phù tủy xương đáng kể ở phía gần (mũi tên đen) và phản ứng màng xương kèm ngấm thuốc (mũi tên trắng).

    Kết luận
    Các đặc điểm này rất đáng ngờ cho chẩn đoán u sụn ác tính độ cao.

    Hình ảnh
    Hình ảnh T1 axial xác nhận tình trạng lõm vỏ xương phía trước sâu chiếm khoảng 1/3 vỏ xương, tức là lõm vỏ xương mức độ rộng (> 10% chu vi khối u).

    Cắt bỏ đầu trên xương đùi đã được thực hiện.
    Chẩn đoán cuối cùng: sarcoma sụn độ II

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy các vùng nhỏ có vôi hóa chất nền sụn.
    Hình ảnh T2W FS mặt phẳng vành tai minh họa kích thước tổn thương bị đánh giá thấp hơn so với phim thường.
    Lưu ý các nốt sụn tăng tín hiệu kết hợp với các vùng tín hiệu thấp tương ứng với hình ảnh vôi hóa trên X-quang.
    Sau tiêm thuốc tương phản, thấy kiểu ngấm thuốc điển hình dạng vòng và cung.

    Kết luận
    Do kích thước 5,7 cm và mức độ lan đến vỏ não, tổn thương này được gọi là ACT và sẽ được theo dõi bằng MRI.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy tổn thương tiêu xương dạng đa ổ, có tính chất giãn rộng tại vùng hành xương đầu gần xương quay.
    Có thể thấy một số chấm vôi hóa nhỏ bên trong tổn thương.
    Khối u tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2 DIXON và có các vùng phá hủy vỏ xương.
    Sau tiêm thuốc cản quang, xuất hiện hình ảnh ngấm thuốc điển hình dạng vách-nốt và các vùng chất nhầy không ngấm thuốc, cũng hiện diện trong thành phần phần mềm.
    Xung quanh khối u có hình ảnh phù nề phần mềm.
    Những đặc điểm này giúp chúng ta đưa ra chẩn đoán u sụn ác tính độ cao (chondrosarcoma độ cao).

    Kết quả giải phẫu bệnh sau cắt rộng cho thấy sarcoma sụn độ II.

    MRI follow-up guidance for ACT

    Tại trung tâm của chúng tôi, các ACT được theo dõi bằng MRI như được trình bày trong bảng [1].
    Điều này có thể cung cấp một số hướng dẫn lâm sàng, tuy nhiên cần có dữ liệu theo dõi dài hạn vững chắc (>10 năm theo dõi) để xác định rõ hơn khoảng thời gian theo dõi phù hợp và thời gian theo dõi cuối cùng, vì chụp MRI đi kèm với gánh nặng chi phí và có thể gây lo lắng cho bệnh nhân.

    Nếu trong quá trình theo dõi xuất hiện các đặc điểm xâm lấn đáng lo ngại cho u sụn ác tính, bệnh nhân sẽ được thảo luận trong hội đồng u bướu đa chuyên khoa và có thể cân nhắc điều trị phẫu thuật.

    Ung Thư Sụn Xương (Chondrosarcoma)

    U sụn ác tính trung bình có kích thước hơn 10 cm
    khi phát hiện, cho thấy sự phá hủy vỏ xương và thường kèm theo khối mô mềm.
    Tuy nhiên, u sụn ác tính độ cao kích thước nhỏ hơn cũng có thể xảy ra, do đó kích thước không phải là tiêu chí tốt nhất.

    Viêm màng xương trên MRI được thể hiện dưới dạng viền tăng tín hiệu T2 bao quanh vỏ xương, ngấm thuốc sau tiêm tương phản.
    Thành phần nhầy có thể hiện diện trong khoang tủy xương hoặc trong khối mô mềm.
    Các tổn thương này thuộc độ ác tính cao, có nghĩa là chúng có nguy cơ di căn (chủ yếu đến phổi).

    Điều trị là cắt bỏ rộng rãi và ngoài MRI, có thể thực hiện thêm CT để lập kế hoạch trước phẫu thuật, vì cắt bỏ triệt để là lựa chọn điều trị tốt duy nhất.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương tiêu xương, dạng giãn rộng ở thân xương đùi phải đoạn gần.
    Có hiện tượng dày vỏ xương nhẹ lân cận mà không có phản ứng màng xương.
    Không thấy chất nền sụn rõ ràng trên phim X-quang này.

    Kết luận
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm sarcoma sụn, loạn sản xơ, u lympho, di căn và u tương bào.

    Chụp CT không tiêm thuốc cản quang có thể giúp phát hiện các vôi hóa chất nền sụn nhỏ trong trường hợp này. Tuy nhiên, chúng tôi đã tiến hành thẳng vào MRI.
    Tiếp tục với MRI…

    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Hình ảnh T1W cho thấy sự thay thế tủy xương.
    Hình ảnh T2W cho thấy phản ứng màng xương
    và phù tủy xương quanh tổn thương.
    Bản thân khối u tăng tín hiệu và
    có dạng nốt.
    Hình ảnh T1W FS sau tiêm Gd cho thấy
    hình thái ngấm thuốc dạng vòng và cung.

    Kết luận
    Tất cả những phát hiện này phù hợp với một khối u sụn, và rất nghi ngờ là u sụn ác tính độ II hoặc cao hơn.

    Tại trung tâm chuyên khoa tuyến ba về sarcoma xương của chúng tôi, chúng tôi không thực hiện sinh thiết đối với các khối u sụn này, vì điều này có thể gây ra sai số lấy mẫu do tính không đồng nhất bên trong khối u.
    Bạn có thể vô tình sinh thiết vào phần lành tính hơn của khối u và đánh giá thấp độ mô học.

    Các khối u sụn được biết đến với khả năng gieo rắc theo đường sinh thiết.

    Continue with the postoperative
    X-rays…..

    Điều trị bao gồm cắt bỏ khối xương đùi gần và tái tạo bằng nội khớp giả.

    Pathology confirmed a chondrosarcoma grade II.  

    Chondrosarcoma độ II và độ III không thể phân biệt dựa trên hình ảnh học.
    Đây là chẩn đoán được thực hiện dựa trên mô bệnh học.
    Do đó, chúng tôi gọi các tổn thương như vậy là “độ II hoặc cao hơn” trong báo cáo chẩn đoán hình ảnh của chúng tôi.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy một tổn thương tiêu xương dạng giãn rộng xâm lấn ở thân xương đùi đoạn gần của bệnh nhân 30 tuổi.
    Có hiện tượng xói mòn vỏ xương lan rộng và phản ứng màng xương dạng gai, kiểu tóc dựng đứng.
    Lưu ý gãy xương bệnh lý ở mấu chuyển nhỏ.
    Có hiện tượng vôi hóa mờ nhạt trong phần mềm ở phía trong (mũi tên).

    Kết luận
    Tất cả những phát hiện này đều hướng tới một khối u xương ác tính.
    Trong chẩn đoán phân biệt (có tính đến độ tuổi và vị trí thân xương) chúng tôi sẽ bao gồm sarcoma Ewing, nhưng cũng cần xem xét sarcoma sụn độ ác tính cao.
    Mặc dù bệnh mô bào tế bào Langerhans cũng có thể xuất hiện ở thân xương dài trong nhóm tuổi này, khối u này rất lớn và phản ứng màng xương quá hung hãn.

    Continue with the MRI…

    Đầu tiên hãy xem các hình ảnh.
    Đây có phải là khối u sụn hay là bệnh lý gì khác?
    Phương pháp điều trị tốt nhất là gì, theo dõi hay phẫu thuật cắt bỏ?

    Hình ảnh
    MRI xác nhận hình ảnh đa nốt tăng tín hiệu T2 của khối u sụn.
    Có một khối mô mềm lớn ở phía trước trong. Có phản ứng màng xương rõ rệt trên MRI, phù tủy xương ở phần gần và phù nề mô mềm xung quanh.
    Lưu ý hình thái ngấm thuốc dạng vách-nốt.
    Không có ngấm thuốc ở phần trên của khối u và trong khối mô mềm. Đây được coi là thành phần nhầy.

    Kết luận
    Dựa trên các kết quả MRI, chúng ta nên đưa ra chẩn đoán u sụn ác tính độ II hoặc cao hơn.
    Điều trị là cắt bỏ rộng rãi.

    Pathology diagnosis: Chondrosarcoma grade III 

    Thành phần nhầy là một đặc điểm của sarcoma sụn độ cao, có thể nhận thấy bởi cả bác sĩ chẩn đoán hình ảnh lẫn bác sĩ giải phẫu bệnh.
    Bác sĩ giải phẫu bệnh cũng đánh giá mật độ tế bào, mức độ không điển hình nhân và số lượng nhân phân chia trong khối u, những yếu tố này cao hơn so với u sụn không điển hình (ACT) hoặc sarcoma sụn độ I.

    Ca lâm sàng
    Hãy tiếp tục với một khối u sụn ở bộ xương trục. Chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận vì có sự khác biệt so với các tổn thương ở bộ xương ngoại vi.
    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    CT axial cho thấy một khối u tiêu xương dạng膨胀 tại thân xương ức.
    Có nhiều ổ phá hủy vỏ xương.
    Vôi hóa dạng bỏng ngô hiện diện ở trung tâm.
    MRI xác nhận bản chất sụn của khối u này với tín hiệu tăng sáng trên ảnh STIR và ngấm thuốc tương phản dạng vách-nốt.

    Kết luận
    Mặc dù không có thành phần mô mềm, do sự giãn rộng và nhiều ổ phá hủy vỏ xương, khối u này nên được gọi là sarcoma sụn độ II hoặc cao hơn và cắt bỏ khối là phương pháp điều trị đúng đắn.

    Pathology showed a grade II
    chondrosarcoma.  

    Trong bộ xương trục, các khối u sụn có tiên lượng xấu hơn.
    Điều này có nghĩa là chúng sẽ được phẫu thuật cắt bỏ ngay cả khi ở độ I, khác với khối u cùng loại ở bộ xương ngoại vi, được gọi là ACT và sẽ được theo dõi.
    Không được gọi các khối u ở bộ xương trục là u sụn nội xương nếu chúng có dấu hiệu xói mòn vỏ xương hoặc phá hủy vỏ xương, vì điều này có thể dẫn đến điều trị không đầy đủ.

    Case
    First look at the images.
    Then continue reading.

    Hình ảnh
    Trên phim X-quang, có tổn thương tiêu xương thấm nhiễm với phản ứng màng xương xâm lấn, xói mòn vỏ xương và giãn rộng.
    Ảnh T2 DIXON trục ngang cho thấy nhiều khối mô mềm dọc theo xương cánh tay.
    Chuỗi xung sau tiêm thuốc cản từ thể hiện ngấm thuốc dạng vách-nốt, viêm màng xương xâm lấn và các vùng nhầy trong khối u không ngấm thuốc cả ở phần gần tủy xương lẫn trong khối mô mềm phía trong.

    Kết luận
    High grade CS.

    Dedifferentiated chondrosarcoma

    Đầu tiên hãy xem các hình ảnh của bệnh nhân 79 tuổi bị u xương.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy một khối u lớn ở thân xương đùi với hình ảnh vôi hóa dạng bỏng ngô điển hình ở phần xa và thành phần tiêu xương nhiều hơn ở phần gần.
    Hình ảnh phóng đại chi tiết ở tư thế nghiêng cho thấy khối u xâm lấn vỏ xương và nguy cơ cao gãy xương bệnh lý.
    Phần đuôi của khối u có hình ảnh giống u sụn không điển hình (ACT) với hiện tượng lõm vỏ xương khu trú, trong khi phần đầu có hình ảnh giống u sụn ác tính độ cao (CS độ cao).

    Kết luận
    Đây là hình ảnh điển hình của sarcoma sụn phản biệt hóa, với một phần có biểu hiện như khối u sụn độ thấp đến trung bình với sự chuyển tiếp đột ngột sang thành phần sarcoma độ cao (đôi khi không có nguồn gốc sụn).

    Phân nhóm này
    thường gặp ở người lớn tuổi.
    Tỷ lệ sống còn toàn bộ của sarcoma sụn phân hóa kém rất thấp so với sarcoma sụn độ II và độ III, do bệnh nhân thường đã có di căn phổi và xương tại thời điểm chẩn đoán.

    Continue with the next images…

    Hình ảnh
    Lưu ý khuyết tật vỏ xương trên ảnh T2 DIXON axial và khối mô mềm xung quanh.
    Một phần khối u không ngấm thuốc và vùng chất nhầy này cho thấy đây là u sụn ác tính độ cao.

    Như trên phim X-quang, trường hợp này là một chondrosarcoma phân hóa kém điển hình, trong đó phần dưới có biểu hiện như một ACT và phần gần như một sarcoma độ cao.
    Thường gặp dưới dạng khối u lớn ở bệnh nhân cao tuổi.

    Hình ảnh tưới máu cho thấy
    sự tăng cường tín hiệu không đồng nhất trong khối u sụn biệt hóa kém này.
    Phần nhầy (đường màu xanh lam)
    không có sự tăng cường tín hiệu.

    Continue with the PET-CT…

    Chúng tôi đã thảo luận trước đây rằng 18F-FDG PET-CT không được khuyến cáo cho u sụn ác tính để phân biệt giữa khối u sụn không điển hình và các khối u độ cao.

    Tuy nhiên, trong ung thư sụn dạng biệt hóa,
    PET CT kết hợp với CT chẩn đoán lồng ngực có thể được thực hiện để tìm kiếm bệnh di căn.
    Ung thư sụn dạng biệt hóa ở xương đùi phải cho thấy độ bắt giữ FDG cao và hình ảnh toàn thân cho thấy nhiều di căn xương ở xương đùi trái, xương đòn trái, các xương sườn trên bên phải và xương ức.
    Di căn hạch bạch huyết cạnh chậu hiện diện ở cả hai bên.

    Do chondrosarcoma không nhạy cảm với xạ trị và hóa trị, bệnh nhân được điều trị giảm nhẹ, bao gồm đóng đinh xương đùi phải để phòng ngừa gãy xương.

    Thật không may, bệnh nhân đã phát triển gãy xương bệnh lý ở xương đùi trái và sau đó đã được điều trị.

    Hình ảnh CT ngực theo mặt phẳng coronal cho thấy khối mô mềm xung quanh
    ổ di căn tại xương đòn trái.
    Không phát hiện di căn phổi.

    Tiên lượng của u sụn dạng biệt hóa kém rất xấu với tỷ lệ sống còn toàn bộ 5 năm khoảng 18%.

    Osteochondromas

    U xương sụn ngoại vi
    là các khối u sụn ngoại vi, có nghĩa là chúng không nằm trong ống tủy xương.
    Có hai phân nhóm hình thái học: tổn thương dạng không cuống (đáy rộng) hoặc dạng có cuống
    (có cuống) được bao phủ bởi một mũ sụn.

    Cuống của u xương sụn liên tục với khoang tủy xương, xuất phát từ vùng hành xương và hướng ra xa khớp.
    Độ dày của mũ sụn phải nhỏ hơn 2 cm ở những bệnh nhân đã đóng sụn tăng trưởng theo tiêu chí của WHO được định nghĩa vào năm 2020.
    Nếu mũ sụn đo được hơn 2 cm, đây là dấu hiệu đáng lo ngại cho u sụn vỏ xương không điển hình (ACT) hoặc thậm chí là ung thư sụn, và những tổn thương này cần được phẫu thuật cắt bỏ.


    trẻ em, chỏm sụn của u xương sụn có thể dày hơn 2 cm do
    bộ xương của chúng vẫn đang trong quá trình phát triển.

    Hình ảnh X-quang này của bệnh nhân 17 tuổi
    có biểu hiện đau vai trong 2
    tháng.

    Hình ảnh
    Có một tổn thương có cuống xuất phát từ hành xương đầu trên xương cánh tay.
    Cuống xương cho thấy sự liên tục của tủy xương và một mũ sụn bên trên chứa các vôi hóa dạng sụn.
    Những đặc điểm này điển hình cho u xương sụn (osteochondroma).

    Trên phim X-quang, phần sụn mũ đã vôi hóa và do đó có thể nhìn thấy được khá lớn, đó là lý do tại sao MRI được thực hiện để đo chính xác độ dày của mũ sụn.

    Continue with the MR-images…     

    Độ dày của mũ sụn được đo vuông góc với vỏ xương trên chuỗi xung T2.

    Hình ảnh
    Hình ảnh T2W trục ngang có kỹ thuật ức chế mỡ cho thấy u xương sụn ở mặt sau đầu trên xương cánh tay trái với độ dày mũ sụn 22 mm.

    Trong các tổn thương
    có mũ sụn > 2 cm, phẫu thuật cắt bỏ được thực hiện để loại trừ
    u sụn ác tính.

    Khối u đã được cắt bỏ và
    kết quả giải phẫu bệnh phù hợp với u vỏ thượng thận ngoại vi.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy một tổn thương dạng膨胀 với sự khoáng hóa chất nền sụn xuất phát từ xương đùi phải ở mức mấu chuyển nhỏ.
    Mũ sụn có vẻ được phân định rõ ràng và trưởng thành.

    MRI được thực hiện để đánh giá độ dày sụn của chỏm.

    Continue with the MRI…

    Hình ảnh T2W có bão hòa mỡ cho thấy một mũ sụn mỏng phủ bên trên chỉ 3 milimet.
    Phần còn lại của tổn thương đã trưởng thành, có nghĩa là nó chứa tủy xương với tín hiệu bị ức chế trên chuỗi xung bão hòa mỡ

    Continue with the CT…. 

    Ngoài ra, hãy xem sự trưởng thành xương hoàn toàn
    của mũ sụn trên CT không tiêm thuốc cản quang.
    Bờ viền của tổn thương được xác định rõ ràng.

    Tổn thương này được gọi là u xương sụn vì không có dấu hiệu ác tính, không nghi ngờ ACT hoặc u sụn ác tính.

    Đôi khi các u xương sụn này được
    cắt bỏ do các triệu chứng cơ học hoặc sau gãy xương, và chúng có thể
    gây ra một túi hoạt dịch ở phía trên.

    Differential diagnosis of Chondroid tumors

    Chẩn đoán phân biệt các khối u sụn phụ thuộc vào độ tuổi, vị trí và việc có tổn thương đơn độc hay đa ổ.
    Một số ví dụ về chẩn đoán phân biệt được trình bày trong bảng.

    Nhồi máu xương và loạn sản xơ đa xương là những tổn thương “không cần can thiệp”.
    Điều này có nghĩa là những tổn thương này có hình ảnh đặc trưng đến mức có thể được chẩn đoán xác định chỉ dựa trên phim X-quang mà không cần sinh thiết.
    Tuy nhiên, nếu chỉ có một tổn thương đơn độc và chẩn đoán loạn sản xơ chưa chắc chắn, có thể thực hiện sinh thiết dưới hướng dẫn của CT.

    Trong trường hợp các khối u có tính xâm lấn cao, các khối u xương nguyên phát khác như sarcoma Ewing và sarcoma xương có thể được đưa vào chẩn đoán phân biệt.
    Đặc biệt, phân nhóm hiếm gặp là sarcoma xương tiêu xương hoặc sarcoma xương dạng sụn có thể khó phân biệt với các khối u dạng sụn.
    Trong trường hợp nghi ngờ, cần tiến hành sinh thiết để chẩn đoán giải phẫu bệnh, vì điều này có ảnh hưởng quan trọng đến phương pháp điều trị (chẳng hạn như hóa trị liệu ở bệnh nhân sarcoma xương).
    Ở bệnh nhân trên 50 tuổi, chẩn đoán phân biệt bao gồm di căn và u tương bào.


    Bone infarctions

    Bone infarctions

    Nhồi máu xương
    Chẩn đoán phân biệt phổ biến nhất cho tình trạng khoáng hóa chất nền ở hành xương của xương dài là nhồi máu xương.

    Các vôi hóa này có hình dạng vuông hơn là tròn như trong các khối u sụn.
    Ngoài ra, nhồi máu xương thường đa ổ và có thể xảy ra ở cả hai bên.

    Hình ảnh
    Phim X-quang cho thấy nhiều tổn thương xơ cứng dạng rắn bò ở đầu xa xương đùi và đầu gần xương chày, tập trung ở vùng hành xương.
    Hình ảnh này điển hình cho nhồi máu xương và xảy ra do sử dụng corticosteroid kéo dài ở bệnh nhân mắc lupus ban đỏ hệ thống (SLE).
    Lưu ý sự vắng mặt của các vôi hóa dạng chấm sụn.


    Polyostotic fibrous dysplasia

    Polyostotic fibrous dysplasia

    Loạn sản xơ
    Trong chẩn đoán phân biệt, chúng ta có thể xem xét loạn sản xơ, thường chứa thành phần sụn.
    Trong hầu hết các trường hợp, hình ảnh kính mờ trên phim X-quang giúp phân biệt.

    Đầu tiên hãy xem các hình ảnh của một nam giới 23 tuổi có tiền sử dậy thì sớm (pubertas praecox). Sau đó tiếp tục đọc.

    Hông
    Có sự giãn nở của đầu trên xương đùi với sự mở rộng của hành xương và tổn thương tiêu xương dạng kính mờ với bờ xơ cứng trong ống tủy. Lưu ý tình trạng thoái hóa khớp háng thứ phát.
    Cổ tay
    Đầu dưới xương quay có hình ảnh tương tự với cấu trúc xương bị thay đổi do các tổn thương tiêu xương dạng kính mờ kèm giãn nở. Xương đốt bàn tay thứ nhất và thứ hai cũng bị ảnh hưởng.

    Kết luận
    Tổn thương đa xương kết hợp với tuổi tác, tiền sử dậy thì sớm và hình ảnh X-quang làm cho trường hợp này mang tính chất đặc trưng bệnh lý của loạn sản xơ xương (FD).
    Không nên thực hiện sinh thiết.

    Bệnh nhân này được biết đến với chứng loạn sản xơ đa xương như một phần của hội chứng McCune Albright.


    Fibrous dysplasia

    Fibrous dysplasia

    Hình ảnh
    Hình ảnh X-quang xương cánh tay phải của bệnh nhân 26 tuổi cho thấy một tổn thương lớn lấp đầy ống tủy của vùng hành xương và thân xương cánh tay gần, với hình ảnh tiêu xương và kính mờ cùng các thành phần đặc xương hơn ở phía xa.
    Không có phản ứng màng xương hoặc các đặc điểm xâm lấn khác.
    Dựa vào độ tuổi và hình ảnh này, Loạn sản xơ (FD) có thể là chẩn đoán phù hợp.
    MRI đã được thực hiện để đánh giá chi tiết hơn trong trường hợp này.

    Hình ảnh T1 và STIR mặt phẳng coronal cho thấy các thành phần dạng nang trong tổn thương, biểu hiện giảm tín hiệu trên T1W và tăng tín hiệu trên STIR (mũi tên). Đây là những đặc điểm điển hình của loạn sản xơ (FD).
    Giữa các vùng nang là mô mỡ, biểu hiện tăng tín hiệu trên T1W và bị xóa tín hiệu trên STIR (dấu hoa thị).
    Lưu ý phần xa của tổn thương có tín hiệu rất thấp tương ứng với vùng xơ cứng trên X-quang.

    FD có thể xuất hiện không đồng nhất và chứa các thành phần sụn liền kề với các vùng nang hoặc xơ cứng.
    Không cần sinh thiết vì những phát hiện này phù hợp với FD đơn xương.


    Langerhans cell histiocytosis

    Langerhans cell histiocytosis

    U mô bào tế bào Langerhans
    Ở xương sườn, u mô bào tế bào Langerhans có thể bắt chước một khối u sụn.

    Hình ảnh

    1. Phát hiện tình cờ trên CT ngực với tổn thương tiêu xương dạng giãn rộng tại khớp sụn sườn bên trái. Tổn thương có hình ảnh lõm vỏ sò và phá hủy khu trú vỏ xương, không tìm thấy chất nền sụn.
    2. Hình ảnh T2W có fatsat cho thấy tổn thương tăng tín hiệu với viền xơ cứng.
    3. Sau tiêm thuốc cản quang, tổn thương ngấm thuốc đồng nhất, không có hình ảnh ngấm thuốc dạng vách ngăn hay nốt.

    Kết luận
    Chẩn đoán phân biệt bao gồm u sụn (CS-I vì xương sườn là một phần của bộ xương trục), u mô bào tế bào Langerhans (vị trí điển hình, bệnh nhân trẻ tuổi), và ở bệnh nhân trên 50 tuổi cần nghĩ đến đa u tủy xương (vị trí điển hình).
    Sinh thiết được thực hiện dưới hướng dẫn của CT và LCH là chẩn đoán cuối cùng.
    Tổn thương được theo dõi và tự thoái lui mà không cần điều trị.

    Trong trường hợp các khối u có tính xâm lấn cao (CS độ cao), các khối u xương nguyên phát khác như sarcoma Ewing và sarcoma xương có thể được đưa vào chẩn đoán phân biệt.
    Đặc biệt trong các trường hợp sarcoma xương tiêu xương hiếm gặp hơn, việc phân biệt với các khối u dạng sụn có thể rất khó khăn.
    Ở bệnh nhân trên 50 tuổi, di căn có thể là yếu tố gây nhầm lẫn với khối u dạng sụn.

    WHO classification of chondroid tumors

    Trong phân loại WHO năm 2013,
    thuật ngữ u sụn không điển hình (ACT) được đưa ra như một từ đồng nghĩa với
    u sụn ác tính độ 1 (CS1) và được phân loại là trung gian (xâm lấn tại chỗ)
    nhằm phản ánh đặc điểm lâm sàng của các tổn thương biệt hóa tốt độ thấp này.
    Lý luận đưa ra là các tổn thương như vậy,
    đặc biệt ở các xương dài, có hành vi xâm lấn tại chỗ và không
    di căn. Do đó, chúng không nên được phân loại là có tiềm năng ác tính hoàn toàn
    (1).

    Trong phiên bản WHO 2020, thuật ngữ ACT
    chỉ được dùng cho các u sụn ác tính độ thấp nằm trong các xương dài của
    bộ xương chi.
    Thuật ngữ “CS1” nên được dùng cho các khối u của
    bộ xương trục, bao gồm xương chậu, xương sườn, xương bả vai và nền sọ (xương
    dẹt), phản ánh
    tiên lượng lâm sàng kém hơn của các khối u tại những vị trí này.

    ACT trung tâm nguyên phát phát sinh ở tủy xương dài mà không có tổn thương tiền thân lành tính.
    ACT trung tâm thứ phát phát sinh ở trung tâm xương có liên quan đến một u sụn nội xương có sẵn từ trước.
    ACT ngoại vi ở xương dài phát sinh thứ phát trong mũ sụn của một u xương sụn có sẵn từ trước.
    WHO 2020 xác định ngưỡng cắt 2 cm cho độ dày mũ sụn.

    Other changes in the 2020 WHO classification
    are: 

    • U nguyên bào sụn và u sợi sụn nhầy (trước đây được phân loại
      là khối u trung gian xâm lấn tại chỗ) hiện nay được phân loại
      là lành tính.
    • Chondromatosis hoạt dịch (trước đây được phân loại là u lành tính) hiện nay đã được phân loại vào nhóm u trung gian xâm lấn tại chỗ do hành vi xâm lấn tại chỗ của nó, được đặc trưng bởi tỷ lệ tái phát tại chỗ cao.

    MR perfusion


    ACT along the posterior cortex in the distal femur showing septonodular enhancement after contrast.  Two ROIs were placed, one in the tumor (orange) and one in the popliteal artery (blue).

    ACT along the posterior cortex in the distal femur showing septonodular enhancement after contrast. Two ROIs were placed, one in the tumor (orange) and one in the popliteal artery (blue).

    MRI tưới máu là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chức năng trong đó quá trình ngấm thuốc sớm của khối u được theo dõi sau khi tiêm bolus gadolinium tĩnh mạch.
    Kỹ thuật này cung cấp thông tin về sự mạch hóa và tưới máu, tính thấm mao mạch và thể tích khoang kẽ.
    Kỹ thuật này được sử dụng cho các khối u mô mềm và xương (chủ yếu tại các trung tâm ung thư chuyên biệt) trên toàn thế giới, và có thể hỗ trợ ví dụ như trong việc lựa chọn vùng không hoại tử để sinh thiết, hoặc để phân biệt tái phát tại chỗ với mô hạt. Tưới máu có thể giúp đặc trưng hóa các tổn thương và phân biệt tổn thương lành tính với ác tính.

    MRI tưới máu thực chất có nghĩa là bạn đánh giá sự xuất hiện và thải trừ của thuốc tương phản gadolinium trong khối u theo thời gian.
    Để thực hiện điều này, cần thu nhận các hình ảnh rất nhanh với độ phân giải thời gian cao (mỗi 2 hoặc 3 giây), trong khi thuốc tương phản đi vào và rời khỏi khối u trong tổng thời gian từ 3 đến 5 phút.
    Sau khi thu nhận các hình ảnh động, giao thức thường được hoàn thành bằng các chuỗi xung tĩnh sau tiêm thuốc tương phản trên 2 mặt phẳng khác nhau.

    Sử dụng phần mềm xử lý hậu kỳ, một vùng quan tâm (ROI) được vẽ trong một động mạch gần khối u. Tiếp theo, một hoặc nhiều ROI được vẽ trong khối u và trong một cơ lành để tham chiếu.
    Các ROI khác nhau này sau đó được vẽ trên đường cong cường độ theo thời gian (TIC).

    Trong các khối u sụn, tưới máu được sử dụng để phân biệt u sụn lành tính (enchondroma) với ung thư sụn (chondrosarcoma).
    Ngưỡng cắt 10 giây được dùng để phân biệt ngấm thuốc nhanh và ngấm thuốc chậm. Tuy nhiên, có thể xảy ra sự chồng lấp trong các kiểu ngấm thuốc sớm giữa ung thư sụn (CS) và u sụn lành tính, ví dụ: một số u sụn lành tính có thể ngấm thuốc nhanh, nhưng cũng có những khối u sụn ác tính độ thấp (ACT) ngấm thuốc chậm.

    Hình ảnh
    Ví dụ về một ACT tăng cường chậm (đường màu cam), hơn 10 giây sau động mạch (đường màu xanh lam).

    Hình ảnh
    Khối u sụn ở xương ức với phù nề quanh tổn thương và ngấm thuốc dạng vách-nốt.
    Các hình ảnh tưới máu cho thấy khối u ngấm thuốc nhanh (vùng ROI và đường cong màu cam), trong vòng 8 giây sau động mạch chủ (vùng ROI và đường cong màu xanh dương).
    Vùng ROI và đường cong màu hồng đại diện cho thành phần nhầy không ngấm thuốc.

    Tổn thương này đã được cắt bỏ.
    Chẩn đoán cuối cùng: Sarcoma sụn độ I (CS-I) ở xương ức

    Có nhiều kiểu ngấm thuốc khác nhau, và chúng được định nghĩa để giúp các bác sĩ X-quang đặc trưng hóa các loại khối u khác nhau.
    Ví dụ, ngấm thuốc nhanh (trong vòng 10 giây sau động mạch) tiếp theo là thải thuốc là đặc trưng của ổ viêm trong u xương dạng xương hoặc u tế bào khổng lồ của xương, và được gọi là đường cong loại IV.

    Charity

    Toàn bộ lợi nhuận của Radiology Assistant được chuyển đến Medical Action Myanmar, tổ chức được điều hành bởi Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis sr, người là giáo sư tại Đại học Oxford và cũng là anh trai của Robin Smithuis.

    Nhấp vào đây hoặc vào hình ảnh bên dưới để xem video của Medical Action Myanmar và nếu bạn thích Radiology Assistant, hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.

  • Viêm ruột thừa – Tìm thấy trên siêu âm

    Viêm ruột thừa – Hình ảnh Siêu âm

    bởi Julien Puylaert

    Trung tâm Y tế Haaglanden tại The Hague và Trung tâm Y tế Học thuật Amsterdam, Hà Lan

    Ngày đăng

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thảo luận về vai trò của Siêu âm trong chẩn đoán viêm ruột thừa và vai trò bổ sung của chụp CT.

    Các đặc điểm Siêu âm đa dạng ở các giai đoạn khác nhau của viêm ruột thừa sẽ được đề cập, cùng với vấn đề viêm ruột thừa tự thoái lui và áp-xe ruột thừa.

    Các bẫy chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt cũng được thảo luận tại đây.

    Về kỹ thuật và giải phẫu bình thường: xem “Siêu âm đường tiêu hóa

    Để góp ý và nhận xét bổ sung: j.puylaert@gmail.com

    Giới thiệu

    Viêm ruột thừa vẫn là cấp cứu bụng thường gặp nhất ở các nước phương Tây. Nguy cơ mắc viêm ruột thừa trong suốt cuộc đời là 8%, và hàng năm tại Hoa Kỳ có khoảng 300.000 người phải phẫu thuật cắt ruột thừa.

    Chẩn đoán lâm sàng có thể rất khó khăn, và trước khi Siêu âm và CT ra đời, tỷ lệ cắt ruột thừa âm tính (không có viêm) vào khoảng 30%, trong khi đó, việc trì hoãn phẫu thuật cần thiết ban đầu cũng không phải là hiếm gặp.

    Hình ảnh Siêu âm này cho thấy ruột thừa viêm trên mặt cắt ngang (trái) và mặt cắt dọc (phải). Chương về Siêu âm trong viêm ruột thừa này được biên soạn dành cho tất cả những ai tham gia tích cực vào công tác Siêu âm bụng cấp cứu.

    Sinh lý bệnh của viêm ruột thừa

    Ruột thừa là một ống tận cùng mù với lòng ống hẹp.
    Ruột thừa chứa phân và dễ bị tắc nghẽn.

    • Trong 35% trường hợp, sỏi phân (mũi tên) được tìm thấy tại vị trí tắc nghẽn.
    • Trong 65% trường hợp còn lại, không tìm thấy nguyên nhân rõ ràng gây tắc nghẽn cơ học (đầu mũi tên).

    Khi tắc nghẽn xảy ra, trong vòng vài giờ, áp lực trong lòng ruột thừa tăng lên do niêm mạc ruột thừa tiếp tục bài tiết dịch nhầy.
    Khi áp lực này vượt quá áp lực trong các mạch máu của thành ruột thừa, hoại tử thiếu máu cục bộ có thể xảy ra, khiến niêm mạc mất khả năng phòng vệ trước các vi khuẩn hiện diện trong lòng ruột thừa.

    Tùy thuộc vào phản ứng viêm của cơ chế bảo vệ cơ thể, chuỗi bệnh lý gồm tắc nghẽn – tăng áp lực – hoại tử thiếu máu cục bộ – tấn công vi khuẩn kèm thủng sẽ dẫn đến các biểu hiện lâm sàng khác nhau.

    Biểu hiện này có sự biến thiên rộng, từ viêm ruột thừa mức độ nhẹ tự khỏi cho đến viêm ruột thừa thủng đe dọa tính mạng, và tất cả các mức độ trung gian.

    Ở bệnh nhân rất gầy này với viêm ruột thừa cấp giai đoạn sớm, siêu âm cho thấy hình ảnh giãn đoạn xa của ruột thừa.

    Trên mặt phẳng A, siêu âm Doppler cho thấy tình trạng tăng sinh mạch máu mạnh ở thành ruột thừa; tuy nhiên trên mặt phẳng B, không quan sát thấy mạch máu trong thành ruột thừa do áp lực trong lòng cao.

    Lưu ý hình ảnh ruột thừa giãn, tròn, không thể ép xẹp trong mặt phẳng B, phồng vào thành bụng khi ấn (đầu mũi tên), với tín hiệu mạch máu chỉ còn ở vùng mạc treo ruột thừa có mỡ xung quanh.

    Diễn tiến tự nhiên của viêm ruột thừa không được điều trị được phản ánh trong bảng này.
    Tỷ lệ tử vong chính xác trong thời kỳ trước khi có phẫu thuật và kháng sinh không được biết rõ, nhưng có thể vào khoảng 10 – 20%.
    Ngày nay, tỷ lệ tử vong do viêm ruột thừa đã giảm xuống còn khoảng 0,1%, chủ yếu nhờ phẫu thuật sớm, kháng sinh và chẩn đoán tốt hơn: siêu âm, CT, MRI và đặc biệt là giá trị xét nghiệm CRP.

    Lưu ý rằng trong khoảng một trong năm trường hợp, tắc nghẽn ruột thừa được giải phóng ở giai đoạn sớm.
    Điều này dẫn đến viêm ruột thừa tự khỏi, một thể bệnh sẽ được thảo luận ở phần sau.

    Dấu hiệu lâm sàng của viêm ruột thừa


    Courtesy: Hamilton Bailey

    Courtesy: Hamilton Bailey

    Các dấu hiệu lâm sàng điển hình của viêm ruột thừa là đau bụng (bán) cấp tính, khởi phát ở vùng thượng vị hoặc quanh rốn (= giai đoạn đau tạng).
    Sau 4 đến 6 giờ, cơn đau di chuyển xuống hố chậu phải (HCP), nơi viêm phúc mạc khu trú phát triển. Tuy nhiên, các triệu chứng có thể rất không điển hình và dễ gây nhầm lẫn, và dấu hiệu duy nhất hằng định là đau bụng cấp tính hoặc bán cấp tính.

    Chẩn đoán lâm sàng viêm ruột thừa thường khó khăn, hay bị chẩn đoán sai và bỏ sót trong giai đoạn đầu, dẫn đến phẫu thuật không cần thiết hoặc trì hoãn điều trị không đúng chỉ định.
    Trước khi có Siêu âm và CT, tỷ lệ cắt ruột thừa âm tính (không có viêm) được ghi nhận trong y văn là 28% (Pieper R. Acta Chir Scand 1982;148: 51-62), trong khi tỷ lệ chậm trễ chẩn đoán trong bệnh viện xảy ra ở khoảng 20% trường hợp. Siêu âm, CT cùng với xét nghiệm CRP đã giúp giảm cả hai tỷ lệ này xuống còn khoảng 5%.

    Vai trò của các xét nghiệm cận lâm sàng

    Trong chẩn đoán viêm ruột thừa, các xét nghiệm cận lâm sàng có giá trị nhất là số lượng bạch cầu (WBC – White Blood Cell Count) và CRP (C-Reactive Protein – Protein phản ứng C).
    Trong giai đoạn viêm ruột thừa cấp tính sớm, WBC tăng nhanh trong vòng vài giờ và thường trở về bình thường sau 12 – 24 giờ.
    CRP vẫn trong giới hạn bình thường trong 6-12 giờ đầu, sau đó tăng dần, với các giá trị – tùy thuộc vào mức độ phản ứng viêm – dao động từ 30 đến 500 (mg/l).

    Ở bệnh nhân có triệu chứng kéo dài hơn 24 giờ mà CRP vẫn bình thường, khả năng viêm ruột thừa là rất thấp.
    Ngoại lệ duy nhất là viêm ruột thừa tự thoái lui. Việc đối chiếu cẩn thận giữa tiền sử bệnh, kết quả xét nghiệm và hình ảnh Siêu âm là yếu tố then chốt.

    Các xét nghiệm cận lâm sàng khác chủ yếu có giá trị trong chẩn đoán phân biệt viêm ruột thừa.

    Siêu âm ruột thừa bình thường và ruột thừa viêm

    Các đặc điểm siêu âm của ruột thừa bình thường được trình bày trong mục “Siêu âm đường tiêu hóa: giải phẫu bình thường”. Việc phân biệt ruột thừa viêm với ruột thừa bình thường thường khá dễ dàng trong hầu hết các trường hợp.

    Ruột thừa bình thường – có thể quan sát thấy trong 20-30% trường hợp.

    Ruột thừa viêm – có thể quan sát thấy trong 80-90% trường hợp.

    Có sự chồng lấp về đường kính giữa ruột thừa bình thường và ruột thừa viêm:

    • Ngưỡng cắt ≥ 7 mm – 7% ruột thừa là bình thường.
    • Ngưỡng cắt ≥ 6 mm – 27% ruột thừa là bình thường.

    Đường kính ruột thừa của ruột thừa bình thường và ruột thừa viêm trên CT cho thấy sự chồng lấp thậm chí còn lớn hơn.

    Giải thích cho hiện tượng này được trình bày trong “Siêu âm đường tiêu hóa: giải phẫu bình thường”.

    Hai cá nhân không có triệu chứng với ruột thừa kích thước lớn, chứa đầy phân nhưng không viêm, được minh họa qua siêu âm và CT.

    Lưu ý sự vắng mặt hoàn toàn của mô mỡ viêm xung quanh ở cả hai trường hợp.

    Siêu âm trong viêm ruột thừa


    Viêm ruột thừa với sỏi phân trong lòng ruột thừa (mũi tên) được tìm thấy tại vị trí tắc nghẽn (a và v = động mạch và tĩnh mạch chậu).

    Viêm ruột thừa với sỏi phân trong lòng ruột thừa (mũi tên) được tìm thấy tại vị trí tắc nghẽn (a và v = động mạch và tĩnh mạch chậu).

    Hình ảnh điển hình của ruột thừa viêm:

    • mất nhu động
    • cấu trúc phân lớp đồng tâm
    • không thể ép xẹp
    • đầu tận cùng bịt kín
    • cấu trúc hình xúc xích
    • ở vị trí cố định, thường tại vị trí đau tối đa
    • đường kính tối đa trung bình là 11 mm (dao động từ 6 đến 25 mm)
    • trong 35% trường hợp, sỏi phân trong lòng ruột thừa (mũi tên) được tìm thấy tại vị trí tắc nghẽn

    Trong 6-12 giờ đầu, lòng ruột thừa giãn rộng rõ rệt với thành mỏng và chưa có hiện tượng viêm mô mỡ xung quanh.

    Bệnh nhân này nhập viện với cơn đau quanh rốn dữ dội, cấp tính kéo dài 4 giờ và không có đau khu trú tại vị trí ruột thừa giãn (giai đoạn đau tạng).

    Lưu ý hiện tượng phồng của ruột thừa căng vào thành bụng (đầu mũi tên) trong khi ép.

    Những ruột thừa này dễ bị bỏ sót trong quá trình khám siêu âm, do không có đau khu trú và không có hiện tượng viêm mô mỡ.
    Hơn nữa, những bệnh nhân này thường được cho về nhà mà không được siêu âm hay CT, vì các triệu chứng đau tạng của họ được diễn giải và điều trị như “vấn đề dạ dày hoặc túi mật”.


    Mô mỡ viêm

    Mô mỡ đầu tiên bị ảnh hưởng trong viêm ruột thừa là mạc treo ruột thừa (meso-appendix).

    Mạc treo ruột thừa bình thường có thể được nhận diện khi được bao quanh bởi một ít dịch trong phúc mạc như ở bệnh nhân này, và có đặc điểm tăng âm vừa phải, mềm mại và dễ ép xẹp.

    Khoảng 4-6 giờ sau khi khởi phát triệu chứng, tình trạng viêm bắt đầu ảnh hưởng đến mạc treo ruột thừa, khiến nó to hơn, tăng âm hơn và không thể ép xẹp (đầu mũi tên).

    Sự sản xuất fibrin tiếp theo trên bề mặt thanh mạc gây ra viêm phúc mạc khu trú, dẫn đến hiện tượng chuyển đau điển hình từ vùng quanh rốn hoặc thượng vị sang hố chậu phải.

    Điều thú vị là trong giai đoạn sớm của viêm mô mỡ, siêu âm nhạy hơn CT.

    Ở bệnh nhân này với đau hố chậu phải kéo dài 18 giờ, CT chỉ cho thấy hình ảnh thâm nhiễm mỡ tối thiểu xung quanh ruột thừa 8,5 mm (mũi tên).

    Siêu âm với kỹ thuật ép có kiểm soát đã cho thấy rõ ràng mô mỡ viêm tăng âm, không thể ép xẹp (đầu mũi tên) xung quanh ruột thừa.

    Ở giai đoạn muộn hơn của quá trình bệnh, mô mỡ xung quanh ruột thừa có xu hướng tăng thể tích.

    Đây là mạc nối mỡ đã di chuyển về phía ruột thừa trong nỗ lực bao bọc tình trạng thủng sắp xảy ra.


    Ép ngắt quãng từ từ là cách tốt nhất để xác định mô mỡ viêm không thể ép xẹp.

    Việc ép các quai ruột nằm ở phía trước cũng giúp giảm ảnh hưởng tiêu cực của hơi trong lòng ruột.

    Cuối cùng, các quai ruột lân cận và mạc treo của chúng cũng bị cuốn vào quá trình bao bọc tổn thương.
    Ở bệnh nhân này, siêu âm cho thấy lượng lớn mô mỡ viêm (*) và hồi tràng dày thành, biểu hiện quá trình bao bọc thành công tình trạng thủng (sắp xảy ra) của ruột thừa (mũi tên).
    Lưu ý sỏi phân vôi hóa (mũi tên trên CT) trong ruột thừa ở mức cao hơn.

    Quá trình “bao bọc” này càng kéo dài, việc cắt ruột thừa sẽ càng khó khăn hơn.
    Vấn đề nan giải này được thảo luận trong chương “khối ruột thừa”.

    Cấu trúc phân lớp thành ruột thừa

    Bờ giảm âm không đều, bất đối xứng và mất cấu trúc phân lớp thành ruột thừa là dấu hiệu gợi ý thủng hoặc thủng sắp xảy ra.

    Ở giai đoạn này luôn có mô mỡ viêm phong phú (đầu mũi tên).

    Cấu trúc phân lớp thành ruột thừa càng bị tổn thương nhiều, khả năng thủng càng cao.

    Dấu hiệu đầu tiên là những thay đổi giảm âm trong lớp dưới niêm mạc tăng âm.

    Việc dự đoán thủng dựa trên hình ảnh siêu âm không thực sự đáng tin cậy và có ít hệ quả điều trị tại thời điểm đó.

    Dịch tự do

    Một lượng nhỏ dịch trong phúc mạc giảm âm (*) có ít giá trị chẩn đoán và có thể gặp trong cả viêm ruột thừa cấp chưa thủng (trái) lẫn viêm ruột thừa thủng (mũi tên) (giữa), nhưng cũng có thể gặp ở bệnh nhân có ruột thừa bình thường (phải).

    Lượng dịch lớn hơn, đặc biệt nếu khu trú và/hoặc đục, thường kèm theo liệt ruột khu trú hoặc toàn thể, là dấu hiệu nghi ngờ thủng.

    Thông thường những bệnh nhân này có tình trạng nặng, đau nhiều và CRP tăng cao.

    Ở người phụ nữ 56 tuổi này với CRP 180, siêu âm phát hiện dịch trong phúc mạc đục (*) và có thể thấy ruột thừa viêm với sỏi phân (mũi tên).

    CT xác nhận hai sỏi phân ở hố chậu phải với hình ảnh khí bất thường, nghi ngờ viêm ruột thừa thủng.

    Chọc hút dưới hướng dẫn siêu âm xác nhận dịch mủ.

    Phẫu thuật cấp cứu phát hiện viêm ruột thừa thủng với nhiễm bẩn mủ bốn góc phần tư ổ bụng.

    Tăng sinh mạch máu

    Như đã đề cập trước đó, sự tưới máu thành ruột thừa ban đầu giảm do áp lực trong lòng ruột thừa tăng cao.
    Tuy nhiên, áp lực cao này sẽ giảm nhanh trở lại do niêm mạc ruột thừa bệnh lý không còn khả năng duy trì sản xuất dịch bình thường.
    Kết quả là, kết hợp với đáp ứng viêm mạnh mẽ, tình trạng tăng sinh mạch máu phản ứng mạnh sẽ xảy ra nhanh chóng: đầu tiên trong mô mỡ xung quanh và ngay sau đó cả trong thành ruột thừa.
    Vì đây là thời điểm bệnh nhân thường tìm kiếm sự trợ giúp y tế, đây là hình ảnh siêu âm quen thuộc nhất của ruột thừa viêm.

    Dấu hiệu gián tiếp của viêm ruột thừa

    Ở những bệnh nhân không thể quan sát được ruột thừa trên siêu âm và cũng không tìm thấy bệnh lý thay thế nào, các dấu hiệu gián tiếp của viêm ruột thừa có thể hữu ích.


  • U đầu cổ – Khi nào nghĩ đến ác tính

    Khối u Đầu Cổ – Khi nào cần nghĩ đến ác tính

    Nhận biết các dấu hiệu cảnh báo

    Frank Pameijer

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Utrecht, Hà Lan

    Ngày đăng

    Các khối u lành tính vùng đầu cổ khá phổ biến, trong khi các khối u ác tính lại hiếm gặp.
    Câu hỏi đặt ra là, khi nào chúng ta cần nghĩ đến một khối u ác tính, bởi nhiều bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sẽ không thường xuyên gặp phải trường hợp này.
    Trong bài viết này, chúng tôi cung cấp một số dấu hiệu cảnh báo, giúp bạn nhận ra các tổn thương ác tính trong thực hành lâm sàng hàng ngày.

    Giới thiệu

    Trong bảng, bạn sẽ tìm thấy các dấu hiệu cảnh báo khiến tổn thương trở nên nghi ngờ ác tính, mặc dù vẫn có những ngoại lệ khi các tổn thương lành tính cũng có thể biểu hiện các dấu hiệu này.
    Càng nhiều dấu hiệu cảnh báo thì mức độ nghi ngờ càng cao.

    Chúng tôi sẽ thảo luận tất cả các vấn đề này trong các chương tiếp theo.

    Kiểu tăng trưởng

    Bảng so sánh các căn nguyên khác nhau giữa các tổn thương có kiểu tăng trưởng phá hủy và kiểu tăng trưởng giãn rộng

    Kiểu tăng trưởng phá hủy có nghĩa là xương khoáng hóa bị phá vỡ toàn bộ chiều dày.
    Kiểu này thường gặp nhất trong các khối u ác tính, nhưng cũng có thể gặp trong các khối u lành tính xâm lấn và tình trạng viêm.

    Kiểu tăng trưởng giãn rộng có nghĩa là có sự cân bằng giữa hoạt động của hủy cốt bào và tạo cốt bào.
    Kiểu này ít gặp hơn trong các tổn thương ác tính, nhưng phổ biến trong các u tân sinh lành tính và viêm mạn tính.

    Nang nhầy (Mucocele)

    Các hình ảnh này của bệnh nhân nam 47 tuổi, có triệu chứng căng tức vùng trán.

    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Các dấu hiệu hình ảnh là gì?
    Tổn thương có kiểu giãn rộng hay phá hủy hay cả hai?

    Sau đó tiếp tục đọc…

    Dấu hiệu hình ảnh:

    1. Tổn thương giãn rộng đẩy nhãn cầu trái sang bên.
    2. Tổn thương có bờ rõ nét.
    3. Tổn thương xuất phát từ xoang trán trái.
    4. Thành trong hốc mắt trái (đầu mũi tên đen) và nền sọ (đầu mũi tên trắng) bị mỏng đi, nhưng không có phá hủy xương.

    MRI được thực hiện để xác nhận chẩn đoán nhiều khả năng nhất là nang nhầy…

    MRI cho thấy tổn thương giãn rộng chỉ có ngấm thuốc tương phản từ ở vùng viền ngoại vi.
    Không có ngấm thuốc bên trong tổn thương.
    Điều này xác nhận chẩn đoán nang nhầy.

    Nang nhầy là tổn thương dạng nang chứa đầy chất nhầy.
    Nang hình thành khi lỗ thông của (một phần) xoang cạnh mũi bị tắc nghẽn.


    Cuộn qua các hình ảnh MRI.

    Dưới đây là thêm các ví dụ về nang nhầy.

    1. Nang nhầy nhỏ
      ở xoang bướm.
      Xoang bị lấp đầy hoàn toàn bởi mô mềm (tức là chất nhầy) kèm theo giãn rộng với bờ xương xoang còn nguyên vẹn.
    2. Nang nhầy xoang trán.
      Đôi khi, bờ xương bị mỏng đi có thể gây nhầm lẫn với phá hủy xương. Trên các lát cắt CT mỏng, thường có thể nhìn thấy cấu trúc xương còn nguyên vẹn.
    3. Nang nhầy của tế bào xoang sàng trước.
    4. Nang nhầy xoang bướm phải. Vách liên xoang bướm bị đẩy giãn rộng qua đường giữa.
    5. Nang nhầy xoang trán.
    6. Nang nhầy xoang sàng phải với tình trạng mỏng và giãn rộng của lamina papyracea vào hốc mắt cùng bên.

    Nang nhầy (Mucocele) so với Nang ứ dịch (Retention cyst)

    Để đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán nang nhầy, phải có đồng thời cả hai đặc điểm: lấp đầy hoàn toàn và giãn rộng xoang.

    Hình ảnh
    Bệnh nhân này có nang nhầy ở xoang hàm trái với giãn rộng nhẹ (mũi tên trắng).
    Bên phải có một khối không có giãn rộng (đầu mũi tên vàng) và vẫn còn một ít khí trong xoang hàm.
    Đây là nang ứ dịch.

    Hình ảnh
    Bệnh nhân này cũng có nang nhầy ở xoang hàm trái.
    Bên phải có tình trạng lấp đầy hoàn toàn xoang hàm, nhưng không có giãn rộng.
    Do đó, trường hợp này không đáp ứng tiêu chuẩn để chẩn đoán nang nhầy.

    Vị trí thường gặp nhất của nang nhầy là môi dưới.
    Các vị trí khác bao gồm khoang miệng.
    Nếu tổn thương xuất phát từ tuyến dưới lưỡi bị tắc nghẽn, nó được gọi là nang nhái (ranula).

    Ung thư biểu mô không biệt hóa vùng mũi xoang

    Các hình ảnh này của bệnh nhân nam 75 tuổi có triệu chứng nghẹt mũi và chảy máu mũi.

    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Tiếp tục với các tái tạo mặt phẳng coronal…


    Cuộn qua các hình ảnh.

    Các dấu hiệu hình ảnh là gì?
    Tổn thương có kiểu giãn rộng hay phá hủy (dấu hiệu cảnh báo)?
    Có dấu hiệu cảnh báo nào khác không?

    Sau đó tiếp tục đọc…

    Hai dấu hiệu cảnh báo là:

    1. Phá hủy thành trong xoang hàm (mũi tên đen) và vách mũi (mũi tên trắng).
    2. Bệnh lý hoàn toàn một bên.

    Ở bệnh nhân viêm mũi xoang, có thể có giãn rộng và đôi khi thậm chí phá hủy xương, nhưng bệnh lý (hầu như) luôn luôn xảy ra hai bên.

    Tiếp tục với MRI…

    Trên các hình ảnh STIR này, có thể thấy sự khác biệt về cường độ tín hiệu giữa xoang hàm và xoang sàng bị tắc nghẽn (mũi tên đen) và khối u (mũi tên trắng).

    Ở bệnh nhân nang nhầy, toàn bộ tổn thương sẽ có cùng cường độ tín hiệu, khác với trường hợp này.

    Trên hình ảnh khuếch tán, tổn thương có tín hiệu cao trên b1000.
    Trên bản đồ ADC, tổn thương có tín hiệu rất thấp, thậm chí thấp hơn cả mô não, gợi ý tình trạng hạn chế khuếch tán rõ rệt.
    Điều này có nghĩa là chúng ta đang đối mặt với một khối u tăng mật độ tế bào.

    Đây là dấu hiệu cảnh báo thứ ba.

    Trên CT, có thể có ấn tượng rằng khối u cũng xâm lấn xoang trán (mũi tên đen).
    Tuy nhiên, trên MRI, chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng xoang trán chỉ bị tắc nghẽn và có cường độ tín hiệu cao hơn (mũi tên trắng) so với khối u ở các xoang sàng (mũi tên vàng).

    Kết luận cuối cùng là:

    • Khối u ác tính ở hốc mũi phải với xâm lấn xoang sàng và xoang bướm.
    • Không xâm lấn xoang trán và không xâm lấn nội sọ.
    • Phá hủy thành trong xoang hàm và vách mũi.

    Sinh thiết cho thấy ung thư biểu mô không biệt hóa vùng mũi xoang (SNUC), có tiên lượng rất xấu.
    Bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ và xạ trị sau mổ, và thật bất ngờ, không có dấu hiệu tái phát sau bốn năm.

    Ung thư biểu mô tế bào vảy

    Đây là một ví dụ khác về tổn thương có kiểu tăng trưởng phá hủy.
    Lưu ý tình trạng ngấm thuốc tương phản từ của khối u trên MRI (mũi tên).
    Có xâm lấn vào hốc mắt (phần trong).

    Sinh thiết cho thấy ung thư biểu mô tế bào vảy.

    Định khu tổn thương

    Trong hốc mũi và các xoang cạnh mũi, các bệnh lý thường gặp nhất là viêm xoang và polyp mũi xoang.
    Các bệnh lý này hầu như luôn có tính chất hai bên.

    Bất kỳ bệnh lý nào chỉ xuất hiện một bên đều cần đặt ra câu hỏi: liệu đây có phải là khối u ác tính không?

    Ung thư biểu mô tuyến

    Đây là bệnh nhân có triệu chứng nghẹt mũi tắc nghẽn.

    Nếu chỉ mô tả ca này đơn thuần là hình ảnh mờ gần hoàn toàn các xoang cạnh mũi bên phải, bác sĩ lâm sàng có thể dễ dàng nghĩ đây chỉ là một trường hợp viêm xoang thông thường.

    Như đã đề cập, dấu hiệu cảnh báo ở đây chính là vị trí định khu bất thường một bên.
    Viêm xoang một bên là cực kỳ hiếm gặp.
    Hơn nữa, nếu quan sát kỹ, có thể thấy hình ảnh phá hủy vách ngăn mũi — đây là dấu hiệu cảnh báo thứ hai.

    Tiếp tục xem hình ảnh MRI…

    Hình ảnh MRI cho thấy một khối u một bên trong hốc mũi phải gây tắc nghẽn xoang trán và ở mức độ thấp hơn là xoang hàm.

    Có hiện tượng hạn chế khuếch tán (tăng tín hiệu trên DWI và giảm tín hiệu trên ADC) — đây là dấu hiệu cảnh báo thứ ba.

    Sinh thiết xác nhận ung thư biểu mô tuyến.
    Bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ kết hợp xạ trị proton và hiện không còn bằng chứng bệnh trong 14 tháng.


    Case courtesy B.M. Verbist, Leiden

    Ca lâm sàng do B.M. Verbist, Leiden cung cấp

    U nhú đảo ngược

    Đây là một trường hợp khối u một bên khác.
    Khối u ngấm thuốc có cường độ tín hiệu cao hơn so với xoang hàm bị tắc nghẽn.
    Lưu ý rằng khối u có bờ thùy múi.
    Đặc điểm này thường gặp trong u nhú đảo ngược, tuy nhiên không có tính đặc hiệu cao và trong mọi trường hợp đều cần thực hiện sinh thiết.

    Chẩn đoán cuối cùng: u nhú đảo ngược.

    Đây là một trường hợp u nhú đảo ngược khác.

    Tổn thương biểu hiện là một khối niêm mạc có bờ thùy múi với hình ảnh ‘cuộn não’.
    Trông như hình ảnh các hồi não (đầu mũi tên).
    Đặc điểm này có tính đặc hiệu nhất định đối với u nhú đảo ngược.

    Ngoài tổn thương ác tính, cần lưu ý một nguyên nhân khác gây tắc nghẽn xoang cạnh mũi một bên.
    Điều này được minh họa qua ca lâm sàng dưới đây.

    Bệnh nhân nữ 62 tuổi.
    CT xoang được chỉ định bởi bác sĩ tai mũi họng. Thông tin lâm sàng: ‘viêm xoang một bên mạn tính’.

    Hình ảnh
    Có hình ảnh mờ đặc do mô mềm tại xoang hàm, xoang sàng và xoang trán bên phải (gọi là ‘kiểu tắc nghẽn phễu’).
    Như đã đề cập, đây là một dấu hiệu cảnh báo.

    Hãy quan sát các hình ảnh tiếp theo và cố gắng xác định liệu có tổn thương ác tính nào gây ra kiểu tắc nghẽn phễu này không (hay có nguyên nhân nào khác không?)

    Hình ảnh
    Có hình ảnh thấu quang quanh chóp răng tại vùng chân răng hàm lớn trên bên phải, gợi ý nhiễm trùng răng (đầu mũi tên đen).
    So sánh với bên trái bình thường trên ảnh cắt ngang (đầu mũi tên trắng).
    Thăm khám lâm sàng bổ sung đã loại trừ tổn thương ác tính.
    Bệnh nhân được chuyển khám răng hàm mặt vì nhiễm trùng răng hoàn toàn có thể là nguyên nhân gây viêm xoang mạn tính một bên.

    Lưu ý: Vì lý do này, việc bao gồm vùng xương hàm trên trong trường chụp của CT xoang là điều hết sức quan trọng.

    Mạch máu hóa

    Khi xét riêng lẻ, tính chất mạch máu không có giá trị đặc hiệu cao trong việc phân biệt tổn thương lành tính và ác tính ở các khối u vùng đầu cổ.
    Tuy nhiên, khi kết hợp với các đặc điểm hình ảnh khác, đây có thể là yếu tố rất hữu ích trong chẩn đoán phân biệt.

    Hãy nghĩ đến tình trạng ngấm thuốc mạnh và các vùng mất tín hiệu do dòng chảy (flow voids) trên MRI trong u cầu mạch (paragangliomas) kết hợp với vị trí tổn thương (tức là từ chỗ phân đôi động mạch cảnh đến lỗ tĩnh mạch cảnh).

    Đối với bất kỳ tổn thương mạch máu nào ở vùng đầu cổ, cần đánh giá:

    • Các mạch máu nuôi hoặc dẫn lưu bị giãn.
    • Đặc điểm dòng chảy trên Doppler
    • Vùng mất tín hiệu do dòng chảy (flow voids) trên MRI
    • Sỏi tĩnh mạch (phleboliths) trên CT
    • Đặc điểm dòng chảy Doppler trên siêu âm

    U cơ vân (Rhabdomyosarcoma)

    Các hình ảnh này của một bệnh nhân nam 16 tuổi với biểu hiện lồi mắt và chảy máu mũi.

    Hãy quan sát kỹ các hình ảnh trước.
    Tìm kiếm các dấu hiệu cảnh báo.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Dựa trên kết quả CT tại bệnh viện khác, có nghi ngờ u xơ mạch máu vị thành niên (juvenile angiofibroma) — một khối u tăng sinh mạch máu, xâm lấn tại chỗ, gặp ở nam giới trẻ tuổi với biểu hiện chảy máu mũi nặng, có thể đe dọa tính mạng.
    Trên các hình ảnh này, có một tổn thương phá hủy xương với xâm lấn vào hốc mắt.

    U xơ mạch máu vị thành niên luôn xuất phát từ hốc mũi phía sau và có tâm tổn thương xung quanh lỗ bướm khẩu cái và hố chân bướm khẩu cái.

    Tiếp tục xem các hình ảnh bổ sung…

    Hố chân bướm khẩu cái

    Hố chân bướm khẩu cái là một khoang hình tháp ngược, chứa đầy mỡ, nằm ở mặt bên của hộp sọ, giữa hố thái dương dưới và vòm họng mũi.
    Đây là một ngã tư thần kinh mạch máu quan trọng, kết nối hốc mắt, hốc mũi, vòm họng mũi, khoang miệng, hố thái dương dưới và hố sọ.
    Do các kết nối này, hố chân bướm khẩu cái có thể đóng vai trò là đường dẫn cho sự lan rộng của các bệnh lý viêm nhiễm và tân sinh ở vùng đầu cổ.

    Các hình ảnh này thuộc hai bệnh nhân khác nhau.

    1. Đây là bệnh nhân có ung thư biểu mô tế bào vảy xuất phát từ xoang hàm phải, xâm lấn vào hố chân bướm khẩu cái (mũi tên đỏ).
      Lưu ý mô mỡ bình thường trong hố chân bướm khẩu cái bên trái (mũi tên vàng).
    2. Đây là bệnh nhân nam 16 tuổi của chúng ta.
      Lưu ý rằng hố không bị xâm lấn và tâm của tổn thương không nằm ở lỗ bướm khẩu cái và hố chân bướm khẩu cái.

    Điều này khiến chẩn đoán ban đầu là u xơ mạch máu vị thành niên trở nên khó có khả năng.

    Tiếp tục xem các hình ảnh MRI…

    MRI cho thấy một khối u phá hủy một bên với hạn chế khuếch tán rõ rệt (giảm tín hiệu trên bản đồ ADC).
    Như vậy, chúng ta có ba dấu hiệu cảnh báo.

    Hạn chế khuếch tán là một lập luận khác chống lại chẩn đoán u xơ mạch máu vị thành niên, vì một tổn thương mạch máu sẽ không gây ra hạn chế khuếch tán.

    Có xâm lấn vào hốc mắt và cả vào phần mềm phía trước của má (mũi tên).

    Sinh thiết được thực hiện và cho kết quả là u cơ vân (rhabdomyosarcoma), được điều trị bằng hóa trị liệu.

    U xơ mạch máu vị thành niên (Juvenile angiofibroma)

    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Tại sao đây là hình ảnh điển hình của u xơ mạch máu vị thành niên?

    Các dấu hiệu:

    • Khối u nằm ở phía sau hốc mũi và tâm tổn thương ở vị trí tương ứng với lỗ bướm khẩu cái (dấu hoa thị).
    • Có ngấm thuốc mạnh với hình ảnh “muối và tiêu” (salt and pepper) nhẹ.

    Tiếp tục xem hình ảnh DSA…

    Hình ảnh DSA cho thấy tình trạng tăng sinh mạch máu, điều này (kết hợp với vị trí đặc trưng) gợi ý mạnh mẽ cho chẩn đoán u xơ mạch máu vị thành niên.

    Bệnh nhân này được điều trị tắc mạch (embolization) trước phẫu thuật.
    Phẫu thuật cần được thực hiện triệt để nhất có thể để ngăn ngừa tái phát.

    Hãy quan sát các hình ảnh trước.
    Các dấu hiệu là gì?

    Các dấu hiệu:

    • Khối u có tâm ở hố bướm khẩu cái bên phải.
    • Có giãn rộng hố chân bướm khẩu cái, nhưng không có phá hủy xương.
    • Ngay cả trên CT cũng có thể thấy ngấm thuốc rõ rệt.

    Đây là hình ảnh điển hình của u xơ mạch máu vị thành niên.

    Tiếp tục xem hình ảnh MRI và DSA…

    Và một lần nữa các dấu hiệu điển hình trên MRI và DSA.
    Có ngấm thuốc mạnh và tăng sinh mạch máu rõ rệt.

    Tổn thương dạng nang vùng cổ

    Tổn thương dạng nang vùng cổ là bệnh lý rất thường gặp.
    Ở bệnh nhân trẻ tuổi, khả năng ác tính thấp.
    Tuy nhiên, tổn thương dạng nang ở bệnh nhân trưởng thành, đặc biệt khi trên 30 tuổi, là một dấu hiệu cảnh báo quan trọng.

    Nang khe mang

    Các hình ảnh này thuộc về một nam bệnh nhân 59 tuổi, có tiền sử hút thuốc lá, nhập viện vì sưng vùng cổ.

    Báo cáo MRI ban đầu ghi nhận có một tổn thương dạng nang nằm phía sau tuyến dưới hàm và phía trước cơ ức đòn chũm; không có hạch bạch huyết kèm theo.
    Chẩn đoán có khả năng nhất: nang khe mang.

    Đây có vẻ là một kết luận hợp lý vì vị trí điển hình của nang khe mang (loại hai) là nằm giữa tuyến dưới hàm và cơ ức đòn chũm.
    Tuy nhiên, tuổi của bệnh nhân là một dấu hiệu cảnh báo quan trọng.

    Đọc tiếp…

    Năm tháng sau, khối sưng trở nên đau.

    MRI được chụp lại.
    Quan sát các hình ảnh.
    Chẩn đoán của bạn là gì?

    Các phát hiện bao gồm:

    • Có hiện tượng ngấm thuốc tương phản từ ở thành nang và trong các mô mềm xung quanh.
    • Không có hạn chế khuếch tán.

    Các phát hiện này được cho là hậu quả của nhiễm trùng và khả năng di căn dạng nang ít có khả năng hơn, nhưng không thể loại trừ, đặc biệt do tuổi của bệnh nhân.

    Bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh và một tháng sau tổn thương được phẫu thuật cắt bỏ.
    Kết quả giải phẫu bệnh xác nhận đây là nang khe mang.

    Nang khe mang điển hình là các tổn thương dạng nang có thành mỏng.
    Tuy nhiên, di căn dạng nang có thể bắt chước hình ảnh nang khe mang.
    Đặc biệt là di căn hạch bạch huyết của ung thư tuyến giáp thể nhú và ung thư hầu họng (liên quan đến HPV).

    Virus u nhú ở người (HPV) là nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung và có liên quan đến ung thư âm đạo và âm hộ.

    HPV cũng liên quan đến ung thư vùng hầu họng (phía sau họng, bao gồm nền lưỡi và amidan).

    Theo nguyên tắc chung: Bất kỳ tổn thương dạng nang vùng cổ nào ở bệnh nhân trưởng thành, đặc biệt khi trên 30 tuổi, đều phải được xem là nghi ngờ và cần loại trừ nguồn gốc ác tính.


    Case courtesy R.H. Hermans, Leuven

    Case courtesy R.H. Hermans, Leuven

    Đây là hình ảnh nang khe mang ở một bệnh nhân mười tuổi tại vị trí điển hình.

    Ung thư hầu họng liên quan đến HPV

    Các hình ảnh này thuộc về một nam bệnh nhân 69 tuổi với khối sưng vùng cổ trái.

    Tổn thương được báo cáo là nang khe mang.
    Mức dịch-dịch (đầu mũi tên) được cho là mảnh vụn do nhiễm trùng hoặc chảy máu trước đó.

    Trong quá trình theo dõi, khối sưng tăng kích thước và mười tháng sau tổn thương được phẫu thuật cắt bỏ.
    Kết quả giải phẫu bệnh: Di căn của ung thư biểu mô tế bào vảy, dương tính với dấu ấn P16.
    Đây là dấu ấn chỉ điểm tình trạng dương tính với virus u nhú ở người (HPV).

    Đọc tiếp…

    Trong quá trình tìm kiếm khối u nguyên phát, bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng phát hiện amidan bên trái có kích thước hơi lớn hơn.

    Lưu ý rằng vùng giảm tín hiệu trên bản đồ ADC nhỏ hơn vùng tăng tín hiệu trên DWI (b1000).
    Điều này có nghĩa là chỉ có phần trung tâm của amidan là ung thư. Khối ung thư nằm sâu trong các hốc của amidan và thường không nhìn thấy được khi nội soi.

    Sinh thiết xác nhận ung thư biểu mô tế bào vảy liên quan đến HPV và bệnh nhân được điều trị bằng xạ trị.

    Dưới đây là hai trường hợp khác với các tổn thương (có vẻ) giống hệt nhau:

    1. Trường hợp này là nang khe mang (Case courtesy B.M. Verbist, Leiden)
    2. Trường hợp này là di căn hạch bạch huyết của ung thư tuyến giáp thể nhú.

    Lưu ý hiện tượng ngấm thuốc dạng nốt ở thành nang (mũi tên).
    Đặc điểm này không bao giờ thấy trong nang khe mang.

    Kết luận

    Quy trình chụp MRI

    Lưu ý

    • Khi phát hiện điều gì đó ‘bất thường’ trên một lần chụp được gọi là thường quy vùng đầu cổ (đặc biệt khi có các dấu hiệu cảnh báo), đừng ngần ngại đề cập đến khả năng tổn thương ác tính trong phần kết luận của bạn.
    • Tuy nhiên…, hãy thận trọng và khiêm tốn khi đưa ra chẩn đoán mô bệnh học.
    • Bác sĩ tai mũi họng thường có thể tiếp cận tổn thương và tiến hành cắt bỏ hoặc sinh thiết.
    • Sau đó, bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ là người đưa ra chẩn đoán xác định.

    Viết báo cáo

    Mẫu báo cáo chuẩn này có thể áp dụng cho bất kỳ khối u vùng đầu cổ nào.

    Trong phần mô tả mức độ xâm lấn tại chỗ, chúng tôi khuyến nghị sử dụng danh pháp và các mốc giải phẫu cũng được các bác sĩ tai mũi họng và phẫu thuật viên đầu cổ sử dụng.

  • Huyết khối xoang tĩnh mạch não

    Huyết Khối Xoang Tĩnh Mạch Não

    Barbara Simons, Geert Lycklama a Nijeholt và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Haaglanden tại The Hague và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Huyết khối tĩnh mạch não là một nguyên nhân quan trọng gây đột quỵ, đặc biệt ở trẻ em và người trẻ tuổi.
    Bệnh lý này phổ biến hơn so với nhận định trước đây và thường bị bỏ sót trong lần chụp chiếu ban đầu.
    Đây là một chẩn đoán khó do biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu và các dấu hiệu hình ảnh học tinh tế.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung vào:

    • Các dấu hiệu trên hình ảnh thường quy giúp gợi ý huyết khối tĩnh mạch chưa được nghi ngờ trước đó.
    • Phương pháp chụp chiếu hình ảnh cho bệnh nhân nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch.
    • Các bẫy chẩn đoán (Pitfalls).

    Giới thiệu

    Huyết khối tĩnh mạch não được phân bố theo thứ tự giảm dần tại các cấu trúc tĩnh mạch sau:

    • Các xoang màng cứng lớn:
      Xoang tĩnh mạch dọc trên, xoang ngang, xoang thẳng và xoang sigma.
    • Tĩnh mạch vỏ não:

      • Tĩnh mạch Labbé, dẫn lưu thùy thái dương.
      • Tĩnh mạch Trolard, là tĩnh mạch vỏ não lớn nhất, đổ vào xoang tĩnh mạch dọc trên.
    • Tĩnh mạch sâu:
      Tĩnh mạch não trong và tĩnh mạch thể vân đồi thị.
    • Xoang hang.

    Về lâm sàng, bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não biểu hiện với các triệu chứng đa dạng, từ đau đầu đến co giật và hôn mê trong các trường hợp nặng.
    Ở trẻ sơ sinh, sốc và mất nước là nguyên nhân thường gặp gây huyết khối tĩnh mạch.
    Ở trẻ lớn hơn, nguyên nhân thường là nhiễm trùng tại chỗ, chẳng hạn như viêm xương chũm, hoặc bệnh lý đông máu.
    Ở người lớn, bệnh lý đông máu là nguyên nhân trong 70% trường hợp và nhiễm trùng chiếm 10% các trường hợp.
    Ở phụ nữ, việc sử dụng thuốc tránh thai đường uống và thai kỳ là các yếu tố nguy cơ quan trọng.

    Khi nào cần nghĩ đến huyết khối tĩnh mạch

    Huyết khối tĩnh mạch có biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu, do đó việc nhận biết các dấu hiệu hình ảnh tinh tế và các dấu hiệu gián tiếp có thể gợi ý sự hiện diện của huyết khối là điều hết sức quan trọng.
    Mặc dù các dấu hiệu này thường đã xuất hiện trên các lần chụp ban đầu, nhưng chúng thường chỉ được phát hiện khi nhìn lại hồi cứu.
    Về mặt lâm sàng, bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch thường biểu hiện bằng co giật, đây là triệu chứng không gặp trong nhồi máu động mạch.

    Trên phim MRI hoặc CT thường quy không tiêm thuốc, cần nghĩ đến khả năng huyết khối tĩnh mạch khi thấy:

    • Dấu hiệu trực tiếp của huyết khối
    • Nhồi máu ở vị trí không thuộc phân bố động mạch, đặc biệt nếu có tính chất hai bên và kèm xuất huyết
    • Xuất huyết vỏ não hoặc xuất huyết thùy ngoại vi
    • Phù nề vỏ não

    Dấu hiệu cục máu đông tăng tỷ trọng

    Hình ảnh trực tiếp của cục máu đông trong các tĩnh mạch não trên CT không tiêm thuốc cản quang được gọi là dấu hiệu cục máu đông tăng tỷ trọng (dense clot sign).
    Dấu hiệu này chỉ gặp trong khoảng một phần ba số trường hợp.

    Thông thường, tĩnh mạch có tỷ trọng cao hơn mô não một chút, và trong một số trường hợp, khó có thể xác định tĩnh mạch đó bình thường hay đang tăng tỷ trọng bất thường (xem phần bẫy chẩn đoán).
    Trong những trường hợp này, cần thực hiện chụp CT có tiêm thuốc cản quang để giải quyết vấn đề này.


    Dense clot sign in a thrombosed cortical vein.

    Dấu hiệu cục máu đông tăng tỷ trọng trong tĩnh mạch vỏ não bị huyết khối.

    Dấu hiệu cục máu đông tăng tỷ trọng (2)
    Hình ảnh tĩnh mạch vỏ não bị huyết khối biểu hiện dưới dạng một dải hoặc đường tăng tỷ trọng hình dây thừng còn được gọi là dấu hiệu dây thừng (cord sign).
    Một thuật ngữ khác thường được sử dụng là dấu hiệu mạch máu tăng tỷ trọng (dense vessel sign).

    Dấu hiệu cục máu đông tăng tỷ trọng (3)
    Hình ảnh bên trái là của một bệnh nhân có nhồi máu xuất huyết ở thùy thái dương (mũi tên đỏ).
    Lưu ý xoang ngang tăng tỷ trọng do huyết khối (mũi tên xanh dương).


    Two cases of empty delta sign due to thrombosis of the superior sagittal sinus.

    Hai trường hợp có dấu hiệu delta rỗng do huyết khối xoang tĩnh mạch dọc trên.

    Dấu hiệu delta rỗng

    Dấu hiệu delta rỗng là hình ảnh được quan sát trên CT có tiêm thuốc cản quang (CECT) và được mô tả lần đầu tiên trong huyết khối xoang tĩnh mạch dọc trên.
    Dấu hiệu này bao gồm một vùng ngấm thuốc hình tam giác với trung tâm giảm tỷ trọng tương đối, tương ứng với xoang bị huyết khối.
    Giải thích có khả năng nhất là sự ngấm thuốc của hệ thống tuần hoàn bàng hệ tĩnh mạch màng cứng phong phú bao quanh xoang bị huyết khối, tạo ra vùng giảm tỷ trọng ở trung tâm.
    Trong giai đoạn huyết khối sớm, dấu hiệu delta rỗng có thể không xuất hiện và cần dựa vào hình ảnh không hiển thị tĩnh mạch bị huyết khối trên CECT.
    Dấu hiệu này có thể không còn sau hai tháng do quá trình tái thông trong lòng huyết khối.

    Dấu hiệu delta rỗng (2)
    Hình ảnh bên trái là một trường hợp huyết khối xoang ngang phải và xoang ngang-xoang sigma trái (mũi tên).
    Có hình ảnh ngấm thuốc bao quanh các tĩnh mạch giảm tỷ trọng bị huyết khối.


    Venous thrombosis with absence of normal flow void on T2-weighted image..

    Huyết khối tĩnh mạch với mất tín hiệu trống dòng chảy bình thường trên chuỗi xung T2W.

    Mất tín hiệu trống dòng chảy bình thường trên MRI

    Trên các chuỗi xung spin-echo, các tĩnh mạch não thông thoáng thường biểu hiện giảm tín hiệu do hiện tượng trống dòng chảy (flow void).
    Tín hiệu trống dòng chảy thấy rõ nhất trên chuỗi xung T2W và FLAIR, nhưng đôi khi cũng có thể thấy trên chuỗi xung T1W.
    Huyết khối sẽ biểu hiện bằng sự vắng mặt của tín hiệu trống dòng chảy.
    Mặc dù đây không phải là dấu hiệu hoàn toàn đáng tin cậy, nhưng thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên khiến ta nghĩ đến khả năng huyết khối tĩnh mạch.
    Bước tiếp theo cần thực hiện là chụp có tiêm thuốc tương phản từ.

    Hình ảnh bên trái là chuỗi xung T2W với tín hiệu trống dòng chảy bình thường ở xoang sigma phải và tĩnh mạch cảnh trong phải (mũi tên xanh dương).
    Bên trái có tín hiệu cao bất thường là kết quả của huyết khối (mũi tên đỏ).


    Venous thrombosis with absence of normal flow void on T1-weighted image.

    Huyết khối tĩnh mạch với mất tín hiệu trống dòng chảy bình thường trên chuỗi xung T1W.

    Mất tín hiệu trống dòng chảy bình thường trên MRI (2)
    Các hình ảnh bên trái cho thấy tín hiệu cao bất thường trên chuỗi xung T1W do huyết khối.
    Huyết khối lan rộng từ các tĩnh mạch não sâu và xoang thẳng đến xoang ngang và xoang sigma bên phải.
    Lưu ý tín hiệu trống dòng chảy bình thường ở xoang ngang trái trên hình dưới bên phải.

    Sự vắng mặt của tín hiệu trống dòng chảy bình thường trên MRI có thể rất hữu ích trong việc phát hiện huyết khối tĩnh mạch, nhưng có một số bẫy chẩn đoán mà chúng ta sẽ thảo luận sau.
    Dòng chảy chậm trong tĩnh mạch có thể gây tăng tín hiệu trên T1W.

    Nhồi máu tĩnh mạch

    Dấu hiệu khác có thể giúp chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch không được nghi ngờ trước là hình ảnh nhồi máu tĩnh mạch.
    Huyết khối tĩnh mạch dẫn đến tăng áp lực tĩnh mạch, ban đầu gây phù não nguồn gốc mạch máu (vasogenic edema) ở chất trắng của vùng bị ảnh hưởng.
    Khi quá trình tiến triển, có thể dẫn đến nhồi máu và xuất hiện phù não nguồn gốc tế bào (cytotoxic edema) bên cạnh phù não nguồn gốc mạch máu.
    Điều này khác với nhồi máu động mạch, trong đó chỉ có phù não nguồn gốc tế bào mà không có phù não nguồn gốc mạch máu.
    Do áp lực tĩnh mạch cao, xuất huyết gặp thường xuyên hơn trong nhồi máu tĩnh mạch so với nhồi máu động mạch.

    Do chúng ta không quen thuộc với nhồi máu tĩnh mạch, chúng ta thường nghĩ đến chúng như là nhồi máu ở vị trí không điển hình hoặc không thuộc phân bố động mạch.
    Tuy nhiên, nhồi máu tĩnh mạch có phân bố điển hình riêng, như được minh họa ở hình bên trái.

    Do nhiều tĩnh mạch là các cấu trúc đường giữa, nhồi máu tĩnh mạch thường có tính chất hai bên.
    Điều này gặp trong huyết khối xoang tĩnh mạch dọc trên, xoang thẳng và các tĩnh mạch não trong.


    Bilateral infarction in superior sagittal sinus thrombosis

    Nhồi máu hai bên trong huyết khối xoang tĩnh mạch dọc trên

    Nhồi máu tĩnh mạch (2) – Huyết khối xoang tĩnh mạch dọc trên
    Cấu trúc tĩnh mạch bị huyết khối thường gặp nhất là xoang tĩnh mạch dọc trên.
    Nhồi máu gặp trong 75% các trường hợp.
    Các bất thường có vị trí cạnh đường giữa và thường có tính chất hai bên.
    Xuất huyết gặp trong 60% các trường hợp.

    Hình ảnh bên trái cho thấy phù nề cạnh đường giữa hai bên và xuất huyết nhỏ ở bệnh nhân huyết khối xoang tĩnh mạch dọc trên.

    Hình ảnh bên trái là tái tạo CT mặt phẳng đứng dọc của một bệnh nhân có xuất huyết cạnh đường giữa hai bên do huyết khối xoang tĩnh mạch dọc trên.
    Mũi tên đỏ trên hình CT có tiêm thuốc cản quang chỉ khuyết thuốc do huyết khối gây ra.


    Venous infarct in Labbe territory

    Nhồi máu tĩnh mạch trong vùng phân bố của tĩnh mạch Labbe

    Nhồi máu tĩnh mạch (3) – Tĩnh mạch Labbe
    Một dạng nhồi máu tĩnh mạch điển hình khác là do huyết khối tĩnh mạch Labbe.
    Hình ảnh bên trái cho thấy giảm tỷ trọng ở chất trắng và ít rõ hơn ở chất xám của thùy thái dương trái.
    Chẩn đoán phân biệt rộng bao gồm nhồi máu động mạch, nhiễm trùng, u não, v.v.
    Lưu ý có một số đường tăng tỷ trọng trong vùng nhồi máu.
    Đây là do xuất huyết.
    Trong chẩn đoán phân biệt, cũng cần xem xét nhồi máu tĩnh mạch trong vùng phân bố của tĩnh mạch Labbe.
    Tỷ trọng tăng nhẹ ở vùng xoang ngang trái (mũi tên) là chìa khóa để chẩn đoán.
    Đây là dấu hiệu trực tiếp của huyết khối và bước tiếp theo là chụp CECT, xác nhận chẩn đoán (không hiển thị).


    Hemorrhagic venous infarct in Labbe territory

    Chẩn đoán hình ảnh trong nghi ngờ huyết khối


    Chụp tĩnh mạch cản quang CT (CT-venography)

    Chụp tĩnh mạch cản quang CT là kỹ thuật đơn giản và trực tiếp để chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch.
    Trong giai đoạn sớm, tĩnh mạch bị huyết khối không ngấm thuốc cản quang; ở giai đoạn muộn hơn, khối huyết khối không ngấm thuốc trong khi vùng xung quanh ngấm thuốc, tạo nên dấu hiệu “delta rỗng” (empty delta sign) như đã đề cập trước đó.

    Khác với MRI, chụp tĩnh mạch cản quang CT hầu như không có các bẫy chẩn đoán (pitfalls).
    Điều duy nhất cần tránh là chụp quá sớm, tức là trước khi thuốc cản quang vào đầy tĩnh mạch, hoặc quá muộn, tức là khi thuốc cản quang đã thải trừ.
    Một số tác giả đề xuất thực hiện tương tự như chụp động mạch cản quang CT và chỉ cần thêm 5-10 giây thời gian trễ.
    Để đảm bảo an toàn, chúng tôi khuyến cáo thời gian trễ 45-50 giây sau khi bắt đầu tiêm thuốc cản quang.
    Chúng tôi sử dụng tối thiểu 70 cc thuốc cản quang.

    Bên trái là một số hình ảnh chụp tĩnh mạch cản quang CT minh họa huyết khối ở nhiều xoang tĩnh mạch.


    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân bị nhồi máu trong vùng phân bố của tĩnh mạch Labbe.
    Trên các hình ảnh không tiêm thuốc cản quang, có thể nhận thấy huyết khối tăng tỷ trọng trong xoang ngang và vùng xuất huyết tại khu vực nhồi máu.
    Trên các hình ảnh có tiêm thuốc cản quang, có thể thấy khuyết thuốc (filling defect) trong xoang ngang.
    Bạn có thể cuộn qua các hình ảnh.


    Hình ảnh MIP cắt ngang của chụp mạch máu tương phản pha. Xoang ngang và tĩnh mạch cảnh trong bên phải không có tín hiệu do huyết khối.

    Hình ảnh MIP cắt ngang của chụp mạch máu tương phản pha. Xoang ngang và tĩnh mạch cảnh trong bên phải không có tín hiệu do huyết khối.

    Chụp tĩnh mạch MR (MR-venography)

    Các kỹ thuật MRI được sử dụng để chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não bao gồm:
    Chụp mạch thời gian bay (Time-of-flight – TOF), chụp mạch tương phản pha (Phase-contrast angiography – PCA) và chụp tĩnh mạch MR có tiêm thuốc tương phản từ:

    • Chụp mạch thời gian bay (TOF) dựa trên hiện tượng tăng tín hiệu liên quan đến dòng chảy của các spin đi vào lớp cắt.
      Do chưa bị bão hòa, các spin này tạo ra tín hiệu mạnh hơn so với các spin xung quanh đã bị bão hòa.
    • Chụp mạch tương phản pha (PCA) sử dụng nguyên lý rằng các spin trong máu di chuyển cùng chiều với gradient từ trường sẽ tạo ra độ lệch pha tỷ lệ thuận với vận tốc của các spin.
      Thông tin này có thể được dùng để xác định vận tốc của các spin. Hình ảnh này có thể được trừ đi từ hình ảnh thu được mà không có gradient mã hóa vận tốc để tạo ra hình ảnh mạch máu.
    • Chụp tĩnh mạch MR có tiêm thuốc tương phản từ sử dụng hiệu ứng rút ngắn thời gian T1 của Gadolinium.
      Kỹ thuật này tương tự như chụp tĩnh mạch cản quang CT.

    Khi sử dụng hình ảnh tái tạo MIP, luôn luôn phải xem xét các hình ảnh gốc (source images).

    Bên trái là hình ảnh MIP theo mặt phẳng đứng dọc và chếch của một ca chụp tĩnh mạch MR có tiêm thuốc tương phản từ bình thường.
    Lưu ý tĩnh mạch Trolard nổi bật (mũi tên đỏ) và tĩnh mạch Labbe (mũi tên xanh lam).
    Mỗi kỹ thuật MRI đều có những bẫy chẩn đoán riêng mà chúng ta sẽ thảo luận sau.
    Chụp tĩnh mạch MR có tiêm thuốc tương phản từ có nhược điểm là cần tiêm thuốc, nhưng có ít bẫy chẩn đoán hơn.

    Chụp mạch số hóa xóa nền (DSA)

    Chụp mạch chỉ được thực hiện trong các trường hợp nặng, khi có kế hoạch can thiệp.

    Bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch, trong tình trạng hôn mê và không đáp ứng với liệu pháp chống đông.
    Có huyết khối tại xoang dọc trên (mũi tên đỏ), xoang thẳng (mũi tên xanh lam) và xoang ngang – xoang sigma (mũi tên vàng).

    Tiếp tục xem video về thủ thuật lấy huyết khối.

    Bên trái là video về thủ thuật lấy huyết khối.

    Những bẫy chẩn đoán trên CT

    Hạt nhện (Arachnoid Granulations)

    Hạt nhện là những chồi nhỏ của màng nhện xuyên qua màng cứng.
    Chúng nhô vào trong các xoang tĩnh mạch và có thể bắt chước hình ảnh khuyết thuốc do huyết khối gây ra.
    Thông thường, các hạt nhện này có thể dễ dàng phân biệt với huyết khối.


    Xoang ngang bình thường (trái) và xoang ngang có huyết khối (phải).

    Xoang ngang bình thường (trái) và xoang ngang có huyết khối (phải).

    Hình ảnh giả dấu hiệu mạch máu tăng tỷ trọng

    Bình thường, các tĩnh mạch có tỷ trọng cao hơn một chút so với nhu mô não, và trong một số trường hợp rất khó để xác định đây là hình ảnh bình thường hay tăng tỷ trọng thực sự.
    Trong những trường hợp này, cần thực hiện CT có tiêm thuốc cản quang để giải quyết vấn đề.
    Bên trái là hình ảnh xoang ngang có huyết khối và bên cạnh là xoang ngang bình thường.


    Hình ảnh giả dấu hiệu mạch máu tăng tỷ trọng ở trẻ nhũ nhi

    Hình ảnh giả dấu hiệu mạch máu tăng tỷ trọng ở trẻ nhũ nhi

    Ở trẻ nhũ nhi, nhu mô não thường có tỷ trọng thấp hơn so với trẻ lớn và người trưởng thành.
    Điều này dẫn đến tỷ trọng tương đối cao của máu trong xoang dọc trên so với nhu mô não, tạo ra hình ảnh giả dấu hiệu cục máu đông tăng tỷ trọng.


    Khối máu tụ bắt chước dấu hiệu mạch máu tăng tỷ trọng

    Khối máu tụ bắt chước dấu hiệu mạch máu tăng tỷ trọng

    Khối máu tụ giả dấu hiệu mạch máu tăng tỷ trọng.
    Thông thường, việc phân biệt khối máu tụ với xoang tĩnh mạch có huyết khối không gặp khó khăn.
    Đây là hình ảnh một bệnh nhân có khối máu tụ trong não ở vị trí ngoại vi.
    Do vị trí của khối máu tụ nằm trong vùng xoang ngang, nó tạo ra hình ảnh giả xoang ngang có huyết khối.

    Dấu hiệu delta rỗng giả (Pseudo empty delta sign)

    Đây là hình ảnh một bệnh nhân có khối máu tụ dưới màng cứng bên trái, lan rộng đến vùng xoang dọc trên (các mũi tên).
    Thoạt nhìn, hình ảnh này trông giống như dấu hiệu delta rỗng.

    Khi duyệt qua toàn bộ tập dữ liệu, có thể thấy rõ đây là phần lan rộng của khối máu tụ.
    Đôi khi, một ổ mủ màng não (empyema) tăng tỷ trọng cũng có thể bắt chước dấu hiệu delta rỗng.

    Thời điểm bơm thuốc không phù hợp

    Bên trái là ba hình ảnh của một bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch tại xoang dọc trên.
    Ở hình ngoài cùng bên trái, chúng ta thấy dấu hiệu mạch máu tăng tỷ trọng trên CT không tiêm thuốc cản quang.
    Hình ở giữa được chụp 25 giây sau khi bắt đầu tiêm thuốc cản quang.
    Có hình ảnh ngấm thuốc động mạch và trông như thể xoang dọc trên cũng đang ngấm thuốc, nhưng thực chất đây là hiện tượng “xuyên sáng” (shine through) của cục huyết khối tăng tỷ trọng.
    Chỉ đến hình ảnh bên phải, được chụp 45 giây sau khi tiêm thuốc cản quang, mới xuất hiện dấu hiệu delta rỗng, xác nhận sự hiện diện của huyết khối trong xoang.

    Các bẫy chẩn đoán trong MRI

    Xoang ngang kém phát triển (hypoplastic)

    Kém phát triển (hypoplasia) và bất sản (aplasia) xoang ngang phải hoặc trái là một phát hiện thường gặp.
    Tình trạng này có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với huyết khối xoang, do trên MRA một trong hai xoang ngang không được hiển thị.
    Khi nghi ngờ có xoang ngang kém phát triển, cần quan sát kích thước của lỗ tĩnh mạch cảnh (jugular foramen).
    Các hình ảnh bên trái là của một bệnh nhân có xoang ngang trái kém phát triển.
    Lưu ý sự chênh lệch kích thước của lỗ tĩnh mạch cảnh hai bên.

    Bên trái là ảnh MIP mặt phẳng ngang (transverse MIP) của chuỗi xung tương phản pha (phase-contrast).
    Để phân biệt xoang ngang kém phát triển với xoang ngang có huyết khối, cần xem xét các ảnh gốc (source images).
    Trên ảnh gốc bên phải, có thể thấy không có tình trạng kém phát triển (mũi tên xanh).
    Trong trường hợp này, đây là huyết khối xoang ngang trái.

    Bên trái là một trường hợp khác minh họa rằng không thể hoàn toàn dựa vào kỹ thuật tương phản pha (phase contrast imaging).
    Tín hiệu trong tĩnh mạch phụ thuộc vào vận tốc dòng máu chảy và thông số mã hóa vận tốc (velocity encoding) do kỹ thuật viên cài đặt.
    Ở ngoài cùng bên trái là hình ảnh bệnh nhân không thấy xoang ngang trái.
    Điều này có thể do kém phát triển, huyết khối tĩnh mạch hoặc dòng chảy chậm.
    Trên chuỗi xung T1W sau tiêm thuốc tương phản từ, có thể thấy rõ ràng xoang ngấm thuốc và còn thông (patent).


    Thrombus in right transverse sinus is dark on T2 due to intracellular deoxyhemoglobin (Courtesy dr. Howard Rowley)

    Huyết khối xoang ngang phải giảm tín hiệu trên T2W do deoxyhemoglobin nội bào (Courtesy dr. Howard Rowley)

    Giảm tín hiệu trong huyết khối

    Thông thường, khi tĩnh mạch có tín hiệu thấp, điều này được quy cho hiện tượng mất tín hiệu do dòng chảy (flow void) và là dấu hiệu của tĩnh mạch còn thông.
    Tuy nhiên, ở một giai đoạn nhất định của huyết khối, có sự hiện diện của deoxyhemoglobin nội bào, chất này giảm tín hiệu trên T2W và bắt chước hình ảnh mất tín hiệu do dòng chảy.
    Bên trái là hình ảnh huyết khối xoang ngang phải với dấu hiệu delta trên ảnh sau tiêm thuốc tương phản từ.
    Xoang này giảm tín hiệu trên chuỗi xung T2W do deoxyhemoglobin nội bào.
    Trên chuỗi xung T1W sau tiêm thuốc tương phản từ, có thể thấy rõ ràng xoang được lấp đầy bởi huyết khối.

    Mất tín hiệu do dòng chảy trên MR sau tiêm thuốc tương phản từ

    Trên các ảnh T1W sau tiêm thuốc tương phản từ bên trái, có một vùng giảm tín hiệu nằm trong lòng xoang ngang đang ngấm thuốc.
    Điều này có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với huyết khối trung tâm trong lòng xoang.
    Tuy nhiên, đây là kết quả của hiện tượng mất tín hiệu do dòng chảy (flow void).

    Tiếp tục xem xét các ảnh tương phản pha (phase contrast).

    Trên các ảnh tương phản pha, có thể thấy rõ ràng xoang ngang vẫn còn thông.

    Có thể kết luận rằng MRI có nhiều kết quả dương tính giả và âm tính giả trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch.
    Chụp MR tĩnh mạch có tiêm thuốc tương phản từ là kỹ thuật MR đáng tin cậy nhất.
    Chụp CT tĩnh mạch thậm chí còn đáng tin cậy hơn, vì kỹ thuật này đơn giản và ít bị ảnh hưởng bởi các bẫy chẩn đoán hơn.

    Các bẫy chẩn đoán trong kỹ thuật TOF (Time-of-Flight) bao gồm:

    • Mất tín hiệu do dòng chảy trong mặt phẳng cắt (in-plane flow).
    • Dòng chảy bị giả mạo bởi hiện tượng T1-shine through của methemoglobin trong huyết khối.

    Huyết khối xoang màng cứng mạn tính có thể dẫn đến hình thành thông động tĩnh mạch màng cứng và tăng áp lực dịch não tủy.

    DAVF (thông động tĩnh mạch màng cứng) là sự kết nối bất thường giữa các động mạch màng cứng – vốn là các nhánh của động mạch cảnh ngoài – với các xoang tĩnh mạch.
    Huyết khối xoang được ghi nhận ở nhiều bệnh nhân có thông động tĩnh mạch màng cứng, tuy nhiên cơ chế bệnh sinh vẫn chưa được làm rõ (10).
    Có hai cơ chế có thể xảy ra: (a) viêm tắc tĩnh mạch huyết khối của xoang màng cứng có thể gây ra thông động tĩnh mạch màng cứng, và (b) trong quá trình tiến triển của thông động tĩnh mạch màng cứng, hiện tượng đảo ngược dòng chảy có thể dẫn đến huyết khối.
    Các phân loại DAVF hiện hành chủ yếu tập trung vào sự hiện diện của trào ngược màng mềm liên quan đến tăng áp tĩnh mạch não, dẫn đến nhồi máu tĩnh mạch não hoặc xuất huyết.

    Hình ảnh chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) bên trái của một bệnh nhân có DAVF.
    Lưu ý sự thông thương trực tiếp giữa các nhánh của động mạch cảnh ngoài và xoang ngang (mũi tên xanh).
    Tiếp tục xem các hình ảnh chuỗi xung T2W.

    Hình ảnh chuỗi xung T2W bên trái trong quá trình theo dõi.
    Tháng 4 năm 2008 không ghi nhận bất thường.
    Tháng 1 năm 2009 xuất hiện các dấu hiệu của tăng áp lực nội sọ như dịch não tủy bao quanh dây thần kinh thị giác và dịch não tủy trong cuống tuyến yên.

    Ở một số bệnh nhân, huyết khối xoang màng cứng có thể dẫn đến rối loạn tuần hoàn tĩnh mạch kéo dài, ngay cả sau khi đã tái thông.
    Tình trạng này có thể gây tăng áp lực dịch não tủy nội sọ, được đánh giá qua chọc dò thắt lưng.
    Về lâm sàng, các bệnh nhân này thường than phiền đau đầu và có thể có rối loạn thị giác do phù gai thị.
    Trên MRI, có thể thấy tăng lượng dịch não tủy quanh dây thần kinh thị giác và hình ảnh hố yên rỗng.
    Có vẻ như ở một số bệnh nhân vẫn tồn tại hẹp tồn dư.

    Hình ảnh chuỗi xung T2W bên trái cho thấy phù gai thị và hình ảnh hố yên rỗng.
    Tiếp tục xem hình ảnh chuỗi xung T1W mặt phẳng đứng dọc.

    Đây là hình ảnh chuỗi xung T1W mặt phẳng đứng dọc cho thấy hình ảnh hố yên rỗng (mũi tên).
    Thuật ngữ “hố yên rỗng” được dùng vì hố yên chủ yếu được lấp đầy bởi dịch não tủy do tuyến yên bị đẩy xuống dưới bởi áp lực nội sọ tăng cao.

    Vùng dẫn lưu tĩnh mạch

    Bên trái là hình minh họa các vùng dẫn lưu tĩnh mạch.
    Các vùng này có sự biến đổi đáng kể và hình minh họa chỉ nên được xem như một hướng dẫn tham khảo mang tính tương đối.

  • Khám MRI cổ chân

    Chụp cộng hưởng từ (MRI) khớp cổ chân

    Frank Smithuis và Robin Smithuis

    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Trung tâm Y tế Đại học Amsterdam tại Amsterdam và Bệnh viện Alrijne tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày đăng

    Bài viết này trình bày một phương pháp tiếp cận có hệ thống để mô tả hình ảnh MRI chuẩn của khớp cổ chân.

    Các chủ đề sau sẽ được thảo luận:

    • Giải phẫu khớp cổ chân
    • Các bệnh lý thường gặp
    • Các biến thể, cơ phụ và xương phụ
    • Quy trình chụp MRI

    Phương pháp tiếp cận có hệ thống

    Chúng tôi sử dụng danh sách kiểm tra sau khi đánh giá MRI khớp cổ chân:

    • Xương: rà soát phù tủy xương trên các chuỗi xung ức chế mỡ (fatsat).
    • Khớp: rà soát tràn dịch khớp và đánh giá bao khớp xem có dày không.
    • Dây chằng: kiểm tra khớp chày mác (syndesmosis), các dây chằng bên ngoài và bên trong.
    • Gân: kiểm tra các gân theo phương pháp tiếp cận bốn góc phần tư;
      • Các gân gấp ở phía trong (mặt trong).
      • Gân Achilles ở phía sau.
      • Các gân mác ở phía ngoài (mặt ngoài).
      • Các gân duỗi ở phía trước.

    Sau khi đã đánh giá tất cả các cấu trúc này, hãy tổng hợp các phát hiện và cố gắng đưa ra chẩn đoán cụ thể.

    Xương

    Phù tủy xương

    Hãy bắt đầu khảo sát bằng các chuỗi xung fatsat của xương để tầm soát phù nề.
    Phù tủy xương chỉ là dấu hiệu cho thấy có bất thường trong xương hoặc các cấu trúc liên quan.

    Bệnh nhân này có phù tủy xương ở mặt sau của đầu xa xương chày.

    Trên ảnh cắt ngang (axial), vùng phù khu trú quanh vị trí bám của dây chằng khớp chày mác sau (posterior syndesmosis).
    Đây là phù nề do tổn thương bong điểm bám dây chằng (ligamentous avulsion injury).

    Đây là hai bệnh nhân có phù tủy xương.

    Bệnh nhân bên trái có phù tủy xương ở mắt cá trong (malleolus medialis).

    Bệnh nhân bên phải có phù nề ở mặt trong xương sên (talus).
    Cả hai bệnh nhân đều có chấn thương lật ngoài (eversion injury), gây căng dây chằng delta.

    Phù tủy xương ở những bệnh nhân này là do tổn thương bong điểm bám tại các vị trí bám của dây chằng delta.

    Bệnh nhân này có phù tủy xương ở cả mắt cá trong lẫn mặt trong xương sên.

    Các dây chằng bên ngoài cũng cho thấy hình ảnh phù nề và dày lên.

    Phù tủy xương trong trường hợp này nhiều khả năng là do sự va chạm (impaction) giữa xương sên và mắt cá trong thứ phát sau chấn thương lật trong (inversion injury).

    Gãy xương do stress

    Gãy xương do stress ở xương gót (calcaneus) là một nguyên nhân gây đau gót chân thường bị bỏ sót.

    Bệnh nhân này có phù nề ở xương gót do gãy xương stress.
    Tổn thương này thường là hậu quả của việc sử dụng quá mức, đặc biệt ở những người chạy bộ.
    Khi không thấy rõ đường gãy trên chuỗi xung T2W fatsat, hãy xem xét các chuỗi xung T2W không fatsat hoặc chuỗi xung T1W để tìm đường gãy giảm tín hiệu.

    Đôi khi đường gãy không được nhìn thấy trên MRI.

    Trong những trường hợp đó, có thể cân nhắc chụp CT vì phương pháp này có thể nhạy hơn.

    Bệnh nhân này có nhiều đường gãy do stress ở xương gót.

    Ở bệnh nhân này, có phù nề rất kín đáo ở đầu xa xương mác.
    Không thấy đường gãy.
    Có dày vỏ xương kín đáo và một số thâm nhiễm dưới màng xương.

    Khi có phù nề như trong trường hợp này mà không thấy đường gãy, có thể cân nhắc chụp CT.

    Không nên đề cập đến phù nề mà không loại trừ đường gãy trên MRI hoặc CT.
    Gãy xương do stress dễ bị bỏ sót khi chỉ dựa vào MRI và điều này có thể dẫn đến chẩn đoán sai, chẳng hạn như viêm tủy xương (osteomyelitis).

    Trong trường hợp này, có phù nề nhiều ở xương thuyền (navicular).

    Ảnh cắt ngang (axial) thể hiện rõ đường gãy do stress.

    OCD

    OCD là chữ viết tắt có thể dùng cho cả Osteochondritis Dissecans (Viêm xương sụn bóc tách) hoặc Osteochondral Defect (Khuyết hổng xương sụn).

    Viêm xương sụn bóc tách (Osteochondritis dissecans) được dùng khi bệnh nhân còn trẻ và nguyên nhân chưa được xác định rõ ràng, nhưng nhiều khả năng là do chấn thương vi thể lặp đi lặp lại.

    Khuyết hổng xương sụn (Osteochondral defect) chủ yếu được dùng khi bệnh nhân lớn tuổi hơn hoặc khi một chấn thương cụ thể được cho là nguyên nhân gây ra khuyết hổng.

    Cả hai đều mô tả một khuyết hổng khớp liên quan đến sụn khớp và xương dưới sụn bên dưới.

    Khi có một khuyết hổng nhỏ ở tấm sụn, dịch khớp sẽ ăn mòn xương dưới sụn, dẫn đến phù tủy xương.
    Quá trình này có thể tiến triển thành hình thành nang.
    Cuối cùng, khi dịch chảy vào bên dưới khuyết hổng, tổn thương OCD có thể trở nên không ổn định và có thể dẫn đến hình thành dị vật khớp (corpus liberum).

    Đây là ba bệnh nhân với các giai đoạn OCD khác nhau.

    Os Trigonum

    Ở bàn chân và cổ chân, có thể thấy nhiều xương phụ (accessory ossicles) khác nhau.
    Xương phụ phổ biến nhất là os trigonum, là một mấu xương (apophysis) nổi bật chưa hợp nhất của củ bên (lateral tubercle) xương sên.
    Os trigonum hiện diện trong dân số bình thường với tỷ lệ khoảng 5-15%.

    Sự chèn ép os trigonum và các mô mềm xung quanh giữa xương chày và xương gót trong động tác gấp lòng bàn chân (plantar flexion) có thể là nguyên nhân gây hội chứng chèn ép phía sau (posterior impingement).
    Điều này đặc biệt hay gặp ở các vũ công ballet.

    Thuật ngữ “mỏm Stieda” (Stieda process) được dùng khi củ bên xương sên rất nổi bật.
    Điều này cũng có thể dẫn đến hội chứng chèn ép phía sau.

    Đây là một bệnh nhân khác có os trigonum.
    Trên các chuỗi xung fatsat, có phù nề ở os trigonum và các mô mềm xung quanh.

    Đây là một ví dụ về hội chứng chèn ép phía sau do os trigonum có triệu chứng.

    Đây là một ví dụ về os trigonum với phù nề khá kín đáo.

    Trường hợp này được trình bày để minh họa sự đa dạng phong phú của các xương phụ và củ xương ở mặt sau xương sên.

    Bệnh nhân này có củ bên nổi bật chưa hợp nhất với kết nối dạng sợi (fibrous connection) với xương sên, do đó đây là os trigonum hợp nhất một phần.
    Trên ảnh cắt ngang (axial), có thể thấy thêm các củ xương nổi bật chưa hợp nhất ở cả mặt trong và mặt ngoài của củ bên.

    Khớp

    Tràn dịch khớp

    Sau khi đánh giá hệ thống xương, hãy khảo sát các khớp để tìm dấu hiệu tràn dịch.

    Hình ảnh bên trái cho thấy lượng dịch sinh lý bình thường trong khớp chày-sên, khớp sên-gót và túi hoạt dịch sau gót.

    Hình ảnh bên phải cho thấy tràn dịch khớp lượng nhiều, là phản ứng đối với các tổn thương sụn-xương dưới sụn thoái hóa tại khớp chày-sên.
    Dịch tràn có thể lan dọc theo bao gân cơ gấp dài ngón cái (FHL), do bao gân này thông thương với khoang khớp.

    Hai ví dụ về tràn dịch lan tỏa trong khớp chày-sên.
    Ngoài ra còn ghi nhận tràn dịch một lượng nhỏ tại khớp sên-gót.

    Dày bao khớp

    Khớp cổ chân được bao phủ bởi bao khớp.
    Khi bao khớp bị dày lên, có thể gây ra hội chứng chèn ép (impingement) hoặc viêm màng hoạt dịch, như được thể hiện trên hình ảnh ở giữa.

    Dày bao khớp có thể là hậu quả của chấn thương hoặc phẫu thuật trước đó.

    Hình bên phải là một bệnh nhân xuất hiện xơ hóa sau phẫu thuật cắt bỏ gai xương Haglund.
    Ghi nhận xơ hóa dọc theo mặt sau xương gót và bao khớp phía sau.

    Ở bệnh nhân này chỉ ghi nhận tràn dịch lượng ít trong khớp cổ chân.
    Trên các chuỗi xung không ức mỡ (non fatsat), có thể thấy hình ảnh dày nhẹ của bao khớp kèm theo các thay đổi phản ứng trong mô mềm xung quanh.
    Bệnh nhân này có biểu hiện đau cổ chân phía trước do hội chứng chèn ép bởi bao khớp dày.

    Đây là một ví dụ khác về dày bao khớp.

    Trên các chuỗi xung ức mỡ (fatsat), có thể chỉ thấy hình ảnh phù nề trong lớp mỡ dưới da.
    Tuy nhiên, trên các chuỗi xung không ức mỡ (non fatsat), có thể thấy rõ ràng mô xơ dày ở phía trước.

    Dày bao khớp và các bất thường mô mềm thường được nhận diện rõ hơn trên các chuỗi xung không ức mỡ.

    Trong trường hợp này, ghi nhận dày xơ hóa bao khớp (mũi tên).

    Bệnh nhân có các thay đổi thoái hóa thứ phát trong khớp với phù nề xương dưới sụn và hình thành nang xương dưới sụn.
    Đây là hậu quả của tình trạng va chạm lặp đi lặp lại của mô xơ vào xương trong quá trình gấp mu bàn chân.

    Dây chằng


    Giải phẫu trên mặt phẳng cắt ngang

    Cuộn qua bộ ảnh để xem giải phẫu hệ thống dây chằng trên mặt phẳng cắt ngang.
    Bạn có thể nhấp vào ảnh để phóng to.

    Các khớp chày mác (syndesmosis) được quan sát rõ nhất trên ảnh cắt ngang:

    • Dây chằng chày mác trước (anterior tibiofibular ligament) hay còn gọi là khớp chày mác trước (anterior syndesmosis)
    • Dây chằng chày mác sau (posterior tibiofibular ligament) hay còn gọi là khớp chày mác sau (posterior syndesmosis)
    • Màng gian cốt (membrana interossei), chạy suốt lên đến chỏm xương mác.

    Các khớp chày mác thường bị tổn thương trong các chấn thương xoay ngoài, như:

    • Gãy xương Weber B (chấn thương ngửa – xoay ngoài theo phân loại Lauge-Hansen)
    • Gãy xương Weber C (chấn thương sấp – xoay ngoài theo phân loại Lauge-Hansen)

    Khớp chày mác trước (Anterior syndesmosis)

    Trong hình A – khớp chày mác trước bình thường được thấy như một dải mỏng có tín hiệu thấp.

    Trong hình B – khớp chày mác trước dày lên kèm phù nề, gợi ý rách một phần hay tổn thương độ 2.

    Trong hình C – khớp chày mác trước dày lên và có thể có gián đoạn khu trú (mũi tên), đó là lý do tại sao trường hợp này được xếp loại tổn thương độ 3 (rách toàn bộ chiều dày).

    Tổn thương đơn độc khớp chày mác trước có thể gặp trong các chấn thương xoay ngoài mức độ thấp.

    Ở bệnh nhân này có rách toàn bộ chiều dày của khớp chày mác trước (mũi tên vàng).
    Ngoài ra còn có gãy xương mắt cá thứ ba (malleolus tertius) (mũi tên xanh).
    Ở vị trí cao hơn, có thể thấy phù nề xung quanh màng gian cốt.

    Bệnh nhân này có gãy xương Weber C, tương ứng với tổn thương sấp – xoay ngoài độ 4 theo phân loại Lauge-Hansen.

    Khớp chày mác sau (Posterior syndesmosis)

    Tổn thương cấp tính biểu hiện bằng phù nề và dày lên, trong khi tổn thương cũ biểu hiện bằng dày lên và giảm tín hiệu do hình thành mô sẹo.

    Trong hình A có phù nề và dày lên xung quanh khớp chày mác trước và sau (mũi tên), gợi ý tổn thương cấp tính độ 2 ở cả hai vị trí.

    Trong hình B có phù nề và dày lên của khớp chày mác sau, đây là tổn thương cấp tính độ 2.
    Khớp chày mác trước cũng dày lên nhưng có tín hiệu thấp.
    Đây là hình ảnh hình thành mô sẹo do tổn thương trước đó.

    Trong hình C có mô sẹo là hậu quả của tổn thương cũ, có thể là nguyên nhân gây hội chứng chèn ép phía sau.

    ATFL

    Có ba dây chằng ở phía ngoài:

    1. Dây chằng sên mác trước (anterior talofibular ligament – ATFL)
    2. Dây chằng gót mác (calcaneofibular ligament – CFL)
    3. Dây chằng sên mác sau (posterior talofibular ligament – PTFL).

    Dây chằng ATFL chạy từ mắt cá ngoài ra phía trước đến bờ ngoài của xương sên.
    Dây chằng này có hướng nằm ngang và được quan sát rõ nhất trên ảnh cắt ngang.

    Đây là dây chằng bị tổn thương thường gặp nhất ở cổ chân và cũng là dây chằng đầu tiên bị tổn thương ở phía ngoài.
    Điều này có nghĩa là khi dây chằng CFL hoặc PTFL bị tổn thương, rất có khả năng dây chằng ATFL cũng đã bị tổn thương.


    Cuộn qua các ảnh cắt vành.
    Bạn có thể phóng to ảnh bằng cách nhấp vào.

    Đây là hình ảnh của ba bệnh nhân có tổn thương dây chằng ATFL.

    Bệnh nhân bên trái có phù nề nhẹ xung quanh dây chằng ATFL, trong khi bản thân dây chằng trông bình thường.
    Đây có thể là căng dây chằng mức độ nhẹ (độ 1).
    Thường được nhận thấy rõ nhất trên ảnh có kỹ thuật ức chế mỡ (fatsat).

    Bệnh nhân ở giữa có dày lên và rối loạn cấu trúc, biểu hiện của rách một phần (độ 2).

    Bệnh nhân bên phải có rách toàn bộ chiều dày (độ 3).


    Gân



    Giải phẫu trên mặt phẳng cắt ngang

    Các gân có thể được chia thành bốn khoang:

    • Khoang trong (từ trong ra ngoài: Tom-Dick-Harry)
      • Gân cơ chày sau (Tibialis Posterior – PTT)
      • Gân cơ gấp các ngón chân dài (Flexor Digitorum)
      • Gân cơ gấp ngón cái dài (Flexor Hallucis Longus)
    • Khoang sau
      • Gân Achilles
      • Gân cơ gan chân (Plantaris)
    • Khoang ngoài
      • Gân cơ mác dài (Peroneus Longus)
      • Gân cơ mác ngắn (Peroneus Brevis)
    • Khoang trước (từ trong ra ngoài: Tom-Hates-Dick)
      • Gân cơ chày trước (Tibialis Anterior)
      • Gân cơ duỗi ngón cái dài (Extensor Hallucis Longus)
      • Gân cơ duỗi các ngón chân dài (Extensor Digitorum)

    Bệnh lý gân (Tendinopathy) là thuật ngữ chung để mô tả các rối loạn gân khác nhau như thoái hóa gân (tendinosis), viêm gân (tendinitis) và thoái hóa nhầy (mucoid degeneration).

    Cơ chế bệnh sinh của các rối loạn này khác nhau, nhưng biểu hiện lâm sàng và đặc điểm hình ảnh không phải lúc nào cũng có thể phân biệt rõ ràng.
    Do đó, tốt nhất nên mô tả bất thường gân là bệnh lý gân mà không cần cố gắng xác định thêm đặc điểm cụ thể của tổn thương.

    Các dấu hiệu MRI trong bệnh lý gân bao gồm:

    • Dày gân
    • Tín hiệu bất thường
    • Dịch trong bao hoạt dịch gân

    Hầu hết các gân ở khớp cổ chân đều có lớp bao hoạt dịch gân.
    Do đó, một lượng nhỏ dịch quanh gân có thể là bình thường.
    Lượng dịch không được vượt quá thể tích của chính gân đó.

    Gân Achilles không có bao hoạt dịch mà có lớp cận gân (paratenon).
    Dịch quanh gân Achilles luôn là dấu hiệu bất thường.

    Gân cơ chày sau

    Gân cơ chày sau là gân bị tổn thương thường gặp nhất.
    Bệnh lý gân biểu hiện bằng tình trạng sưng to bất thường của gân, tuy nhiên cần lưu ý rằng gân chày sau bình thường có thể có kích thước gấp đôi gân cơ gấp các ngón chân dài.

    Rối loạn chức năng gân chày sau thường gặp hơn ở phụ nữ và những người trên 40 tuổi.
    Tình trạng này gây ra đau và sưng ở mặt trong cổ chân, cùng với biến dạng bàn chân bẹt mắc phải.

    Tổn thương gân chày sau ở bệnh nhân trẻ tuổi chủ yếu do chấn thương hoặc sử dụng quá mức.

    Khi gân chày sau bị tổn thương, cần kiểm tra kỹ dây chằng lò xo (spring ligament), vì cả hai cùng nhau duy trì vòm bàn chân ở phía trong.
    Trong biến dạng bàn chân bẹt, cả gân và dây chằng lò xo đều có thể bị tổn thương.

    Các hình ảnh cho thấy bệnh lý gân chày sau (PTT), đồng thời có tổn thương dây chằng lò xo kèm theo.

    Gân Achilles

    Gân Achilles là gân lớn nhất và khỏe nhất trong cơ thể người.
    Hai tổn thương thường gặp nhất là bệnh lý gân và đứt gân.

    Bệnh lý gân Achilles rất có thể do một loạt các vi rách gân làm suy yếu gân và gây sưng gân (hình bên phải).

    Trên các hình ảnh mặt phẳng đứng dọc, gân Achilles phải có hình ảnh đường thẳng, không có dịch xung quanh và không có vùng dày khu trú.

    Đường kính ngang 8 mm là ngưỡng giới hạn.

    Ba hình ảnh cắt ngang có ức chế mỡ (fat sat) của gân Achilles.

    • Trái
      Gân Achilles bình thường. Bờ gân có dạng lõm, kích thước trong giới hạn 7mm, không thấy dịch quanh cận gân.
    • Giữa
      Gân Achilles bình thường. Lưu ý rằng các gân khác đều có dịch, nhưng lớp cận gân của gân Achilles hoàn toàn không có dịch.
    • Phải
      Có dịch dọc theo lớp cận gân, tức là viêm cận gân (paratenonitis) và bệnh lý gân Achilles.

    Bình thường, có thể thấy một lượng nhỏ dịch trong túi hoạt dịch sau gót (retrocalcaneal bursa).
    Lượng dịch quá nhiều là dấu hiệu của viêm túi hoạt dịch (bursitis).
    Dày gân Achilles được ghi nhận trong viêm cận gân (paratenonitis).

    Hội chứng Haglund bao gồm bộ ba triệu chứng:

    1. Gai xương Haglund (Haglund’s exostosis)
    2. Viêm túi hoạt dịch sau gót (Retrocalcaneal bursitis)
    3. Bệnh lý gân Achilles tại điểm bám (Achilles insertional tendinopathy)

    Cơ phụ

    Cơ phụ thường được ghi nhận xung quanh khớp cổ chân.
    Do có cường độ tín hiệu bình thường, các cơ này dễ bị bỏ sót.

    Tuy nhiên, khi so sánh với hình ảnh của bệnh nhân bình thường ở bên trái, bạn sẽ phát hiện ra cơ soleus phụ có kích thước lớn.

    Một số ví dụ về cơ phụ.

    Các cơ này thường không có triệu chứng, nhưng có thể là nguyên nhân gây chèn ép ở một số nhóm bệnh nhân đặc thù (vũ công, vận động viên).
    Cơ gấp ngón cái dài (FHL) hoặc cơ gấp các ngón chân dài (FDL) phụ có liên quan đến hội chứng ống cổ chân (tarsal tunnel syndrome).

    Bệnh nhân bên phải có cơ gan chân (plantaris) phì đại.
    Đây có thể là nguyên nhân gây bệnh lý gân Achilles.

    Giao thức chụp MRI

    Các mặt phẳng cắt chuẩn gồm axial (ngang), coronal (trán) và sagittal (đứng dọc) được sử dụng để khảo sát khớp cổ chân trên cả máy 1,5T lẫn 3T.

    Ngoài các mặt phẳng chuẩn, đôi khi bổ sung thêm mặt phẳng cắt chếch, định hướng vuông góc với các gân cơ mác và gân cơ chày sau.
    Các vết rách nhỏ hoặc bệnh lý gân kín đáo sẽ được hiển thị rõ hơn trên các mặt cắt này.

    Hướng đi của các gân dọc theo mắt cá trong và mắt cá ngoài có thể gây ra hiện tượng ‘xảo ảnh góc ma thuật’.
    Các gân sẽ biểu hiện tín hiệu tăng tương đối khi tạo góc 55° so với B0, dễ nhầm lẫn với bệnh lý như viêm gân hoặc rách gân một phần.

    Xảo ảnh này xuất hiện trên các chuỗi xung có thời gian TE ngắn (ví dụ: PD).
    Trên các chuỗi xung có TE dài (như T2), xảo ảnh này cũng xuất hiện nhưng ít rõ rệt hơn.

  • Hình thái CT dày thành ruột

    Hình ảnh CT của dày thành ruột

    Richard Gore và Robin Smithuis

    Giáo sư Chẩn đoán Hình ảnh, Đại học Chicago, Evanston, IL, Hoa Kỳ và Bệnh viện Rijnland tại Leiderdorp, Hà Lan

    Ngày xuất bản

    Bài viết này được dựa trên bài thuyết trình của Richard Gore và được Robin Smithuis chuyển thể cho Radiology Assistant.

    Richard Gore là biên tập viên của Sách giáo khoa Chẩn đoán Hình ảnh Tiêu hóa, Ấn bản lần 3 và High Yield Imaging: Gastrointestinal.

    Chúng tôi sẽ thảo luận về cách tiếp cận theo hình thái đối với bệnh nhân có dày thành ruột, với sự chú trọng đặc biệt vào các hình thái ngấm thuốc trên CT.

    Giới thiệu

    Dày thành ruột là một dấu hiệu thường gặp trên hình ảnh học.
    CT có thể hữu ích trong việc phân biệt các bệnh lý đường ruột.

    Các đặc điểm quan trọng cần đánh giá bao gồm:

    • Kiểu ngấm thuốc
    • Chiều dài đoạn tổn thương
    • Mức độ dày thành ruột
    • Sự thông thoáng của các mạch máu mạc treo
    • Các thay đổi ở mạc treo
    • Nội dung trong lòng ruột

    Tất cả các đặc điểm này sẽ được thảo luận chi tiết trong các đoạn tiếp theo.

    Chiều dài đoạn thành ruột bị tổn thương

    • Tổn thương < 5 cm
      Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarcinoma) thường biểu hiện là một đoạn ngắn dày thành ruột. Các bờ có dạng bậc thang (shouldering), khác với viêm túi thừa, nơi các bờ có dạng thuôn dần (tapering) (hình).
    • Tổn thương 5-10 cm
      Viêm túi thừa, bệnh Crohn và thiếu máu cục bộ thường biểu hiện là một đoạn tổn thương dài hơn.
    • Tổn thương 10-30 cm
      Xem danh sách trong bảng. Hình ảnh cho thấy xuất huyết dưới niêm mạc. Dấu hiệu này thường gặp nhất ở ruột non và tá tràng.
    • Tổn thương lan tỏa
      Khi toàn bộ đại tràng bị tổn thương, cần nghĩ đến viêm loét đại tràng.
      Tổn thương cả đại tràng lẫn ruột non được gặp trong bệnh lý đường ruột do nhiễm trùng (IBD), phù nề và lupus ban đỏ hệ thống (SLE).

    Tổng quan về kiểu ngấm thuốc

    Hình ảnh cung cấp tổng quan về các kiểu ngấm thuốc thành ruột trên CT ở bệnh nhân có dày thành ruột.

    Nhấp để phóng to.

    Loại 1 – Tăng Tỷ Trọng (Dạng Trắng)

    Có nhiều cơ chế bệnh sinh có thể gây ra kiểu hình tăng tỷ trọng (dạng trắng):

    • Ngấm thuốc mạnh của thành ruột được ghi nhận trong tình trạng giãn mạch do bệnh viêm ruột cấp tính.
    • Tổn thương các mạch máu trong thành ruột kèm thoát dịch vào khoảng kẽ trong hội chứng ruột sốc. Giảm tưới máu dẫn đến tăng tính thấm thành mạch và tăng ngấm thuốc.
    • Tụ máu trong thành ruột được ghi nhận trong chấn thương và ở bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc chống đông.

    Normal bowel wall enhancement.

    Ngấm thuốc thành ruột bình thường.

    Thành ruột bình thường sẽ ngấm thuốc mạnh, đặc biệt khi chụp ở thì động mạch muộn, tức là 35-40 giây sau khi tiêm thuốc cản quang.
    Nếu thành ruột không dày, đây là hình ảnh ngấm thuốc bình thường.

    Khi có ngấm thuốc mạnh ở thành ruột dày, đôi khi khó phân biệt giữa kiểu hình tăng tỷ trọng (dạng trắng) và kiểu hình dấu hiệu bia nước (water-target-sign).


    Acute inflammatory bowel disease.

    Bệnh viêm ruột cấp tính.

    Bệnh Viêm Ruột (IBD) Cấp Tính

    Hình ảnh của một bệnh nhân bị bệnh viêm ruột (IBD) cấp tính.
    Lưu ý hình ảnh ngấm thuốc mạnh của một đoạn ruột non dài với thành ruột dày.
    Đây là hệ quả của tình trạng sung huyết do giãn mạch.
    Lưu ý các mạch máu giãn ở phía bụng (mặt trước).


    Shock bowel with hyperenhancement. Slit-like IVC (red arrow).

    Ruột sốc với hình ảnh ngấm thuốc quá mức. Tĩnh mạch chủ dưới dạng khe hẹp (mũi tên đỏ).

    Ruột Sốc

    Ở bệnh nhân sốc giảm thể tích, có sự phân phối lại dòng máu.
    Điều này có thể dẫn đến hình ảnh ngấm thuốc mạnh bất thường của thành ruột, như trong trường hợp bệnh nhân đang trong tình trạng sốc mất máu này.

    Lưu ý một số quai ruột có kiểu hình tăng tỷ trọng (dạng trắng), trong khi các quai khác lại có dấu hiệu bia nước.
    Hình ảnh tĩnh mạch chủ dưới dạng khe hẹp là do tình trạng giảm thể tích tuần hoàn (mũi tên đỏ).


    Hyperenhancing adrenal glands in shock.

    Tuyến thượng thận ngấm thuốc quá mức trong tình trạng sốc.

    Do hệ quả của sự phân phối lại dòng máu ưu tiên đến các cơ quan thiết yếu, những bệnh nhân này có thể có hình ảnh tuyến thượng thận ngấm thuốc quá mức, vì các cơ quan này cần tăng cường sản xuất adrenaline để đáp ứng với tình trạng sốc.

    Loại 2 – Tỷ Trọng Xám

    Trong kiểu hình tỷ trọng xám, thành ruột dày và mặc dù đã tiêm đủ liều thuốc cản quang, tổn thương vẫn ngấm thuốc kém và không thể phân biệt được các lớp khác nhau của thành ruột.
    Kiểu hình này được gặp trong bệnh Crohn mạn tính có xơ hóa, thiếu máu cục bộ và các khối u ác tính như ung thư biểu mô tuyến và u lympho.


    Gray enhancement pattern in a patient with chronic Crohn's disease.

    Kiểu ngấm thuốc tỷ trọng xám ở bệnh nhân mắc bệnh Crohn mạn tính.

    Bệnh Crohn mạn tính

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân mắc bệnh Crohn mạn tính có hình thành sẹo co rút (cicatrization).
    Ở những bệnh nhân này, thành ruột cứng như đá và sẽ không đáp ứng với corticosteroid hay các thuốc điều trị khác.

    Thiếu máu cục bộ mạc treo ruột

    Thiếu máu cục bộ ruột thường ảnh hưởng đến đại tràng và hay gặp nhất ở góc lách, đại tràng xuống và đại tràng sigma.
    Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng giảm lưu lượng máu như sốc giảm thể tích hoặc suy tim sung huyết.
    Đặc biệt ở người cao tuổi có dày thành ruột, cần luôn đưa thiếu máu cục bộ vào danh sách chẩn đoán phân biệt.

    Một nguyên nhân đặc biệt gây thiếu máu cục bộ ruột non là tắc ruột quai kín, sẽ được thảo luận ngay sau đây.


    Gray enhancement pattern in a patient with SMV thrombosis.

    Kiểu ngấm thuốc tỷ trọng xám ở bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch mạc treo tràng trên (SMV).

    Đây là hình ảnh bệnh nhân thiếu máu cục bộ ruột do huyết khối tĩnh mạch mạc treo tràng trên – SMV (mũi tên đỏ).
    Lưu ý tình trạng ứ máu tĩnh mạch trong mạc treo ruột (mũi tên vàng).


    Gray enhancement pattern in a patient with closed loop obstruction.

    Kiểu ngấm thuốc tỷ trọng xám ở bệnh nhân tắc ruột quai kín.

    Đây là một bệnh nhân khác bị thiếu máu cục bộ một đoạn dài ruột non do tắc ruột quai kín.

    Một đặc điểm hình ảnh quan trọng của tắc ruột quai kín là hình ảnh các quai ruột non giãn xếp theo kiểu nan hoa bánh xe với các mạch máu mạc treo hội tụ về một điểm trung tâm.

    Các dấu hiệu thiếu máu cục bộ trong tắc ruột quai kín tương tự như ở các bệnh nhân có nguyên nhân thiếu máu cục bộ mạc treo khác:

    • Dày thành ruột
    • Phù nề mạc treo ruột
    • Cổ trướng
    • Sự ngấm thuốc của thành ruột trong thiếu máu cục bộ có thể bình thường, tăng do hiện tượng tái tưới máu, hoặc giảm/mất ngấm thuốc như trong trường hợp này.

    Nhấn vào đây để biết thêm thông tin về tắc ruột quai kín.

    Đôi khi, tái tạo ảnh mặt phẳng coronal dạng lát cắt dày (thick slab coronal reconstructions) có thể hữu ích trong việc đánh giá mức độ ngấm thuốc.

    Điều này được minh họa rõ ràng ở bệnh nhân này, trong đó hỗng tràng ngấm thuốc tốt (vùng xanh lá), trong khi hồi tràng giảm ngấm thuốc (vùng đỏ) do thiếu máu cục bộ.

    Đây là một trường hợp tắc ruột quai kín khác.

    Lưu ý sự khác biệt về mức độ ngấm thuốc giữa các quai ruột bình thường không giãn (mũi tên xanh lá) và các quai ruột giãn bị thắt nghẹt (mũi tên đỏ).

    Ở trung tâm là các mạch máu mạc treo bị xoắn vặn (mũi tên vàng).

    Khối u

    Kiểu ngấm thuốc tỷ trọng xám kèm mất khả năng phân biệt các lớp thành ruột có thể gặp trong nhiều loại u ác tính như ung thư biểu mô tuyến, di căn và u mô đệm đường tiêu hóa (GIST).
    U lympho và các u thần kinh nội tiết như u carcinoid thường có mức độ ngấm thuốc cao hơn đôi chút.

    Đây là hình ảnh bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại tràng sigma.

    Loại 3 – Dấu hiệu bia nước (Water target sign)

    Kiểu ngấm thuốc phổ biến nhất là dấu hiệu bia với tỷ trọng nước.


    Dấu hiệu bia với phù nề lớp dưới niêm mạc.

    Dấu hiệu bia với phù nề lớp dưới niêm mạc.

    Dấu hiệu bia được tạo ra bởi lớp niêm mạc và lớp cơ thành ruột ngấm thuốc, với lớp dưới niêm mạc phù nề nằm xen giữa (hình minh họa).


    Viêm đại tràng giả mạc với giãn đại tràng sigma.

    Viêm đại tràng giả mạc với giãn đại tràng sigma.

    Viêm đại tràng giả mạc

    Viêm đại tràng giả mạc (PMC, đôi khi còn gọi là viêm đại tràng do Clostridium difficile) là một thể viêm đại tràng, chủ yếu do vi khuẩn Clostridium difficile gây ra, xảy ra khi vi khuẩn này phát triển quá mức trong đại tràng ở những bệnh nhân đang được điều trị bằng kháng sinh phổ rộng.

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân mắc PMC.
    Có hình ảnh cổ trướng và thành ruột ngấm thuốc mạnh kèm phù nề lớp dưới niêm mạc và phù nề mạc treo đại tràng.
    Đoạn ruột giãn ở hố chậu phải thực chất là đại tràng sigma dư thừa.


    Viêm đại tràng giả mạc

    Viêm đại tràng giả mạc

    Chẩn đoán được xác lập bằng cách xét nghiệm phát hiện độc tố của C. difficile trong phân hoặc phát hiện chính vi khuẩn C. difficile.
    Trước khi các xét nghiệm trên và CT được áp dụng, việc phát hiện giả mạc trên niêm mạc đại tràng hoặc trực tràng qua nội soi từng là tiêu chuẩn chẩn đoán xác định PMC.

    Các yếu tố nguy cơ dẫn đến PMC bao gồm:

    • Kháng sinh phổ rộng
    • Tiền sử phẫu thuật, sốc, bỏng
    • Ngừng tim
    • Tắc nghẽn đại tràng phía trên
    • Hội chứng tan huyết urê huyết (HUS), viêm đại tràng thiếu máu, urê huyết
    • Bạch cầu cấp, u lympho, AIDS

    Viêm đại tràng giả mạc

    Viêm đại tràng giả mạc

    Bệnh nhân biểu hiện tiêu chảy, đau bụng và sốt do các độc tố được sản sinh bởi vi khuẩn.
    Bệnh có thể tiến triển biến chứng thành phình đại tràng nhiễm độc.


    Viêm đại tràng giả mạc

    Viêm đại tràng giả mạc

    Các dấu hiệu trên CT bao gồm:

    • Dày thành ruột toàn chu vi và lan tỏa kèm phù nề lớp dưới niêm mạc.
    • Các nếp bờm đại tràng nổi bật.
    • Dày thành ruột dạng polyp lệch tâm.
    • Bờ lòng ruột không đều, xù xì.
    • Thuốc cản quang đường uống có thể bị giữ lại giữa các nếp dày, tạo hình ảnh giả đường rò.

    Tăng áp lực tĩnh mạch cửa

    Tăng áp lực tĩnh mạch cửa là một nguyên nhân khác gây ra dấu hiệu bia nước.
    Khi bệnh nhân bị tăng áp lực tĩnh mạch cửa, áp lực tăng cao sẽ được truyền đến đại tràng phải.
    Điều này dẫn đến sự sản sinh các chất trung gian gây viêm và tăng sản xuất nitric oxide, gây tổn thương mô.
    Hậu quả là xuất hiện viêm đại tràng khu trú ở bên phải.

    Hãy phân tích các hình ảnh trước khi tiếp tục đọc.

    Các dấu hiệu bao gồm:

    • Xơ gan – bờ gan không đều
    • Giãn tĩnh mạch và lách to
    • Cổ trướng
    • Viêm đại tràng bên phải
    • Phình động mạch gan

    Chẩn đoán phân biệt bao gồm:

    • Tăng áp lực tĩnh mạch cửa
    • Viêm đại tràng nhiễm khuẩn
    • Viêm đại tràng thiếu máu cục bộ

    Viêm đại tràng bên phải ở bệnh nhân xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Hình ảnh nội soi là của bệnh nhân khác có viêm đại tràng bên phải.

    Viêm đại tràng bên phải ở bệnh nhân xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Hình ảnh nội soi là của bệnh nhân khác có viêm đại tràng bên phải.

    Viêm phúc mạc vi khuẩn tự phát

    Bệnh nhân tăng áp lực tĩnh mạch cửa kèm viêm đại tràng bên phải có nguy cơ cao phát triển viêm phúc mạc vi khuẩn tự phát.

    Ở những bệnh nhân này, có hiện tượng giãn mạch ở đại tràng phải.
    Có thể quan sát thấy viêm đại tràng lan tỏa với hình ảnh niêm mạc dạng hạt, xung huyết và dễ chảy máu, trông rất giống viêm đại tràng loét.

    Các yếu tố sau đây khiến những bệnh nhân này có nguy cơ phát triển viêm phúc mạc vi khuẩn tự phát:

    1. Phân trong lòng ruột
    2. Áp lực cao trong tĩnh mạch cửa
    3. Thành ruột tăng tính thấm bất thường, dẫn đến vi khuẩn di chuyển xuyên thành đại tràng vào dịch cổ trướng.

    Viêm manh tràng hoại tử (Typhlitis) ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính.

    Viêm manh tràng hoại tử (Typhlitis) ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính.

    Viêm manh tràng hoại tử (Typhlitis)

    Viêm manh tràng hoại tử (Typhlitis) là một bệnh lý khác biểu hiện với dấu hiệu bia nước.
    Đây là tình trạng viêm hoại tử manh tràng, thường gặp ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính do bạch cầu cấp, AIDS hoặc thiếu máu bất sản.
    Có hiện tượng phù nề xuyên thành và loét, có thể dẫn đến thủng ruột.
    Các vi sinh vật liên quan bao gồm: Pseudomonas, Candida, CMV và E. Coli.

    Những bệnh nhân này có tình trạng rất nặng, biểu hiện sốt, tiêu chảy phân lỏng có máu và giảm bạch cầu trung tính.
    Giảm bạch cầu trung tính là tình trạng số lượng bạch cầu trung tính giảm bất thường – đây là loại bạch cầu giúp chống lại nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm khuẩn và nấm.
    Khi giảm bạch cầu trung tính nặng – dưới khoảng 500 tế bào/microlit máu – các vi khuẩn thường trú trong miệng và đường tiêu hóa có thể gây nhiễm trùng.


    Viêm đại tràng do CMV.

    Viêm đại tràng do CMV.

    Viêm đại tràng nhiễm khuẩn

    Đại tràng phải:

    • Salmonella
    • Shigella
    • Campylobacter
    • Yersinia enterocolitica

    Viêm đại tràng lan tỏa

    • E.Coli
    • CMV
    • Cryptococcus

    Đại tràng trái và đại tràng sigma – trực tràng:

    • Schistosomiasis (Sán máng)

    Đại tràng sigma – trực tràng:

    • HSV
    • Lậu cầu (Gonorrhea)

    Thiếu máu cục bộ

    Ở bệnh nhân trẻ tuổi, thiếu máu cục bộ thường do chấn thương hoặc viêm mạch.

    Đây là hình ảnh của một bệnh nhân trẻ mắc lupus ban đỏ hệ thống (SLE).
    Có hình ảnh ngấm thuốc kiểu xám lan tỏa toàn bộ đại tràng bên trái.

    Loại 4 – Dấu hiệu bia mỡ (Fat target sign)

    Mỡ dưới niêm mạc lần đầu tiên được ghi nhận ở bệnh nhân viêm loét đại tràng mạn tính và bệnh Crohn.

    Sau đó, người ta nhận thấy rằng mỡ dưới niêm mạc thường gặp ở bệnh nhân béo phì, đặc biệt tại đại tràng ngang và đại tràng xuống.
    Hiện nay, nguyên nhân phổ biến nhất của dấu hiệu bia mỡ là béo phì.

    Tình trạng tích tụ mỡ dưới niêm mạc nhanh chóng có thể gặp ở bệnh nhân đang được điều trị bằng hóa trị liệu.

    Hình ảnh bệnh nhân mắc bệnh Crohn với dấu hiệu bia mỡ.
    17% bệnh nhân mắc bệnh Crohn có mỡ dưới niêm mạc tại hồi tràng đoạn cuối và đại tràng lên.
    Tỷ lệ này phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh.

    Mỡ dưới niêm mạc thường gặp ở bệnh nhân mắc bệnh celiac.
    Đặc biệt, khi chỉ có mỡ khu trú tại tá tràng hoặc hỗng tràng đoạn gần, đây là dấu hiệu rất gợi ý bệnh celiac.
    Những bệnh nhân này cũng có các nếp niêm mạc nổi rõ hơn ở hồi tràng so với hỗng tràng, đây là hình ảnh ngược lại so với bình thường (hình minh họa).
    Phân của những bệnh nhân này có thể chứa nhiều mỡ hơn (mũi tên xanh).

    Cách tiếp cận khi phát hiện mỡ dưới niêm mạc?

    • Ở bệnh nhân không có tiền sử bệnh viêm ruột (IBD), dấu hiệu bia mỡ nhiều khả năng liên quan đến thể trạng béo phì của bệnh nhân.
    • Ở bệnh nhân có triệu chứng khó chịu vùng bụng kèm mỡ tại tá tràng và hỗng tràng đoạn gần, hoặc phân nhiều mỡ: cần gợi ý bệnh celiac.
    • Ở bệnh nhân có triệu chứng cấp tính: cần gợi ý bệnh viêm ruột (IBD) cấp tính và mạn tính.
    • Nếu chỉ có tổn thương tại hồi tràng đoạn cuối: cần nghĩ đến bệnh Crohn.

    Dạng 5 – Khí – Khí thành ruột (Pneumatosis)

    Dạng đáng lo ngại nhất là khí trong thành ruột.
    Khí trong thành ruột được gọi là khí thành ruột (pneumatosis intestinalis).

    Khí thành ruột được ghi nhận trong các tình huống đe dọa tính mạng ở bệnh nhân thiếu máu cục bộ và có nguy cơ thủng ruột sắp xảy ra, đòi hỏi phải điều trị ngay lập tức.
    Tuy nhiên, khí thành ruột cũng có thể được phát hiện như một dấu hiệu tình cờ ở bệnh nhân không có triệu chứng bụng.

    Cuối cùng, khí tiếp giáp với thành ruột có thể bắt chước hình ảnh khí thành ruột.
    Tình trạng này được gọi là giả khí thành ruột (pseudopneumatosis).

    Vì vậy, câu hỏi đầu tiên là… liệu chúng ta có thực sự đang đối mặt với khí thành ruột hay không và bối cảnh lâm sàng của bệnh nhân là gì.
    Diễn tiến lâm sàng thường lành tính khi khí thành ruột là phát hiện tình cờ, chẳng hạn khi xuất hiện liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn.

    Giả khí thành ruột (Pseudopneumatosis)

    Hãy bắt đầu với giả khí thành ruột, vì chúng ta không muốn gây lo lắng cho bất kỳ ai bằng cách nhầm lẫn khí trong lòng ruột bình thường với khí thành ruột.
    Đặc biệt ở manh tràng và đại tràng lên, các bóng khí có thể bị giữ lại giữa phân và niêm mạc.

    Trong trường hợp này, chúng ta khá chắc chắn rằng khí nằm trong lòng ruột chứ không phải trong thành ruột.

    Trong trường hợp này, việc phân biệt khó khăn hơn.

    Sự sắp xếp tuyến tính của các bóng khí khiến hình ảnh này nghi ngờ là khí thành ruột.
    Tuy nhiên, các bóng khí này bị giữ lại giữa phân và thành ruột.

    Trong những trường hợp như vậy, cần phải xem xét kỹ lưỡng tất cả các lát cắt và sử dụng các cài đặt cửa sổ khác nhau.
    Cần đặc biệt chú ý đến phần thành ruột không phụ thuộc trọng lực, nơi không có phân tiếp xúc với niêm mạc và sẽ không thấy các bóng khí.


    Pseudopneumatosis in SBO.

    Giả khí thành ruột trong tắc ruột non (SBO).

    Dấu hiệu chuỗi hạt ngọc trai (String of pearls sign)
    Đây là bệnh nhân bị tắc ruột non (SBO).

    Hãy quan sát các hình ảnh.
    Sau đó tiếp tục đọc.

    Các hình ảnh CT cho thấy giãn ruột non.
    Ở những bệnh nhân này, các nếp gấp của ruột non hay còn gọi là van hồi manh tràng (valvulae conniventes) sẽ giãn rộng và các bóng khí sẽ bị giữ lại theo cấu hình bậc thang ở phía bụng.
    Trên phim chụp X-quang bụng tư thế nằm ngang, hình ảnh này được gọi là dấu hiệu chuỗi hạt ngọc trai.

    Đây là một trường hợp tắc ruột non khác với dấu hiệu chuỗi hạt ngọc trai.


    Cuộn qua các hình ảnh.

    Hãy cuộn qua các hình ảnh và sau đó tiếp tục đọc.

    Thoạt nhìn, hình ảnh này thực sự trông giống như khí thành ruột ở bệnh nhân có đại tràng lên giãn rất lớn do khối u gây tắc nghẽn.
    Lưu ý cách các bóng khí có thể được nhìn thấy theo sắp xếp hình tròn và cũng được thấy ở phần thành ruột không phụ thuộc trọng lực (mũi tên xanh).

    Tuy nhiên, khi cuộn qua các hình ảnh, rõ ràng là các bóng khí này chỉ được nhìn thấy ở giữa thành ruột và nội dung lòng ruột.
    Khi đến điểm có mức khí-dịch, không có bóng khí nào ở phần thành ruột không phụ thuộc trọng lực.

    Vì vậy, đây là một trường hợp giả khí thành ruột khác.
    Tuy nhiên, đây vẫn là một đoạn ruột bệnh nặng và cần phải giải áp.
    Sự tích tụ các bóng khí như vậy giữa niêm mạc và nội dung lòng ruột chỉ có thể xảy ra ở một đoạn ruột đã mất nhu động bình thường do tắc nghẽn kéo dài và nặng nề.

    Khí tĩnh mạch cửa

    Bây giờ hãy tiếp tục với một số bệnh nhân thực sự có khí thành ruột.

    Đây là bệnh nhân mà không có nghi ngờ gì về chẩn đoán khí thành ruột.
    Xác định khí trong tĩnh mạch mạc treo hoặc tĩnh mạch cửa là dấu hiệu chẩn đoán của khí thành ruột.
    Những bệnh nhân này không chỉ có nguy cơ thiếu máu cục bộ ruột và thủng ruột, mà còn có nguy cơ nhiễm khuẩn huyết.
    Khí tĩnh mạch cửa là một dấu hiệu hình ảnh học tiên lượng xấu và liên quan đến tỷ lệ tử vong cao.
    Việc sử dụng CT ngày càng nhiều đã dẫn đến việc nhận ra ngày càng nhiều nguyên nhân không đe dọa tính mạng của khí tĩnh mạch cửa, trong đó viêm túi thừa là nguyên nhân phổ biến nhất.

    Đây là bệnh nhân có khí thành ruột lan rộng và khí trong tĩnh mạch cửa.
    Thiếu máu cục bộ ruột được xác nhận trong phẫu thuật.


    Pneumobilia: air in the intrahepatic bile ducts and in the common  bile duct (arrow).

    Khí đường mật (Pneumobilia): khí trong các ống mật trong gan và trong ống mật chủ (mũi tên).

    Khí trong tĩnh mạch cửa cần được phân biệt với khí trong đường mật, được gọi là khí đường mật (pneumobilia).
    Đôi khi có thể thấy mức khí-dịch trong tĩnh mạch cửa.

    Khí tĩnh mạch cửa nằm ở ngoại vi gan, trái ngược với khí đường mật thường nằm ở trung tâm hơn.

    Trong trường hợp này, rõ ràng là khí nằm trong đường mật.
    Có khí ở trung tâm gan và chúng ta cũng thấy khí trong ống mật chủ (mũi tên).

    Tắc nghẽn là nguyên nhân phổ biến gây khí thành ruột.

    Đây là bệnh nhân có khí thành ruột ở manh tràng và đại tràng lên do tắc nghẽn bởi ung thư đại tràng sigma (mũi tên).
    Khí trong thành ruột cho thấy nguy cơ thủng ruột sắp xảy ra.

    Đây là một bệnh nhân khác có khí thành ruột do tắc nghẽn.

    Sau khi giải áp, thành manh tràng trở về bình thường.


    Mức độ dày thành ruột

    Các bệnh lý gây dày thành ruột ở mức độ lớn nhất là bệnh Crohn và viêm đại tràng giả mạc (Pseudomembranous colitis – PMC).

    Bất thường mạc treo ruột

    Sự thông thoáng của các mạch máu mạc treo ruột
    Các nguyên nhân gây thiếu máu cục bộ ruột bao gồm: tắc động mạch, huyết khối tĩnh mạch, thắt nghẹt và tình trạng lưu lượng máu thấp.

    Hình ảnh cho thấy một đoạn dài hồi tràng với tình trạng ngấm thuốc kém.
    Trong mạc treo ruột có phù nề và giãn tĩnh mạch.
    Các dấu hiệu này gợi ý tình trạng thiếu máu cục bộ.
    Lưu ý huyết khối trong tĩnh mạch mạc treo tràng trên.


    Fistula formation in a patient with Crohn's disease.

    Hình thành đường rò ở bệnh nhân mắc bệnh Crohn.

    Các thay đổi ở mạc treo ruột
    Trong mạc treo ruột, chúng ta cần tìm kiếm:

    • Hạch bạch huyết to
    • Phù nề và giãn mạch máu
    • Hình thành đường rò

    Hình ảnh này cho thấy một đường rò giữa ruột non và đại tràng ở bệnh nhân mắc bệnh Crohn.

    Phù nề mạc treo ruột
    Phù nề mạc treo ruột kết hợp với dày thành ruột được gặp trong:

    • Thiếu máu cục bộ
    • Bệnh viêm ruột, đặc biệt là bệnh Crohn

    Các hình ảnh này thuộc về bệnh nhân bị tắc ruột non dạng quai kín.
    Lưu ý nhóm các quai ruột non có thành dày ở vùng bụng trên phải (mũi tên vàng).
    Phù nề mạc treo ruột (mũi tên đỏ) cho thấy tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch do thắt nghẹt.

    Giãn mạch máu
    Tăng áp lực tĩnh mạch trong thắt nghẹt cũng dẫn đến giãn tĩnh mạch (mũi tên vàng).
    Bệnh nhân này cũng có tắc ruột dạng quai kín với kiểu ngấm thuốc xám của các quai ruột bị thắt nghẹt (mũi tên đỏ).
    Lưu ý sự ngấm thuốc bình thường của ruột non ở phía trên vị trí tắc nghẽn (mũi tên xanh lá).

    Một bệnh nhân khác với hình ảnh ruột thiếu máu cục bộ và phù nề mạc treo ruột lan rộng.
    Trong phẫu thuật, toàn bộ đoạn ruột non này đã bị hoại tử.

    Nội dung lòng ruột

    Quan sát nội dung lòng ruột để tìm kiếm:

    • Chất phân trong ruột non, gợi ý tình trạng tắc ruột kéo dài
    • Máu trong lòng ruột, gợi ý xuất huyết tiêu hóa
    • Mỡ trong lòng đại tràng, đôi khi gặp trong bệnh celiac.

    Dấu hiệu phân trong ruột non
    Mũi tên màu vàng chỉ dấu hiệu phân trong ruột non ở bệnh nhân tắc ruột non.

    Xuất huyết tiêu hóa
    Hình ảnh bệnh nhân có nội dung lòng ruột tăng tỷ trọng, gợi ý xuất huyết tiêu hóa.

    Nội dung lòng ruột chứa mỡ ở bệnh nhân mắc bệnh celiac.

  • Bìu cấp ở trẻ em

    Acute Scrotum in Children

    Gael J. Lonergan

    Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Nhi Austin, Washington, DC

    Publicationdate

    Bài viết này dựa trên bài thuyết trình của Gael Lonergan tại khóa học ‘Teaching in Holland’ và được Robin Smithuis chuyển thể cho the Radiology Assistant.

    Trong tổng quan này, chúng tôi sẽ thảo luận các chủ đề sau:

    • Torsion of testis and appendage
    • Infection: epididymitis, epididymoorchitis, orchitis
    • Trauma
    • Hernia
    • Idiopathic scrotal edema

    by Gael J. Lonergan

    Testicular torsion


    Testicular torsion with twisted spermatic cord (arrow).

    Testicular torsion with twisted spermatic cord (arrow).

    Xoắn tinh hoàn xảy ra khi tinh hoàn di động bất thường bị xoắn trên thừng tinh, làm tắc nghẽn nguồn cung cấp máu.
    Bệnh nhân biểu hiện với cơn đau tinh hoàn dữ dội khởi phát đột ngột.
    Tình trạng thiếu máu cục bộ có thể dẫn đến hoại tử tinh hoàn nếu không được xử lý trong vòng 5-6 giờ kể từ khi đau.
    Xoắn tinh hoàn có thể xảy ra từng đợt và có thể tự tháo xoắn.

    Ở trẻ em bị bìu cấp tính, xoắn tinh hoàn không phải là tình trạng phổ biến nhất (Bảng).
    Xoắn phần phụ tinh hoàn là nguyên nhân gây đau bìu thường gặp hơn.
    Thông thường, bệnh khởi phát từ từ hơn so với xoắn tinh hoàn và bệnh nhân có thể chịu đựng cơn đau trong nhiều ngày trước khi tìm kiếm sự chăm sóc y tế.


    Testicular appendage torsion

    Testicular appendage torsion

    Xoắn phần phụ tinh hoàn xuất hiện dưới dạng tổn thương giảm âm với vùng giảm âm trung tâm nằm kề cạnh mào tinh hoàn.
    Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, chúng ta không thấy được hình ảnh này và siêu âm được thực hiện chủ yếu để loại trừ xoắn tinh hoàn.
    Chúng ta nên xem xoắn phần phụ tinh hoàn như một chẩn đoán loại trừ.

    Vì vậy, mặc dù xoắn phần phụ tinh hoàn và viêm mào tinh hoàn phổ biến hơn, mục tiêu chính của chúng ta là phát hiện hoặc loại trừ xoắn tinh hoàn.
    Chúng ta cần có khả năng cho phẫu thuật viên biết liệu đây có phải là một cấp cứu ngoại khoa hay không.


    Testicular torsion: Optimal setting for color on normal side, followed by examination of symptomatic side.

    Testicular torsion: Optimal setting for color on normal side, followed by examination of symptomatic side.

    Color doppler

    Sự vắng mặt hoàn toàn của dòng chảy máu trong tinh hoàn và dòng chảy máu ngoài tinh hoàn bình thường trên hình ảnh Doppler màu có giá trị chẩn đoán, nếu dòng chảy ở tinh hoàn đối bên bình thường.
    Tuy nhiên, sự hiện diện của dòng chảy trong tinh hoàn không loại trừ khả năng xoắn tinh hoàn, vì tắc nghẽn mạch máu không hoàn toàn đôi khi có thể xảy ra hoặc xoắn tinh hoàn ngắt quãng.

    Trường hợp bên trái cho thấy xoắn tinh hoàn trái.
    Trường hợp này rất rõ ràng vì không có dòng chảy ở bên bị ảnh hưởng, đồng thời cũng có sự khác biệt về độ hồi âm.
    Trong trường hợp xoắn kéo dài, tinh hoàn thường giảm âm và không đồng nhất, thường kèm theo tràn dịch màng tinh hoàn xung quanh.
    Khi các dấu hiệu siêu âm này xuất hiện, khả năng cứu vãn tinh hoàn bằng phẫu thuật là rất thấp.

    Sử dụng đầu dò tuyến tính ít nhất 10 MHz.
    Luôn bắt đầu bằng việc khảo sát bên bình thường và tối ưu hóa các cài đặt cho dòng chảy thấp, sức cản thấp và vận tốc thấp.
    Nhiễu nền nên vừa đủ nhìn thấy ở tinh hoàn không có triệu chứng.
    Khi đã có hình ảnh tốt của bên bình thường, không thay đổi bất kỳ cài đặt nào và chuyển sang bên có triệu chứng.


    Small testis in a very young child, difficult to differentiate from the surrounding fat

    Small testis in a very young child, difficult to differentiate from the surrounding fat

    Ở trẻ rất nhỏ, việc khám tinh hoàn có thể gặp khó khăn do tinh hoàn rất nhỏ và di động.
    Tinh hoàn trước dậy thì có thể tích khoảng 1-2 cc, trong khi tinh hoàn sau dậy thì có thể tích khoảng 30cc.
    Theo độ tuổi, tinh hoàn tăng dần độ hồi âm, do đó ở trẻ rất nhỏ, tinh hoàn nhỏ có thể khó phân biệt với mô mỡ xung quanh, đặc biệt khi tinh hoàn co rút vào ống bẹn (hình).
    Khi bắt đầu thăm khám, bạn có thể đặt ngón tay lên ống bẹn để tinh hoàn không thể di chuyển xung quanh.
    Siêu âm Doppler màu có độ nhạy hạn chế trong việc phát hiện lưu lượng máu ở bệnh nhân nhi có thể tích tinh hoàn nhỏ hơn 1cc.


    Two cases of torsio testis.

    Two cases of torsio testis.

    Ở bên trái là hai trường hợp nữa.
    Ở ngoài cùng bên trái là một trẻ 10 tháng tuổi bị xoắn tinh hoàn.
    Có nhiều lưu lượng máu trong các mô xung quanh tinh hoàn hơn so với trong tinh hoàn, điều này là bất thường, trừ khi trẻ bị viêm mô tế bào.

    Ca bên cạnh là một trẻ lớn hơn.
    Siêu âm thang xám cho thấy tinh hoàn bất thường.
    Vì vậy đây có thể là xoắn tinh hoàn hoặc viêm tinh hoàn, nhưng sự vắng mặt của dòng chảy cho chúng ta biết rằng đây chắc chắn là xoắn tinh hoàn.

    Presentation

    Tinh hoàn thường bị nâng cao do xoắn và do chính dây tinh bị ngắn lại, và có thể nằm theo trục ngang.

    Bên bị ảnh hưởng có thể to hơn do bản thân tinh hoàn bị sưng, tràn dịch màng tinh hoàn hoặc dày da.

    Gray scale Ultrasound

    Siêu âm thang xám có giá trị hỗ trợ, không phải trong việc chẩn đoán, mà trong việc tiên lượng kết quả.
    Trong 4-6 giờ đầu, cấu trúc tinh hoàn vẫn bình thường.
    Trong giai đoạn này tinh hoàn vẫn có thể bảo tồn được, do đó hình ảnh bình thường trên siêu âm thang xám đồng nghĩa với tiên lượng tốt.
    Sau giai đoạn này, tinh hoàn trở nên không đồng nhất và to ra trong vòng 4-24 giờ tiếp theo, mào tinh hoàn và thành bìu có thể sưng lên và giảm âm.
    Hình ảnh tinh hoàn ngày càng xấu đi trên siêu âm thang xám tương quan với khả năng sống sót giảm dần (1).


    A difference in echogenicity means poor outcome.

    A difference in echogenicity means poor outcome.

    Cách để nhận biết sự khác biệt về độ hồi âm là chụp ảnh cắt ngang của cả hai tinh hoàn.
    Các hình ảnh bên trái cho thấy bên bị ảnh hưởng có kích thước lớn hơn và độ hồi âm cao hơn.
    Tinh hoàn này có thể không còn khả năng bảo tồn.
    Tinh hoàn có thể có độ hồi âm cao hơn hoặc thấp hơn, điều đó không quan trọng, miễn là có sự khác biệt thì tiên lượng sẽ xấu.

    Epididymitis

    Viêm mào tinh hoàn là quá trình viêm phổ biến nhất liên quan đến bìu và thường gặp hơn ở người lớn.
    Nhiễm trùng thường xuất phát từ đường tiết niệu dưới bao gồm bàng quang, niệu đạo hoặc tuyến tiền liệt và thường do các tác nhân gây bệnh đường tiết niệu hoặc các vi sinh vật lây truyền qua đường tình dục (Chlamydia hoặc lậu cầu).

    Viêm mào tinh hoàn cũng xảy ra ở trẻ em, nhưng khi đó là do nhiễm vi khuẩn Streptococcus hoặc Staphylococcus.
    Trong các bất thường đường tiết niệu, cũng có thể thấy nhiễm vi khuẩn E.Coli.
    Viêm mào tinh hoàn hóa học vô khuẩn có thể xảy ra do trào ngược nước tiểu vô khuẩn qua các ống phóng tinh, chẳng hạn như khi niệu quản đổ vào niệu đạo tuyến tiền liệt, điều này có thể dẫn đến tăng áp lực trong ống dẫn tinh. .

    Bên trái là một trẻ bị thoát vị màng não tủy kèm viêm mào tinh hoàn.
    Do áp lực bàng quang tăng cao và các cơn co bóp chống lại cơ thắt đóng, đã xảy ra hiện tượng trào ngược không chỉ vào niệu quản trái và tuyến tiền liệt, mà còn vào mào tinh hoàn, dẫn đến viêm mào tinh hoàn.

    Trường hợp bên trái cho thấy các đặc điểm điển hình của viêm mào tinh hoàn.
    Mào tinh hoàn sưng to và không đồng nhất.
    Có tràn dịch màng tinh hoàn và dày thành bìu.
    Trên siêu âm Doppler màu cho thấy tăng lưu lượng máu.
    Mào tinh hoàn bình thường chỉ có lưu lượng màu hạn chế.

    Orchitis

    Viêm tinh hoàn được đặc trưng bởi các tổn thương tinh hoàn giảm âm, khu trú, ngoại vi, có ranh giới không rõ, dạng vô định hình hoặc hình lưỡi liềm.
    Viêm tinh hoàn cũng biểu hiện tăng sinh mạch máu tinh hoàn trên hình ảnh siêu âm Doppler màu và thường kèm theo tăng sinh mạch máu mào tinh do viêm mào tinh hoàn đồng thời.
    Tràn dịch màng tinh hoàn phản ứng cũng thường gặp trong viêm mào tinh hoàn-tinh hoàn.
    Nhồi máu tinh hoàn khu trú có thể xảy ra như một biến chứng của viêm mào tinh hoàn khi tình trạng sưng nề của mào tinh hoàn đủ nặng để chèn ép nguồn cung cấp máu cho tinh hoàn.
    Biểu hiện này là một khối giảm âm trong tinh hoàn không có tín hiệu dòng chảy.

    Các biến chứng của viêm tinh hoàn là hình thành áp xe và thiếu máu cục bộ.

    Trường hợp bên trái là một bệnh nhân trẻ tuổi, đến khám một tuần trước với tình trạng tinh hoàn xung huyết và viêm mào tinh hoàn.
    Do tình trạng nhiễm trùng tiến triển, áp lực bên trong tinh hoàn tăng lên dẫn đến nhồi máu.
    Đây không phải do xoắn tinh hoàn, nhưng có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với xoắn tinh hoàn.

    Bên trái là hai trường hợp có vùng bất thường trong tinh hoàn, có thể do hình thành áp xe.

    Trauma

    Hematocele

    Trong chấn thương, có thể xuất hiện tụ máu màng tinh hoặc khối máu tụ tinh hoàn.
    Trong giai đoạn cấp tính, xuất huyết có hồi âm tăng và trong giai đoạn mạn tính, hồi âm giảm.

    Một tụ máu bìu là kết quả của xuất huyết bìu hoặc trong ổ bụng.
    Nó biểu hiện là tình trạng chảy máu giữa các lá của áo tinh mạc và xuất hiện dưới dạng một khối dịch phức tạp.
    Theo thời gian, khối dịch này có thể phát triển thành các ngăn, xuất hiện dưới dạng các vách dày.
    Điều quan trọng là phải xác định được tinh hoàn có còn nguyên vẹn hay không, vì nếu có vỡ, đôi khi có thể điều trị bằng phẫu thuật.
    Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân với tụ máu bìu điển hình.

    Testicular rupture

    Vỡ tinh hoàn được biểu hiện trên siêu âm là những thay đổi khu trú về độ hồi âm của tinh hoàn, tương ứng với các vùng xuất huyết hoặc nhồi máu trong tinh hoàn ở bệnh nhân có tụ máu bìu.
    Đường gãy rõ ràng chỉ được xác định trong dưới 20% các trường hợp, mặc dù những thay đổi có thể nhìn thấy được ở đường viền tinh hoàn là một phát hiện thường gặp.

    Bên trái là một trường hợp phức tạp.
    Siêu âm cho thấy một tràn máu màng tinh hoàn lớn.
    Có nghi ngờ liệu cấu trúc tăng âm đó có thực sự là tinh hoàn hay không.
    MRI đã được thực hiện và không tìm thấy mô tinh hoàn, vì vậy chúng ta phải kết luận rằng cấu trúc tăng âm này là kết quả của một khối máu tụ mới.

    Bên trái là một bệnh nhân khác bị vỡ tinh hoàn, được phát hiện trên CT bụng.
    Trên siêu âm có một vùng không đồng nhất lớn không xác định được tinh hoàn do vỡ.

    Hernia


    LEFT: herniated bowel in preterm.RIGHT: left-sided hernia in constipated child due to intermitted herniation of sigmoid.

    LEFT: herniated bowel in preterm.RIGHT: left-sided hernia in constipated child due to intermitted herniation of sigmoid.

    Thoát vị ở trẻ em rất phổ biến, đặc biệt ở trẻ sinh non.
    Đôi khi chúng ta có thể nhìn thấy chúng trên phim chụp thường quy như trong trường hợp ở hình bên trái.
    Nếu chúng chứa đầy quai ruột, chúng dễ dàng được phát hiện, nhưng đôi khi các thoát vị này chỉ chứa mô mềm


    Longitudinal view of inguinal canal. The herniated bowel is seen next to the testis (arrow).

    Longitudinal view of inguinal canal. The herniated bowel is seen next to the testis (arrow).

    Khám siêu âm bắt đầu với trẻ ở tư thế nằm và sau đó tiếp tục ở tư thế đứng.
    Ruột hoặc mạc nối có thể nhìn thấy tách biệt với tinh hoàn (hình).
    Quai ruột đi xuống qua ống phúc tinh mạc chưa đóng.
    Thoát vị nghẹt là nguyên nhân gây đau bìu cấp tính.
    Nhu động ruột gợi ý khả năng sống còn và sự vắng mặt của nhu động ruột là dấu hiệu đáng lo ngại cho tình trạng nghẹt.

    Idiopathic Scrotal Edema

    Phù bìu vô căn thường gặp ở trẻ em trong độ tuổi đi học.
    Biểu hiện lâm sàng là sưng da bìu.
    Vì vậy, câu hỏi lâm sàng đặt ra là liệu có xoắn tinh hoàn hay nhiễm trùng hay không.
    Khi thăm khám, tinh hoàn và mào tinh hoàn bình thường và tất cả những gì chúng ta thấy trên siêu âm là phù da bìu.
    Nếu đây là tất cả những gì chúng ta thấy và trẻ không có sốt hoặc tăng bạch cầu, vốn có thể gặp trong viêm mô tế bào, thì chúng ta có thể chẩn đoán phù bìu vô căn.

    Mặc dù đây là một bệnh vô căn, nghĩa là chúng ta không biết nguyên nhân gây ra nó, nhưng việc chẩn đoán xác định vẫn rất quan trọng.
    Sẽ an tâm hơn nhiều cho các bậc phụ huynh khi được thông báo rằng con họ có một chẩn đoán cụ thể, rằng bệnh lành tính và sẽ tự khỏi theo thời gian.
    Điều đó tốt hơn là nói với họ rằng bạn không biết đó là bệnh gì, nhưng không phải xoắn tinh hoàn, nên bạn không thực sự lo lắng về nó.